Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

lop 12

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Lụa
Ngày gửi: 09h:48' 04-06-2023
Dung lượng: 44.5 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1/ Tên sáng kiến: Phối hợp với hội cha mẹ học sinh lớp 12A nâng cao chất
lượng ôn thi THPTQG môn Ngữ văn tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo
dục thường xuyên (TT GDNN-GDTX) huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
2/ Lĩnh vực áp dụng:
GDTX cấp THPT
3/ Thời gian áp dụng: Từ năm học 2017-2018 đến 2019-2020
4/ Tác giả:
Họ và tên: Phạm Thị Lụa
Năm sinh: 09/05/1979
Quê quán: Thành Lợi- Vụ Bản- Nam Định
Nơi thường trú: Nghĩa Trung- Nghĩa Hưng - Nam Định
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Ngữ văn
Chức vụ công tác: Giáo viên, Ủy viên BCH Công đoàn
Nơi làm việc: Trung tâm GDNN- GDTX huyện Nghĩa Hưng
Điện thoại: 0347242286
5/ Đơn vị áp dụng sáng kiến:
- Trung tâm GDNN -GDTX huyện Nghĩa Hưng
- Địa chỉ: Thị trấn Liễu Đề - Nghĩa Hưng - Nam Định
- Điện thoại: 02283871820

2

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
Học sinh : HS
Giáo viên chủ nhiệm : GVCN
Giáo viên bộ môn : GVBM
Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên : TT GDNN-GDTX
Cơ sở vật chất : CSVC
Số điện thoại : SĐT
Trung học phổ thông  Quốc gia: THPTQG
Ban giám đốc : BGĐ
Trung tâm : TT
Ban chấp hành : BCH
Hội cha mẹ học sinh :HCMHS
Ban đại diện cha mẹ học sinh : BĐDCMHS
Chứng minh : CM
Bước 1->8 : B1->B8
Phong cách : PC
Chủ nghĩa xã hội : CNXH
Luận điểm : LĐ
Sáng kiến kinh nghiệm : SKKN

3

MỤC LỤC
Trang
THÔNG TIN SÁNG KIẾN

1

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT

2

I . Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

4

II. Mô tả các giải pháp

4

1 . Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

4

2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

7

III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại

33

IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền

36

Tài liệu tham khảo

37

Phụ lục hình ảnh minh họa cho biện pháp Phối hợp với hội cha mẹ học

38

sinh lớp 12A ôn thi THPTQG môn Ngữ văn
Đơn yêu cầu công nhận sáng kiến

41

4

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
PHỐI HỢP VỚI HỘI CHA MẸ HỌC SINH LỚP 12A NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ÔN THI THPTQG MÔN NGỮ VĂN TẠI TTGDNN-GDTX
HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH
I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
Sản phẩm của quá trình giáo dục là sự phát triển toàn diện đức dục, trí dục của
học sinh. Góp phần quan trọng vào kết quả ấy là công sức dạy dỗ của các nhà Quản
lí giáo dục, các thầy cô giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong những thành
công to lớn của ngành giáo dục, sự phối kết hợp giữa Ban đại diện cha mẹ học sinh
với nhà trường, với giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Ban đại diện cha mẹ học sinh (BĐDCMHS) có ý nghĩa, lợi ích thiết
thực trong việc kết nối giáo dục giữa nhà trường và gia đình, góp phần quan trọng
nâng cao chất lượng dạy và học trong trường THPT nói chung, trong các Trung tâm
GDNN-GDTX nói riêng.
Mặt khác, từ năm 2015 trở lại đây, Bộ GD &ĐT tổ chức kì thi THPTQG vừa xét
công nhận tốt nghiệp, vừa làm căn cứ xét tuyển Cao đẳng, Đại học. Học sinh hệ
Giáo dục thường xuyên thi chung đề với học sinh trường phổ thông. Điều này tạo
nên sự bình đẳng của hệ GDTX song cũng vô vàn thách thức. Học sinh GDTX đầu
vào lớp 10 rất thấp, đa số các em học yếu, các em không dự thi vào lớp 10. Môn
Ngữ văn là một môn duy nhất thi THPTQG theo hình thức tự luận. Đây là khó
khăn, trở ngại lớn đối với các em học sinh hệ GDTX. Bên cạnh sự nhiệt tình giảng
dạy của các giáo viên ôn thi tốt nghiệp thì sự quan tâm, động viên và sự kết hợp
giữa Hội cha mẹ học sinh (HCMHS) với nhà trường, giáo viên bộ môn đóng vai trò
vô cùng quan trọng.
Xuất phát từ những thách thức trên, tôi luôn trăn trở làm sao để cho cha mẹ quan
tâm nhiều hơn nữa đến việc học tập, ôn thi tốt nghiệp năm cuối cấp của con cái, góp
phần nâng cao chất lượng môn Ngữ văn ở TTGDNN-GDTX huyện Nghĩa Hưng.
Sau nhiều năm chủ nhiệm và trực tiếp ôn thi tốt nghiệp bộ môn Ngữ văn, tôi đã
nghiên cứu và viết đề tài “Phối hợp với hội cha mẹ học sinh lớp 12A nâng cao chất
lượng ôn thi THPTQG môn Ngữ văn tại TTGDNN-GDTX huyện Nghĩa Hưng, tỉnh
Nam Định”.
II. Mô tả các giải pháp
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
1.1 Cơ sở lý luận khoa học
1.1.1. Gia đình là tế bào tự nhiên của xã hội . Gia đình vững mạnh có tầm quan
trọng trong việc phát triển của một quốc gia, gia đình có ý nghĩa đặc biệt đối với
mỗi cá nhân, là môi trường đảm bảo của giáo dục, truyền lại cho thế hệ sau những
giá trị truyền thống.
Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ
cho nhau thực hiện một công việc chung.
Hiệu trưởng phối hợp với gia đình và ban đại diện cha mẹ học sinh là cơ quan

5

quản lý nhà nước và nhân dân ( phụ huynh học sinh) cùng hoạt động trong một
lĩnh vực giáo dục , phối hợp chặt chẽ nhằm mục đích giáo dục toàn diện cho học
sinh trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tại khoản 1, điều 4, Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh (Ban hành kèm
theo Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT ngày 22/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo) có nêu rõ nhiệm vụ của Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp như sau:
“ Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp và các giáo viên bộ môn tổ chức các hoạt
động giáo dục học sinh; Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp chuẩn bị nội dung
của các cuộc họp cha mẹ học sinh trong năm học; Tham gia giáo dục đạo đức cho
học sinh; bồi dưỡng, khuyến khích học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém, vận
động học sinh đã bỏ học trở lại tiếp tục học tập; giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh
khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn khác”
Sự phối hợp giữa nhà trường và Ban đại diện cha mẹ học sinh là một yêu cầu
tất yếu trong xã hội và nó không thể thiếu trong điều kiện hiện nay. Ban đại diện
cha mẹ học sinh là tổ chức huy động các thành viên tham gia tích cực vào công
tác giáo dục học sinh và thực hiện các nhiệm vụ của gia đình mà pháp luật đã quy
định.
Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn liên hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh
của lớp để : thông báo kết quả học tập của từng học sinh ; thống nhất kế hoạch phối
hợp giúp đỡ học sinh yếu, giáo dục học sinh cá biệt, biểu dương kịp thời học sinh
nỗ lực trong học tập và rèn luyện tốt.
Như vậy sự phối hợp giữa Ban đại diện cha mẹ học sinh của lớp với nhà giáo
viên chủ nhiệm nói chung, giáo viên bộ môn dạy ôn thi THPTQG nói riêng có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển đức dục, trí dục, giáo dục sự phát
triển toàn diện của học sinh.
1.1.2. Cấu trúc đề thi THPTQG môn Ngữ văn
Phần I: ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN (3 điểm)
Cho 1 ngữ liệu (thơ/ văn/ bài báo/ kịch...): Yêu cầu thí sinh phải đọc kĩ để trả lời
câu hỏi. Thường có 4 câu hỏi nhỏ, mỗi câu có thể có 1 hoặc vài ý nhỏ. Cần nắm
được:
+ Kiến thức phần Tiếng Việt
+ Kiến thức phần làm văn
+ Kiến thức phần văn học
+ Kiến thức phần luật thơ
+ Kiến thức đời sống
Phần II: LÀM VĂN (7 điểm)
●Câu 1 (2 điểm) - Nghị luận xã hội
Viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ Nghị luận về một tư tưởng,
đạo lí (đạo đức), Nghị luận về một hiện tượng đời sống (Liên quan đến đọc - hiểu)
●Câu 2 (5 điểm) - Nghị luận văn học (4 dạng chính)

6

+ Nghị luận về thơ (bài thơ, đoạn thơ, hình tượng thơ)
+ Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích, văn xuôi
+ Nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm tự sự
+ Nghị luận về một tình huống truyện…
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thuận lợi
Cơ sở vật chất của Trung tâm: Từ 15/01/2018, theo quyết định của UBND
huyện Nghĩa Hưng đã sáp nhập 03 cơ sở (Trung tâm GDTX Nghĩa Hưng, Trung
tâm dạy nghề công lập, Trung tâm GDTX Nghĩa Tân) thành 01 trung tâm lấy tên là
TTGDNN-GDTX huyện Nghĩa Hưng, gồm 02 cơ sở. Trung tâm có gần 30 phòng
học, phòng học được xây dựng kiên cố, 2 phòng hội trường rộng lớn, 18 phòng học
nghề, nhiều phòng chức năng, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Nhìn
chung CSVC Trung tâm đảm bảo đủ điều kiện cho việc dạy và học 2 buổi / ngày.
Đội ngũ cán bộ giáo viên: Tổng số cán bộ , giáo viên, công nhân viên trung
tâm: 54. Giáo viên bộ môn Ngữ văn: 7 đồng chí. (2 thạc sĩ) . Các thầy, cô giáo đều
có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết
với nghề, thuận lợi trong việc trao đổi chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy bộ
môn.
Chất lượng giáo dục: Trong nhiều năm, chất lượng giáo dục của Trung tâm
từng bước được nâng lên một cách vững chắc. Tỉ lệ HS đạt HS giỏi và HS đạt HS
tiên tiến năm sau cao hơn năm trước. Nhiều HS đạt học sinh giỏi cấp Tỉnh và đỗ
vào các trường cao đẳng, đại học với số điểm cao. Năm học 2018-2019, đội tuyển
học sinh giỏi Tỉnh môn Ngữ văn và Tổ hợp khoa học xã hội (Sử, Địa) đạt 2 giải
Khuyến khích khi thi đề chung với học sinh THPT. Chất lượng chuyên môn của GV
được Sở GD & ĐT đánh giá tốt, nhiều GV đạt GV dạy giỏi cấp Tỉnh.
“Đầu ra” đã bình đẳng : Năm 2015, Bộ GD-ĐT đã gộp hai kỳ thi tốt
nghiệp THPT và ĐH, CĐ thành một kỳ thi THPT quốc gia. Theo đó, “đầu ra” của
học viên trung tâm GDNN-GDTX cũng chính thức bình đẳng với học sinh phổ
thông. Do đó, bằng tốt nghiệp THPT của loại hình GDTX và phổ thông đều giống
nhau, không xếp hạng hay loại hình tốt nghiệp trên bằng tốt nghiệp. Hơn nữa, trung
tâm GDNN-GDTX huyện Nghĩa Hưng đã liên kết với trường Cao đẳng nghề và
công nghệ thực phẩm Hà Nội, các trường trung cấp nghề trong tỉnh Nam Định để
vừa dạy văn hóa, vừa dạy nghề cho học viên nên khi có bằng tốt nghiệp, các em có
thể tham gia vào thị trường lao động ngay.
Hội cha mẹ học sinh của Trung tâm: nhiệt tình, quan tâm, tạo điều kiện tốt
nhất cho con cái. Kết hợp chặt chẽ với Ban lãnh đạo Trung tâm, giáo viên chủ
nhiệm, giáo viên bộ môn trong việc giáo dục con cái; Đóng góp, hỗ trợ về vật chất
lẫn tinh thần cho Trung tâm.
1.2.2 .Khó khăn
Vài năm trở lại đây, xuất hiện nhiều khu, cụm công nghiệp hoạt động trên địa
bàn huyện Nghĩa Hưng: công ty may sông Hồng (xã Nghĩa Thái), công ty giày da

7

Nghĩa Sơn, công ty giày da Nghĩa Minh, công ty may Vietpan Pacipic Nghĩa
Đồng…cho nên nhiều phụ huynh làm việc trong công ty, mải mê với công việc,
không hoặc ít có điều kiện quan tâm đến con cái. Lớp tôi chủ nhiệm 12A, một số
em học sinh có hoàn cảnh éo le: cha mẹ bỏ nhau (1 em), bố mất sớm (2 em) còn
phần lớn bố mẹ làm ăn xa, ở với ông bà (nội, ngoại) do đó việc dạy dỗ con cái phó
mặc cho thầy cô “Trăm sự nhờ thầy, trăm sự nhờ cô”. Điều này là bước cản lớn
trong việc dạy học nói chung, việc ôn thi THPTQG bộ môn Văn nói riêng.
Mặt khác, một bộ phận không nhỏ nhân dân và phụ huynh học sinh trên địa
bàn nhận thức không đúng hoặc có cái nhìn định kiến về trung tâm. Tâm lí của phụ
huynh có con học lực yếu không thiết tha gì với việc học tập của con.
Như vậy xuất phát từ thực tế nhức nhối trên, tôi luôn trăn trở phải làm sao và
làm thế nào để tìm ra biện pháp ôn thi THPTQG môn Ngữ văn cao nhất. Và rồi qua
nhiều năm giảng dạy, tôi đã đúc rút ra những kinh nghiệm về công tác ôn thi cho
riêng mình và giúp chất lượng ôn thi THPTQG của Trung tâm được cải thiện. Tôi
đã nghiên cứu và thực hiện đề tài “Phối hợp với hội cha mẹ học sinh lớp 12A nâng
cao chất lượng ôn thi THPTQG môn Ngữ văn tại TTGDNN-GDTX huyện Nghĩa
Hưng, tỉnh Nam Định”.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Căn cứ vào thực trạng nguyên nhân của việc ôn thi lớp 12 tại TTGDNNGDTX, qua tiếp cận phương pháp nghiên cứu lý luận, tổng hợp kinh nghiệm thực
tiễn của bản thân, tôi xin trình bày 02 biện pháp “Phối hợp với hội cha mẹ học sinh
lớp 12A nâng cao chất lượng ôn thi THPTQG môn Ngữ văn tại TT GDNN-GDTX
huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”.
2.1.Thành lập nhóm Cha mẹ học sinh lớp trên zalo/facebook
2.1.1. Mục đích
Thông báo kế hoạch, nội dung, phương hướng nhiệm vụ của Trung tâm đến
phụ huynh.
Trao đổi thông tin học tập và các hoạt động của lớp đến từng phụ huynh.
Phụ huynh dễ dàng tiếp nhận thông tin một cách nhanh nhất, chính xác nhất,
hiệu quả nhất về tình hình học tập của con mình.
nhà.

Cùng trao đổi nắm vững tình hình học tập và hạnh kiểm của các em ở lớp và ở

Lập hội phụ huynh học sinh, ban đại diện sẽ là cầu nối giữa gia đình và nhà
trường, theo dõi tình hình và bàn bạc các biện pháp giáo dục học sinh.
2.1.2. Nội dung, cách thực hiện
a. Về phía giáo viên
Thông báo điểm thi 8 tuần học kì I, học kì I, 8 tuần học kì II, học kì II, thi
cuối năm, các lần thi thử cho cha mẹ học sinh, có xếp số thứ tự các lần thi.

8

Thống nhất kế hoạch phối hợp giúp đỡ học sinh yếu, giáo dục học sinh cá
biệt, biểu dương kịp thời học sinh nỗ lực trong học tập và rèn luyện tốt.
Chụp bài làm của học sinh, gửi cho phụ huynh
Gửi video ôn thi THPTQG môn Văn của các con trên lớp hàng tuần cho phụ
huynh trên nhóm.
Thông báo kĩ lưỡng về phương án dạy và tự học tại nhà cho học sinh.
Trao đổi tình hình học tập hàng ngày/tuần/tháng (Nhóm, điện thoại, tin nhắn
Smas (Sổ liên lạc điện tử).
Tôi tận dụng quỹ tin nhắn điện tử để trao đổi, liên lạc cho phụ huynh nắm
được tình hình chi tiết của con em họ trong quá trình học tập trên lớp. Các kết quả
học tập của học sinh như kết quả giữa kì, cuối kì cũng được tôi cập nhật trên sổ liên
lạc điện tử này. Nhờ đó phụ huynh theo sát được tình hình học tập của con ở trên
lớp.
Họp trực tuyến qua zoom: 1 lần/tuần.
Phụ huynh không có điện thoại thông minh, giáo viên trao đổi qua điện thoại,
qua gửi thư tay cho học sinh, họp phụ huynh tại Trung tâm.
b. Về phía phụ huynh
Trao đổi với giáo viên về việc tự học bài, làm bài ở nhà của con hàng ngày
Chụp bài làm của con mình gửi cho giáo viên bộ môn.
Phụ huynh chụp cảnh con ngồi học bài để giáo viên có thể kiểm soát được
việc học tập của học sinh khi tự học ở nhà.
Nhận bài tập giáo viên bộ môn giao, nhận thông tin một cách nhanh chính
xác về tình hình học tập trên lớp của con: ý thức trong giờ học, có hăng hái phát
biểu xây dựng bài không? Ý thức trong giờ học bộ môn như thế nào? Có mang đầy
đủ dụng cụ học tập, sách giáo khoa, tài liệu, đề cương môn học không?
con.

Nhận lời nhận xét từ giáo viên bộ môn để kịp thời điều chỉnh ý thức học của

Cập nhật điểm số và xếp thứ tự bộ môn của con hàng tuần/tháng thông qua
các bài thi, bài kiểm tra thường xuyên và định kì.
Ghi âm phần tóm tắt tác phẩm văn xuôi của con rồi gửi qua zalo, messenger
cho giáo viên.
Bên cạnh đó: Giáo viên tổ chức Họp phụ huynh sau các kì thi (Dành cho
phụ huynh có con học yếu môn Văn).
Phổ biến, quán triệt các nội dung văn bản của nhà trường
Thông báo kết quả giáo dục năm học và tình hình của nhà trường, lớp năm
học tới.
Thông báo nhiệm vụ tạo đột phá năm học tới: Nâng cao chất lượng ôn thi
THPTQG trong đó có môn Ngữ văn.

9

Thống nhất một số biện pháp phối hợp trong công tác giáo dục giữa gia đình,
nhà trường.
Thông báo kế hoạch của Trung tâm, của lớp chủ nhiệm trong năm học
Thông báo kết quả học tập, kết quả thi của học sinh.
Cùng giáo viên chủ nhiệm đưa ra giải pháp cho học sinh yếu môn Văn.
2.2. Cha mẹ “Học cùng con”
2.2.1. Mục đích
Tạo tình cảm gắn bó giữa cha mẹ và con cái. Con sẽ cảm nhận được sự gần
gũi quan tâm của cha mẹ dành cho con cái trong cả vấn đề học tập.
Giúp con thấy được ý nghĩa của việc học đối với cuộc sống bản thân.
Hình thành cho con cách áp dụng nội dung bài học vào cuộc sống hàng ngày.
Giúp con có được cách học nhẹ nhàng, hứng thú, hiệu quả. Qua đó các con
củng cố được kiến thức, hình thành kĩ năng nhất là kĩ năng tư duy.
Cha mẹ biết được việc học ở trường cũng như lực học của con. Từ đó có biện
pháp thích hợp để bù khuyết hay phát triển khả năng cho con.
Giúp con cũng cố kiến thức, gắn kết tình thân của gia đình.
Tạo dựng được định hướng tư duy, kế hoạch học tập khoa học, cha mẹ sẽ
nắm bắt được tâm lý của các con rõ nét nhất.
Chia sẽ kỹ năng sống cho con.
qua.

Động viên con về mặt tinh thần, tiếp thêm sức mạnh để con can đảm vượt

2.2.2. Nội dung, cách thực hiện
2.2.2.1. Cùng con lập thời gian biểu phù hợp
Cha mẹ sẽ trao đổi với giáo viên bộ môn Ngữ văn và căn cứ vào việc học của
con ở nhà, cùng con lập thời gian biểu ôn tập ở nhà cho phù hợp. Cha mẹ chụp thời
gian biểu của con gửi giáo viên bộ môn Ngữ văn, giám sát việc học tập hàng ngày
của con.
Thời gian biểu
Thứ

Nội dung ôn tập

Hai

Ôn tập Đọc hiểu

Ba

Ôn tập Nghị luận xã hội



Ôn tập Tác phẩm Văn
nghị luận

Phương pháp ôn tập
Ôn lại lí thuyết; luyện đề Đọc hiểu kết
hợp làm bài tập
Nắm chắc dàn ý về 2 dạng bài: nghị luận
về tư tưởng đạo lí và hiện tượng đời
sống; Luyện viết đoạn văn 200 chữ.
Nhớ được hệ thống luận điểm, cách lập
luận, dẫn chứng; thực hành đề .

Ghi
chú

10

(Tuyên ngôn độc lập)
Năm Ôn tập tác phẩm trữ tình
Sáu

(Thơ)
Ôn tập tác phẩm truyện

Bảy

Ôn tập tác phẩm bút kí,
tùy bút, kịch

Chủ
nhật

Luyện viết phần Mở bài,
Kết bài, một luận điểm
trong phần Thân bài

Nhớ/ thuộc giá trị nội dung, nghệ thuât,
cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình
trong thơ.
Tóm tắt cốt truyện; nắm vững nhân vật,
tình huống truyện, giá trị nhân đạo, giá
trị hiện thực, thông điệp của nhà văn.
Thực hành đề.
Tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm kí,
phong cách của nhà văn. Mâu thuẫn,
xung đột kịch, ngôn ngữ kịch. Thực
hành đề.
Thực hành viết phần Mở bài, Kết bài,
một luận điểm trong phần Thân bài cho
10 tác phẩm văn học trong chương trình
(Căn cứ vào phần giảm tải).

2.2.2.2. Kiểm tra học thuộc và ghi nhớ của con thông qua Đề cương ôn tập do
giáo viên bộ môn Ngữ văn cung cấp: Kiến thức Đọc hiểu; Kiến thức viết đoạn văn
200 chữ; kiến thức viết bài văn nghị luận văn học.
Mục đích: giúp con ghi nhớ kiến thức được học trên lớp một cách sâu sắc về
các dạng câu hỏi, dạng bài thường gặp trong đề thi.
Nội dung thực hiện: cha mẹ kiểm tra việc học của con bằng các cách sau:
Kiểm tra miệng ở nhà
Yêu cầu viết ra giấy, phụ huynh chấm (có đáp án của Giáo viên) hoặc chụp
bài làm gửi cho giáo viên.
(Đề cương ôn tập môn Ngữ văn do giáo viên bộ môn Ngữ văn cung cấp)
Thao tác lập luận
T
T

Thao tác
lập luận

Đặc điểm nhận diện

1

Giải thích

Giải thích là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghị luận
một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý của
mình.

2

Phân tích

Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành
nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội
dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng.

11

3

Chứng
minh

Chứng minh là đưa ra những cứ liệu – dẫn chứng xác
đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ một ý kiến để thuyết phục
người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề. (Đưa lí lẽ
trước – Chọn dẫn chứng và đưa dẫn chứng. Cần thiết
phải phân tích dẫn chứng để lập luận CM thuyết phục
hơn. Đôi khi thuyết minh trước rồi trích dẫn chứng sau.)

4

Bác bỏ

Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó
đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập trường
đúng đắn của mình.

5

Bình luận

Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện
tượng… đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi / hại…; để
nhận thức đối tượng, cách ứng xử phù hợp và có phương
châm hành động đúng.

6

So sánh

So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay
nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để
chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy
được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình
quan tâm.
Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là
so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi
là so sánh tương phản.
Phương thức biểu đạt

Phươn
g thức

Đặc điểm nhận diện

Tự sự

Trình bày các sự việc (sự
kiện) có quan hệ nhân quả
dẫn đến kết quả. (diễn biến
sự việc)

– Bản tin báo chí

Tái hiện các tính chất,
thuộc tính sự vật, hiện
tượng, giúp con người cảm
nhận và hiểu được chúng.

– Văn tả cảnh, tả người, vật…

Miêu
tả

Thể loại

– Bản tường thuật, tường trình
– Tác phẩm văn học nghệ thuật
(truyện, tiểu thuyết)

– Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm
tự sự.

12

Biểu
cảm

Thuyết
minh

Nghị
luận

Hành
chính –
công
vụ

Bày tỏ trực tiếp hoặc gián
tiếp tình cảm, cảm xúc của
con người trước những vấn
đề tự nhiên, xã hội, sự
vật…

– Điện mừng, thăm hỏi, chia buồn

Trình bày thuộc tính, cấu
tạo, nguyên nhân, kết quả
có ích hoặc có hại của sự
vật hiện tượng, để người
đọc có tri thức và có thái
độ đúng đắn với chúng.

– Thuyết minh sản phẩm

Trình bày ý kiến đánh giá,
bàn luận, trình bày tư
tưởng, chủ trương quan
điểm của con người đối
với tự nhiên, xã hội, qua
các luận điểm, luận cứ và
lập luận thuyết phục.

– Cáo, hịch, chiếu, biểu.

– Trình bày theo mẫu
chung và chịu trách nhiệm
về pháp lí các ý kiến,
nguyện vọng của cá nhân,
tập thể đối với cơ quan
quản lí.

– Đơn từ

– Tác phẩm văn học: thơ trữ tình,
tùy bút.

– Giới thiệu di tích, thắng cảnh,
nhân vật
– Trình bày tri thức và phương
pháp trong khoa học.

– Xã luận, bình luận, lời kêu gọi.
– Sách lí luận.
– Tranh luận về một vấn đề trính
trị, xã hội, văn hóa.

– Báo cáo
– Đề nghị

Phong cách ngôn ngữ
 T
T

Phong cách
ngôn ngữ

Đặc điểm nhận diện

1

Phong cách
ngôn ngữ khoa
học

Dùng trong những văn bản thuộc lĩnh vực nghiên
cứu, học tập và phổ biến khoa học, đặc trưng cho
các mục đích diễn đạt chuyên môn sâu.

2

Phong cách
ngôn ngữ báo
chí (thông tấn)

Kiểu diễn đạt dùng trong các loại văn bản thuộc
lĩnh vực truyền thông của xã hội về tất cả các vấn
đề thời sự.

13

3

Phong cách
ngôn ngữ chính
luận

Dùng trong lĩnh vực chính trị – xã hội, người giao
tiếp thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai
quan điểm tư tưởng, tình cảm của mình với những
vấn đề thời sự nóng hổi của xã hội.

4

Phong cách
ngôn ngữ nghệ
thuật

Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn chương, không
chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu
cầu thẩm mĩ của con người; từ ngữ trau chuốt, tinh
luyện…

5

Phong cách
ngôn ngữ hành
chính

Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực giao tiếp
điều hành và quản lí xã hội.

6

Phong cách
ngôn ngữ sinh
hoạt

Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày,
mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau
chuốt…trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm trong
giao tiếp với tư cách cá nhân.
Biện pháp tu từ

Biện pháp
tu từ
So sánh

Ẩn dụ

Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật)

Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác động
đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc
Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt
cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc.

Nhân hóa

Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng và
có hồn gần với con người

Hoán dụ

Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng
ý vị, sâu sắc

Điệp
từ/ngữ/cấu
trúc

Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượng – tăng giá trị biểu cảm, tạo âm
hưởng nhịp điệu cho câu văn, câu thơ.

14

Nói giảm

Làm giảm nhẹ đi ý muốn nói (đau thương, mất mát) nhằm thể
hiện sự trân trọng

Thậm xưng

Tô đậm, phóng đại về đối tượng

Câu hỏi tu
từ

Bộc lộ, xoáy sâu cảm xúc (có thể là những băn khoăn, ý
khẳng định…)

Đảo ngữ

Nhấn mạnh, gây ấn tượng sâu đậm về phần được đảo lên

Đối

Tạo sự cân đối, đăng đối hài hòa

Im lặng

Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc

Liệt kê

Diễn tả cụ thể, toàn diện nhiều mặt

Kiến thức Nghị luận xã hội: Dàn ý hai kiểu bài : Nghị luận về hiện tượng đời
sống và tư tưởng đạo lí
• Tư tưởng đạo lý

• Hiện tượng đời sống

- B1: Nêu vấn đề

- B1: Nêu hiện tượng

- B2: Giải thích

- B2: Giải thích nếu cần

- B3: Phân tích- Chứng minh

- B3: Thực trạng

- B4: Bàn luận- mở rộng

- B4: Nguyên nhân

- B5: Bài học liên hệ

- B5: Hậu quả

- B6: Kêu gọi hành động thực hiện
tư tưởng

- B6: Giải pháp
- B7: Bài học, liên hệ
- B 8: Kêu gọi hành động

Kiến thức Văn học
Hoàn cảnh sáng tác, nội dung, nghệ thuật của 12 tác phẩm

15

STT

Hoàn cảnh sáng tác

Nội dung, nghệ thuật

Tuyên Ngôn
độc lập

Ngày 19/8/1945, chính quyền ở
Hà Nội đã về tay nhân dân.
Ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh từ chiến khu Cách
mạng Việt Bắc về tới Hà Nội.
Người soạn thảo bản “Tuyên
ngôn độc lập” tại căn nhà số 48
phố Hàng Ngang.

Tuyên Ngôn Độc Lập là văn
kiện lịch sử vô giá: tuyên bố
trước quốc dân đồng bào và thế
giới về việc chấm dứt chế độ
thực dân, phong kiến ở nước
ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập,
tự do của nước Việt Nam mới.
Vừa tố cáo mạnh mẽ tội ác của
thực dân Pháp, ngăn chặn âm
mưu tái chiếm nước ta của các
thế lực thù địch và các phe
nhóm cơ hội quốc tế.

Ngày 02/09/1945 tại quảng
trường Ba Đình, Hà Nội, trước
hàng chục vạn đồng bào, Người
thay mặt Chính phủ lâm thời
nước Việt Nam Dân chủ cộng Tuyên ngôn độc lập vừa là một
hòa đọc bản “Tuyên ngôn độc tác phẩm văn học lớn: bộc lộ
lập”.
tình cảm yêu nước, thương dân
và khát vọng độc lập, tự do
cháy bỏng của tác giả và toàn
dân tộc Việt Nam.

Tác phẩm là một áng văn chính
luận mẫu mực: Hệ thống luận
điểm chặt chẽ, lô gich; lí lẽ sắc
bén, đanh thép; ngôn ngữ trong
sáng, giản dị, hùng hồn, khúc
chiết.
Tây Tiến

“Tây Tiến” tên một đơn vị bộ
đội được thành lập năm 1947,
hoạt động chủ yếu ở vùng núi
Tây bắc sang Thượng Lào,
nhiệm vụ phối hợp với quân đội
Lào để bảo vệ biên giới Việt –
Lào và tiêu hao lực lượng của
Pháp. Đội quân Tây tiến phần
đông là học sinh, sinh viên, tri
thức yêu nước còn rất trẻ. Bài
thơ được Quang Dũng viết rất
nhanh trong nỗi nhớ dâng trào
về Tây tiến nên lúc đầu bài thơ
có nhan đề Nhớ Tây tiến. Bài
thơ được toàn quân nhiệt liệt
hoan nghênh và truyền miệng
rộng rãi

 Bài thơ thể hiện vẻ đẹp hùng
vĩ và thơ mộng của thiên nhiên
miền Tây Bắc Bộ. Đồng thời,
thể hiện nét hào hoa, dũng
cảm, vẻ đẹp hình tượng, bi
tráng của người lính Tây Tiến.
Bài thơ mang đậm bút pháp
lãng mạn với những hình ảnh
sáng tạo, độc đáo.
Ngôn ngữ: giọng điệu của một
hồn thơ phóng khoáng, lãng
mạn và tài hoa.

16

Việt Bắc

Chiến thắng Điện Biên Phủ
thắng lợi. Tháng 7-1954, Hiệp
định Giơ – ne – vơ về Đông
Dương được kí kết. Hòa bình
lập lại, một trang sử mới mở ra
cho toàn dân tộc.
Tháng 10-1954, những người
kháng chiến từ căn cứ miền núi
trở về miền xuôi, Trung ương
Đảng, Chính phủ rời chiến khu
Việt Bắc về lại thủ đô. Nhân sự
kiện có tính lịch sử này, Tố
Hữu đã sáng tác bài thơ.

Việt Bắc là khúc ca hùng
tráng và cũng là khúc tình ca
về cách mạng, về cuộc kháng
chiến và con người kháng
chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân
tình sâu nặng với nhân dân,
đất nước trong niềm tự hào
dân tộc…
Việt Bắc là khúc hát ân tình
chung của những người cách
mạng, những người kháng
chiến, của cả dân tộc qua tiếng
lòng của nhà thơ. Bên cạnh
đó, bài thơ còn cất lên âm
hưởng anh hùng ca vang dội,
đưa ta về với một thời kì lịch
sử hào hùng, trọng đại của đất
nước.
Sử dụng sáng tạo hai đại từ
“mình, ta” với lối đối đáp giao
duyên trong dân ca, để diễn
đạt tình cảm cách mạng.
Bài thơ Việt Bắc thể hiện tính
dân tộc đậm đà. Sử dụng
thành công thể thơ lục bát
truyền thống. Ngôn ngữ, hình
ảnh giản dị, quen thuộc, gần
gũi, đậm sắc thái dân gian. Sử
dụng nhiều biện pháp nghệ
thuật tài hoa như điệp từ, liệt
kê, so sánh, ẩn dụ tượng
trưng. Nhịp điệu thơ uyển
chuyển ngân vang, giọng điệu
thay đổi linh hoạt.

Đất Nước

Đoạn trích nằm ở phần đầu
chương V của trường ca Mặt
đường khát vọng. Tác phẩm đồ
sộ này được ông viết ở chiến
khu Trị Thiên năm 1971 trong
những năm tháng chiến tranh
chống Mĩ đầy ác liệt, nhà thơ
Nguyễn Khoa Điềm trực tiếp
cầm súng chiến đấu trên chiến

Tác phẩm là cách khám phá
đất nước trên các bình diện
khác nhau của nhà thơ
Nguyễn Khoa Điềm, đặc biệt
làm nổi bật lên tư tưởng đất
nước của nhân dân, đất nước
của ca dao thần thoại.
Giọng thơ trữ tình, chính trị,

17

trường. “Mặt đường khát vọng”
với ý nghĩa thức tỉnh tuổi trẻ,
bồi đắp thêm tình yêu quê
hương đất nước, nhân dân, ý
thức về trách nhiệm của bản
thân cần hòa cùng cuộc chiến
đấu của dân tộc, tham gia vào
cuộc đấu tranh giải phóng nhân
dân.
Sóng

cảm xúc sâu lắng, thiết tha.
Chất liệu văn hóa, văn học
dân gian được sử dụng nhuần
nhị, sáng tạo

Sóng được sáng tác năm 1967
trong chuyến đi thực tế ở vùng
biển Diêm Điền (Thái Bình), là
một bài thơ đặc sắc viết về tình
yêu, rất tiêu biểu cho phong
cách thơ Xuân Quỳnh

Bài thơ là sự cảm nhận về tình
yêu từ hình tượng sóng với tất
cả những sắc thái, cung bậc
(nỗi nhớ, sự thủy chung, trắc
trở) và cả khát vọng vĩnh cửu
hóa tình yêu của một tâm hồn
Bài thơ in trong tập Hoa dọc phụ nữ luôn chân thành, khát
khao hạnh phúc.
chiến hào
Hình tượng sóng đôi giúp nhà
thơ diễn tả những cảm xúc khó
nói trong tình yêu
Thể thơ năm chữ với cách ngắt
nhịp linh hoạt phù hợp trong
việc diễn tả các cung bậc, sắc
thái cảm xúc khác nhau.
Ngôn ngữ gần gũi, trong sáng,
dung dị, tinh tế.

Người lái đò
sông Đà

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”
được in trong tập tuỳ bút “Sông
Đà” (1960), gồm 15 bài tuỳ bút
và một bài thơ ở dạng phác
thảo. Tác phẩm được viết trong
thời kì xây dựng CNXH ở miền
Bắc. Đó là kết quả của chuyến
đi thực tế của nhà văn đến Tây
Bắc trong kháng chiến chống
Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực
tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến
với nhiều vùng đất khác nhau,
sống với bộ đội, công nhân và
đồng bào các dân tộc. Thực tiễn
xây dựng cuộc sống mới ở vùng
cao đã đem đến cho nhà văn

Người lái đò sông Đà là một
áng văn đẹp được làm nên từ
tình yêu đất nước say đắm,
thiết tha của một con người
muốn dùng văn chương để ca
ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào
hùng, vừa trữ tình, thơ mộng
của thiên nhiên và nhất là của
con người lao động bình dị ở
miền Tây Bắc.
Một con sông “hung bạo” và
“Trữ tình”
Một người lái đò tiêu biểu cho
vẻ đẹp của con người Tây Bắc
tài trí dũng cảm trong lao động.

18

nguồn cảm hứng sáng tạo.

Đậm chất tài hoa uyên bác

Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy
nghiêm, hùng vĩ và tuyệt vời
thơ mộng, Nguyễn Tuân còn
phát hiện những điểm quý báu
trong tâm hồn con người mà
ông gọi là “thứ vàng mười đã
được thử lửa, là chất vàng mười
của tâm hồn Tây Bắc.”

Tác phẩm giàu chất thông tin,
thời sự. Tác giả đã huy động
vốn tri thức chuyên môn của
nhiều ngành văn hóa, nghệ
thuật khác nhau.
Lối so sánh liên tưởng độc đáo.
Ngôn ngữ giàu có, tinh tế hiện
đại, giàu cảm xúc, đậm chất tạo
hình, rất sắc sảo.
Tác phẩm thể hiện được một số
dặc trưng cơ bản của P/C
Nguyễn Tuân ( Có cảm hứng
đặc biệt với những hiện tượng
đập mạnh vào giác quan nghệ
sĩ, tiếp cận con người ở
phương diện tài hoa nghệ sĩ, sử
dụng tùy bút pha bút kí rất
phóng túng.

Ai đã đặt tên
cho dòng
sông?

Bài kí Ai đã đặt tên cho dòng
sông in trong tập bút kí cùng
tên. Tập sách gồm tám bài kí,
viết ngay sau chiến thắng mùa
xuân 1975, đang bừng bừng
cảm hứng ngợi ca chủ nghĩa anh
hùng cách mạng. Nhưng ở
Hoàng Phủ Ngọc Tường, lòng
yêu nước, tinh thần dân tộc
thuờng gắn với tình yêu thiên
nhiên và truyền thống văn hóa
sâu sắc.

Bài kí ngợi ca dòng sông
Hương và rộng hơn là vùng đất
cố đô Huế đẹp thơ mộng hữu
tình, ca ngợi lịch sử vẻ vang
của Huế, ca ngợi văn hóa và
tâm hồn người Huế.
Tác giả coi sông Hương là biểu
tượng cho tất cả những gì là vẻ
đẹp của cảnh và người đất cố
đô này.
Bài kí chứng tỏ sự gắn bó máu
thịt, tình yêu thiết tha với Huế
và một vốn hiểu biết sâu sắc về
nền văn hóa đất cố đô của tác
giả HPNT.
Đọan trích là đoạn văn xuôi
súc tích và đày chất thơ về
sông Hương. Nét đắc sắc làm
nên ...
 
Gửi ý kiến