Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 1: Truyền thống QDND Việt Nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Nguyễn Thành Trung
Người gửi: Phạm Thanh Trà
Ngày gửi: 09h:12' 17-01-2025
Dung lượng: 68.2 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
Phần một: Ý ĐỊNH BÀI GIẢNG
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
- Giáo dục, nâng cao nhận thức cho chiến sĩ mới về truyền thống vẻ vang
của dân tộc; nắm chắc những nét tiêu biểu về truyền thống anh hùng của quân đội
trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Tích cực phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc và của quân đội trong
thời kỳ mới; khơi dậy niềm tự hào của Quân nhân, xác định tốt động cơ, thái độ, trách
nhiệm, tích cực huấn luyện, học tập, công tác hoàn thành tốt nhiệm vụ; phấn đấu trở
thành người chiến sĩ ưu tú trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Chú ý nghe giảng, ghi chép đầy đủ nội dung bài, tích cực tham gia thảo
luận các nội dung của bài.
- Chấp hành nghiêm các quy định của lớp học trong quá trình huấn luyện.
II. NỘI DUNG (Gồm 2 phần theo mục I, II)
(I). Truyền thống của dân tộc Việt Nam.
(II). Truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam.
* Trọng tâm: Phần II
* Trọng điểm: Mục 2 phần II
III. ĐỐI TƯỢNG
Chiến sỹ mới
IV. PHƯƠNG PHÁP
trợ

1. Người dạy: Sử dụng phương pháp thuyết trình có sử dụng trình chiếu bổ

2. Người học: Nghe, ghi chép nội dung đầy đủ. Tích cực ôn luyện nắm chắc
nội dung bài học, vận dụng vào quá trình học tập, rèn luyện tại đơn vị.
V. THỜI GIAN
- Thời gian toàn bài: 07.00
- Thời gian lên lớp lý thuyết: 03.00
- Thời gian ôn luyện, thảo luận, kiểm tra và hoạt động bổ trợ: 04.00
VI. ĐỊA ĐIỂM
Phòng Hồ Chí Minh Tiểu đoàn
VII. TÀI LIỆU
- Tài liệu học tập chính trị của chiến sĩ mới, Cục Tuyên huấn - TCCT, NXB
QĐND, Hà Nội 2021.
- Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Tuyên giáo
Trung ương, NXB CTQG - Sự thật, Hà Nội - 2021.
- Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG - Sự thật, Hà Nội - 2011.

2
Phần hai: NỘI DUNG
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dân tộc
Việt Nam đã viết lên những trang sử hào hùng. Trong tiến trình lịch sử của dân
tộc đã tạo nên nhân cách con người Việt Nam với các giá trị đạo đức vô cùng
phong phú.
Cùng với thời gian, các giá trị đạo đức này được lưu truyền qua các thế hệ,
trở thành truyền thống tốt đẹp, là sức mạnh và động lực của dân tộc ta. Phát huy
giá trị truyền thống đó mỗi chúng ta người chiến sĩ Hải quân phải tích cực học tập
nâng cao trình độ bản lĩnh, phấn đấu ra sức thi đua lập nhiều thành tích cao thực
hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao góp phần xây dựng Quân đội ngày càng
hùng mạnh. Để hiểu rõ hơn về truyền thống của dân tộc và Quân đội, hôm nay
chúng ta cùng nhau nghiên cứu Bài 1: “Truyền thống của dân tộc và Quân đội
nhân dân Việt Nam”.
I. TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM (60 phút)
1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của
dân tộc Việt Nam (20 phút)
Trong tiến trình lịch sử, Việt Nam nằm ở khu vực được coi là cái nôi của
loài người với nền văn minh lúa nước.
Trên nền tảng văn hóa Đông Sơn. Trước những đòi hỏi của công cuộc trị
thủy và chống xâm lăng, Nhà nước Văn Lang - Nhà nước đầu tiên đã ra đời vào
khoảng thế kỷ thứ VII trước Công nguyên.
Bằng sức lao động cần cù sáng tạo, cư dân Văn Lang, (sau đó là Âu Lạc) đã
tạo dựng nên một nền văn minh tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á. Đi cùng Nhà
nước đầu tiên của lịch sử Việt Nam là một nền kinh tế phong phú, một nền văn hóa
cao được mọi người biết đến với tên gọi là văn minh Sông Hồng (còn gọi là văn
minh Đông Sơn), biểu tượng là trống đồng Đông Sơn - thể hiện sự kết tinh lối
sống, truyền thống và văn hóa của người Việt cổ.
- Vừa dựng nước, người Việt đã phải liên tiếp đương đầu với sự xâm lăng
của các thế lực bên ngoài.
Ngay từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, Việt Nam đã bị các triều đại
phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ (kéo dài hơn 1.000 năm).
Ví dụ: Âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc:
+ Về chính trị: Cho người Hán sống lẫn với người Việt để đồng hoá người Việt.
+ Văn hóa – tư tưởng: Truyền bá đạo Nho vào nước ta nhằm mục đích phục
vụ cho nhu cầu thống trị của phong kiến phương Bắc; Giai cấp thống trị đã mở
trường để dạy học, truyền bá đạo Nho trong xã hội Việt Nam và đào tạo đội ngũ
quan lại người Việt phục tùng nhà Hán, làm công cụ tay sai cho thiên triều.
Sự tồn vong của một dân tộc bị thử thách suốt hơn nghìn năm đã sản sinh ra
tinh thần bất khuất, kiên cường, bền bỉ đấu tranh bảo tồn cuộc sống, giữ gìn và phát
huy tinh hoa văn hóa, quyết giành lại độc lập cho dân tộc của người dân Việt Nam.

3
Ví dụ: Cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng có tính chất quần chúng
rộng rãi, giành được thắng lợi trong cả nước với 65 huyện thành. Hai Bà Trưng và
nhân dân ta giữ vững quyền tự chủ trong 3 năm. Nhân dân ta đã sáng tạo ra chữ
Hán – Việt.
- Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 kết thúc hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra
kỷ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam - kỷ nguyên phát triển quốc gia phong kiến
độc lập, thời kỳ xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Dưới các triều Ngô (939 965), Đinh (968 - 980), Tiền Lê (980 - 1009), Nhà nước trung ương tập quyền
được thiết lập.
Sau đó, Việt Nam bước vào thời kỳ phục hưng và phát triển (với quốc hiệu
Đại Việt) dưới triều Lý (1010 - 1225), Trần (1225 - 1400), Hồ (1400 - 1407), Lê
Sơ (1428 - 1527).
Trong đó, triều đại Lý (1010 – 1025), Trần (1025 – 1400) là 2 triều đại thịnh
vượng nhất trong lịch sử Việt Nam. Hai triều đại này đều đề cao công thương nghiệp
và bắt đầu thiwwts lập những tuyến giao thương từ nội địa đến lân bang. Nhiều loại
hình nghệ thuật mang đặc trưng tính cách Việt phát triển đồng đều và tạo thành chuẩn
mực; khả năng giữ gìn chủ quyền lãnh thổ và bảo vệ quyền lực trung ương rất phong
phú và vững chắc.
Ví dụ: Cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý (1075 – 1077) là cuộc kháng
chiến đặc biệt trong lịch sử. Nghệ thuật quân sự độc đáo đó là tổ chức phòng ngự
vũng chắc, chủ động tiến công và chủ động khích lệ tinh thần binh sĩ. Đặc biệt là chủ
động kết thúc chiến tranh bằng biện pháp giảng hòa. Thời Trần- Ba lần kháng chiến
chống quân Mông – Nguyên (thế kỷ XIII), kết thúc với trận Bạch Đằng lịch sử.
Ví dụ: Bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt
“Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang sâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”
Trong bài thơ này, nhận thức về nền độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của dân
tộc ta được khẳng định và tuyên bố công khai. Đó là sự khẳng định về ý thức dân
tộc, ý chí của dân tộc Việt Nam quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc mà
bao thế hệ đã hy sinh xương máu và đấu tranh bền bỉ mới tạo lập được.
- Từ thế kỷ XVI - XVIII, nền kinh tế, văn hóa có những bước phát triển nhất định,
nhiều thành thị, thương cảng ra đời đẩy nhanh quan hệ buôn bán trong và ngoài nước,
nhưng do bị chia cắt và nội chiến đã kìm hãm sự phát triển của đất nước.
- Bước sang đầu thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây đã chuyển sang
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ráo riết tìm kiếm thị trường, từng bước xâm chiếm
thuộc địa. Người Pháp, thông qua con đường truyền đạo, thương mại đã tiến hành
thôn tính Việt Nam (1858).
Đây là lần đầu tiên dân tộc Việt Nam phải đương đầu với họa xâm lăng từ
một nước phương Tây. Trong hoàn cảnh này, một số chí sĩ Việt Nam như Nguyễn
Trường Tộ, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Trương Vĩnh Ký, Đặng Huy Trứ,

4
Nguyễn Lộ Trạch... đã nhận thức được yêu cầu bảo vệ độc lập phải gắn liền với cải
cách, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Họ đã đệ trình những đề
nghị canh tân đất nước, nhưng đều bị triều Nguyễn khước từ, đẩy đất nước vào tình
trạng lạc hậu, bế tắc và từ đó Việt Nam đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong
kiến trong gần 100 năm (1858-1945).
- Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1930 là dấu
mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam
đã tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa thành công, thành lập nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945.
- Nước Việt Nam non trẻ vừa ra đời lại phải tiến hành cuộc chiến tranh giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước kéo dài suốt 30 năm sau đó. Cuộc kháng chiến
9 năm (1945 - 1954) của nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược trở lại của thực
dân Pháp, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu,
chấn động địa cầu”, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơnevơ, cam kết tôn trọng độc
lập, chủ quyền của ba nước Đông Dương. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp đã tạo tiền đề cho thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước, kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập, tự do, thống
nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, nước ta được đổi tên thành nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam và Bắc. Năm 1977,
Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc.
- Trong khoảng 10 năm đầu của thời kỳ sau chiến tranh (1975 - 1985), nhiều
mục tiêu kinh tế - xã hội không thực hiện được do những nguyên nhân khách quan
và chủ quan. Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra
đường lối đổi mới toàn diện đất nước với trọng tâm là đổi mới kinh tế. Đây là một
dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam thời kỳ mới.
Đường lối đổi mới tiếp tục được Đảng ta khẳng định, bổ sung, phát triển và hoàn
thiện qua các kỳ đại hội tiếp theo.
- Nhìn lại gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 2025), 34 năm
thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991 2025), lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn và từng bước được hiện
thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát
triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền
kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện
rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như
ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục
vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền
vững đất nước.
- Đặc biệt, những thành tựu đó đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của
Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù

5
hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt
Nam. Trong bối cảnh tỉnh hình thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, cương
lĩnh tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”.
2. Truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam (40 phút)
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu những giá trị truyền
thống nổi bật là “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn
kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng khoan
dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong
ứng xử, tính giản dị trong lối sống”. Có thể khái quát một số giá trị truyền thống
tiêu biểu sau:
Một là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc.
- Lòng yêu nước của dân tộc ta được hình thành tử rất sớm và có nguồn gốc
sâu xa từ ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc. Từ
những tình cảm rất đơn sơ, bình dị và gần gũi đối với những người ruột thịt, dần
dần phát triển thành tinh cảm gắn bỏ với làng xóm, quê hương và cao hơn hết là
lòng yêu nước, tự tôn dân tộc. Lòng yêu nước của dân tộc ta không chỉ là tình cảm
mà còn trở thành triết lý sống và phương châm ứng xử, chỉ dẫn hành động, khẳng
định các giá trị, mà điều quan trọng hơn nó còn là cội nguồn, cơ sở của các giá trị
truyền thống khác.
- Trải qua biến đổi của lịch sử, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường, lòng
tự hào dân tộc sâu sắc vẫn tồn tại một cách bền bị và tỏa sáng rạng rỡ, làm nên cốt
cách dân tộc Việt Nam; đồng thời, được thử thách và khẳng định, được bổ sung,
phát triển qua từng thời kỳ theo yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại, trở thành
một trong những giá trị cao quý và bền vững nhất của dân tộc ta. Đó là nền tảng tinh
thần to lớn, là giá trị đạo đức cao quý nhất trong thang bậc các giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc Việt Nam, trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các
giá trị” và là nguồn sức mạnh vô địch giúp cho dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn,
chiến thắng mọi thiên tai, địch họa, vững vàng tiến lên phía trước. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Tử xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tỉnh thần ấy
lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự
nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”1.
- Trong điều kiện mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương
“Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc” 2 để tập hợp, đoàn
kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước nhằm xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB Chính trị quốc gia sự thật Hà Nội, 2011, tr.38
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB Chính trị quốc gia sự thật
Hà Nội, 2021, tr.110
1
2

6
Ví dụ: Theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, các đồng chí lên đường nhập
ngũ, vừa là thực hiện nghĩa vụ của bản thân, vừa thể hiện được tinh thần yêu nước
nồng nàn và ý chí tự cường dân tộc. Do đó, mỗi chiến sỹ mới cần xác định tốt tinh
thần, trách nhiệm, cố gắng học tập, rèn luyện để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc khi chúng ta là người chiến
sĩ đó là yêu mến đơn vị. Quyết tâm khắc phục khó khăn ngay từ những ngày đầu
nhập ngũ, tích cực, tự giác học tập, rèn luyện nâng cao trình độ năng lực, tác phong
công tác; không để phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều.
Hai là, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng dân tộc.
- Ý thức đầu tiên về sự cố kết cộng đồng của người Việt Nam đã được dân gian
thần thánh hóa bằng thiên truyền thuyết đẹp với hình ảnh “bọc trăm trứng” để lý giải
cùng chung nguồn cội con cháu Rồng Tiên - Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu
Cơ. Trong hoàn cảnh phải thường xuyên chống chọi với thiên tai, với giặc ngoại
xâm có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn hơn ta gấp nhiều lần mà truyền thống đoàn kết,
ý thức cộng đồng được hình thành, củng cố và phát triển.
Ví dụ: Đê Sông Hồng đắp vào thời nhà Lý (1108), có tổng chiều dài lớn nhất
với 1.314 km và là hệ thống đê sông có quy mô lớn và hoàn thiện hơn so với các
hệ thống đê còn lại.
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng đã trở thành một triết lý nhân sinh sâu sắc,
là nguồn sức mạnh to lớn để dân tộc ta đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm.
Ví dụ: “Lá lành đùm lá rách”, “Nhường cơm, xẻ áo”;
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”. (Ca dao)
+ Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng, khi nào dân tộc ta trên dưới đoàn kết
một lòng thì dù kẻ thù có hùng mạnh đến đâu, chúng ta cũng đánh thắng; ngược
lại, khi nào chúng ta không thực hiện được đoàn kết toàn dân, trong nội bộ có sự
chia rẽ thì sức mạnh bị suy yếu, độc lập dân tộc bị đe dọa.
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng đã trở thành một triết lý nhân sinh sâu
sắc, là nguồn sức mạnh to lớn để dân tộc ta đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm. Lịch
sử dân tộc đã chứng minh rằng, khi nào dân tộc ta trên dưới đoàn kết một lòng thì dù
kẻ thù có hùng mạnh đến đâu, chúng ta cũng đánh thắng; ngược lại, khi nào chúng ta
không thực hiện được đoàn kết toàn dân, trong nội bộ có sự chia rẽ thì sức mạnh bị
suy yếu, độc lập dân tộc bị đe dọa. Thất bại của nhà Hồ trong cuộc kháng chiến
chống quân Minh đầu thế kỷ XV là một ví dụ. Do không thống nhất được lòng dân,
nên dù có thời gian chuẩn bị kháng chiến lâu dài, vũ khí tân tiến vẫn không bảo vệ
được độc lập dân tộc.
- Trong các thế kỷ XVI - XVIII, chiến tranh phân chia Trịnh - Nguyễn, Nam Bắc triều là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy yếu của đất nước, làm cho thực
dân Pháp có cơ hội xâm lược nước nhà. Những trang sử hào hùng và vẻ vang của
nhà Trần chống quân Mông - Nguyên, của cả dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế

7
quốc Mỹ xâm lược giành thắng lợi là minh chứng hùng hồn cho chân lý mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành
công, đại thành công”3
- Kế thừa truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc, toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta đã giương cao ngon cờ độc lập dân tộc gắn liên với chủ nghĩa xã hội, phải
huy sức mạnh khỏi đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, phát huy cao độ nội lực,
đồng thời phải tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại.
Trong bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, tinh thần đoàn kết
dân tộc càng có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta nhấn
mạnh “phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong phát triển
kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh” 4 tạo thành động lực và nguồn lực
to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Ví dụ:
Ở đơn vị, chúng ta yêu thương đồng chí đồng đội. Cùng giúp đỡ nhau làm
quen với môi trường quân sự, trên dưới đồng lòng, cấp trên giúp đỡ cấp dưới, cấp
dưới tôn trọng, yêu mến cấp trên và giúp đỡ lẫn nhau.
Thứ ba, lòng nhân ái, khoan dung, khát vọng hòa bình, yêu hòa bình.
- Nhân ái nghĩa là yêu thương con người. Lòng nhân ái được nảy nở và phát
triển chính trong cuộc sống lam lũ, khó khăn hằng ngày của nhân dân ta. Thực tiễn
thấy, hàng nghìn năm sống dưới ách thống trị của bọn phong kiến, thực dân với
chính sách nô dịch, cướp cùng với bão lụt, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh... đã đề
nặng lên cuộc sống, làm cho nhân dân ta vô cùng cực khổ. Họ cảm thấy thương
minh, thương những người cùng cảnh ngộ với mình và trong lúc khó khăn, hoạn
nạn ấy, chính tình yêu thương, đùm bọc, sẻ chia lẫn nhau đã giúp họ vượt qua hoàn
cảnh thực tại. Vì vậy, lòng yêu thương con người "Thương người như thế thương
thần”. “Một con ngựa đau cá tàu bỏ cờ”... từ lâu đã trở thành nếp nghĩ, cách ứng
xử, triết lý sống của con người Việt Nam, chi phối mối quan hệ giữa người với
người trong xã hội.
- Lòng nhân ái của người Việt Nam thấm đượm trong các mối quan hệ từ gia
đình, làng xóm đến cộng đồng, xã hội. Trong gia đình, bố mẹ có trách nhiệm lo
cho con cái khi còn nhỏ, con cái phải biết vâng lời, chăm sóc bố mẹ, tri ân đấng
sinh thành, vì: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy
ra”. Với anh chị em thì phải biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau: “Anh em như thế
chân tay”, “Chị ngã em nâng”... Trong hệ làng xóm: “Tối lửa tắt đèn có nhau”,
“Bán anh em xa mua láng giềng gần". Với những người trong cùng một nước thì
luôn lấy tình nghĩa để đối đãi: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước
phải thương nhau cùng”, v.v...
- Lòng nhân ái của dân tộc ta còn bao hàm lòng khoan dung, vị tha dành cho
3
4

Hồ Chí Minh toàn tập, tập 13, sdd, tr.119
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, sđd, tr.191

8
cả những người đã từng lầm đường lạc lối, biết lấy công chuộc tội, trở về với chính
nghĩa, “mở đường hiểu sinh" với kẻ thủ khi chúng đã bị thất bại. Không chỉ biểu
hiện trong đời sống hàng ngày, tình yêu thương, sự khoan dung, độ lượng với con
người của dân tộc Việt Nam còn được nâng lên thành những chuẩn mực quy định
trong các bộ luật của Nhà nước; đồng thời, là cơ sở của tinh thân yêu chuộng hòa
bình và tình hữu nghị đối với các dân tộc khác.
- Tiếp nối truyền thống đó, hiện nay Đảng và Nhà nước ta tiếp tục “thực hiện
nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát
triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích
quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp
quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu
rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế”5
Ví dụ:
Chúng ta khi thực hiện nhiệm vụ, nếu có đồng chí nào chưa thực hiện tốt
nhiệm vụ (gấp chăn còn xấu, sai nội vụ vệ sinh...) thì chúng ta phải giúp đỡ, chỉ
bảo lẫn nhau. Đồng chí nào có hoàn cảnh gia đình khó khăn thì chúng ta động
viên, chia sẻ, yêu thương để đơn vị thực sự là nhà, cán bộ, chiến sĩ là anh em.
Bốn là, cần cù, lạc quan, khiêm tốn, giản dị, trung thực.
- Là một nước nông nghiệp, trong điều kiện lao động với những phương tiện
sản xuất thô sơ, thiên nhiên khắc nghiệt, hơn nữa các cuộc chiến tranh xâm lược và
sự thống trị của các thế lực bên ngoài đã phá hoại nền kinh tế, làm cho nền kinh tế
và đời sống của nhân dân bị kéo lùi hàng thế kỷ. Trong hoàn cảnh đó, truyền thống
cần cù nảy nở, củng cố và phát triển. Cần cù vừa là điều kiện để đảm bảo nhu cầu
sống của con người, vừa thể hiện ý thức trách nhiệm của người Việt Nam trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước. Hình ảnh người nông dân một nắng hai sương, cần
cù, sáng tạo trong chinh phục thiên nhiên để làm ra hạt thóc “vàng”; hình ảnh “Ăn
cơm bằng đèn, đi cấy sáng trăng”, “Cày đồng đang buổi ban trưa”, hay “Tát nước
đêm trăng”… đã trở nên quá đỗi quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam. Đó
không chỉ là những hình ảnh đẹp, mà còn thể hiện đức tính cần cù, siêng năng, yêu
lao động của nhân dân ta. Lao động cần cù của người Việt Nam luôn gắn với tiết
kiệm, bởi lẽ, “Buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hả tiện”.....
- Phẩm chất quý báu đó đã được kế thừa, phát huy qua nhiều thế hệ và trở
thành một trong những nét tiêu biểu truyền thống của dân tộc. Trong xu thế toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, sự cần “cù, sáng tạo đi đôi với
thực hành tiết kiệm trong lao động sản xuất của mỗi người Việt Nam càng trở nên
có ý nghĩa thiết thực; bởi đây chính là động lực tiên quyết nhằm tăng năng suất lao
động, năng lực cạnh tranh, húc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, qua đó tự mỗi
người đóng góp một phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
- Mặc dù dân tộc ta luôn phải sống trong hoàn cảnh khó khăn vừa chống thiên
5

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Sđd,1, tr.161-162

9
tai, vừa chống địch họa, nhưng vẫn luôn lạc quan, tin tưởng vào tương lai. Chính sự
lạc quan ấy đã giúp dân tộc ta vượt qua được những khó khăn, thách thức tưởng
chừng như không thể vượt qua nổi. Dân tộc Việt Nam cũng luôn tự hào về đức tính
khiêm tốn nhưng không hạ thấp mình; giản dị nên ghét thói xa hoa, cầu kỳ, phô
trương hình thức; trung thực nên ghét bỏ kẻ “lá mặt lá trái”, “tiền hậu bất nhất”, v.v.
Ví dụ:
Chúng ta yêu lao động, tích cực học tập, rèn luyện. Sống chan hòa cùng nhau,
không khoe khoang, phô trương, không lừa dối, kèn cựa nhau.
Năm là, dũng cảm, bất khuất, hiếu học và tôn sư trong đạo
- Lịch sử dân tộc Việt Nam ở thời kỳ nào cũng sáng ngời những tấm gương
dũng cảm, anh hùng, bất khuất, làm cho các thế lực xâm lược phải run sợ, phục. nê
Từ Bà Triệu: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường
kình ở Biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu
khom lưng làm tì thiếp cho người!”; Trần Bình Trọng - một danh tướng nhà Trần
lúc anh chiến đấu không may bị giặc Mông - Nguyên bắt, khi chúng dụ dỗ quy hàng,
ông đã thét to: “Ta thà làm quý đất Nam còn hơn làm vương đất Bắc”; trước khi bị
thực dân Pháp hành hình, Nguyễn Trung Trực còn khảng khái: “Bao giờ Tây nhổ
hết có nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”; đến thời hiện đại, Bế Văn Đàn lấy
thân mình làm giá súng, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Tô Vĩnh
Diện lấy thân minh chèn pháo, Nguyễn Viết Xuân với tinh thần “Nhằm thắng quân
thù mà bắn”... Chính vì sự dũng cảm, bất khuất ấy mà dân tộc ta mới có thể chiến
thắng thiên tại và những kẻ thù lớn mạnh hơn nhiều lần.
- Từ ngàn đời nay, hiểu học đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam. Lịch sử khoa bảng của dân tộc còn lưu danh những tấm gương sáng ngời
về ý chí và tinh thần ham học: Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, theo học nơi cửa
chùa, đã trở thành Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử nước ta khi mới 13 tuổi.
Mạc Đĩnh Chi vì nhà nghèo không thể đến lớp, chỉ đứng ngoài nghe thầy giảng, đêm
đến phải học dưới ánh sáng của con đom đóm trong vỏ trứng, đã đỗ trạng nguyên và
trở thành Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trung Hoa và Đại Việt). Đó còn là những tấm
gương chiếu học của các bậc hiền tài đáng kính: Nhà giáo Chu Văn An, Trạng trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng lường Lương Thế Vinh,...; là tỉnh thần của nghị lực phi
thường vươn lên trở thành Nhà giáo ưu tú - Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, v.v..
- Sự hiểu học, tinh thần ham học hỏi của dân tộc Việt Nam còn được biểu hiện
ở thái độ coi trọng việc học và người có học, tôn trọng thầy cô, kinh trọng họ như
cha mẹ của mình: “Nhất tự vi sư, bản tự vi sư”, “Không thầy đố mày làm nên”.
Cùng với tiến trình lịch sử dân tộc, chảy của truyền thống hiếu học ấy với tinh thần
“Học! Học nữa! Học mãi!” đã được các thế hệ người Việt Nam hôm nay tiếp tục
phát huy và tỏa sáng: Đó là những tấm gương vượt khó, học giỏi trên khắp mọi miền
của đất nước; từ những nếp nhà trong gia đình tất cả con cháu đều chăm học và
thành đạt như Giáo sư Đặng Thai Mai, Giáo sư Đào Duy Anh, Giáo sư, Nhà giáo
nhân dân Nguyễn Lân, v.v.. Họ đã thực sự là niềm tự hảo làm rạng danh đất Việt và
tô thắm thêm tinh hiếu học của cha ông.

10
- Nhìn lại lịch sử dân tộc chúng ta thấy rằng, các giá trị truyền thống tốt đẹp đã
thấm sâu vào máu thịt của con người Việt Nam qua các thế hệ và đó chính là sức
mạnh Việt Nam suốt nhiều thế kỷ. Trong đó, điểm nổi bật chiếm vị trí hàng đầu và
trở thành “dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam”, cũng như chuẩn mực đạo lý Việt
Nam là tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chi tự cường dân tộc. Từ khi có Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời, Đảng ta đã khơi dậy và phát huy cao độ những giá trị truyền
thống này trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong 35 năm
đổi mới vừa qua. Ngày nay, những giá trị truyền thống đó vẫn đang được tiếp nối và
phát triển, trở thành sức mạnh tiềm tàng, là nội lực vô tận để xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy,
Đảng ta tiếp tục chủ trương: “Phát huy các giá trị văn hoá, lịch sử truyền thống dân
tộc trong xây dựng con người, phát triển kinh tế - xã hội”6.
II. TRUYỀN THỐNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (120 phút)
1. Khái quát sự ra đời và phát triển của Quân đội nhân
dân Việt Nam (20 phút)
- Ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám
và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang,
xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân được thành lập theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đội Việt
Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 người, biên chế thành 3 tiểu đội, đồng
chí Hoàng Sâm được giao làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên.
Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.
- Tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ của Đảng quyết định
hợp nhất các tổ chức vũ trang trên cả nước (hợp nhất Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân, Cứu quốc quân và các tổ chức vũ trang khác), thành lập Việt Nam giải
phóng quân. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam giải phóng quân
được đổi tên thành Vệ quốc đoàn, rồi Quân đội quốc gia Việt Nam (năm 1946), đến
năm 1950 được đổi tên là Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944 được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân
dân Việt Nam.
- Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân đội ta vừa
chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, nhất là bộ đội chủ lực đã có bước phát triển
trưởng thành nhanh chóng. Từ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với trang
bị thô sơ, quy mô nhỏ bé, đến những năm 1950 - 1952, quân đội ta đã xây dựng
được các đại đoàn chủ lực (tương đương cấp sư đoàn) và lần lượt hình thành các
binh chủng kỹ thuật, như: Đại đoàn 304, 308, 316, 325 và Đại đoàn công pháo 351,
v.v.. Từ đó, quân đội đã có sự lớn mạnh cả về quy mô và khả năng tác chiến. Chúng
ta đã tổ chức nhiều trận đánh lớn, mở những chiến dịch tiến công và phản công; lập
chiến công oanh liệt ở Tây Bắc, Hòa Bình, đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Tây
Nguyên, Liên khu 5, Nam Bộ, Thượng Lào và chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954,
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB Chính trị quốc gia sự thật
Hà Nội, 2021, tr.145
6

11
đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân đội ta đã không ngừng
trưởng thành vững mạnh toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Lực lượng
vũ trang gồm ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ
liên tục phát triển; hệ thống các trường chính quy trong quân đội tiếp tục được
thành lập, đào tạo được hàng vạn cán bộ theo các chuyên ngành để bổ sung lực
lượng kịp thời cho các chiến trường; các binh đoàn, quân chủng, binh chủng được
trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu chiến đấu của chiến trường. Để
sớm kết thúc chiến tranh, theo đề nghị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc
phòng, trong hai năm 1973 - 1974 và đến đầu năm 1975, Bộ Chính trị đã phê
chuẩn việc thành lập các quân đoàn Quân đoàn 1 (10-1973), Quân đoàn 2 (51974), Quân đoàn 3 (3-1975), Quân đoàn 4 (7-1974) và Đoàn 232 (tương đương
quân đoàn, 2-1975), đánh dấu bước phát triển mới của Quân đội nhân dân Việt
Nam cả về quy mô tổ chức và trang bị vũ khí kỹ thuật. Quân đội ta có khả năng
mở các chiến dịch tiến công bằng lực lượng binh chủng hợp thành quy mô lớn
trên các hướng chiến lược, chiến dịch và đánh tiêu diệt địch với lực lượng lớn.
Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch hiệp đồng quân binh ch...
 
Gửi ý kiến