sáng kiến kinh nghiệm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Phương Thảo
Ngày gửi: 09h:22' 21-01-2025
Dung lượng: 919.4 KB
Số lượt tải: 84
Nguồn:
Người gửi: Trần Phương Thảo
Ngày gửi: 09h:22' 21-01-2025
Dung lượng: 919.4 KB
Số lượt tải: 84
Số lượt thích:
0 người
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ
TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG
Mã số: ................................
(Do HĐCNSK cấp trên ghi)
SÁNG KIẾN
VẬN DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC Ở HỌC SINH
Người thực hiện: TRẦN PHƯƠNG THẢO
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: .......................................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in sáng kiến
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2022-2023
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ
TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG
Mã số: ................................
(Do HĐCNSK cấp trên ghi)
SÁNG KIẾN
VẬN DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC Ở HỌC SINH
Người thực hiện: TRẦN PHƯƠNG THẢO
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: .......................................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in sáng kiến
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2022-2023
MỤC LỤC
STT
Mở đầu
Nội dung
Kết luận
Nội dung
1. Thực trạng của biện pháp đã biết
Trang
7
2. Lý do chọn giải pháp
6-7
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
7
4. Mục đích nghiên cứu
7
I. Thực trạng của giải pháp đã biết, đã có
7-10
II. Nội dung sáng kiến
10-16
1. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp 16
dụng sáng kiến
2. Những kiến nghị, đề xuất điều kiện để triển khai,ứng 16-17
dụng sáng kiến vào thực tiễn.
Tài liệu
3. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
17
Tài liệu tham khảo
17
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1. Giáo viên (GV, T)
2. Học sinh (HS, Ss)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến Trường trường tiểu học Kim Đồng
Tôi ghi tên dưới đây:
Số
TT
1
Nơi công
tác
Chức
danh
Trình độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%) đóng
góp vào việc tạo
ra sáng kiến
Trần
Trường
01/01/1997
Phương
Tiểu học
Thảo
Kim Đồng
Giáo
viên
Cử nhân
Tiểu học
100%
Họ và
tên
Ngày
tháng
năm sinh
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Vận dụng biện pháp phát huy tính
tích cực, tự giác ở học sinh.
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
- Ngày sáng kiến được áp dụng: 15/09/2022
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Biện pháp rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học hình thành lòng ham
học, khơi dậy khả năng vốn có ở học sinh nhằm nêu cao khả năng tự học. Chuyển
biến từ học thụ động sang tự học chủ động.
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Đòi hỏi người giáo viên luôn sát sao quan tâm, để ý và trên hết là kiên trì với học
sinh của mình.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến
theo ý kiến của tác giả:
Hiệu quả xã hội: Sau khi áp dụng biện pháp phát huy tính tích cực tự giác của
học sinh thì tôi đạt được một số hiệu quả đối với học sinh của mình như sau:
+ Đối với môn toán các em hoàn thành tốt và đầy đủ các bài tập cô giao, rút
ngắn được số học sinh học chậm. Các em ít xòe tay tính các phép tính cộng trừ trong
phạm vi 10 và nhẩm nhanh hơn.
+ Số học sinh đọc chậm đã giảm đi đáng kể về số lượng, số học sinh đọc chậm
giảm mạnh từ giữa học kì 1, các em có những tiến bộ nhất định đáng khen ngợi. Khả
năng viết của các em cũng thay đổi rõ rệt, khi viết chính tả lỗi chính tả đã giảm hẳn.
Do các em tích cực đọc bài và tự giác luyện viết thường xuyên mà tiến bộ. Tình trạng
học sinh ngồi không, làm biếng không chịu làm bài đã thu hẹp hẳn.
+ Đầu năm lớp tôi có 1 em học lớp 1 bị kiểm tra lại môn tiếng việt, do em bị
ngọng nặng nên khả năng đọc và viết chính tả bị hạn chế rất nhiều. Nhưng bây giờ em
đã tiến bộ đáng kể, em đọc trôi chảy hơn và viết không còn mắc lỗi nhiều như trước.
Ở học sinh này thể hiện rõ nét nhất sự hiệu quả của biện pháp mà tôi đang áp dụng.
Với biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh đã khơi dậy được lòng ham
mê học tập, cũng như khơi dậy được khả năng vốn có của học sinh.
Hiệu quả của biện pháp giúp chất lượng của lớp được nâng lên được thể
hiện qua bảng tổng hợp sau:
Thời điểm
đánh giá
TSHS
Đầu năm
Môn Toán
Môn Tiếng Việt
HTT
HT
CHT
HTT
HT
CHT
27
11
12
4
10
12
5
GHK I
27
15
11
1
14
11
2
CHK I
27
22
5
0
20
7
0
Tôi chưa sử dụng kết quả công nhận sáng kiến, kết quả công nhận phạm vi ảnh
hưởng và hiệu quả áp dụng của sáng kiến này lần nào.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ NƠI
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN CÔNG TÁC
Phú Thịnh, ngày 03 tháng 03 năm 2023
NGƯỜI NỘP ĐƠN
Trần Phương Thảo
II. PHẦN NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Thực trạng của biện pháp đã biết, đã có
Trước khi có biện pháp mới nhằm khắc phục những thiếu xót của biện pháp cũ
đã được áp dụng thì tôi đã áp dụng một số biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác
của học sinh như sau:
- Đối với học sinh:
+ Phân công quản lý lớp: Giao cho ban cán sự lớp quản tổ, quản lớp để giữ trật
tự trong giờ học
+ Các bạn ngồi cùng bàn nhắc nhở bạn làm bài khi bạn mất tập trung
- Đối với giáo viên:
+ Có một số hình thức nhắc nhở khi học sinh mất tập trung không tự giác làm
bài tập
+ Thông báo với phụ huynh tình hình học tập của học sinh trực tiếp hoặc qua
điện thoại
+ Quan tâm giảng dạy tận tình khi học sinh chưa hiểu bài hay gặp khó khăn
trong học tập, khi gặp các vấn đề cần quan tâm.
=> Ưu điểm:
- Học sinh im lặng, biết tập trung học
- Phụ huynh quan tâm, kèm cặp học sinh tại nhà hơn
=> Nhược điểm:
- Chỉ được nhất thời tại thời điểm học sinh bị nhắc nhở
- Biện pháp này mang tính chất ép buộc học sinh phải học, không phát huy
được tính tích cực, tự giác của học sinh.
- Không áp dụng lâu dài được, mức độ hiệu quả không cao.
2. Nội dung biện pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
a. Mục đích của biện pháp
Trong thời buổi công nghệ thông tin đang bùng nổ thì không thể nhồi nhét vào
đầu học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều một cách rập khuôn và thụ động.
Vì thế, phải quan tâm rèn luyện cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học
và càng lên các bậc học cao hơn thì phương pháp này càng được học sinh áp dụng và
phát huy.
Trong các phương pháp học thì then chốt là phương pháp tự học nên cần rèn
luyện tính tích cực, tự giác học tập cho học sinh ngay từ bậc tiểu học. Để hình thành
lòng ham học, khơi dậy khả năng vốn có ở học sinh nhằm nêu cao khả năng tự học.
Chuyển biến từ học thụ động sang tự học chủ động.
Từ đó, việc học của học sinh được cải thiện mà việc giảng dạy của giáo viên
cũng trở nên hiệu quả.
b. Nội dung biện pháp
* Biện pháp 1: Khuyến khích học sinh đưa ra các thắc mắc:
Giáo viên giúp học sinh hình thành và rèn luyện thói quen tự học thông qua việc
khích lệ học sinh đưa ra các thắc mắc về bài học cũng như các vấn đề khác trong đời
sống, xã hội,...
Nhiều học sinh thường nhút nhát không dám nêu lên ý kiến và quan điểm của
mình nên giáo viên cần khích lệ và tạo điều kiện mời các em nêu ý kiến ngay cả khi
các em chưa xung phong phát biểu hoặc đang thập thò tay muốn phát biểu. Sau nhiều
lần các em được trình bày trước lớp và được công nhận các em sẽ tự tin và có động
lực tham gia xây dựng bài hơn.
* Biện pháp 2: Phá bỏ khoảng cách giữa thầy và trò:
Giáo viên tạo sự thân thiện thoải mái, luôn cởi mở và hay hơn nữa là ngồi gần
học sinh để dễ dàng phá bỏ rào cản giữa thầy và trò thuận tiện để trao đổi các vấn đề
trong học tập cũng như trong cuộc sống với học sinh. Học sinh có cảm giác gần gũi
giữa thầy và trò mà mạnh dạng trưng cầu ý kiến của mình trong giờ học. Từ đó giáo
viên nắm bắt được những khó khăn của học sinh mà giúp học sinh giải đáp. Khi các
em được giải đáp thắc mắc và đã nắm được phương pháp làm bài thì các em sẽ hứng
thú làm bài tập mà không cần giáo viên nhắc nhở.
Nếu giáo viên không tiếp cận học sinh sẽ không thể nào biết được học sinh đang
gặp những khó khăn, khúc mắc nào trong học tập cũng như trong các hoạt động tại
lớp, trường để giúp học sinh gỡ rối, giải quyết. Lâu dần sẽ ảnh hưởng đến học sinh và
cụ thể là chất lượng học tập của các em sa sút.
VD: Có học sinh chưa nắm được cách tính trừ có nhớ trong phạm vi 100 nhưng
em không dám trình bày với cô và có biểu hiện không tập trung, làm biếng không làm
bài. Dẫn tới bài vở chưa xong và ảnh hưởng đến các học sinh khác. Lúc này, nếu học
sinh cảm thấy giáo viên có thể lắng nghe ý kiến của mình thì học sinh sẽ bày tỏ với cô
những chỗ em chưa hiểu và giáo viên sẽ nắm bắt được mà giúp học sinh giải quyết
vấn đề.
* Biện pháp 3: Đặc biệt quan tâm các học sinh thiếu tự tin:
Giáo viên cần đặc biệt quan tâm và để ý các học sinh thiếu tự tin và ngại phát
biểu lúc này giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh được phát biểu để thúc đẩy tính
ham học của học sinh.
Khi học sinh trả lời chưa đúng cần động viên khích lệ và tiếp tục mời học sinh
phát biểu hoặc thường xuyên mời học sinh lên bảng làm bài để học sinh mạnh dạn
hơn. Lưu ý mời trả lời những câu hỏi, bài tập trong khả năng của học sinh để học sinh
tự tin dần, sau nhiều lần trả lời đúng rồi tăng dần độ khó của câu hỏi hoặc bài tập lên.
* Biện pháp 4: Có phương pháp phù hợp với hoàn cảnh và năng lực học
sinh:
Biện pháp áp dụng khi ở nhà: Giáo viên có phương pháp phù hợp với hoàn
cảnh và khả năng của học sinh để giúp các em tự rèn luyện ở nhà khi không có sự trợ
giúp của người thân, nhờ phối hợp các kĩ năng vốn có của học sinh.
VD: Học sinh bị ngọng và đọc bài chưa tốt nên rất lười đọc bài, phụ huynh lại
không có thời gian kèm học sinh. Lúc này để học sinh rèn khả năng đọc tôi yêu cầu
học sinh ở nhà viết lại bài tập đọc đó 2 lần và hôm sau tôi mời học sinh lên đọc bài để
kiểm tra và chỉnh lỗi. Khi viết học sinh sẽ đánh vần và từ đó khả năng đọc của học
sinh sẽ được cải thiện đáng kể.
Biện pháp áp dụng khi ở lớp: Ngoài thời gian giáo viên kèm đọc cho học sinh
chậm thì giáo viên nên để các bạn đọc tốt thay mình hỗ trợ các bạn đọc chưa tốt bằng
cách chỉnh lỗi, kèm cặp cho bạn. Lưu ý phải thường xuyên thay đổi học sinh kèm bạn
để tránh sự nhàm chán mất tập trung của cả hai học sinh.
* Biện pháp 5: Hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học
Hướng dẫn, hỗ trợ trong quá trình học sinh tự học trên lớp đảm bảo cho học sinh
khi cần trợ giúp là được trợ giúp kịp thời, không để các em bế tắc quá lâu. Khi giao
nhiệm vụ giáo viên cần dành cho học sinh thời gian để nghiên cứu, không nên giám
sát quá mức mà vô tình tạo áp lực cho học sinh, để học sinh chủ động tra cứu, tìm
nguồn thông tin mình cần để giải quyết vấn đề. Đặc biệt, không trợ giúp, hướng dẫn
khi chưa cần thiết vì sẽ tạo thói quen ỉ lại. Nghĩa là giáo viên luôn theo dõi nhưng vẫn
tạo tính tự chủ cho học sinh trong quá trình tự học.
* Biện pháp 6: Quan sát kĩ tiến trình tự học của học sinh
Giáo viên cần chú ý quan sát kỹ tiến trình tự học của học sinh khi được giao và
thực hiện nhiệm vụ học tập nhằm nắm bắt năng lực, sở trường của học sinh. Việc phát
hiện ra năng lực, sở trường của học sinh là một việc quan trọng trong bồi dưỡng tính
tự học cho học sinh. Khi nắm bắt được năng lực, sở trường của học sinh giáo viên có
thể giao cho các em một số nhiệm vụ phù hợp với năng lực, sở trường cũng như sở
thích của các em để các em tự tìm tòi, tự thực hiện.
VD: Học sinh Thịnh có năng lực về toán thì trong tổ chức luyện tập được giao
các bài khó hơn, hoặc tìm cách giải khác cho bài đó, được giao thêm bài tập khó làm
ngoài giờ lên lớp; học sinh Trân có năng lực về đọc diễn cảm, diễn thuyết được phụ
trách dẫn chương trình cho hoạt động chung của lớp. Khi đó các em tự nghiên cứu và
phát huy năng lực, sở trường của mình.
* Biện pháp 7: Động viên mức độ đạt được và khuyến khích kịp thời
Động viên mức độ đạt được và khuyến khích kịp thời những tiến bộ dù là nhỏ
nhất của học sinh trong quá trình học tập. Một số giáo viên có thói quen chỉ khen và
yêu cầu cả lớp cùng khen những học sinh giỏi mà ít chú ý động viên, khen trước tập
thể những tiến bộ nhỏ của những học sinh còn chậm. Đối với học sinh tiếp thu chậm
thì lời động viên, khen của cô và cổ vũ của các bạn là rất quan trọng vì tiến bộ rất nhỏ
của các em này tuy so với bạn khá thì nhỏ nhưng với em đó là rất lớn và lời động
viên, khen của cô và cổ vũ của các bạn sẽ là nguồn động lực để cho các em tiến bộ
tiếp sau này.
Một lời khen tưởng chừng như đơn giản , nhỏ nhặt nhưng lại đem đến niềm vui,
nguồn động lực vô giá cho các học sinh còn học chậm đang chờ được công nhận và
cần được công nhận sự cố gắng của mình.
3.Đánh giá sáng kiến được tạo ra
a. Tính mới:
Biện pháp đã được sửa đổi, cải tiến từ một phần đã có để xây dựng đưa vào áp
dụng thực hiện tại lớp có hiệu quả cao trong việc giảng dạy học sinh về ý thức tự giác,
tích cực trong việc học tập.
b. Hiệu quả áp dụng
Năm ngoái do ảnh hưởng của dịch covid nên mất một khoảng thời gian các em
học trên mạng ít nhiều cũng ảnh hưởng tới khả năng tiếp thu kiến thức của các em
chưa được hiệu quả hoặc có thì cũng chưa khắc sâu nên khi lên lớp 2 hầu hết các em
quên kiến thức nên đọc bài rất chậm, số học sinh còn đánh vần khi đọc bài còn nhiều,
từ đọc bài chưa tốt nên khả năng viết của các em cũng hạn chế rất nhiều. Về môn toán
có nhiều em chưa tính nhẩm được các phép cộng trừ trong phạm vi 10, nhiều em còn
xòe tay ra tính và tính rất chậm. Từ những lỗ hổng về kiến thức như vậy cũng khiến
cho một số em tự ti,nhút nhát, có em theo bài không kịp nên lơ là, mất tập trung và
lười học không tích cực, không tự giác trong học tập.
Sau khi áp dụng biện pháp phát huy tính tích cực tự giác của học sinh thì tôi đạt
được một số hiệu quả đối với học sinh của mình như sau:
- Đối với môn toán các em hoàn thành tốt và đầy đủ các bài tập cô giao, rút ngắn
được số học sinh học chậm. Các em ít xòe tay tính các phép tính cộng trừ trong phạm
vi 10 và nhẩm nhanh hơn.
- Số học sinh đọc chậm đã giảm đi đáng kể về số lượng, số học sinh đọc chậm
giảm mạnh từ giữa học kì 1, các em có những tiến bộ nhất định đáng khen ngợi. Khả
năng viết của các em cũng thay đổi rõ rệt, khi viết chính tả lỗi chính tả đã giảm hẳn.
Do các em tích cực đọc bài và tự giác luyện viết thường xuyên mà tiến bộ. Tình trạng
học sinh ngồi không, làm biếng không chịu làm bài đã thu hẹp hẳn.
- Đầu năm lớp tôi có 1 em học lớp 1 bị kiểm tra lại môn tiếng việt, do em bị
ngọng nặng nên khả năng đọc và viết chính tả bị hạn chế rất nhiều. Nhưng bây giờ em
đã tiến bộ đáng kể, em đọc trôi chảy hơn và viết không còn mắc lỗi nhiều như trước.
Ở học sinh này thể hiện rõ nét nhất sự hiệu quả của biện pháp mà tôi đang áp dụng.
Với biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh đã khơi dậy được lòng ham
mê học tập, cũng như khơi dậy được khả năng vốn có của học sinh.
Hiệu quả của biện pháp giúp chất lượng của lớp được nâng lên được thể
hiện qua bảng tổng hợp sau:
Thời điểm
đánh giá
TSHS
Đầu năm
Môn Toán
Môn Tiếng Việt
HTT
HT
CHT
HTT
HT
CHT
27
11
12
4
10
12
5
GHK I
27
15
11
1
14
11
2
CHK I
27
22
5
0
20
7
0
c. Khả năng áp dụng:
- Áp dụng thử nghiệm trong tổ khối và các khối lớp khác trong trường tùy vào
khả năng của mỗi giáo viên.
- Sáng kiến này đã áp dụng tại lớp, tại trường có hiệu quả và có khả năng áp
dụng trong toàn huyện dành cho khối tiểu học.
III. PHẦN KẾT LUẬN
1. Những bài học được rút ra từ quá trình áp dụng kinh nghiệm
Để thực hiện tốt công tác giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết
với công việc, có lòng yêu mến học sinh, luôn mong muốn tất cả học sinh từ giỏi cho
đến học sinh chậm, từ học sinh có điều kiện khó khăn đến học sinh có điều kiện đầy
đủ đều cảm nhận được sự công tâm, sự quan tâm đầy đủ của giáo viên dành cho mình.
Bản thân giáo viên không ngừng trau dồi, học hỏi, tìm tòi những phương pháp giáo
dục học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, giúp HS phát triển toàn diện về
năng lực, phẩm chất và tinh thần.
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
2. Những kiến nghị, đề xuất điều kiện để triển khai, áp dụng sáng kiến vào
thực tiễn:
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần trú trọng việc rèn luyện cho học sinh
tính tự học
- Giáo viên cần tìm phương pháp phù hợp cho học sinh rèn khả năng còn thiếu
xót
- Giáo viên cần nhiệt tình quan tâm đến tất cả học sinh.
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
Xác nhận của đơn vị áp dụng biện pháp
Người báo cáo biện pháp
Trần Phương Thảo
TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG
Mã số: ................................
(Do HĐCNSK cấp trên ghi)
SÁNG KIẾN
VẬN DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC Ở HỌC SINH
Người thực hiện: TRẦN PHƯƠNG THẢO
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: .......................................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in sáng kiến
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2022-2023
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ
TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG
Mã số: ................................
(Do HĐCNSK cấp trên ghi)
SÁNG KIẾN
VẬN DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC Ở HỌC SINH
Người thực hiện: TRẦN PHƯƠNG THẢO
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: .......................................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in sáng kiến
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2022-2023
MỤC LỤC
STT
Mở đầu
Nội dung
Kết luận
Nội dung
1. Thực trạng của biện pháp đã biết
Trang
7
2. Lý do chọn giải pháp
6-7
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
7
4. Mục đích nghiên cứu
7
I. Thực trạng của giải pháp đã biết, đã có
7-10
II. Nội dung sáng kiến
10-16
1. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp 16
dụng sáng kiến
2. Những kiến nghị, đề xuất điều kiện để triển khai,ứng 16-17
dụng sáng kiến vào thực tiễn.
Tài liệu
3. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
17
Tài liệu tham khảo
17
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1. Giáo viên (GV, T)
2. Học sinh (HS, Ss)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến Trường trường tiểu học Kim Đồng
Tôi ghi tên dưới đây:
Số
TT
1
Nơi công
tác
Chức
danh
Trình độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%) đóng
góp vào việc tạo
ra sáng kiến
Trần
Trường
01/01/1997
Phương
Tiểu học
Thảo
Kim Đồng
Giáo
viên
Cử nhân
Tiểu học
100%
Họ và
tên
Ngày
tháng
năm sinh
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Vận dụng biện pháp phát huy tính
tích cực, tự giác ở học sinh.
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
- Ngày sáng kiến được áp dụng: 15/09/2022
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Biện pháp rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học hình thành lòng ham
học, khơi dậy khả năng vốn có ở học sinh nhằm nêu cao khả năng tự học. Chuyển
biến từ học thụ động sang tự học chủ động.
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Đòi hỏi người giáo viên luôn sát sao quan tâm, để ý và trên hết là kiên trì với học
sinh của mình.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến
theo ý kiến của tác giả:
Hiệu quả xã hội: Sau khi áp dụng biện pháp phát huy tính tích cực tự giác của
học sinh thì tôi đạt được một số hiệu quả đối với học sinh của mình như sau:
+ Đối với môn toán các em hoàn thành tốt và đầy đủ các bài tập cô giao, rút
ngắn được số học sinh học chậm. Các em ít xòe tay tính các phép tính cộng trừ trong
phạm vi 10 và nhẩm nhanh hơn.
+ Số học sinh đọc chậm đã giảm đi đáng kể về số lượng, số học sinh đọc chậm
giảm mạnh từ giữa học kì 1, các em có những tiến bộ nhất định đáng khen ngợi. Khả
năng viết của các em cũng thay đổi rõ rệt, khi viết chính tả lỗi chính tả đã giảm hẳn.
Do các em tích cực đọc bài và tự giác luyện viết thường xuyên mà tiến bộ. Tình trạng
học sinh ngồi không, làm biếng không chịu làm bài đã thu hẹp hẳn.
+ Đầu năm lớp tôi có 1 em học lớp 1 bị kiểm tra lại môn tiếng việt, do em bị
ngọng nặng nên khả năng đọc và viết chính tả bị hạn chế rất nhiều. Nhưng bây giờ em
đã tiến bộ đáng kể, em đọc trôi chảy hơn và viết không còn mắc lỗi nhiều như trước.
Ở học sinh này thể hiện rõ nét nhất sự hiệu quả của biện pháp mà tôi đang áp dụng.
Với biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh đã khơi dậy được lòng ham
mê học tập, cũng như khơi dậy được khả năng vốn có của học sinh.
Hiệu quả của biện pháp giúp chất lượng của lớp được nâng lên được thể
hiện qua bảng tổng hợp sau:
Thời điểm
đánh giá
TSHS
Đầu năm
Môn Toán
Môn Tiếng Việt
HTT
HT
CHT
HTT
HT
CHT
27
11
12
4
10
12
5
GHK I
27
15
11
1
14
11
2
CHK I
27
22
5
0
20
7
0
Tôi chưa sử dụng kết quả công nhận sáng kiến, kết quả công nhận phạm vi ảnh
hưởng và hiệu quả áp dụng của sáng kiến này lần nào.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ NƠI
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN CÔNG TÁC
Phú Thịnh, ngày 03 tháng 03 năm 2023
NGƯỜI NỘP ĐƠN
Trần Phương Thảo
II. PHẦN NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Thực trạng của biện pháp đã biết, đã có
Trước khi có biện pháp mới nhằm khắc phục những thiếu xót của biện pháp cũ
đã được áp dụng thì tôi đã áp dụng một số biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác
của học sinh như sau:
- Đối với học sinh:
+ Phân công quản lý lớp: Giao cho ban cán sự lớp quản tổ, quản lớp để giữ trật
tự trong giờ học
+ Các bạn ngồi cùng bàn nhắc nhở bạn làm bài khi bạn mất tập trung
- Đối với giáo viên:
+ Có một số hình thức nhắc nhở khi học sinh mất tập trung không tự giác làm
bài tập
+ Thông báo với phụ huynh tình hình học tập của học sinh trực tiếp hoặc qua
điện thoại
+ Quan tâm giảng dạy tận tình khi học sinh chưa hiểu bài hay gặp khó khăn
trong học tập, khi gặp các vấn đề cần quan tâm.
=> Ưu điểm:
- Học sinh im lặng, biết tập trung học
- Phụ huynh quan tâm, kèm cặp học sinh tại nhà hơn
=> Nhược điểm:
- Chỉ được nhất thời tại thời điểm học sinh bị nhắc nhở
- Biện pháp này mang tính chất ép buộc học sinh phải học, không phát huy
được tính tích cực, tự giác của học sinh.
- Không áp dụng lâu dài được, mức độ hiệu quả không cao.
2. Nội dung biện pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
a. Mục đích của biện pháp
Trong thời buổi công nghệ thông tin đang bùng nổ thì không thể nhồi nhét vào
đầu học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều một cách rập khuôn và thụ động.
Vì thế, phải quan tâm rèn luyện cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học
và càng lên các bậc học cao hơn thì phương pháp này càng được học sinh áp dụng và
phát huy.
Trong các phương pháp học thì then chốt là phương pháp tự học nên cần rèn
luyện tính tích cực, tự giác học tập cho học sinh ngay từ bậc tiểu học. Để hình thành
lòng ham học, khơi dậy khả năng vốn có ở học sinh nhằm nêu cao khả năng tự học.
Chuyển biến từ học thụ động sang tự học chủ động.
Từ đó, việc học của học sinh được cải thiện mà việc giảng dạy của giáo viên
cũng trở nên hiệu quả.
b. Nội dung biện pháp
* Biện pháp 1: Khuyến khích học sinh đưa ra các thắc mắc:
Giáo viên giúp học sinh hình thành và rèn luyện thói quen tự học thông qua việc
khích lệ học sinh đưa ra các thắc mắc về bài học cũng như các vấn đề khác trong đời
sống, xã hội,...
Nhiều học sinh thường nhút nhát không dám nêu lên ý kiến và quan điểm của
mình nên giáo viên cần khích lệ và tạo điều kiện mời các em nêu ý kiến ngay cả khi
các em chưa xung phong phát biểu hoặc đang thập thò tay muốn phát biểu. Sau nhiều
lần các em được trình bày trước lớp và được công nhận các em sẽ tự tin và có động
lực tham gia xây dựng bài hơn.
* Biện pháp 2: Phá bỏ khoảng cách giữa thầy và trò:
Giáo viên tạo sự thân thiện thoải mái, luôn cởi mở và hay hơn nữa là ngồi gần
học sinh để dễ dàng phá bỏ rào cản giữa thầy và trò thuận tiện để trao đổi các vấn đề
trong học tập cũng như trong cuộc sống với học sinh. Học sinh có cảm giác gần gũi
giữa thầy và trò mà mạnh dạng trưng cầu ý kiến của mình trong giờ học. Từ đó giáo
viên nắm bắt được những khó khăn của học sinh mà giúp học sinh giải đáp. Khi các
em được giải đáp thắc mắc và đã nắm được phương pháp làm bài thì các em sẽ hứng
thú làm bài tập mà không cần giáo viên nhắc nhở.
Nếu giáo viên không tiếp cận học sinh sẽ không thể nào biết được học sinh đang
gặp những khó khăn, khúc mắc nào trong học tập cũng như trong các hoạt động tại
lớp, trường để giúp học sinh gỡ rối, giải quyết. Lâu dần sẽ ảnh hưởng đến học sinh và
cụ thể là chất lượng học tập của các em sa sút.
VD: Có học sinh chưa nắm được cách tính trừ có nhớ trong phạm vi 100 nhưng
em không dám trình bày với cô và có biểu hiện không tập trung, làm biếng không làm
bài. Dẫn tới bài vở chưa xong và ảnh hưởng đến các học sinh khác. Lúc này, nếu học
sinh cảm thấy giáo viên có thể lắng nghe ý kiến của mình thì học sinh sẽ bày tỏ với cô
những chỗ em chưa hiểu và giáo viên sẽ nắm bắt được mà giúp học sinh giải quyết
vấn đề.
* Biện pháp 3: Đặc biệt quan tâm các học sinh thiếu tự tin:
Giáo viên cần đặc biệt quan tâm và để ý các học sinh thiếu tự tin và ngại phát
biểu lúc này giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh được phát biểu để thúc đẩy tính
ham học của học sinh.
Khi học sinh trả lời chưa đúng cần động viên khích lệ và tiếp tục mời học sinh
phát biểu hoặc thường xuyên mời học sinh lên bảng làm bài để học sinh mạnh dạn
hơn. Lưu ý mời trả lời những câu hỏi, bài tập trong khả năng của học sinh để học sinh
tự tin dần, sau nhiều lần trả lời đúng rồi tăng dần độ khó của câu hỏi hoặc bài tập lên.
* Biện pháp 4: Có phương pháp phù hợp với hoàn cảnh và năng lực học
sinh:
Biện pháp áp dụng khi ở nhà: Giáo viên có phương pháp phù hợp với hoàn
cảnh và khả năng của học sinh để giúp các em tự rèn luyện ở nhà khi không có sự trợ
giúp của người thân, nhờ phối hợp các kĩ năng vốn có của học sinh.
VD: Học sinh bị ngọng và đọc bài chưa tốt nên rất lười đọc bài, phụ huynh lại
không có thời gian kèm học sinh. Lúc này để học sinh rèn khả năng đọc tôi yêu cầu
học sinh ở nhà viết lại bài tập đọc đó 2 lần và hôm sau tôi mời học sinh lên đọc bài để
kiểm tra và chỉnh lỗi. Khi viết học sinh sẽ đánh vần và từ đó khả năng đọc của học
sinh sẽ được cải thiện đáng kể.
Biện pháp áp dụng khi ở lớp: Ngoài thời gian giáo viên kèm đọc cho học sinh
chậm thì giáo viên nên để các bạn đọc tốt thay mình hỗ trợ các bạn đọc chưa tốt bằng
cách chỉnh lỗi, kèm cặp cho bạn. Lưu ý phải thường xuyên thay đổi học sinh kèm bạn
để tránh sự nhàm chán mất tập trung của cả hai học sinh.
* Biện pháp 5: Hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học
Hướng dẫn, hỗ trợ trong quá trình học sinh tự học trên lớp đảm bảo cho học sinh
khi cần trợ giúp là được trợ giúp kịp thời, không để các em bế tắc quá lâu. Khi giao
nhiệm vụ giáo viên cần dành cho học sinh thời gian để nghiên cứu, không nên giám
sát quá mức mà vô tình tạo áp lực cho học sinh, để học sinh chủ động tra cứu, tìm
nguồn thông tin mình cần để giải quyết vấn đề. Đặc biệt, không trợ giúp, hướng dẫn
khi chưa cần thiết vì sẽ tạo thói quen ỉ lại. Nghĩa là giáo viên luôn theo dõi nhưng vẫn
tạo tính tự chủ cho học sinh trong quá trình tự học.
* Biện pháp 6: Quan sát kĩ tiến trình tự học của học sinh
Giáo viên cần chú ý quan sát kỹ tiến trình tự học của học sinh khi được giao và
thực hiện nhiệm vụ học tập nhằm nắm bắt năng lực, sở trường của học sinh. Việc phát
hiện ra năng lực, sở trường của học sinh là một việc quan trọng trong bồi dưỡng tính
tự học cho học sinh. Khi nắm bắt được năng lực, sở trường của học sinh giáo viên có
thể giao cho các em một số nhiệm vụ phù hợp với năng lực, sở trường cũng như sở
thích của các em để các em tự tìm tòi, tự thực hiện.
VD: Học sinh Thịnh có năng lực về toán thì trong tổ chức luyện tập được giao
các bài khó hơn, hoặc tìm cách giải khác cho bài đó, được giao thêm bài tập khó làm
ngoài giờ lên lớp; học sinh Trân có năng lực về đọc diễn cảm, diễn thuyết được phụ
trách dẫn chương trình cho hoạt động chung của lớp. Khi đó các em tự nghiên cứu và
phát huy năng lực, sở trường của mình.
* Biện pháp 7: Động viên mức độ đạt được và khuyến khích kịp thời
Động viên mức độ đạt được và khuyến khích kịp thời những tiến bộ dù là nhỏ
nhất của học sinh trong quá trình học tập. Một số giáo viên có thói quen chỉ khen và
yêu cầu cả lớp cùng khen những học sinh giỏi mà ít chú ý động viên, khen trước tập
thể những tiến bộ nhỏ của những học sinh còn chậm. Đối với học sinh tiếp thu chậm
thì lời động viên, khen của cô và cổ vũ của các bạn là rất quan trọng vì tiến bộ rất nhỏ
của các em này tuy so với bạn khá thì nhỏ nhưng với em đó là rất lớn và lời động
viên, khen của cô và cổ vũ của các bạn sẽ là nguồn động lực để cho các em tiến bộ
tiếp sau này.
Một lời khen tưởng chừng như đơn giản , nhỏ nhặt nhưng lại đem đến niềm vui,
nguồn động lực vô giá cho các học sinh còn học chậm đang chờ được công nhận và
cần được công nhận sự cố gắng của mình.
3.Đánh giá sáng kiến được tạo ra
a. Tính mới:
Biện pháp đã được sửa đổi, cải tiến từ một phần đã có để xây dựng đưa vào áp
dụng thực hiện tại lớp có hiệu quả cao trong việc giảng dạy học sinh về ý thức tự giác,
tích cực trong việc học tập.
b. Hiệu quả áp dụng
Năm ngoái do ảnh hưởng của dịch covid nên mất một khoảng thời gian các em
học trên mạng ít nhiều cũng ảnh hưởng tới khả năng tiếp thu kiến thức của các em
chưa được hiệu quả hoặc có thì cũng chưa khắc sâu nên khi lên lớp 2 hầu hết các em
quên kiến thức nên đọc bài rất chậm, số học sinh còn đánh vần khi đọc bài còn nhiều,
từ đọc bài chưa tốt nên khả năng viết của các em cũng hạn chế rất nhiều. Về môn toán
có nhiều em chưa tính nhẩm được các phép cộng trừ trong phạm vi 10, nhiều em còn
xòe tay ra tính và tính rất chậm. Từ những lỗ hổng về kiến thức như vậy cũng khiến
cho một số em tự ti,nhút nhát, có em theo bài không kịp nên lơ là, mất tập trung và
lười học không tích cực, không tự giác trong học tập.
Sau khi áp dụng biện pháp phát huy tính tích cực tự giác của học sinh thì tôi đạt
được một số hiệu quả đối với học sinh của mình như sau:
- Đối với môn toán các em hoàn thành tốt và đầy đủ các bài tập cô giao, rút ngắn
được số học sinh học chậm. Các em ít xòe tay tính các phép tính cộng trừ trong phạm
vi 10 và nhẩm nhanh hơn.
- Số học sinh đọc chậm đã giảm đi đáng kể về số lượng, số học sinh đọc chậm
giảm mạnh từ giữa học kì 1, các em có những tiến bộ nhất định đáng khen ngợi. Khả
năng viết của các em cũng thay đổi rõ rệt, khi viết chính tả lỗi chính tả đã giảm hẳn.
Do các em tích cực đọc bài và tự giác luyện viết thường xuyên mà tiến bộ. Tình trạng
học sinh ngồi không, làm biếng không chịu làm bài đã thu hẹp hẳn.
- Đầu năm lớp tôi có 1 em học lớp 1 bị kiểm tra lại môn tiếng việt, do em bị
ngọng nặng nên khả năng đọc và viết chính tả bị hạn chế rất nhiều. Nhưng bây giờ em
đã tiến bộ đáng kể, em đọc trôi chảy hơn và viết không còn mắc lỗi nhiều như trước.
Ở học sinh này thể hiện rõ nét nhất sự hiệu quả của biện pháp mà tôi đang áp dụng.
Với biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh đã khơi dậy được lòng ham
mê học tập, cũng như khơi dậy được khả năng vốn có của học sinh.
Hiệu quả của biện pháp giúp chất lượng của lớp được nâng lên được thể
hiện qua bảng tổng hợp sau:
Thời điểm
đánh giá
TSHS
Đầu năm
Môn Toán
Môn Tiếng Việt
HTT
HT
CHT
HTT
HT
CHT
27
11
12
4
10
12
5
GHK I
27
15
11
1
14
11
2
CHK I
27
22
5
0
20
7
0
c. Khả năng áp dụng:
- Áp dụng thử nghiệm trong tổ khối và các khối lớp khác trong trường tùy vào
khả năng của mỗi giáo viên.
- Sáng kiến này đã áp dụng tại lớp, tại trường có hiệu quả và có khả năng áp
dụng trong toàn huyện dành cho khối tiểu học.
III. PHẦN KẾT LUẬN
1. Những bài học được rút ra từ quá trình áp dụng kinh nghiệm
Để thực hiện tốt công tác giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết
với công việc, có lòng yêu mến học sinh, luôn mong muốn tất cả học sinh từ giỏi cho
đến học sinh chậm, từ học sinh có điều kiện khó khăn đến học sinh có điều kiện đầy
đủ đều cảm nhận được sự công tâm, sự quan tâm đầy đủ của giáo viên dành cho mình.
Bản thân giáo viên không ngừng trau dồi, học hỏi, tìm tòi những phương pháp giáo
dục học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, giúp HS phát triển toàn diện về
năng lực, phẩm chất và tinh thần.
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
2. Những kiến nghị, đề xuất điều kiện để triển khai, áp dụng sáng kiến vào
thực tiễn:
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần trú trọng việc rèn luyện cho học sinh
tính tự học
- Giáo viên cần tìm phương pháp phù hợp cho học sinh rèn khả năng còn thiếu
xót
- Giáo viên cần nhiệt tình quan tâm đến tất cả học sinh.
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
Xác nhận của đơn vị áp dụng biện pháp
Người báo cáo biện pháp
Trần Phương Thảo
 









Các ý kiến mới nhất