Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Một số phương pháp, thủ thuật làm bài thi trắc nghiệm đạt kết quả cao nhất của bộ môn Lịch sử ở trường THPT Ngô Lê Tân

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thừa
Ngày gửi: 16h:27' 06-11-2021
Dung lượng: 124.9 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Cùng với quá trình đổi mới và phát triển đất nước thì giáo dục cũng không ngừng thay đổi, làm mới mình để ngày càng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại cũng như những yêu cầu mới của đất nước. Do đó, việc nâng cao chất lượng giáo dục sẽ trở thành một yêu cầu bức thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà đang diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh mẽ về các phương pháp giáo dục cũng như trước thềm áp dụng chương trình mới, sách giáo khoa mới, cách thức thi cử mới vào hệ thống các trường phổ thông trên toàn quốc. Chính vì vậy mà sự cần thiết phải áp dụng các phương pháp mới vào việc dạy học, thi cử là điều cần thiết.
Nhất là hiện nay chúng ta đang xây dựng một nền giáo dục nhằm phát triển toàn diện cho người học. Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế. Đặc biệt do ảnh hưởng của phương pháp dạy học cũ đó là thiên về truyền thụ kiến thức một chiều do đó chưa tạo điều kiện cho người học phát triển năng lực tư duy sáng tạo. Vì vậy dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục và nhu cầu của xã hội.
Cùng với xu thế toàn cầu hóa đang chiếm ưu thế và sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học - công nghệ, điều này đòi hỏi giáo dục nước ta không ngừng có sự thay đổi để không bị tụt hậu so với giáo dục của thế giới. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề lớn của giáo dục và đào tạo trên con đường vơn tới tầm cao của sự văn minh và tiến bộ. Nhiệm vụ đó đòi hỏi giáo dục phải phát huy tính tích cực của người học, nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục ở trường phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm của công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Mỗi môn học trong nhà trường đều có hệ thống phương pháp dạy học phù hợp với môn học của mình. Trong bộ môn lịch sử, cũng có không ít các phương pháp dạy học tích cực để không ngừng nâng cao chất lượng của bộ môn. Nhưng như thế là chưa đủ để có thể đưa các em đạt đến điểm số cao nhất. Do đó, ngoài việc phối hợp tốt các phương các pháp nhằm nâng cao chất lượng trong quá trình dạy học thì chúng ta cần phải hoàn giúp các em hoàn thiện đến khâu cuối cùng đó là các phương pháp, thủ thuật, cách thức làm bài thi sao cho các em học sinh đạt được kết quả cao nhất.
Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy cho thấy các em học sinh chưa biết cách để làm một bài thi sao cho có thể tận dụng được tối đa thời gian làm bài cũng như có thể vận dụng linh hoạt những hiểu biết của mình vào bài thi một cách hiệu quả để đạt được kết quả cao nhất. Trong khi đó hầu như chúng ta lại mặc định việc làm bài thi là của bản thân các em học sinh hoặc nếu có đề cập đến thì cũng chỉ qua loa đại khái, mà điều này lại hết sức quan trọng vì nó quyết định đến từng điểm số của các em trong quá trình làm bài thi.
Với những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy và mong muốn giúp các em có thể làm một bài thi đạt kết quả cao nhất tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số phương pháp, thủ thuật làm bài thi trắc nghiệm đạt kết quả cao nhất của bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông Ngô Lê Tân” làm đề tài sáng kiến của mình.
1.2. Xác định mục đích nghiên cứu
Sáng kiến tiến hành xác định một số phương pháp, thủ thuật trong khi làm bài thi trắc nghiệm để nhằm mục đích giúp các em học sinh có thể đạt kết quả cao nhất. Để từ đó góp phần vào việc nâng cao chất lượng môn lịch sử ở trường Trung học phổ thông.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài sáng kiến là đi sâu phân tích một số phương pháp, thủ thuật trong khi làm bài thi trắc nghiệm môn lịch sử để từ đó làm sáng tỏ những phương pháp, thủ thuật và dựa vào đó học sinh sẽ vận dụng một cách tối đa vào bài thi của mình.

1.4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm
Để khảo sát, thực nghiệm tôi tiến hành khảo sát, thực nghiệm trên đối tượng là học sinh ở lớp 12 trường Trung học phổ thông Ngô Lê Tân.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của sáng kiến là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lịch sử, giáo dục lịch sử mà chủ yếu là lý luận dạy học bộ môn lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học, tâm lý học, giáo dục lịch sử và các tài liệu khác liên quan đến đề tài.
+ Nắm bắt những hạn chế, thiếu sót của học sinh trong quá trình làm bài thi để từ đó mới đưa ra các phương pháp phù hợp để khắc phục những hạn chế, thiếu sót đó.
+ Thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thi của đề tài.
1.6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Xác định đối tượng nghiên cứu nói trên, đề tài chỉ đi sâu vào việc phân tích, làm rõ một số phương pháp, thủ thuật để làm bài thi trắc nghiệm môn lịch sử và phạm vi thực nghiệm sư phạm ở trường Trung học phổ thông Ngô Lê Tân, tỉnh Bình Định.
Thời gian tiến hành thực nghiệm sư phạm là năm học 2018 - 2019 và 2019 - 2020 ở trường Trung học phổ thông Ngô Lê Tân.




2. NỘI DUNG
2.1. Lý luận và thực trạng
Trong giai đoạn hiện nay với việc đẩy mạnh thay đổi các phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho thấy ngành giáo dục đang có sự quan tâm đặc biệt về chất lượng. Điều này đòi hỏi mỗi giáo viên phải không ngừng học tập, tìm tòi, học hỏi, sáng tạo, đổi mới mình nhằm đáp ứng được xu thế phát triển của giáo dục nước nhà hiện nay. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nhưng chừng đó là chưa đủ bởi đòi hỏi của xã hội về chất lượng là ngày càng cao. Cùng với sự phát triển của xã hội thì việc dạy học cũng như các phương pháp dạy học sẽ luôn luôn thay đổi để phù hợp với thực tế cuộc sống, của xã hội.
Với thực tế hiện nay, khi các môn học đã chuyển sang hình thức thi mới đó là trắc nghiệm một phần hoặc trắc nghiệm toàn phần, không còn hoàn toàn thi tự luận như trước đó nữa. Cho nên với cách thức thi mới này đòi hỏi việc dạy và học cũng phải phù hợp để khi các em học sinh tham gia thi với các bài thi bằng hình thức trắc nghiệm sẽ đạt được kết quả cao nhất. Mặc dù các em đã tham gia thi trắc nghiệm đã nhiều lần, song trong khi làm bài thi trắc nghiệm không phải em nào cũng hiểu biết về các phương pháp, thủ thuật để làm một bài thi trắc nghiệm đạt kết quả cao nhất và trong quá trình giảng dạy cũng như tổ chức cho các em thi cử tôi nhận thấy đa số các em chưa nắm được các phương pháp cũng như các thủ thuật để làm một bài thi trắc nghiệm. Chính vì điều này, mà việc cần giáo dục cho các em các phương pháp, thủ thuật khi làm bài thi trắc nghiệm sao cho các em đạt kết quả cao nhất là điều cần thiết hiện nay.



2.2. Các phương pháp, thủ thuật làm bài thi trắc nghiệm
2.2.1. Phân loại câu hỏi để tiết kiệm thời gian
Trong đề thi trung học phổ thông quốc gia của môn lịch sử hiện nay có thời gian là là 50 phút (không kể thời gian phát đề) và có 40 câu hỏi trắc nghệm không có tự luận. Như vậy, mỗi câu hỏi học sinh chỉ có thời gian là 1,25 phút để vừa đọc vừa trả lời và rõ ràng đây là một áp lực không hề nhỏ đối với học sinh. Điều này đòi hỏi học sinh phải tận dụng tối đa thời gian có được để suy nghĩ và trả lời câu hỏi. Nhưng với khoảng thời gian ít ỏi đó không phải học sinh nào cũng có thể biết cách tận dụng tối đa khoảng thời gian mà mình có, do đó không ít trường hợp học sinh khi hết thời gian làm bài mà vẫn chưa trả lời hết các câu hỏi của mình và điều này dẫn đến việc không đạt được điểm số tối đa cho bài làm của mình mặc dù trong đề vẫn còn nhiều câu nằm trong khả năng của mình nhưng trống đã điểm thời gian làm bài đã hết.
Để giúp học sinh khắc phục tình trạng này một cách hiệu quả để đạt được kết quả cao nhất với khả năng của mình thì một số cách thức sau đây sẽ giúp các em học sinh tận dụng một cách tối đa nhất quỹ thời gian mà mình có được.
Thứ nhất, theo phương châm xưa nay ta thường thực hiện đó là câu dễ làm trước và câu khó làm sau. Bởi lẽ nếu chúng ta không làm câu dễ trước mà lo mải mê suy nghĩ để trả lời những câu khó thì vô tình làm mất đi thời gian trả lời các câu khác và cuối cùng khi hết thời gian làm bài mà các câu hỏi vẫn chưa làm xong trong đó có cả những câu dễ nằm trong khả năng trả lời của mình nhưng thời gian đã hết. Vậy, thế nào là câu dễ và thế nào là câu khó, để trả lời được câu hỏi này không hề đơn giản, mặc dù gần đây Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã soạn câu hỏi theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, dễ trước khó sau theo các mức độ: Biết, Hiểu, Vận dụng, Vận dụng cao.
Tuy nhiên, trong thực tế nó còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác nữa mà ở đây là nó còn phụ thuộc vào đối tượng học sinh. Tuy câu này dễ với học sinh này nhưng lại khó với học sinh khác. Như vậy, rõ ràng không nhất thiết là những câu đầu là câu dễ mà đôi khi những câu cuối vẫn là câu dễ và ngược lại. Như vậy, muốn biết được những câu nào dễ đối với mình thì học sinh không còn cách nào khác là phải đọc qua toàn bộ 40 câu hỏi và đáp áp của đề ra, mục đích của việc đọc hết toàn bộ đề ra để thực hiện phương châm như đã nói từ đầu là câu dễ làm trước câu khó làm sau, điều này không chỉ đúng trong câu hỏi tự luận mà với trắc nghiệm nó vẫn không hề sai. Bởi lẽ rằng, nếu học sinh cứ theo tuần tự làm xong câu 1 rồi mới làm câu 2 và làm xong câu 2 mới làm tiếp câu 3…điều này sẽ dẫn đến một hệ lụy cũng như là hậu quả lớn đối với các em học sinh đó là sẽ không đủ thời gian để làm hết tất cả các câu hỏi của đề ra vì; không phải câu nào cũng dễ và khi gặp phải câu hỏi khó đối với bản thân của các học sinh thì buộc phải suy nghĩ lâu, thời gian kéo dài và làm mất đi thời gian suy nghĩ và trả lời các câu hỏi khác và đôi khi không thể đưa ra câu trả lời chính xác.
Thứ hai, để vừa tiết kiệm thời gian làm bài vừa thực hiện được phương châm câu dễ làm trước câu khó làm sau thì trước hết học sinh nên đọc qua tất cả các câu hỏi và nếu thấy câu nào dễ đối với mình và chắc chắn đáp án mình lựa chọn là đúng thì các em nên dùng một ký hiệu riêng vào phần đáp án trên đề của mình. Ví dụ: lựa chọn là khoanh tròn vào đáp án đúng. Như vậy, những câu đã có đáp án được chúng ta khoanh tròn thì đó là đáp án đúng, còn những câu qua quá trình đọc và trả lời học sinh cảm thấy đáp án mà mình chọn là chưa chắc chắn hoặc còn phân vân chưa thể chốt đáp án được thì chúng ta chọn một ký hiệu khác cho phần đáp án. Ví dụ: lựa chọn đánh dấu chấm hỏi (?) vào trước đáp án đang phân vân. Còn những câu khó còn lại chưa thể đưa ra đáp án hoặc không có đáp án thì chúng ta bỏ trống không làm ký hiệu (Xem phụ lục 1 và phụ lục 2).
Thứ ba, sau khi đọc qua và trả lời lần thứ nhất thì học sinh đã trả lời xong các câu hỏi dễ thì bắt đầu đọc lần thứ hai để trả lời các câu còn lại. Như vậy, với cách này học sinh đã không còn bỏ sót các câu hỏi dễ mà mình có khả năng trả lời nữa. Với lần đọc thứ hai này thì những câu đã khoanh tròn trước đáp án thì học sinh mặc định đó là câu hỏi đã trả lời xong và chỉ tập trung trả lời những câu đã đánh dấu chấm hỏi trước đó, bởi đây là câu hỏi mà học sinh còn phân vân chưa chắc chắn với đáp án của mình cần phải suy nghĩ kỹ hơn thì mới trả lời được. Và lần đọc thứ hai này thì học sinh sẽ hoàn thành trả lời các câu có đánh dấu chấm hỏi ở phần đáp án còn nhũng câu không có ký hiệu thì để lần đọc thứ ba sẽ trả lời. Khi đã suy nghĩ kỹ đáp án trả lời thì lần này học sinh sẽ sửa dấu chấm hỏi bằng cách khoanh tròn như lần trả lời đầu tiên. Và sau hai lần đọc và trả lời câu hỏi thì các em đã gần như hoàn thành bài làm của mình, chỉ còn lại một số câu hỏi khó.
Thứ tư, sau khi đọc và trả lời câu hỏi lần thứ hai thì về cơ bản học sinh đã phần nào hoàn thành bài thi chỉ còn lại một vài câu hỏi cần suy nghĩ hơn mà thôi và ở lần đọc và trả lời câu hỏi lần thứ ba này học sinh hoàn thành trả lời những câu còn lại của bài làm, tất nhiên là những câu không có ký hiệu. Cuối cùng học sinh chỉ cần khoảng 3 phút để tô các đáp án đúng vào bài làm của mình và bài thi đã hoàn thành xong.
Như vậy, có thể thấy với cách thức trả lời và dùng ký hiệu một cách khoa học thì các em học sinh đã tận dụng một cách tối đa nhất về quỹ thời gian mà mình có được để làm bài một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Với cách dùng ký hiệu này các em học sinh vừa trả lời hết tất cả các câu hỏi mà điều đặc biệt hơn nữa là không còn tình trạng bỏ sót các câu hỏi dễ nằm trong khả năng của mình như cách đã làm ở trên, bên cạnh đó cũng tiết kiệm một cách tối đa thời gian và không bị nhầm lẫn bởi các câu nào đã trả lời đúng rồi hay các câu còn phân vân hoặc những câu quá khó vì đã có các ký hiệu rõ ràng đã mặc định từ trước. Bởi sau khi đọc và trả lời lần thứ nhất thì các ký hiệu đã được hoàn thành và đến lần đọc và trả lời lần thứ hai thì học sinh chỉ cần trả lời những câu có ký hiệu dấu chấm hỏi mà thôi còn những câu có dấu khoan tròn thì ngầm hiểu là đã trả lời đúng còn những câu không có ký hiệu thì mặc định là sẽ trả lời sau cùng, điều này vừa giúp cho học sinh không mất thời gian đọc lại những câu đã trả lời rồi, đồng thời cũng không mất thời gian vào việc xác định đối tượng trả lời tiếp theo là câu nào vì đã có các ký hiệu rõ ràng.




2.2.2. Đọc kỹ câu hỏi
Trong môn học lịch sử hay bất kỳ môn học nào khi các em học sinh tham gia thi cử thì việc đọc kỹ câu hỏi của đề thi là hết sức quan trọng vì ngoài việc phải nắm vững kiến thức thì việc đọc kỹ câu hỏi sẽ giúp cho các em học sinh trả lời câu hỏi một cách chính xác và đạt điểm tối đa của câu hỏi đó. Do đó, chỉ có đọc kỹ phần câu hỏi mới giúp học sinh hiểu được điều mà người ra đề muốn hỏi và từ đó sẽ cho học sinh sự nhận định chính xác về yêu câu mà người ta muốn hỏi, muốn học sinh trả lời, nếu học sinh hiểu đúng câu hỏi thì sẽ trả lời đúng còn hiểu không đúng sẽ trả lời sai.
Tuy nhiên, trên thực tế học sinh muốn hiểu được các câu hỏi thì cần nắm được các dạng câu hỏi thường gặp để từ đó có cách hiểu cũng như việc nhận định về câu hỏi sẽ chính xác hơn để từ đó đưa ra đáp án đúng cho câu hỏi. Trong đó, các câu hỏi thường gặp có năm dạng câu hỏi sau đây:
Một là, dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn câu trả lời đúng
Dạng câu hỏi này thường yêu cầu mức độ nhận biết. Trong 4 phương án gây nhiễu (A, B, C, D) sẽ có một phương án đúng, còn lại đều sai, các em chỉ cần khoanh tròn đáp án đúng là sẽ cho điểm tuyệt đối.
Ví dụ 1: Sự kiện nào đánh dấu chủ nghĩa thực dân cũ ở châu Phi cùng hệ thống thuộc địa của nó cơ bản bị tan rã?
A. Năm 1975, cách mạng Ăngôla và Môdămbích thắng lợi.
B. Năm 1960, 17 nước châu Phi giành độc lập.
C. Năm 1994, NenXơn Manđêla trở thành tổng thống da đen đầu tiên.
D. Năm 1962, Angiêri được công nhận độc lập.
Ví dụ 2: Sáu nước nước thành viên đầu tiên sáng lập Liên minh châu Âu (EU) gồm có
A. Pháp, Đức, Bỉ, I-ta-li-a, Luc-xem-bua, Hà Lan.
B. Anh, Pháp, Đức, Phần Lan, Bỉ, Tây Ban Nha.
C. Anh, Pháp, Đức, Bỉ, I-ta-li-a, Hà Lan.
D. Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, I-ta-li-a, Thuỵ Điển.

Ví dụ 3: Sự kiện nào đánh dấu kết thúc Cuộc chiến tranh lạnh?
A. Cuộc gặp không chính thức giữa Busơ và Goocbachốp tại đảo Manta (12/1989).
B. Hiệp định về một giải pháp toàn diện cho vấn đề Campuchia (10/1991 ).
C. Định ước Henxinki năm 1975.
D. Hiệp ước về hạn chế hệ thống phòng chống tên lửa (ABM ) năm 1972.
Hai là, dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn câu trả lời đúng nhất
Dạng câu hỏi này nhằm để phân hóa thí sinh và thường nằm ở mức độ hiểu và vận dụng, trong đó đưa ra 4 phương án gây nhiễu (A, B, C, D), trong đó nhiều phương án đúng, hoặc gần đúng nhưng chỉ có một phương án đúng nhất, đầy đủ nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất, hoặc quyết định nhất.
Nhiệm vụ của học sinh là phải lựa chọn được phương án đúng nhất. Trong thực tiễn cho thấy, do chưa nắm vững kiến thức trong quá trình ôn luyện nên nhiều em bị nhầm lẫn, mất điểm điểm ở dạng câu hỏi này. Đây là điều đáng tiếc mà các em học sinh cần ôn luyện kỹ càng cũng như tập dượt nhiều ở dạng câu hỏi này.
Ví dụ 1: Hai khẩu hiệu chiến lược của cách mạng Việt Nam thời kì 1930 – 1945 là gì?
A. “Đánh đuổi Nam triều” và “Người cày có ruộng”.
B. “Dân quyền tự do” và “Dân sinh hạnh phúc”.
C. “Độc lập dân tộc' và “Người cày có ruộng”.
D. “Đánh đổ đế quốc” và “giải phóng dân tộc”.
Ví dụ 2: Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt Nam, giai cấp tư sản phân hóa thành
A. Tư sản dân tộc và tư sản thương nghiệp.
B. Tư sản dân tộc và tư sản công nghiệp.
C. Tư sản dân tộc và tư sản mại bản.
D. Tư sản dân tộc và vô sản.
Ví dụ 3: Tại Hội nghị thành lập Đảng (1930) có sự tham gia của các tổ chức cộng sản nào?
A. Đông Dương Cộng sản đảng, An Nam Cộng sản đảng.
B. Đông Dương Cộng sản đảng, An Nam Cộng sản đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
C. An Nam cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
D. Đông Dương Cộng sản đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
Ba là, dạng câu hỏi yêu cầu học sinh đọc hiểu một đoạn tư liệu
Dạng câu hỏi này người ra đề sẽ đưa ra một đoạn tư liệu liên quan trực tiếp đến một sự kiện, hiện tượng lịch sử quan trọng có thể có trong sách giáo khoa hoặc nằm ngoài sách giáo khoa. Với đoạn tư liệu mà người ra đề sử dụng là căn cứ để định hướng cho các em tư duy, suy luận để đưa ra quyết định lựa chọn phương án đúng.
Ví dụ 1: Cho đoạn trích: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.”. Đoạn trích trên cho chúng ta biết điều gì?
A. Là văn bản nói lên đường lối kháng chiến của Đảng ta.
B. Nói lên sự thiếu thốn vũ khí của quân đội ta.
C. Nói lên sự đoàn kết của nhân dân ta.
D. Thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
Ví dụ 2: Cho đoạn trích: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác”. Câu nói trên của Trần Thủ Độ thể hiện điều gì?
A. Thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc, từ dòng tộc đến nhân dân.
B. Thể hiện khí khái của một viên tướng trụ cột của triều đình.
C. Động viên nhà vui trước thế giặc mạnh.
D. Nói lên sự kiêu ngạo của ta trước thế giặc mạnh.
Ví dụ 3: Cho đoạn trích: “Hỡi quốc dân đồng bào !..Phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh, quân Nhật đã bị tan rã tại khắp các mặt trận, kẻ thù chúng ta đã ngã gục ..” Câu nói đó thể hiện điều gì trong Cách mạng tháng Tám ?
A. Thời cơ chủ quan thuận lợi .
B. Thời cơ khách quan thuận lợi.
C. Cách mạng tháng Tám đã thành công.
D.Thời kì tiền khởi nghĩa đã bắt đầu.
Bốn là, dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn ý phủ định trong 4 phương án đã cho
Ở dạng câu hỏi này, việc đánh giá ở các mức độ khác nhau, yêu cầu các em học sinh cần phải đọc kỹ câu hỏi để không hiểu sai về các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Trong đó các cụm từ thường được sử dụng trong dạng câu hỏi này là không phải, không đúng, ngoại trừ, không chính xác v.v…
Ví dụ 1: Nhận xét nào dưới đây không đúng về cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam?
A. Đây là cuộc cách mạng có tính chất ăn may rõ rệt.
A. Đây là cuộc cách mạng có tính chất nhân dân sâu sắc.
B. Đây là cuộc cách mạng có tính chất dân tộc điển hình.
D. Đây là cuộc cách mạng có tính chất dân chủ điển hình.
Ví dụ 2: Nội dung nào dưới đây không phản ánh đúng ý nghĩa của phong trào “Đồng Khởi”(1959-1960) ở miền Nam Việt Nam?
A. Làm phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ.
B. Giáng một đòn mạnh vào chính sách thực dân mới của Mĩ.
C. Đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.
D. Sự ra đời của mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam (20 – 12 – 1960).
Năm là, dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn đúng phương án nhận xét, tranh biện về sự kiện, hiện tượng lịch sử (các quan điểm, chính kiến, hoặc ý kiến nhận xét, đánh giá về lịch sử)
Ở dạng câu hỏi này, đề thi sẽ đưa ra sẵn các quan điểm, chính kiến hoặc ý kiến nhận xét về sự kiện, hiện tượng lịch sử phức tạp, yêu cầu thí sinh phải lựa chọn phương án đúng. Nếu không nắm vững kiến thức, không thông hiểu vấn đề, học sinh dễ chọn sai đáp án.
Ví dụ 1: Nhận định nào của Đảng ta về thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là đúng ?
A. Làm thay đổi bộ mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa.
B. Không thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
C. Cả một thời kì lịch sử lâu dài, khó khăn.
D. Cả một thời kì lịch sử lâu dài, khó khăn, trải qua nhiều chặng đường.
Ví dụ 2: Ý nào dưới đây là nhận định đúng về lí do Nguyễn Ái Quốc quyết định chọn Cao Bằng là nơi xây dựng căn cứ địa cách mạng (1941)?
A. Nơi đây có điều kiện khí hậu thuận lợi để xây dựng và phát triển lực lượng.
B. Đồng bào dân tộc Tày rất trung thành với cách mạng.
C. Nơi đây hội tụ yếu tố địa lợi và nhân hòa để xây dựng, phát triển lực lượng.
D. Cao Bằng hội tụ đủ yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa.
Ví dụ 3: Nhận định nào dưới đây phản đúng về tác động, ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917?
A. Giải trừ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân trên thế giới.
B. Chọc thủng mắt xích yếu nhất của hệ thống chủ nghĩa tư bản.
C. Thúc đẩy sự ra đời của Quốc tế cộng sản.
D. Thiết lập nhà nước công - nông ở nước Nga.
Với những dạng câu hỏi nêu trên thì học sinh cần tiếp cận và làm quen thường xuyên để khi gặp phải sẽ không còn bỡ ngỡ và khi đã thông hiểu các câu hỏi thì việc vận dụng nó vào bài thi sẽ hiệu quả cao. Bên cạnh việc nắm vững kiến thức và thông hiểu các dạng câu hỏi thì một điều học sinh luôn phải nhớ là đọc kỹ câu hỏi, bởi ngoài mục đích để trả lời đúng đáp án thì đôi khi câu hỏi cũng đã hàm chứa câu trả lời ở trong đó.
Ví dụ 4: Biến đổi quan trọng đầu tiên của các nước Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai là
A. ngày càng mở rộng đối ngoại, hợp tác với các nước trên thế giới.
B. nhiều nước có tốc độ phát triển khác nhau.
C. sự ra đời của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN).
D. từ các nước thuộc địa trở thành những quốc gia độc lập.
Với câu hỏi này nếu như học sinh chỉ đọc qua thôi mà không đọc kỹ thì việc lựa chọn đáp án sẽ khó khăn do các phương án trả lời đều mang tính chung chung. Nhưng nếu đọc kỹ lại thì ta thì ta thấy cụm từ biến đổi quan trọng nhưng nó phải là đầu tiên sau chiến tranh thế giới thứ hai. Vậy thì, trước chiến tranh thế giới thứ hai hầu hết các nước đều đang trong tình trạng là thuộc địa của các nước phương Tây, cho nên điều biến đổi quan trọng nhất ở đây phải là trở thành các quốc gia độc lập. Như vậy, trong ví dụ này học sinh chỉ cần đọc kỹ câu hỏi sẽ nhanh chóng trả lời đáp án một cách chính xác.
Ví dụ 5: Với thắng lợi nào thì quân và dân ta đã hoàn thành cuộc kháng chiến chống Pháp?
A. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
B. Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954.
C. Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương được kí kết.
D. Chiến thắng Thu - Đông 1947.
Trong ví dụ này, khi học sinh đọc câu hỏi nếu học đã đọc kỹ câu hỏi thì chắc chắn sẽ nhận ra một điều cốt lõi của câu hỏi nằm ở hai chữ “hoàn toàn”. Như vậy, hoàn toàn ở đây có nghĩa là đã chấm dứt đối với thực dân Pháp, mà gọi là chấm dứt thì có nghĩa thắng lợi đó phải nằm ở cuối cùng nhất và điều này ngay ở bản thân câu hỏi đã nói lên điều đó. Lúc này nhìn vào các phương án đã cho thì phương án “C. Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương được kí kết.” là hợp lí nhất vì đây là thắng lợi cuối cùng nhất và chắc chắn đây là một đáp án chính xác.



2.2.3. Đọc kỹ các đáp án đã cho
Trong quá trình làm bài thi thì học sinh ngoài việc đọc kỹ câu hỏi để nhận thức một cách đúng đắn về yêu cầu mà câu hỏi đặt ra thì đọc kỹ các đáp án đã cho cũng là một giải pháp cần thiết để giúp cho học sinh lựa chọn câu trả lời chính xác nhất. Qua thực tiễn đã cho thấy có những câu hỏi trắc nghiệm mà phần các phương án trả lời mà câu hỏi đưa ra khi học sinh đọc lên nếu tinh ý thì đã có thể nhận ra đáp án của câu hỏi rồi.
Ví dụ 1: Nguyên nhân khách quan làm cho kinh tế Nhật Bản phát triển là
A. truyền thống lao động cần cù.
B. vai trò lãnh đạo, quản lí có hiệu quả của Nhà nước.
C. biết tận dụng thành tựu khoa học - kĩ thuật của thế giới.
D. con người được xem là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định hàng đầu.
Với câu hỏi này thì chúng ta có thể hiểu là các nguyên nhân làm cho nền kinh tế Nhật Bản phát triển là có nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, vậy thì ở đây khi các em học sinh đã hiểu được cái gì thuộc về chủ quan và cái gì thuộc về khách quan. Tất nhiên những cái gì thuộc về nội tại của bản thân, bên trong thì nó là chủ quan. Còn những cái gì thuộc các yếu tố tác động từ bên ngoài thì hiểu đó là khách quan. Rõ ràng nhìn vào ví dụ trên thì khi học sinh đọc câu hỏi và các đáp án đã cho thì với bốn đáp án: A, B, C, D ở trên ta thấy với đáp án A, thì nói đến sự cần cù trong lao động rõ ràng đây là yếu tố nội tại con người Nhật Bản. Như vậy, đây là yếu tố thuộc về chủ quan. Với đáp án B, thì lại nói đến vai trò quản lý, lãnh đạo của Nhà nước. Vậy thì, đây cũng thuộc về yếu tố nội tại của Nhật Bản và chắc chắn đây là yếu tố chủ quan. Đến với đáp án C, thì nói đến thành tựu khoa học – kĩ thuật nhưng lại là của thế giới, tức là không phải cái vốn có của Nhật Bản và học sinh dễ dàng xác định đây là yếu tố khách quan. Và đáp án cuối cùng là D, thì nói đến vai trò của con người Nhật Bản và chắc chắn con người thì sẽ là yếu tố bên trong nên học sinh sẽ xác định được ngay đây là yếu tố chủ quan.
Với những phân tích ở trên cho chúng ta thấy được ba đáp án A, B và D là thuộc nguyên nhân chủ quan và chỉ có đáp án C là thuộc nguyên nhân khách quan mà thôi và học sinh chọn đáp C cho câu trả lời là hoàn toàn chính xác.
Ví dụ 2: Ý nào không đúng khi nói về biến đổi của các nước Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ?
A. Đến nay, hầu hết các nước Đông Nam Á tham gia tổ chức ASEAN.
B. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân các nước trong khu vực nâng cao.
C. Các nước giành độc lập ở các mức độ khác nhau, đến năm 2000 giành độc lập hoàn toàn.
D. Các nước đều trở thành “con rồng” châu Á.
Với ví dụ thứ hai này, thì đây là dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn ý phủ định trong các đáp án. Sau khi đọc câu hỏi xong thì học sinh sẽ đọc đáp án để chọn ra phương án đúng. Ở dạng câu hỏi này đòi hỏi học sinh cần phải lựa chọn ra đáp án khác biệt nhất trong bốn đáp án mà đề bài đã đưa ra, đồng thời điều này đòi hỏi học sinh cần đọc kỹ các đáp án thì mới có thể phân biệt được đâu là đáp án khác biệt nhất. Trong ví dụ này, ở các đáp án A, B, C đều cho thấy tính hợp lý cũng như có sự tương đồng với nhau. Duy chỉ có đáp án D (D. Các nước đều trở thành “con rồng” châu Á) là có vẻ khác biệt hơn cả, vì rằng đây là một lời khẳng định, trong khi đó thì học sinh đều nhận thức được rằng ở khu vực Đông Nam Á thì chỉ có Sinhgapore mới là con rồng châu Á còn các quốc gia còn lại chưa đạt được điều đó. Chỉ với sự khác biệt này thôi thì cũng đủ để cho học sinh có được câu trả lời chính xác. Như vậy, ví dụ thứ hai này đáp án mà học sinh sẽ lựa chọn là đáp án D (D. Các nước đều trở thành “con rồng” châu Á) là đáp án đúng của câu hỏi trên.
Qua đây cho chúng ta thấy được rằng việc đọc kỹ các đáp án mà đề ra là hết sức quan trọng và cần thiết, nó sẽ giúp học sinh đưa ra sự lựa chọn hợp lý hơn, đúng đắn hơn trong khi làm bài. Và rõ ràng với việc đọc kỹ các đáp án của câu hỏi học sinh sẽ không bỏ sót các gợi ý vốn đã có sẵn trong các đáp án đưa ra.


2.2.4. Dùng phương pháp loại trừ
Do kiến thức rộng lớn, nhưng hiểu biết của chúng ta lại có hạn cho nên trong quá trình học tập thi cử của học sinh chắc chắn sẽ gặp những câu hỏi khó mà bản thân bế tắc hoặc không có câu trả lời thì một phương pháp có thể giúp học sinh lúc này là phương pháp loại trừ. Một khi gặp phải những câu hỏi khó mà trong đó học sinh không hề biết chính xác là phương án nào để trả lời thì cần loại trừ dần dần những đáp án mà học sinh cho là không phù hợp nhất để chỉ còn lại một đáp án mà mình cho rằng đó là đáp án đúng. Tuy nhiên, việc loại trừ cũng cần thực hiện trên cơ sở hiểu biết nhất định của học sinh chứ hoàn toàn không phải là sự ăn may.
Ví dụ 1: Ai là người đầu tiên bay vào vũ trụ?
A. Dương Lợi Vĩ
B. Adam Smith
C. Ra-bin-đra-nát Ta-go
D. Yuri Gagarin
Giả sử ở câu hỏi này học sinh không hề biết được đáp án nào đúng để trả lời, lúc này học sinh chỉ còn cách sử dụng phương pháp loại trừ để tìm ra phương án trả lời cuối cùng của mình. Để có thể loại trừ được các đáp án ở câu hỏi này thì học sinh không thể dựa vào những kiến thức về lịch sử mà mình đã học mà phải thiên về những hiểu biết tổng hợp về xã hội cũng như là sự am hiểu về các nước trên thế giới.
Tuy rằng, học sinh không nhớ được ai là người đầu tiên bay vào vũ trụ nhưng học sinh vẫn biết được người bay vào vũ trụ đầu tiên là người của Liên Xô và đây là mấu chốt cũng là cơ sở để học sinh có thể dựa vào đó để loại trừ. Cơ sở để loại trừ lúc này là dựa vào tên có trong bốn đáp án A, B, C, D. Nhìn vào đáp án A. Dương Lợi Vĩ, thì ta có thể loại trừ được ngay vì tên này chỉ thuộc về các nước ở châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Singapore… còn đáp án B. Adam Smith thì nhìn vào họ là Smith thì học sinh có thể biết được họ này thường gặp ở nước Anh và Mĩ bên cạnh các họ khác thường gặp như: Jones, Williams, Davies, Johnson… do vậy mà đáp án này cũng sẽ bị loại trừ. Đến đáp án C. Ra-bin-đra-nát Ta-go thì học sinh cũng dễ dàng nhận ra với họ tên này chỉ có thể là của Ấn Độ hoặc Pakistani. Sau khi đã lần lượt loại trừ hết các đáp án không phù hợp, đến đây thì chỉ còn lại đáp án D. Yuri Gagarin là đáp án mà học sinh sẽ lựa chọn làm đáp án cuối cùng của mình.
Như vậy, với ví dụ 1 này thì học sinh đã dựa vào sự hiểu biết về xã hội của mình để rồi lần lượt loại trừ các đáp án không phù hợp để lựa chọn cho mình đáp án tối ưu nhất, để đạt được điểm số cao nhất.
Ví dụ 2: Chiến thắng nào mở ra cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam?
A. Chiến thắng Đông Khê (1950).
B. Chiến thắng Vạn Tường (1965).
C. Chiến thắng Thượng Lào (1954).
D. Chiến thắng Phay Khắt và Nà Ngần (1944).
Với lượng kiến thức rộng lớn như môn lịch sử thì việc ghi nhớ thôi đã là một khó khăn lớn đối với học sinh rồi, chứ chưa nói đến việc hiểu và đi sâu phân tích các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Do vậy, trong quá trình làm bài thi môn lịch sử đôi khi học sinh không thể nhớ hết các mốc thời gian, các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Ở ví dụ 2 này, thì câu hỏi yêu cầu học sinh phải nắm vững về các chiến thắng lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ thì mới có thể trả lời được. Giả sử ở ví dụ 2 này, học sinh không nhớ được chiến thắng nào đã mở ra cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam. Lúc này, học sinh cũng chỉ còn cách dựa trên một số yếu tố nào đó để có thể loại trừ đi các đáp không phù hợp chọn ra đáp án đúng nhất cho câu hỏi: chiến thắng nào mở ra cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam?
Sau khi đã đọc kỹ câu hỏi cũng như đáp án đã cho, học sinh bắt đầu đi vào phân tích từng đáp án để đi đến câu trả lời. Nhìn vào bốn đáp án đã cho thì học sinh sẽ thấy cả bốn đáp án đều có điểm chung là cho biết năm mà diễn ra chiến thắng đó và đây là một gợi ý để học sinh có thể bám vào đây để tiến hành loại trừ. Tuy là không biết được đáp án nào là đáp án trả lời cho câu hỏi nhưng học sinh có thể dễ dàng xác định được các khoảng thời gian diễn ra hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
Theo cách này thì khoảng thời gian cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ sẽ dễ dàng được học sinh xác định. Trong đó, khoảng thời gian chống pháp được xác định bắt đầu từ khi thực dân Pháp sang xâm lược năm 1858 cho đến năm 1954 và khoảng thời gian chống Mĩ xâm lược là từ năm 1954 đến năm 1975. Như vậy, với câu hỏi: chiến thắng nào mở ra cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam? Vậy học sinh sẽ xác định được chiến thắng này phải nằm trong thời kỳ chống Mĩ xâm lược. Đối chiếu với bốn đáp án đã cho thì học sinh sẽ thấy chỉ có đáp án B. Chiến thắng Vạn Tường(1965) là nằm trong khoảng thời gian chống Mĩ xâm lược và đây là đáp án cuối cùng mà học sinh lựa chọn sau khi đã loại trừ xong.
Thông qua hai ví dụ ở trên, chúng ta có thể thấy được phương pháp loại trừ nó cũng rất hiệu quả đối với một số trường hợp, một số câu hỏi. Tuy nhiên, cũng đòi hỏi ở học sinh một số kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau để có thể vận dụng vào trong quá trình làm bài thi của mình nhằm mục đích đạt kết quả cao nhất.












2.3. Kết quả thực nghiệm
2.3.1. Mục đích thực nghiệm
Kiểm tra khả năng học sinh trong việc phối hợp các phương pháp, thủ thuật để làm bài thi trắc nghiệm.
2.3.2. Nội dung thực nghiệm
Sử dụng các đề thi minh họa kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia để cho các em học sinh làm.
2.3.3. Đối tượng thực nghiệm
Lớp khoa học xã hội 1 (KHXH 1) và khoa học xã hội 2 (KHXH 2) năm học 2018 – 2019 và lớp khoa học xã hội 1 và khoa học xã hội 2 năm học 2019 – 2020. Chọn mỗi lớp 20 em học sinh tham gia.
2.3.4. Thời gian thực nghiệm
Vào đầu tháng 4 mỗi năm học (Trong thời điểm ôn thi trung học phổ thông quốc gia).
2.3.5. Các bước thực nghiệm
2.3.5.1. Bước 1: Chuẩn bị đề ôn thi trung học phổ thông quốc gia.
2.3.5.2. Bước 2: Tiến hành thực nghiệm đối chứng.
Hướng dẫn lớp khoa học xã hội 1 làm bài thi thử theo các phương pháp, thủ thuật làm bài thi trắc nghiệm mà giáo viên đã hướng dẫn, còn lớp khoa học xã hội 2 để học sinh làm bình thường không hướng dẫn các em làm theo các phương pháp, thủ thuật như ở lớp khoa học xã hội 1. Sau khi hướng dẫn xon
 
Gửi ý kiến