Tìm kiếm Giáo án
Chuyên đề hsg

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: An Văn Khúc
Ngày gửi: 10h:56' 10-01-2023
Dung lượng: 48.2 KB
Số lượt tải: 22
Nguồn:
Người gửi: An Văn Khúc
Ngày gửi: 10h:56' 10-01-2023
Dung lượng: 48.2 KB
Số lượt tải: 22
Số lượt thích:
0 người
Chuyên đề ôn thi HSG Chữ người tử tù Nguyễn Tuân
28/02/2018 14:09
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
– Nguyễn Tuân –
PHẦN 1 : BÀI HỌC
1. Xuất xứ
Chữ người tử tù ban đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng in năm 1938 trên tạp chí Tao đàn.
Đây là một truyện ngắn đặc sắc trong “Vang bóng một thời” – tập truyện được xuất bản
năm 1940, gồm 11 truyện ngắn viết về “một thời” đã qua nay chỉ còn “vang bóng”. Mỗi
truyện trong “Vang bóng một thời” đi vào một cái tài, một thú chơi tao nhã, phong lưu của
những nhà nho tài hoa lỡ vận: chơi chữ, thưởng thức chén trà buổi sớm, thả thơ đánh
thơ… Nhân vật trong “Vang bóng một thời” chủ yếu là những nho sĩ cuối mùa, tuy buông
xuôi bất lực nhưng quyết giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn” bằng cách thực
hiện “cái đạo sống của người tài tử”. Qua tập truyện này, nhà văn không chỉ thể hiện sự
nuối tiếc vẻ đẹp của một thời quá vãng mà còn bộc lộ niềm trân trọng và tự hào về truyền
thống văn hoá lâu đời của dân tộc.
1. Cảm hứng chủ đạo
Thái độ trân trọng, ngợi ca, nuối tiếc của nhà văn trước một vẻ đẹp văn hóa lâu đời đang
có nguy cơ mai một đồng thời là sự thể hiện quan niệm thẩm mĩ mà suốt đời nhà văn theo
đuổi : cái Đẹp là sự hòa hợp giữa cái tâm và cái tài, cái tài nhờ có cái tâm để mà “cháy lên”,
còn cái tâm nhờ có cái tài để mà “tỏa sáng” (R.Gam-da-tốp). Tác phẩm cũng là bài học về
lẽ sống đẹp, về “đạo sống” của những con người chân chính trên đời : dù trong bất cứ
hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn “thiên lương” cho lành vững; sống trên đời không được
phụ những tấm lòng trong thiên hạ; phải biết tôn trọng tài năng và phẩm giá của con người.
1. Nhan đề
“Chữ” ở đây là chữ Hán – thứ chữ khối vuông, được viết bằng bút lông, vừa có tính chất
tạo hình vừa ít nhiều mang dấu ấn cá tính, nhân cách người viết. Từ xưa, ở nhiều nước
Châu Á, trong đó có Việt Nam người ta đã biết thưởng thức chữ đẹp và có thú chơi chữ.
Người viết chữ đẹp được coi là nghệ sĩ và viết chữ được xem là một hành vi sáng tạo nghệ
thuật, một hoạt động sản sinh cái đẹp. Bộ môn nghệ thuật ấy được gọi là thư pháp.
“Người tử tù” trong nhan đề chính là Huấn Cao, người nổi tiếng về viết chữ đẹp, thiên
lương trong sáng và khí phách hơn người. Huấn Cao không chỉ là người nghệ sĩ có khả
năng sáng tạo cái Đẹp mà còn là người kết tinh, lưu giữ một trong những vẻ đẹp văn hóa
truyền thống của dân tộc.
Căn cứ vào nội dung truyện, có thể hiểu Chữ người tử tù là cái nhan đề hàm chứa quan
niệm và thái độ trân trọng, ngợi ca của nhà văn đối với cái Đẹp thuộc về văn hóa truyền
thống và cái Đẹp thuộc về nhân cách con người. Đó chính là sự tôn vinh và luyến tiếc của
Nguyễn Tuân trước một vẻ đẹp văn hóa lâu đời đang có nguy cơ mai một đồng thời là sự
thể hiện một quan niệm thẩm mĩ mà suốt đời nhà văn theo đuổi : cái Đẹp là sự hòa hợp
giữa cái tâm và cái tài, cái tài nhờ có cái tâm để mà “cháy lên” còn cái tâm nhờ có cái tài để
mà “tỏa sáng” (R.Gam-da-tốp).
Bên cạnh đó, Chữ người tử tù thực ra không chỉ là chuyện chữ nghĩa (xin chữ, cho chữ) mà
sâu xa hơn đó là bài học về lẽ sống, “đạo sống” của những con người chân chính trên đời :
dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn “thiên lương” cho lành vững và cũng phải
sống đẹp, mà sống đẹp thì không thể không gắn liền với cách ứng xử nhân văn – “biệt
nhỡn liên tài” tức là phải biết tôn trọng tài năng và phẩm giá của con người.
1. Tình huống truyện
Trong loại tự sự, đặc biệt là thể loại truyện ngắn, tình huống truyện có vai trò rất
quan trọng. Nó không chỉ góp phần đáng kể vào việc thể hiện tính cách nhân vật và chủ đề
tác phẩm mà còn tạo ra kịch tính cho câu chuyện, gia tăng tính hấp dẫn của cốt truyện.
Tình huống truyện được hiểu là một hoàn cảnh đặc biệt, một cảnh huống bất bình thường
mà ở đó con người bộc lộ một cách một cách rõ nét những suy nghĩ, hành động, năng lực
và cá tính của mình. Tình huống gắn bó chặt chẽ với cốt truyện, thường hiện lện rõ rệt ở
các bước ngoặt trên dòng cốt truyện, chi phối chiều hướng con đường đời của nhân vật.
Tình huống của truyện Chữ người tử tù là cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người
khác thường : viên quản ngục – kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại rất khát khao ánh
sáng của chữ nghĩa và Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp nổi tiếng. Lẽ ra đây phải
là cuộc hội ngộ tương đắc của những kẻ biệt nhỡn liên tài, của hai tâm hồn nghệ sĩ yêu cái
đẹp. Nhưng thật oái oăm, họ lại phải gặp nhau giữa chốn ngục tù và trong một tình thế éo
le : cuộc chạm trán giữa một tên “đại nghịch”, cầm đầu cuộc nổi loạn đang đợi ngày ra
pháp trường với kẻ đại diện cho trật tự xã hội đương thời.
Tình huống truyện này trước hết đã góp phần làm nổi rõ tính cách của Huấn Cao – nhân
vật chính của truyện, đó là một người tài hoa, hiên ngang, bất khuất trước cái ác, cái xấu
nhưng lại mềm lòng trước cái thiện, cái đẹp; đồng thời soi sáng vẻ đẹp tâm hồn khuất lấp
của viên quản ngục – một “thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật
đều hỗn loạn xô bồ”.
Tình huống truyện này cũng đã ít nhiều làm bật sáng chủ đề tác phẩm : ngợi ca cái tài, cái
đẹp, cái “thiên lương” và đề cao cách hành xử giàu tinh thần nhân văn và cao thượng –
sống trên đời không được phụ những tấm lòng tri kỉ; sống trên đời phải biết “biệt nhỡn liên
tài”.
Tình huống truyện nêu trên còn cho thấy phần nào kịch tính của câu chuyện. Mâu thuẫn
“kịch” ở đây là sự đối lập giữa niềm khát khao chữ nghĩa của quản ngục với thái độ khinh bỉ
của Huấn Cao đối với ngục quan. Diễn biến của thiên truyện cũng tựa như cách trình bày,
thắt nút, đỉnh điểm, mở nút của một vở kịch. Sau phần giới thiệu đầu truyện (trình bày)
dành cho hai nhân vật là Huấn Cao và quản ngục, mâu thuẫn bắt đầu hình thành khi ngục
quan có ý biệt đãi tử tù trong khi Huấn Cao thì hiên ngang và tỏ ý thản nhiên coi khinh ra
mặt. Mâu thuẫn ngày một căng thẳng nhất là khi Huấn Cao cố tình sỉ nhục ngục quan trong
khi quản ngục vừa khổ tâm vừa nóng lòng sốt ruột xin chữ (thắt nút) và lên tới đỉnh
điểm khi ngục quan nhận được công văn khẩn về việc chuyển các tử tù vào pháp trường
trong Kinh chịu án. Nhưng cũng liền ngay đó, mâu thuẫn được giải quyết, xung đột được
cởi bỏ (mở nút) khi Huấn Cao hiểu rõ tâm ý của quản ngục và quyết định cho chữ.
Như vậy, tình huống truyện không những làm nổi lên tính cách nhân vật, làm bật sáng chủ
đề tác phẩm mà còn làm bật lên tính kịch khá hấp dẫn cho truyện.
1. Hình tượng nhân vật Huấn Cao
Giữa cuộc đời cũng như trong nghệ thuật, Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ có lí tưởng
thẩm mĩ và phong cách độc đáo. Đánh giá về Nguyễn Tuân, nhà văn Nguyễn Minh Châu
đã từng nói : Nguyễn là “một cái định nghĩa về người nghệ sĩ”. Trước Cách mạng tháng
Tám, Nguyễn Tuân nổi tiếng với “Vang bóng một thời” – tập truyện được xuất bản năm
1940, viết về những vẻ đẹp của “một thời” đã qua nay chỉ còn “vang bóng”. Trong tập
truyện này, Chữ người tử tù được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, kết tinh
phong cách sáng tác và tài năng nghệ thuật của nhà văn. Chữ người tử tù là một truyện
ngắn. Thế giới nhân vật ở đó không nhiều. Nhưng nhân vật nào cũng hiện lên thật sống
động với số phận, tính cách và vẻ đẹp riêng. Điển hình là Huấn Cao – nhân vật trung tâm
của tác phẩm.
Nguyên mẫu của hình tượng nhân vật Huấn Cao
Theo các nhà nghiên cứu, nhân vật Huấn Cao được xây dựng từ nguyên mẫu là Cao Bá
Quát (1808-1855). Chữ “Huấn” ở đây là huấn đạo (giáo thụ) – chức quan phụ trách việc
học ở một huyện. Cao Bá Quát đã từng làm chức giáo thụ ở Quốc Oai – Hà Tây. Còn
“Cao” là họ của “thánh Quát”. Trong lịch sử nước ta, Cao Bá Quát không chỉ nổi danh là
“văn hay chữ tốt” như đương thời truyền tụng “Thần Siêu, thánh Quát”, “Văn như Siêu,
Quát vô tiền Hán” mà còn nổi tiếng là người cương trực, quý trọng tài năng, có bản lĩnh,
sống có lý tưởng và dám đương đầu với cường quyền. Con người ấy đã từng chịu cực
hình tra tấn trong gần ba năm chỉ vì khi làm sơ khảo ở trường thi Thừa Thiên đã dùng muội
đèn chữa những chỗ phạm trường quy trong 24 quyển thi đáng được lấy đỗ. Và cũng chính
con người ấy đã cứng cỏi đứng lên tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương chống lại
triều đình nhà Nguyễn hèn yếu, lạc hậu để rồi hi sinh trong một trận đánh. Con người vừa
tài hoa nghệ sĩ vừa cứng cỏi anh hùng, vừa là nhà nho uyên bác vừa là lãnh tụ nông dân
khởi nghĩa như Cao Chu Thần, trong lịch sử nước ta, quả thật không nhiều. Chẳng phải thế
mà Nguyễn Tuân đã chọn làm nguyên mẫu để xây dựng nên hình tượng Huấn Cao.
Tuy nhiên, Cao Bá Quát chỉ là một điểm tựa, một “chất liệu văn học” để Nguyễn Tuân xây
dựng nên nhân vật của mình. Phần hư cấu, sáng tạo của nhà văn vẫn là chủ yếu bởi Huấn
Cao đã xuất hiện trong tác phẩm theo đúng lý tưởng thẩm mĩ và quan niệm nghệ thuật của
tác giả. Và đây mới chính là điểm mấu chốt tạo nên một hình tượng Huấn Cao đặc sắc,
đọng lại được nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ.
Huấn Cao – người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp, người kết tinh vẻ
đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc và tấm lòng yêu nước mang màu sắc
riêng của nhà văn.
Trong truyện Chữ người tử tù, Huấn Cao nổi lên là một nghệ sĩ tài hoa hiếm có trong nghệ
thuật thư pháp. Ngay từ đoạn văn mở đầu tác phẩm, thông qua một đối thoại ngắn giữa
quản ngục và thầy thơ lại, nhà văn đã “gieo” trên trang văn một lời giới thiệu không thể
thuyết phục hơn về tài năng của con người này. Đó là “cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn
khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”. Đây không phải là lời ngợi khen của một người
mà là lời của người dân cả một tỉnh, tức là tài năng của ông Huấn từ lâu đã được công
chúng rộng rãi thừa nhận. Tuy nhiên, với riêng ngục quan, tên tuổi và tài nghệ của “người
đứng đầu bọn phản nghịch” ấy còn nhiều hơn thế. Không biết từ nguồn nào và từ bao giờ,
viên quan coi ngục này đã biết “cái tài viết chữ tốt” của Huấn Cao : “Chữ của ông Huấn Cao
đẹp lắm, vuông lắm”. Và cũng đã từ rất lâu rồi, nhưng chưa bao giờ có dịp được nói ra, “cái
sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một
đôi câu đối do chính tay ông Huấn Cao viết… Có được chữ của ông Huấn mà treo là có
một báu vật trên đời”. Về phía chủ quan, mong muốn ấy của quản ngục xuất phát từ thú
chơi chữ của ông ta. Nhưng về phía khách quan, chữ của Huấn Cao phải đẹp lắm, quý
lắm, phải là “báu vật” hiếm có trên đời mới có thể khiến viên quan coi ngục lần đầu tiên có
cái nhìn “hiền lành” và tỏ rõ thái độ “kiêng nể” với sáu người tù mà thực chất chỉ là Huấn
Cao. Đặc biệt, quản ngục sẵn sàng “biệt đãi” ông Huấn – điều mà cả ông ta và bất cứ ai
cũng thừa hiểu là hành động phạm pháp, thậm chí bị quy vào tội đồng lõa với tội phạm. Với
tội danh này, nặng thì bị xử tử giống như những phạm nhân kia, nhẹ thì mất nghiệp,
khuynh gia bại sản. Điều ấy, một người đại diện cho pháp luật như quản ngục không thể
không hiểu. Nhưng cái gì đã khiến ngục quan nhẫn nại, hạ mình, dám đánh đổi cả sự
nghiệp, thậm chí cả tính mạng của mình đến như vậy ? Rốt cuộc chỉ có một điều cốt lõi, ấy
là chữ của Huấn Cao – một “vật báu trên đời” và vì thế với những người có thú chơi chữ
như quản ngục thì được treo chữ của ông Huấn là một trong những sự mãn nguyện lớn
nhất trong cuộc đời. Có thể khẳng định, Nguyễn Tuân đã thành công khi miêu tả tài viết
chữ của Huấn Cao. Cái giỏi của nhà văn là không có một từ nào miêu tả cụ thể về những
chữ mà Huấn Cao đã viết, kể cả ở cảnh cho chữ cuối cùng, thế mà ấn tượng về tài năng
của Huấn Cao, về người tử tù có phẩm chất nghệ sĩ, có tài nghệ hơn người vẫn đậm sâu
trong lòng bạn đọc. Giống như thủ pháp “vẽ mây nảy trăng” thường thấy trong thơ, phương
thức miêu tả gián tiếp của nhà văn đã có được hiệu quả nghệ thuật rõ nét trong trường hợp
này.
Với những gì đã viết về Huấn Cao, nhất là qua thái độ, lời nói của nhân vật quản ngục, thơ
lại, Nguyễn Tuân không hề giấu giếm thái độ say mê, cảm phục của mình đối với những
người như ông Huấn. Đó là người “kết tinh” và tỏa sáng một trong những vẻ đẹp văn hoá
truyền thống của dân tộc. Vẻ đẹp ấy, ở thời đại Nguyễn Tuân, lại đang có nguy cơ mai một,
rất dễ thuộc về “một thời” đã qua nay chỉ còn “vang bóng”. Do đó, sáng tạo hình tượng
Huấn Cao có thể xem là một phương thức nghệ thuật đắc dụng để nhà văn kín đáo thể
hiện tình cảm yêu mến, trân trọng của mình đối với những giá trị văn hoá cổ truyền của đất
nước. Đây chính là tinh thần dân tộc, là lòng yêu nước mang nét đặc trưng riêng của nhà
văn. Không phải ngẫu nhiên, nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh – chuyên gia
nghiên cứu về Nguyễn Tuân đã từng đánh giá khái quát : “Nguyễn Tuân là một trí thức giàu
lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Lòng yêu nước của ông có màu sắc riêng : gắn liền với
những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc”.
Huấn Cao – người nghệ sĩ có cái “thiên lương” trong sáng, có cách ứng xử
cao thượng và đầy tinh thần văn hóa.
Trong cuộc sống và nhất là trong nghệ thuật, tài năng không phải là thứ mà tạo hóa hay xã
hội muốn có hoặc có thể ban phát cho tất thảy mọi người. Người có tài năng, năng khiếu
nghệ thuật vốn đã không nhiều trong cuộc sống thì người vừa có tài vừa có tâm lại càng
hiếm nữa. Mấy trăm năm trước, thi hào Nguyễn Du đã viết : “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ
tài”. Chính cái “tâm” sẽ làm cho cái tài được cất cánh cao hơn nữa, tỏa sáng hơn nữa.
Trong Chữ người tử tù, Huấn Cao đâu chỉ có tài viết chữ mà còn có đạo đức và văn hóa
của một người nghệ sĩ thư pháp, một nhân cách cao thượng trong đời sống.
Đạo đức của Huấn Cao thể hiện trước tiên ở lòng tự trọng, ở chỗ biết giữ lấy cái tài, biết
trân trọng tài năng đích thực của mình và biết dùng nó đúng lúc đúng chỗ. Con người ấy
“nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”. Cả đời
Huấn Cao cho đến trước khi cho chữ viên quản ngục mới chỉ “viết có hai bộ tứ bình và một
bức trung đường” cho “ba người bạn thân”. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Huấn Cao cũng
giữ trọn “thiên lương” của mình. Khi chưa hiểu con người của quản ngục, Huấn Cao không
hề tỏ ra sợ hãi, càng không vì cái “uy vũ” đó để phải quỳ xuống viết chữ. Ông cũng không
tỏ ra mềm lòng, thỏa hiệp, nhún mình viết câu đối trước sự “biệt đãi” của ngục quan. Ngay
cả khi đã hiểu rõ con người của quản ngục và đã cho chữ viên quan này thì điều mà Huấn
Cao khuyên bảo, mong muốn ở ngục quan là “giữ thiên lương cho lành vững”, đừng để
“nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Đó đích thực là một tâm hồn trong sáng, cao đẹp,
một biểu tượng của “thiên lương” lành vững mà thời đại nào cũng cần.
Cái tâm của Huấn Cao không chỉ hiện ra ở đạo đức của người nghệ sĩ mà còn bộc lộ ở
cách ứng xử cao thượng và đầy tinh thần văn hóa. Đọc tác phẩm, ai cũng thấy Huấn Cao
đã phản ứng dữ dội như thế nào trước hành động muốn “biệt đãi” ông của quản ngục.
Nhưng đấy là khi ông chưa thực sự hiểu được bản chất của con người này. Đến khi đã
hiểu được con người bên trong của ngục quan, khi đã “cảm” được “cái tấm lòng biệt nhỡn
liên tài” của viên quan coi ngục thì Huấn Cao đã nhanh chóng bỏ qua những nghi kị trước
đó, vui vẻ tự nguyện cho chữ. Lời của Huấn Cao : “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng
trong thiên hạ” đã bộc lộ lẽ sống của ông : sống là phải xứng đáng với những tấm lòng tri
kỉ, phụ tấm lòng cao đẹp của người khác là không thể tha thứ. Rõ ràng, đối với những
người biết quý trọng cái tài, cái đẹp trên đời, Huấn Cao đâu có nề hà, đã không biết thì thôi
chứ biết thì nhất định không “phụ tấm lòng trong thiên hạ”. Đấy chính là lẽ sống cao đẹp, là
cách xử thể tràn đầy tinh thần văn hóa ở Huấn Cao, cũng là bài học về đạo lý, lẽ sống cho
mỗi người trên đời. Xem ra, chuyện xin chữ – cho chữ ở đây không còn là thú chơi nữa mà
là chuyện của lẽ sống và đạo đức của con người trong cuộc sống.
Huấn Cao – người anh hùng dũng liệt, có bản lĩnh, lý tưởng, có khí phách hiên
ngang, bất khuất.
Không giống như nhiều nhân vật tài hoa, tài tử khác trong Vang bóng một thời, Huấn Cao
có hai con người trong một con người : con người tài hoa nghệ sĩ với cái tâm trong sáng và
con nguời anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang. Đấy là một người dám chống lại
triều đình mục ruỗng mà ông căm ghét. Thái độ này không thay đổi kể cả khi ông nhận
được thông báo sẽ bị giải vào Kinh để chịu án tử hình. Là kẻ chiến bại nhưng Huấn Cao
không hề đánh mất khí phách của mình. Ngay từ đầu tác phẩm, điều đó đã được thể hiện
qua hành động “rỗ gông”. Huấn Cao đã bất chấp lời doạ dẫm của tên lính áp giải, “lạnh
lùng chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh
thuỳnh một cái”. Cũng chính con người ấy đã “thản nhiên nhận rượu thịt” coi như “việc vẫn
làm trong cái hứng sinh bình”, thậm chí còn “cố ý làm ra khinh bạc đến điều” đối với viên
quản ngục mà không hề sợ “một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan
ngục bị sỉ nhục”. Ngay cả khi được tin “ngày mai, tinh mơ” sẽ “về kinh chịu án tử hình”,
Huấn Cao cũng chỉ “lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười”. Rõ ràng, Huấn Cao có phong độ của
một trang anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang của kẻ “chọc trời quấy nước” trên
đầu “chẳng còn biết có ai nữa” (như chính quản ngục đã phải thừa nhận), có cái khí khái
của đấng nam nhi coi cái chết “nhẹ tựa hồng mao”.
Hình tượng Huấn Cao tỏa sáng trong cảnh cho chữ
Huấn Cao đúng là một nhân vật đặc biệt của Nguyễn Tuân. Ở con người này có sự hội tụ
của ba phẩm chất, cũng là ba vẻ đẹp đáng trân trọng của con người : “tài” – “tâm” – “dũng”.
Ba vẻ đẹp ấy hòa quyện với nhau và tỏa sáng rực rỡ trong cái đêm Huấn Cao cho chữ
quản ngục.
Điểm hội tụ của tài năng nghệ sĩ và khí phách nghĩa sĩ của Huấn Cao trước hết là ở tư thế.
Tuy phải bó buộc trong hình hài của một phạm nhân: “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”
nhưng Huấn Cao vẫn có cái tư thế của một người nghệ sĩ thư pháp. Con người ấy đang
dồn tinh lực để viết nên những “dòng chữ cuối cùng” cho đời – những dòng chữ “nói lên cái
hoài bão tung hoành của một đời con người”. Tương phản với hình ảnh Huấn Cao là hình
ảnh của ngục quan và thơ lại – những kẻ đại diện cho uy quyền, pháp luật đương thời, nắm
trong tay quyền sinh, quyền sát nhưng lại đang “khúm núm”, “run run” trước từng nét chữ
của Huấn Cao. Chính sự tương phản này đã gián tiếp khắc họa cái hiên ngang, khí phách
của người tử tù. Đồng thời cho thấy trong khoảnh khắc này, tại chính gian nhà ngục này
không phải cái ác, cái xấu đang làm chủ mà chính là cái đẹp, cái tài của người nghệ sĩ
đang tỏa sáng, hùng tâm, tráng chí của người anh hùng đang được tôn vinh.
Như mọi dòng sông đều chảy về biển, ở Huấn Cao, nơi hội lưu của thiên lương trong sáng
và nhân cách con người viết hoa – CON NGƯỜI dừng lại ở một lời khuyên chí tình dành
cho quản ngục : “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không
phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét vuông tươi tắn […] Tôi bảo thực đấy,
thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ
đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem
nhuốc mất cả đời lương thiện đi”. Lời khuyên này giống như một di huấn – di huấn của
người nghệ sĩ truyền lại cho đời và hậu thế : muốn chơi chữ thì trước hết phải giữ lấy “thiên
lương”. Chữ nghĩa và “thiên lương” không thể chung sống với cái ác, cái xấu, đừng để
những cái cao quý ấy bị hoen ố, bị mất đi ở chốn ngục tù đen tối tàn bạo. Trong “di huấn”
của người tử tù tài hoa nghệ sĩ, lời nói sau đây ngỡ như lời nói thông thường, vậy mà xem
ra cũng đầy ngụ ý, đầy sức gợi : “Thoi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá. Thầy có
thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?…”. Đây đâu phải chỉ là lời khen tặng của Huấn
Cao dành cho ngục quan – kẻ không chỉ có “sở nguyện cao quý” mà còn rất “chịu chơi”; đó
cũng chẳng hoàn toàn là lời gợi nhắc của Huấn Cao với quản ngục, rằng : cần phải biết
cảm nhận mùi thơm của mực, của chữ nghĩa, mà thâm ý sâu xa trong câu nói ấy là : Phải
biết nhận ra trong mực, trong chữ cái “hương vị của thiên lương”. Cái gốc của chữ, xét cho
cùng, là “thiên lương” đó thôi. Chơi chữ không chỉ là chuyện chữ nghĩa mà trên hết đó là
chuyện về cách sống, chuyện văn hoá, là đạo làm người chân chính của bậc quân tử. Ta
hiểu vì sao trước những lời nói và lời khuyên chí tình này của ông Huấn, ngục quan đã
“cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng
làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Có thể khẳng định, chính nhân cách
cao thượng và cách hành xử đầy tinh thần trượng nghĩa, văn hóa của Huấn Cao đã khiến
ngục quan thực sự cảm phục. Đó cũng là chiến thắng của cái đẹp, cái thiện, của “thiên
lương”, là sự chứng thực hùng hồn cho một chân lý : giữa nơi tưởng như chỉ có thể tồn tại
cái ác, cái xấu, tài năng và phẩm giá cao cả của con người vẫn tìm thấy không gian, thời
gian để sinh tồn và tỏa sáng. Không gian ấy, dù chỉ là một nhà ngục tăm tối, bẩn thỉu. Thời
gian ấy, dù chỉ là khoảnh khắc cuối trong cuộc đời một con người. Đấy là gì nếu như không
phải là lí tưởng thẩm mĩ, là niềm tin mãnh liệt của nhà văn vào những điều tốt đẹp trên đời.
Nghệ thuật
Như ta đã biết, xây dựng hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã dựa vào nguyên mẫu là
Chu thần Cao Bá Quát. Trong thực tế lịch sử, “thánh Quát” đã bỏ mình nơi chiến địa trong
cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến. Nhưng với Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã
“kéo dài cuộc đời Cao Bá Quát” bằng cuộc gặp gỡ thú vị giữa người tử tù có tài viết chữ
đẹp với viên quản ngục – kẻ đại diện pháp luật đương thời nhưng khát khao ánh sáng chữ
nghĩa. Sáng tạo này là chỗ nhà văn gửi gắm lí tưởng thẩm mĩ và quan điểm nghệ thuật của
mình.
Đọc truyện Chữ người tử tù, có thể thấy Nguyễn Tuân đã sử dung bút pháp lãng mạn, lí
tưởng hóa để miêu tả hình tượng Huấn Cao. Đó là người có vẻ đẹp toàn diện : vẻ đẹp của
tài năng – vẻ đẹp của tâm hồn – vẻ đẹp của khí phách. Vẻ đẹp ấy hiện lên lồng lộng trên
nền tăm tối của ngục tù và trong sự kính nể, tôn vinh của những kẻ đại diện cho luật pháp
đương thời. Hình ảnh Huấn Cao gắn liền với cái đẹp, với ánh sáng và cái thiện. Những cái
đó cũng bật nổi trong ưu thế và sự lấn át cái xấu, bóng tối và cái ác. Đó là những biểu hiện
khác nhau của thủ pháp tương phản – thủ pháp đã được sử dụng rất hiệu quả trong tác
phẩm.
Cũng như nhiều sáng tác khác, ngôn ngữ miêu tả của Nguyễn Tuân trong Chữ người tử
tù rất đậm chất “điện ảnh”. Nhiều đoạn như những thước phim quay chậm, sắc nét, chậm
rãi, hiển hiện từng nét cảnh vật, từng hành động của nhân vật. Ngôn ngữ miêu tả nhân vật
Huấn Cao cũng thế. Những đoạn tả ông Huấn như đoạn “rỗ gông”, đoạn “cho chữ”… đều
có thể coi là những “thước phim ngắn” về nhân vật này. Từng hành động, điệu bộ, cử chỉ
của Huấn Cao cứ dần dần, chậm rãi hiện ra qua lớp ngôn từ vừa cổ kính vừa hiện đại của
nhà văn.
Kết luận
Tóm lại, Huấn Cao là một trong những hình tượng nhân vật đẹp nhất của nhà văn Nguyễn
Tuân. Hình tượng này thể hiện khá rõ quan niệm thẩm mĩ của nhà văn : cái Đẹp phải là sự
kết hợp giữa cái tâm và cái tài. Gốc của cái đẹp cũng như cái gốc của chữ nghĩa chính là
“thiên lương”. Cái đẹp, dù trong hoàn cảnh nào, cũng sẽ luôn vươn lên và tỏa sáng. Nó
không chấp nhận sống chung với cái ác, cái xấu. Cái đẹp chân chính có sức mạnh cảm
hóa con người. Qua tư tưởng nghệ thuật về cái Đẹp, nhà văn thiết tha gửi đến bạn đọc
thông điệp : dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải sống đẹp, phải giữ gìn “thiên lương”
cho lành vững. Mà sống đẹp không thể không gắn liền với cách ứng xử văn hóa, một trong
những cách ứng xử ấy là thái độ tôn trọng tài năng và phẩm giá của con người. Biết “biệt
nhỡn liên tài” cũng chính là biết sống một cách nhân văn và đầy tinh thần văn hóa.
Nhân vật viên quản ngục
Viên quản ngục trong tình huống truyện
Cũng giống như Huấn Cao, nhân vật viên quản ngục được nhà văn xây dựng từ tình huống
độc đáo của truyện. Đó là cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường : viên
quản ngục – kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại rất khát khao ánh sáng của chữ
nghĩa với Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp nổi tiếng. Lẽ ra đây phải là cuộc hội
ngộ tương đắc của những kẻ biệt nhỡn liên tài, của hai tâm hồn nghệ sĩ yêu cái đẹp.
Nhưng thật oái oăm, họ lại phải gặp nhau giữa chốn ngục tù và trong một tình thế éo le :
cuộc chạm trán giữa một tên “đại nghịch”, cầm đầu cuộc nổi loạn đang đợi ngày ra pháp
trường với kẻ đại diện cho trật tự xã hội đương thời. Như thế, trên bình diện nghệ thuật họ
là tri âm, tri kỉ. Trên bình diện xã hội, họ là những kẻ đối địch nhau. Hơn nữa, ở một khía
cạnh khác đây còn là sự đối mặt giữa hai loại nhà tù, hai kiểu tù nhân: một người tự do về
nhân thân nhưng bị cầm tù về nhân cách, người kia luôn tự do về nhân cách nhưng lại bị
cầm tù về nhân thân. Chọn lựa một tình huống như vậy, Nguyễn Tuân đã đặt quản ngục
trước một sự lựa chọn có tính xung đột: Hoặc làm tròn bổn phận một viên quan thì phải
chà đạp lên tấc lòng tri kỉ. Hoặc muốn trọn đạo tri kỉ thì phản lại bổn phận nhà nước của
một viên quan- nghĩa là phải bất chấp những phép tắc, trật tự xã hội. Quản ngục sẽ hành
động theo hướng nào? Ẩn số sẽ được nhà văn dần dần giải đáp.
Viên quản ngục – “thanh âm trong trẻo chen vào một giữa bản đàn mà nhạc
luật đều hỗn loạn xô bồ”
Là một người làm nghề quản ngục, sống trong thế giới ngục tù, giữa những gông xiềng, tội
lỗi, hàng ngày phải làm và chứng kiến bao điều tàn nhẫn, lừa lọc, ngục quan không thể
không chịu những tác động của cái cảnh sống ấy. Việc phải sống “giữa một đống cặn bã”,
“phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt” đã khiến viên quan coi ngục này ít nhiều bị nhiễm
những thói xấu thông thường của chốn tù ngục dù trong tác phẩm điều đó hiện ra một cách
kín đáo. Đấy là “cặp mắt hiền lành” “trái với phong tục nhận tù mọi ngày”; là “những mánh
khóe hành hạ thường lệ” – những “chiêu” lừa lọc, những thủ đoạn dọa dẫm, những “đòn
đánh phủ đầu”… những cái vẫn thường được quản ngục cho thi hành tại cái nhà ngục này
và đã thành thói quen đến mức bọn lính hết sức ngạc nhiên khi không thấy ngục quan cho
áp dụng với Huấn Cao và “năm bạn đồng chí của ông”. Chính sự bất thường trong cách đối
xử với Huấn Cao của ngục quan đã cho thấy cái thông thường trong cách hành xử “bằng
tàn nhẫn, bằng lừa lọc” ở viên quản ngục và cả cái nhà tù này. Thái độ “ngạc nhiên”, “nhìn
nhau và không hiểu” của bọn lính trước cách ứng xử trái với lẽ thường của ngục quan là
bằng chứng về những tác động tiêu cực của chốn ngục tù “cặn bã” đối với tính cách của
viên quan coi ngục này. Nói cách khác, trên bình diện nghề nghiệp, tính cách viên quản
ngục đã ít nhiều bị cái hoàn cảnh sống và làm việc của mình chi phối.
Tuy nhiên, Nguyễn Tuân không dành nhiều tâm sức để miêu tả cụ thể những biểu hiện tiêu
cực của ngục quan trong công việc quản lao tù hằng ngày mà ông tập trung làm hiện lên
đời sống nội tâm bên trong và bản chất thật của nhân vật. Theo cách miêu tả đầy sức ám
gợi của nhà văn thì quản ngục là “một thanh âm trong trẻo chen giữa vào một bản đàn mà
nhạc luật đều hồn độn xô bồ”. Đó là người có “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”,
một “người thẳng thắn” nhưng “phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Nghĩa là quản ngục đã
lầm đường khi chọn nghề nghiệp cho mình. Bản chất con người thật của ông ta đúng ra
phải ở một chỗ nào khác thanh cao hơn, chứ không phải ở chốn này. Đã không dưới một
lần quản ngục suy nghĩ, trăn trở về bi kịch chọn sai nghề của bản thân : “Có lẽ lão bát này
cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi, một kẻ biết
tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay vô tình”. Lời than thở, bộc bạch
ấy đã cho thấy một sự thật : quản ngục vẫn chưa hoàn toàn đánh mất mình, ở ông ta vẫn
còn giữ được những vẻ đẹp thiên lương trong sáng.
Có thể nói, là quản ngục nhưng ông ta cũng chính là tù nhân chung thân của cái nhà ngục
do chính ông đang cai quản. Cái danh, cái lợi, trách nhiệm, bổn phận của một ông ngục
quan là những thứ gông cùm, xiềng xích vô hình xiết chặt tâm hồn quản ngục suốt đời. “Lũ
người quay quắt”, “cái đống cặn bã” bao quanh ông chẳng khác gì nơi buồng tối giam tử tù.
Tuy nhiên, nhân vật quản ngục không chỉ là kẻ thi hành phận sự. Những chi tiết khắc họa
đời sống nội tâm của quản ngục với khuôn mặt tỏ rõ sự “nghĩ ngợi đăm chiêu” , “băn khoăn
bóp thái dương”, “những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự giờ biến mất hẳn. Ở đấy,
giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ” cho thấy viên quan “cai tù”
này không giống với bất cứ một tên “cai tù” nào trong bộ máy thống trị đương thời. Ẩn sâu
trong cái vỏ bọc “cai ngục”, đằng sau những “mánh khóe hành hạ thường lệ” còn có một
quản ngục với những khoảnh khắc tâm hồn thánh thiện, thanh khiết, dịu êm như mặt nước
ao xuân.
Viên quản ngục – người có “sở nguyện cao quý”, biết “biệt nhỡn liên tài”
Là một người làm nghề coi ngục, là công cụ trấn áp của bộ máy thống trị đương thời,
nhưng viên quản ngục lại có một thú chơi tao nhã : chơi chữ. Đó là một con người có tâm
hồn nghệ sĩ. Ngay từ khi còn trẻ, khi mới “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”, quản ngục
đã có cái sở nguyện “một ngày kia được treo ở riêng nhà mình một đôi câu đối do tay ông
Huấn Cao viết”. “Có được chữ của ông Huấn mà treo là có một vật báu trong đời”. Quản
ngục sẵn sàng “biệt đãi” ông Huấn – điều mà cả ông ta và bất cứ ai cũng thừa hiểu là hành
động phạm pháp, thậm chí bị quy vào tội đồng lõa với tội phạm. Với tội danh này, nặng thì
bị xử tử giống như những phạm nhân kia, nhẹ thì mất nghiệp, khuynh gia bại sản. Nhưng
điều gì đã khiến ngục quan nhẫn nại, hạ mình, dám đánh đổi cả sự nghiệp, thậm chí cả tính
mạng của mình đến như vậy ? Rốt cuộc chỉ có một điều cốt lõi, ấy là chữ của Huấn Cao –
“vật báu trên đời”. Cũng chính vì điều này mà trong những ngày ngắn ngủi khi ông Huấn bị
tam giam trong ngục, quản ngục luôn sống trong tình trạng vô cùng căng thẳng. Y thừa biết
rằng tính ông Huấn Cao vốn khoảnh “trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. Viên quản ngục
luôn sống trong sự dằn vặt, nỗi khổ tâm, lo lắng vì mai mốt “ông Huấn bị hành hình mà
không kịp xin được mấy chữ thì ân hận suốt đời”. Những tâm trạng ấy củ...
28/02/2018 14:09
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
– Nguyễn Tuân –
PHẦN 1 : BÀI HỌC
1. Xuất xứ
Chữ người tử tù ban đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng in năm 1938 trên tạp chí Tao đàn.
Đây là một truyện ngắn đặc sắc trong “Vang bóng một thời” – tập truyện được xuất bản
năm 1940, gồm 11 truyện ngắn viết về “một thời” đã qua nay chỉ còn “vang bóng”. Mỗi
truyện trong “Vang bóng một thời” đi vào một cái tài, một thú chơi tao nhã, phong lưu của
những nhà nho tài hoa lỡ vận: chơi chữ, thưởng thức chén trà buổi sớm, thả thơ đánh
thơ… Nhân vật trong “Vang bóng một thời” chủ yếu là những nho sĩ cuối mùa, tuy buông
xuôi bất lực nhưng quyết giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn” bằng cách thực
hiện “cái đạo sống của người tài tử”. Qua tập truyện này, nhà văn không chỉ thể hiện sự
nuối tiếc vẻ đẹp của một thời quá vãng mà còn bộc lộ niềm trân trọng và tự hào về truyền
thống văn hoá lâu đời của dân tộc.
1. Cảm hứng chủ đạo
Thái độ trân trọng, ngợi ca, nuối tiếc của nhà văn trước một vẻ đẹp văn hóa lâu đời đang
có nguy cơ mai một đồng thời là sự thể hiện quan niệm thẩm mĩ mà suốt đời nhà văn theo
đuổi : cái Đẹp là sự hòa hợp giữa cái tâm và cái tài, cái tài nhờ có cái tâm để mà “cháy lên”,
còn cái tâm nhờ có cái tài để mà “tỏa sáng” (R.Gam-da-tốp). Tác phẩm cũng là bài học về
lẽ sống đẹp, về “đạo sống” của những con người chân chính trên đời : dù trong bất cứ
hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn “thiên lương” cho lành vững; sống trên đời không được
phụ những tấm lòng trong thiên hạ; phải biết tôn trọng tài năng và phẩm giá của con người.
1. Nhan đề
“Chữ” ở đây là chữ Hán – thứ chữ khối vuông, được viết bằng bút lông, vừa có tính chất
tạo hình vừa ít nhiều mang dấu ấn cá tính, nhân cách người viết. Từ xưa, ở nhiều nước
Châu Á, trong đó có Việt Nam người ta đã biết thưởng thức chữ đẹp và có thú chơi chữ.
Người viết chữ đẹp được coi là nghệ sĩ và viết chữ được xem là một hành vi sáng tạo nghệ
thuật, một hoạt động sản sinh cái đẹp. Bộ môn nghệ thuật ấy được gọi là thư pháp.
“Người tử tù” trong nhan đề chính là Huấn Cao, người nổi tiếng về viết chữ đẹp, thiên
lương trong sáng và khí phách hơn người. Huấn Cao không chỉ là người nghệ sĩ có khả
năng sáng tạo cái Đẹp mà còn là người kết tinh, lưu giữ một trong những vẻ đẹp văn hóa
truyền thống của dân tộc.
Căn cứ vào nội dung truyện, có thể hiểu Chữ người tử tù là cái nhan đề hàm chứa quan
niệm và thái độ trân trọng, ngợi ca của nhà văn đối với cái Đẹp thuộc về văn hóa truyền
thống và cái Đẹp thuộc về nhân cách con người. Đó chính là sự tôn vinh và luyến tiếc của
Nguyễn Tuân trước một vẻ đẹp văn hóa lâu đời đang có nguy cơ mai một đồng thời là sự
thể hiện một quan niệm thẩm mĩ mà suốt đời nhà văn theo đuổi : cái Đẹp là sự hòa hợp
giữa cái tâm và cái tài, cái tài nhờ có cái tâm để mà “cháy lên” còn cái tâm nhờ có cái tài để
mà “tỏa sáng” (R.Gam-da-tốp).
Bên cạnh đó, Chữ người tử tù thực ra không chỉ là chuyện chữ nghĩa (xin chữ, cho chữ) mà
sâu xa hơn đó là bài học về lẽ sống, “đạo sống” của những con người chân chính trên đời :
dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn “thiên lương” cho lành vững và cũng phải
sống đẹp, mà sống đẹp thì không thể không gắn liền với cách ứng xử nhân văn – “biệt
nhỡn liên tài” tức là phải biết tôn trọng tài năng và phẩm giá của con người.
1. Tình huống truyện
Trong loại tự sự, đặc biệt là thể loại truyện ngắn, tình huống truyện có vai trò rất
quan trọng. Nó không chỉ góp phần đáng kể vào việc thể hiện tính cách nhân vật và chủ đề
tác phẩm mà còn tạo ra kịch tính cho câu chuyện, gia tăng tính hấp dẫn của cốt truyện.
Tình huống truyện được hiểu là một hoàn cảnh đặc biệt, một cảnh huống bất bình thường
mà ở đó con người bộc lộ một cách một cách rõ nét những suy nghĩ, hành động, năng lực
và cá tính của mình. Tình huống gắn bó chặt chẽ với cốt truyện, thường hiện lện rõ rệt ở
các bước ngoặt trên dòng cốt truyện, chi phối chiều hướng con đường đời của nhân vật.
Tình huống của truyện Chữ người tử tù là cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người
khác thường : viên quản ngục – kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại rất khát khao ánh
sáng của chữ nghĩa và Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp nổi tiếng. Lẽ ra đây phải
là cuộc hội ngộ tương đắc của những kẻ biệt nhỡn liên tài, của hai tâm hồn nghệ sĩ yêu cái
đẹp. Nhưng thật oái oăm, họ lại phải gặp nhau giữa chốn ngục tù và trong một tình thế éo
le : cuộc chạm trán giữa một tên “đại nghịch”, cầm đầu cuộc nổi loạn đang đợi ngày ra
pháp trường với kẻ đại diện cho trật tự xã hội đương thời.
Tình huống truyện này trước hết đã góp phần làm nổi rõ tính cách của Huấn Cao – nhân
vật chính của truyện, đó là một người tài hoa, hiên ngang, bất khuất trước cái ác, cái xấu
nhưng lại mềm lòng trước cái thiện, cái đẹp; đồng thời soi sáng vẻ đẹp tâm hồn khuất lấp
của viên quản ngục – một “thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật
đều hỗn loạn xô bồ”.
Tình huống truyện này cũng đã ít nhiều làm bật sáng chủ đề tác phẩm : ngợi ca cái tài, cái
đẹp, cái “thiên lương” và đề cao cách hành xử giàu tinh thần nhân văn và cao thượng –
sống trên đời không được phụ những tấm lòng tri kỉ; sống trên đời phải biết “biệt nhỡn liên
tài”.
Tình huống truyện nêu trên còn cho thấy phần nào kịch tính của câu chuyện. Mâu thuẫn
“kịch” ở đây là sự đối lập giữa niềm khát khao chữ nghĩa của quản ngục với thái độ khinh bỉ
của Huấn Cao đối với ngục quan. Diễn biến của thiên truyện cũng tựa như cách trình bày,
thắt nút, đỉnh điểm, mở nút của một vở kịch. Sau phần giới thiệu đầu truyện (trình bày)
dành cho hai nhân vật là Huấn Cao và quản ngục, mâu thuẫn bắt đầu hình thành khi ngục
quan có ý biệt đãi tử tù trong khi Huấn Cao thì hiên ngang và tỏ ý thản nhiên coi khinh ra
mặt. Mâu thuẫn ngày một căng thẳng nhất là khi Huấn Cao cố tình sỉ nhục ngục quan trong
khi quản ngục vừa khổ tâm vừa nóng lòng sốt ruột xin chữ (thắt nút) và lên tới đỉnh
điểm khi ngục quan nhận được công văn khẩn về việc chuyển các tử tù vào pháp trường
trong Kinh chịu án. Nhưng cũng liền ngay đó, mâu thuẫn được giải quyết, xung đột được
cởi bỏ (mở nút) khi Huấn Cao hiểu rõ tâm ý của quản ngục và quyết định cho chữ.
Như vậy, tình huống truyện không những làm nổi lên tính cách nhân vật, làm bật sáng chủ
đề tác phẩm mà còn làm bật lên tính kịch khá hấp dẫn cho truyện.
1. Hình tượng nhân vật Huấn Cao
Giữa cuộc đời cũng như trong nghệ thuật, Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ có lí tưởng
thẩm mĩ và phong cách độc đáo. Đánh giá về Nguyễn Tuân, nhà văn Nguyễn Minh Châu
đã từng nói : Nguyễn là “một cái định nghĩa về người nghệ sĩ”. Trước Cách mạng tháng
Tám, Nguyễn Tuân nổi tiếng với “Vang bóng một thời” – tập truyện được xuất bản năm
1940, viết về những vẻ đẹp của “một thời” đã qua nay chỉ còn “vang bóng”. Trong tập
truyện này, Chữ người tử tù được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, kết tinh
phong cách sáng tác và tài năng nghệ thuật của nhà văn. Chữ người tử tù là một truyện
ngắn. Thế giới nhân vật ở đó không nhiều. Nhưng nhân vật nào cũng hiện lên thật sống
động với số phận, tính cách và vẻ đẹp riêng. Điển hình là Huấn Cao – nhân vật trung tâm
của tác phẩm.
Nguyên mẫu của hình tượng nhân vật Huấn Cao
Theo các nhà nghiên cứu, nhân vật Huấn Cao được xây dựng từ nguyên mẫu là Cao Bá
Quát (1808-1855). Chữ “Huấn” ở đây là huấn đạo (giáo thụ) – chức quan phụ trách việc
học ở một huyện. Cao Bá Quát đã từng làm chức giáo thụ ở Quốc Oai – Hà Tây. Còn
“Cao” là họ của “thánh Quát”. Trong lịch sử nước ta, Cao Bá Quát không chỉ nổi danh là
“văn hay chữ tốt” như đương thời truyền tụng “Thần Siêu, thánh Quát”, “Văn như Siêu,
Quát vô tiền Hán” mà còn nổi tiếng là người cương trực, quý trọng tài năng, có bản lĩnh,
sống có lý tưởng và dám đương đầu với cường quyền. Con người ấy đã từng chịu cực
hình tra tấn trong gần ba năm chỉ vì khi làm sơ khảo ở trường thi Thừa Thiên đã dùng muội
đèn chữa những chỗ phạm trường quy trong 24 quyển thi đáng được lấy đỗ. Và cũng chính
con người ấy đã cứng cỏi đứng lên tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương chống lại
triều đình nhà Nguyễn hèn yếu, lạc hậu để rồi hi sinh trong một trận đánh. Con người vừa
tài hoa nghệ sĩ vừa cứng cỏi anh hùng, vừa là nhà nho uyên bác vừa là lãnh tụ nông dân
khởi nghĩa như Cao Chu Thần, trong lịch sử nước ta, quả thật không nhiều. Chẳng phải thế
mà Nguyễn Tuân đã chọn làm nguyên mẫu để xây dựng nên hình tượng Huấn Cao.
Tuy nhiên, Cao Bá Quát chỉ là một điểm tựa, một “chất liệu văn học” để Nguyễn Tuân xây
dựng nên nhân vật của mình. Phần hư cấu, sáng tạo của nhà văn vẫn là chủ yếu bởi Huấn
Cao đã xuất hiện trong tác phẩm theo đúng lý tưởng thẩm mĩ và quan niệm nghệ thuật của
tác giả. Và đây mới chính là điểm mấu chốt tạo nên một hình tượng Huấn Cao đặc sắc,
đọng lại được nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ.
Huấn Cao – người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp, người kết tinh vẻ
đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc và tấm lòng yêu nước mang màu sắc
riêng của nhà văn.
Trong truyện Chữ người tử tù, Huấn Cao nổi lên là một nghệ sĩ tài hoa hiếm có trong nghệ
thuật thư pháp. Ngay từ đoạn văn mở đầu tác phẩm, thông qua một đối thoại ngắn giữa
quản ngục và thầy thơ lại, nhà văn đã “gieo” trên trang văn một lời giới thiệu không thể
thuyết phục hơn về tài năng của con người này. Đó là “cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn
khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”. Đây không phải là lời ngợi khen của một người
mà là lời của người dân cả một tỉnh, tức là tài năng của ông Huấn từ lâu đã được công
chúng rộng rãi thừa nhận. Tuy nhiên, với riêng ngục quan, tên tuổi và tài nghệ của “người
đứng đầu bọn phản nghịch” ấy còn nhiều hơn thế. Không biết từ nguồn nào và từ bao giờ,
viên quan coi ngục này đã biết “cái tài viết chữ tốt” của Huấn Cao : “Chữ của ông Huấn Cao
đẹp lắm, vuông lắm”. Và cũng đã từ rất lâu rồi, nhưng chưa bao giờ có dịp được nói ra, “cái
sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một
đôi câu đối do chính tay ông Huấn Cao viết… Có được chữ của ông Huấn mà treo là có
một báu vật trên đời”. Về phía chủ quan, mong muốn ấy của quản ngục xuất phát từ thú
chơi chữ của ông ta. Nhưng về phía khách quan, chữ của Huấn Cao phải đẹp lắm, quý
lắm, phải là “báu vật” hiếm có trên đời mới có thể khiến viên quan coi ngục lần đầu tiên có
cái nhìn “hiền lành” và tỏ rõ thái độ “kiêng nể” với sáu người tù mà thực chất chỉ là Huấn
Cao. Đặc biệt, quản ngục sẵn sàng “biệt đãi” ông Huấn – điều mà cả ông ta và bất cứ ai
cũng thừa hiểu là hành động phạm pháp, thậm chí bị quy vào tội đồng lõa với tội phạm. Với
tội danh này, nặng thì bị xử tử giống như những phạm nhân kia, nhẹ thì mất nghiệp,
khuynh gia bại sản. Điều ấy, một người đại diện cho pháp luật như quản ngục không thể
không hiểu. Nhưng cái gì đã khiến ngục quan nhẫn nại, hạ mình, dám đánh đổi cả sự
nghiệp, thậm chí cả tính mạng của mình đến như vậy ? Rốt cuộc chỉ có một điều cốt lõi, ấy
là chữ của Huấn Cao – một “vật báu trên đời” và vì thế với những người có thú chơi chữ
như quản ngục thì được treo chữ của ông Huấn là một trong những sự mãn nguyện lớn
nhất trong cuộc đời. Có thể khẳng định, Nguyễn Tuân đã thành công khi miêu tả tài viết
chữ của Huấn Cao. Cái giỏi của nhà văn là không có một từ nào miêu tả cụ thể về những
chữ mà Huấn Cao đã viết, kể cả ở cảnh cho chữ cuối cùng, thế mà ấn tượng về tài năng
của Huấn Cao, về người tử tù có phẩm chất nghệ sĩ, có tài nghệ hơn người vẫn đậm sâu
trong lòng bạn đọc. Giống như thủ pháp “vẽ mây nảy trăng” thường thấy trong thơ, phương
thức miêu tả gián tiếp của nhà văn đã có được hiệu quả nghệ thuật rõ nét trong trường hợp
này.
Với những gì đã viết về Huấn Cao, nhất là qua thái độ, lời nói của nhân vật quản ngục, thơ
lại, Nguyễn Tuân không hề giấu giếm thái độ say mê, cảm phục của mình đối với những
người như ông Huấn. Đó là người “kết tinh” và tỏa sáng một trong những vẻ đẹp văn hoá
truyền thống của dân tộc. Vẻ đẹp ấy, ở thời đại Nguyễn Tuân, lại đang có nguy cơ mai một,
rất dễ thuộc về “một thời” đã qua nay chỉ còn “vang bóng”. Do đó, sáng tạo hình tượng
Huấn Cao có thể xem là một phương thức nghệ thuật đắc dụng để nhà văn kín đáo thể
hiện tình cảm yêu mến, trân trọng của mình đối với những giá trị văn hoá cổ truyền của đất
nước. Đây chính là tinh thần dân tộc, là lòng yêu nước mang nét đặc trưng riêng của nhà
văn. Không phải ngẫu nhiên, nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh – chuyên gia
nghiên cứu về Nguyễn Tuân đã từng đánh giá khái quát : “Nguyễn Tuân là một trí thức giàu
lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Lòng yêu nước của ông có màu sắc riêng : gắn liền với
những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc”.
Huấn Cao – người nghệ sĩ có cái “thiên lương” trong sáng, có cách ứng xử
cao thượng và đầy tinh thần văn hóa.
Trong cuộc sống và nhất là trong nghệ thuật, tài năng không phải là thứ mà tạo hóa hay xã
hội muốn có hoặc có thể ban phát cho tất thảy mọi người. Người có tài năng, năng khiếu
nghệ thuật vốn đã không nhiều trong cuộc sống thì người vừa có tài vừa có tâm lại càng
hiếm nữa. Mấy trăm năm trước, thi hào Nguyễn Du đã viết : “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ
tài”. Chính cái “tâm” sẽ làm cho cái tài được cất cánh cao hơn nữa, tỏa sáng hơn nữa.
Trong Chữ người tử tù, Huấn Cao đâu chỉ có tài viết chữ mà còn có đạo đức và văn hóa
của một người nghệ sĩ thư pháp, một nhân cách cao thượng trong đời sống.
Đạo đức của Huấn Cao thể hiện trước tiên ở lòng tự trọng, ở chỗ biết giữ lấy cái tài, biết
trân trọng tài năng đích thực của mình và biết dùng nó đúng lúc đúng chỗ. Con người ấy
“nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”. Cả đời
Huấn Cao cho đến trước khi cho chữ viên quản ngục mới chỉ “viết có hai bộ tứ bình và một
bức trung đường” cho “ba người bạn thân”. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Huấn Cao cũng
giữ trọn “thiên lương” của mình. Khi chưa hiểu con người của quản ngục, Huấn Cao không
hề tỏ ra sợ hãi, càng không vì cái “uy vũ” đó để phải quỳ xuống viết chữ. Ông cũng không
tỏ ra mềm lòng, thỏa hiệp, nhún mình viết câu đối trước sự “biệt đãi” của ngục quan. Ngay
cả khi đã hiểu rõ con người của quản ngục và đã cho chữ viên quan này thì điều mà Huấn
Cao khuyên bảo, mong muốn ở ngục quan là “giữ thiên lương cho lành vững”, đừng để
“nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Đó đích thực là một tâm hồn trong sáng, cao đẹp,
một biểu tượng của “thiên lương” lành vững mà thời đại nào cũng cần.
Cái tâm của Huấn Cao không chỉ hiện ra ở đạo đức của người nghệ sĩ mà còn bộc lộ ở
cách ứng xử cao thượng và đầy tinh thần văn hóa. Đọc tác phẩm, ai cũng thấy Huấn Cao
đã phản ứng dữ dội như thế nào trước hành động muốn “biệt đãi” ông của quản ngục.
Nhưng đấy là khi ông chưa thực sự hiểu được bản chất của con người này. Đến khi đã
hiểu được con người bên trong của ngục quan, khi đã “cảm” được “cái tấm lòng biệt nhỡn
liên tài” của viên quan coi ngục thì Huấn Cao đã nhanh chóng bỏ qua những nghi kị trước
đó, vui vẻ tự nguyện cho chữ. Lời của Huấn Cao : “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng
trong thiên hạ” đã bộc lộ lẽ sống của ông : sống là phải xứng đáng với những tấm lòng tri
kỉ, phụ tấm lòng cao đẹp của người khác là không thể tha thứ. Rõ ràng, đối với những
người biết quý trọng cái tài, cái đẹp trên đời, Huấn Cao đâu có nề hà, đã không biết thì thôi
chứ biết thì nhất định không “phụ tấm lòng trong thiên hạ”. Đấy chính là lẽ sống cao đẹp, là
cách xử thể tràn đầy tinh thần văn hóa ở Huấn Cao, cũng là bài học về đạo lý, lẽ sống cho
mỗi người trên đời. Xem ra, chuyện xin chữ – cho chữ ở đây không còn là thú chơi nữa mà
là chuyện của lẽ sống và đạo đức của con người trong cuộc sống.
Huấn Cao – người anh hùng dũng liệt, có bản lĩnh, lý tưởng, có khí phách hiên
ngang, bất khuất.
Không giống như nhiều nhân vật tài hoa, tài tử khác trong Vang bóng một thời, Huấn Cao
có hai con người trong một con người : con người tài hoa nghệ sĩ với cái tâm trong sáng và
con nguời anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang. Đấy là một người dám chống lại
triều đình mục ruỗng mà ông căm ghét. Thái độ này không thay đổi kể cả khi ông nhận
được thông báo sẽ bị giải vào Kinh để chịu án tử hình. Là kẻ chiến bại nhưng Huấn Cao
không hề đánh mất khí phách của mình. Ngay từ đầu tác phẩm, điều đó đã được thể hiện
qua hành động “rỗ gông”. Huấn Cao đã bất chấp lời doạ dẫm của tên lính áp giải, “lạnh
lùng chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh
thuỳnh một cái”. Cũng chính con người ấy đã “thản nhiên nhận rượu thịt” coi như “việc vẫn
làm trong cái hứng sinh bình”, thậm chí còn “cố ý làm ra khinh bạc đến điều” đối với viên
quản ngục mà không hề sợ “một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan
ngục bị sỉ nhục”. Ngay cả khi được tin “ngày mai, tinh mơ” sẽ “về kinh chịu án tử hình”,
Huấn Cao cũng chỉ “lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười”. Rõ ràng, Huấn Cao có phong độ của
một trang anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang của kẻ “chọc trời quấy nước” trên
đầu “chẳng còn biết có ai nữa” (như chính quản ngục đã phải thừa nhận), có cái khí khái
của đấng nam nhi coi cái chết “nhẹ tựa hồng mao”.
Hình tượng Huấn Cao tỏa sáng trong cảnh cho chữ
Huấn Cao đúng là một nhân vật đặc biệt của Nguyễn Tuân. Ở con người này có sự hội tụ
của ba phẩm chất, cũng là ba vẻ đẹp đáng trân trọng của con người : “tài” – “tâm” – “dũng”.
Ba vẻ đẹp ấy hòa quyện với nhau và tỏa sáng rực rỡ trong cái đêm Huấn Cao cho chữ
quản ngục.
Điểm hội tụ của tài năng nghệ sĩ và khí phách nghĩa sĩ của Huấn Cao trước hết là ở tư thế.
Tuy phải bó buộc trong hình hài của một phạm nhân: “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”
nhưng Huấn Cao vẫn có cái tư thế của một người nghệ sĩ thư pháp. Con người ấy đang
dồn tinh lực để viết nên những “dòng chữ cuối cùng” cho đời – những dòng chữ “nói lên cái
hoài bão tung hoành của một đời con người”. Tương phản với hình ảnh Huấn Cao là hình
ảnh của ngục quan và thơ lại – những kẻ đại diện cho uy quyền, pháp luật đương thời, nắm
trong tay quyền sinh, quyền sát nhưng lại đang “khúm núm”, “run run” trước từng nét chữ
của Huấn Cao. Chính sự tương phản này đã gián tiếp khắc họa cái hiên ngang, khí phách
của người tử tù. Đồng thời cho thấy trong khoảnh khắc này, tại chính gian nhà ngục này
không phải cái ác, cái xấu đang làm chủ mà chính là cái đẹp, cái tài của người nghệ sĩ
đang tỏa sáng, hùng tâm, tráng chí của người anh hùng đang được tôn vinh.
Như mọi dòng sông đều chảy về biển, ở Huấn Cao, nơi hội lưu của thiên lương trong sáng
và nhân cách con người viết hoa – CON NGƯỜI dừng lại ở một lời khuyên chí tình dành
cho quản ngục : “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không
phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét vuông tươi tắn […] Tôi bảo thực đấy,
thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ
đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem
nhuốc mất cả đời lương thiện đi”. Lời khuyên này giống như một di huấn – di huấn của
người nghệ sĩ truyền lại cho đời và hậu thế : muốn chơi chữ thì trước hết phải giữ lấy “thiên
lương”. Chữ nghĩa và “thiên lương” không thể chung sống với cái ác, cái xấu, đừng để
những cái cao quý ấy bị hoen ố, bị mất đi ở chốn ngục tù đen tối tàn bạo. Trong “di huấn”
của người tử tù tài hoa nghệ sĩ, lời nói sau đây ngỡ như lời nói thông thường, vậy mà xem
ra cũng đầy ngụ ý, đầy sức gợi : “Thoi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá. Thầy có
thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?…”. Đây đâu phải chỉ là lời khen tặng của Huấn
Cao dành cho ngục quan – kẻ không chỉ có “sở nguyện cao quý” mà còn rất “chịu chơi”; đó
cũng chẳng hoàn toàn là lời gợi nhắc của Huấn Cao với quản ngục, rằng : cần phải biết
cảm nhận mùi thơm của mực, của chữ nghĩa, mà thâm ý sâu xa trong câu nói ấy là : Phải
biết nhận ra trong mực, trong chữ cái “hương vị của thiên lương”. Cái gốc của chữ, xét cho
cùng, là “thiên lương” đó thôi. Chơi chữ không chỉ là chuyện chữ nghĩa mà trên hết đó là
chuyện về cách sống, chuyện văn hoá, là đạo làm người chân chính của bậc quân tử. Ta
hiểu vì sao trước những lời nói và lời khuyên chí tình này của ông Huấn, ngục quan đã
“cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng
làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Có thể khẳng định, chính nhân cách
cao thượng và cách hành xử đầy tinh thần trượng nghĩa, văn hóa của Huấn Cao đã khiến
ngục quan thực sự cảm phục. Đó cũng là chiến thắng của cái đẹp, cái thiện, của “thiên
lương”, là sự chứng thực hùng hồn cho một chân lý : giữa nơi tưởng như chỉ có thể tồn tại
cái ác, cái xấu, tài năng và phẩm giá cao cả của con người vẫn tìm thấy không gian, thời
gian để sinh tồn và tỏa sáng. Không gian ấy, dù chỉ là một nhà ngục tăm tối, bẩn thỉu. Thời
gian ấy, dù chỉ là khoảnh khắc cuối trong cuộc đời một con người. Đấy là gì nếu như không
phải là lí tưởng thẩm mĩ, là niềm tin mãnh liệt của nhà văn vào những điều tốt đẹp trên đời.
Nghệ thuật
Như ta đã biết, xây dựng hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã dựa vào nguyên mẫu là
Chu thần Cao Bá Quát. Trong thực tế lịch sử, “thánh Quát” đã bỏ mình nơi chiến địa trong
cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến. Nhưng với Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã
“kéo dài cuộc đời Cao Bá Quát” bằng cuộc gặp gỡ thú vị giữa người tử tù có tài viết chữ
đẹp với viên quản ngục – kẻ đại diện pháp luật đương thời nhưng khát khao ánh sáng chữ
nghĩa. Sáng tạo này là chỗ nhà văn gửi gắm lí tưởng thẩm mĩ và quan điểm nghệ thuật của
mình.
Đọc truyện Chữ người tử tù, có thể thấy Nguyễn Tuân đã sử dung bút pháp lãng mạn, lí
tưởng hóa để miêu tả hình tượng Huấn Cao. Đó là người có vẻ đẹp toàn diện : vẻ đẹp của
tài năng – vẻ đẹp của tâm hồn – vẻ đẹp của khí phách. Vẻ đẹp ấy hiện lên lồng lộng trên
nền tăm tối của ngục tù và trong sự kính nể, tôn vinh của những kẻ đại diện cho luật pháp
đương thời. Hình ảnh Huấn Cao gắn liền với cái đẹp, với ánh sáng và cái thiện. Những cái
đó cũng bật nổi trong ưu thế và sự lấn át cái xấu, bóng tối và cái ác. Đó là những biểu hiện
khác nhau của thủ pháp tương phản – thủ pháp đã được sử dụng rất hiệu quả trong tác
phẩm.
Cũng như nhiều sáng tác khác, ngôn ngữ miêu tả của Nguyễn Tuân trong Chữ người tử
tù rất đậm chất “điện ảnh”. Nhiều đoạn như những thước phim quay chậm, sắc nét, chậm
rãi, hiển hiện từng nét cảnh vật, từng hành động của nhân vật. Ngôn ngữ miêu tả nhân vật
Huấn Cao cũng thế. Những đoạn tả ông Huấn như đoạn “rỗ gông”, đoạn “cho chữ”… đều
có thể coi là những “thước phim ngắn” về nhân vật này. Từng hành động, điệu bộ, cử chỉ
của Huấn Cao cứ dần dần, chậm rãi hiện ra qua lớp ngôn từ vừa cổ kính vừa hiện đại của
nhà văn.
Kết luận
Tóm lại, Huấn Cao là một trong những hình tượng nhân vật đẹp nhất của nhà văn Nguyễn
Tuân. Hình tượng này thể hiện khá rõ quan niệm thẩm mĩ của nhà văn : cái Đẹp phải là sự
kết hợp giữa cái tâm và cái tài. Gốc của cái đẹp cũng như cái gốc của chữ nghĩa chính là
“thiên lương”. Cái đẹp, dù trong hoàn cảnh nào, cũng sẽ luôn vươn lên và tỏa sáng. Nó
không chấp nhận sống chung với cái ác, cái xấu. Cái đẹp chân chính có sức mạnh cảm
hóa con người. Qua tư tưởng nghệ thuật về cái Đẹp, nhà văn thiết tha gửi đến bạn đọc
thông điệp : dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải sống đẹp, phải giữ gìn “thiên lương”
cho lành vững. Mà sống đẹp không thể không gắn liền với cách ứng xử văn hóa, một trong
những cách ứng xử ấy là thái độ tôn trọng tài năng và phẩm giá của con người. Biết “biệt
nhỡn liên tài” cũng chính là biết sống một cách nhân văn và đầy tinh thần văn hóa.
Nhân vật viên quản ngục
Viên quản ngục trong tình huống truyện
Cũng giống như Huấn Cao, nhân vật viên quản ngục được nhà văn xây dựng từ tình huống
độc đáo của truyện. Đó là cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường : viên
quản ngục – kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại rất khát khao ánh sáng của chữ
nghĩa với Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp nổi tiếng. Lẽ ra đây phải là cuộc hội
ngộ tương đắc của những kẻ biệt nhỡn liên tài, của hai tâm hồn nghệ sĩ yêu cái đẹp.
Nhưng thật oái oăm, họ lại phải gặp nhau giữa chốn ngục tù và trong một tình thế éo le :
cuộc chạm trán giữa một tên “đại nghịch”, cầm đầu cuộc nổi loạn đang đợi ngày ra pháp
trường với kẻ đại diện cho trật tự xã hội đương thời. Như thế, trên bình diện nghệ thuật họ
là tri âm, tri kỉ. Trên bình diện xã hội, họ là những kẻ đối địch nhau. Hơn nữa, ở một khía
cạnh khác đây còn là sự đối mặt giữa hai loại nhà tù, hai kiểu tù nhân: một người tự do về
nhân thân nhưng bị cầm tù về nhân cách, người kia luôn tự do về nhân cách nhưng lại bị
cầm tù về nhân thân. Chọn lựa một tình huống như vậy, Nguyễn Tuân đã đặt quản ngục
trước một sự lựa chọn có tính xung đột: Hoặc làm tròn bổn phận một viên quan thì phải
chà đạp lên tấc lòng tri kỉ. Hoặc muốn trọn đạo tri kỉ thì phản lại bổn phận nhà nước của
một viên quan- nghĩa là phải bất chấp những phép tắc, trật tự xã hội. Quản ngục sẽ hành
động theo hướng nào? Ẩn số sẽ được nhà văn dần dần giải đáp.
Viên quản ngục – “thanh âm trong trẻo chen vào một giữa bản đàn mà nhạc
luật đều hỗn loạn xô bồ”
Là một người làm nghề quản ngục, sống trong thế giới ngục tù, giữa những gông xiềng, tội
lỗi, hàng ngày phải làm và chứng kiến bao điều tàn nhẫn, lừa lọc, ngục quan không thể
không chịu những tác động của cái cảnh sống ấy. Việc phải sống “giữa một đống cặn bã”,
“phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt” đã khiến viên quan coi ngục này ít nhiều bị nhiễm
những thói xấu thông thường của chốn tù ngục dù trong tác phẩm điều đó hiện ra một cách
kín đáo. Đấy là “cặp mắt hiền lành” “trái với phong tục nhận tù mọi ngày”; là “những mánh
khóe hành hạ thường lệ” – những “chiêu” lừa lọc, những thủ đoạn dọa dẫm, những “đòn
đánh phủ đầu”… những cái vẫn thường được quản ngục cho thi hành tại cái nhà ngục này
và đã thành thói quen đến mức bọn lính hết sức ngạc nhiên khi không thấy ngục quan cho
áp dụng với Huấn Cao và “năm bạn đồng chí của ông”. Chính sự bất thường trong cách đối
xử với Huấn Cao của ngục quan đã cho thấy cái thông thường trong cách hành xử “bằng
tàn nhẫn, bằng lừa lọc” ở viên quản ngục và cả cái nhà tù này. Thái độ “ngạc nhiên”, “nhìn
nhau và không hiểu” của bọn lính trước cách ứng xử trái với lẽ thường của ngục quan là
bằng chứng về những tác động tiêu cực của chốn ngục tù “cặn bã” đối với tính cách của
viên quan coi ngục này. Nói cách khác, trên bình diện nghề nghiệp, tính cách viên quản
ngục đã ít nhiều bị cái hoàn cảnh sống và làm việc của mình chi phối.
Tuy nhiên, Nguyễn Tuân không dành nhiều tâm sức để miêu tả cụ thể những biểu hiện tiêu
cực của ngục quan trong công việc quản lao tù hằng ngày mà ông tập trung làm hiện lên
đời sống nội tâm bên trong và bản chất thật của nhân vật. Theo cách miêu tả đầy sức ám
gợi của nhà văn thì quản ngục là “một thanh âm trong trẻo chen giữa vào một bản đàn mà
nhạc luật đều hồn độn xô bồ”. Đó là người có “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”,
một “người thẳng thắn” nhưng “phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Nghĩa là quản ngục đã
lầm đường khi chọn nghề nghiệp cho mình. Bản chất con người thật của ông ta đúng ra
phải ở một chỗ nào khác thanh cao hơn, chứ không phải ở chốn này. Đã không dưới một
lần quản ngục suy nghĩ, trăn trở về bi kịch chọn sai nghề của bản thân : “Có lẽ lão bát này
cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi, một kẻ biết
tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay vô tình”. Lời than thở, bộc bạch
ấy đã cho thấy một sự thật : quản ngục vẫn chưa hoàn toàn đánh mất mình, ở ông ta vẫn
còn giữ được những vẻ đẹp thiên lương trong sáng.
Có thể nói, là quản ngục nhưng ông ta cũng chính là tù nhân chung thân của cái nhà ngục
do chính ông đang cai quản. Cái danh, cái lợi, trách nhiệm, bổn phận của một ông ngục
quan là những thứ gông cùm, xiềng xích vô hình xiết chặt tâm hồn quản ngục suốt đời. “Lũ
người quay quắt”, “cái đống cặn bã” bao quanh ông chẳng khác gì nơi buồng tối giam tử tù.
Tuy nhiên, nhân vật quản ngục không chỉ là kẻ thi hành phận sự. Những chi tiết khắc họa
đời sống nội tâm của quản ngục với khuôn mặt tỏ rõ sự “nghĩ ngợi đăm chiêu” , “băn khoăn
bóp thái dương”, “những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự giờ biến mất hẳn. Ở đấy,
giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ” cho thấy viên quan “cai tù”
này không giống với bất cứ một tên “cai tù” nào trong bộ máy thống trị đương thời. Ẩn sâu
trong cái vỏ bọc “cai ngục”, đằng sau những “mánh khóe hành hạ thường lệ” còn có một
quản ngục với những khoảnh khắc tâm hồn thánh thiện, thanh khiết, dịu êm như mặt nước
ao xuân.
Viên quản ngục – người có “sở nguyện cao quý”, biết “biệt nhỡn liên tài”
Là một người làm nghề coi ngục, là công cụ trấn áp của bộ máy thống trị đương thời,
nhưng viên quản ngục lại có một thú chơi tao nhã : chơi chữ. Đó là một con người có tâm
hồn nghệ sĩ. Ngay từ khi còn trẻ, khi mới “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”, quản ngục
đã có cái sở nguyện “một ngày kia được treo ở riêng nhà mình một đôi câu đối do tay ông
Huấn Cao viết”. “Có được chữ của ông Huấn mà treo là có một vật báu trong đời”. Quản
ngục sẵn sàng “biệt đãi” ông Huấn – điều mà cả ông ta và bất cứ ai cũng thừa hiểu là hành
động phạm pháp, thậm chí bị quy vào tội đồng lõa với tội phạm. Với tội danh này, nặng thì
bị xử tử giống như những phạm nhân kia, nhẹ thì mất nghiệp, khuynh gia bại sản. Nhưng
điều gì đã khiến ngục quan nhẫn nại, hạ mình, dám đánh đổi cả sự nghiệp, thậm chí cả tính
mạng của mình đến như vậy ? Rốt cuộc chỉ có một điều cốt lõi, ấy là chữ của Huấn Cao –
“vật báu trên đời”. Cũng chính vì điều này mà trong những ngày ngắn ngủi khi ông Huấn bị
tam giam trong ngục, quản ngục luôn sống trong tình trạng vô cùng căng thẳng. Y thừa biết
rằng tính ông Huấn Cao vốn khoảnh “trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. Viên quản ngục
luôn sống trong sự dằn vặt, nỗi khổ tâm, lo lắng vì mai mốt “ông Huấn bị hành hình mà
không kịp xin được mấy chữ thì ân hận suốt đời”. Những tâm trạng ấy củ...
 









Các ý kiến mới nhất