Tìm kiếm Giáo án
vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào hoá học tại trường Phổ Thông Dân Tộc Bán Trú THCS Lý Tự Trọng.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: DUƠNG HẠNH
Ngày gửi: 22h:39' 18-04-2025
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: DUƠNG HẠNH
Ngày gửi: 22h:39' 18-04-2025
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
Mã số:…../THCS/….
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực trong môn khoa học tự nhiên tại trường Phổ Thông Dân Tộc Bán Trú Trung
Học Cơ Sở Lý Tự Trọng.
2. Mô tả bản chất của sáng kiến
2.1. Các bước và cách thức thực hiện giải pháp
- Tìm hiểu phương pháp dạy học là gì?
- Tìm hiểu một số phương pháp dạy học tích cực được sử dụng phổ biến
hiện nay.
- Tìm hiểu kĩ thuật dạy học là gì?
- Tìm hiểu một số kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng phổ biến hiện
nay.
- Vận dụng hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong
môn khoa học tự nhiên tại trường PTDTBT THCS Lý Tự Trọng.
- Kết quả thực hiện.
2.2. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết
Phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực chỉ những phương pháp và kĩ
thuật giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính
tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực
của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp dạy học tích cực thì giáo
viên phải nỗ lực rất nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Trên thực tế việc dạy học theo phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực ở
trường phổ thông còn chưa đồng bộ. Nhiều giáo viên vẫn dạy theo phương pháp
cũ, hoặc sử dụng phương pháp dạy học tích cực nhưng còn lúng túng, chưa biết
cách sử dụng sao cho phù hợp. Mặc dù đã được tập huấn về sử dụng phương
pháp và kĩ thuật dạy học tích cực tuy nhiên nhiều giáo viên vẫn chưa thực sự
hiểu rõ nội dung các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực cũng như cách áp
dụng chúng vào các hoạt động dạy và học. Học sinh khi học theo phương pháp
cũ, đa số thụ động, ngại phát biểu. Khi thảo luận nhóm, hầu như chỉ có một số
học sinh khá giỏi thực hiện, còn lại đa số các em có suy nghĩ ỷ lại, không tích
cực tham gia thực hiện nhiệm vụ học tập. Chính vì vậy, việc phát triển các phẩm
chất, năng lực còn nhiều hạn chế.
2.3. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm
hiện tại
1
2.3.1. Tìm hiểu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
2.3.1.1. Phương pháp dạy học là gì?
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh,
trong điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
2.3.1.2. Một số phương pháp dạy học tích cực
- Phương pháp dạy học hợp tác.
- Phương pháp dạy học khám phá.
- Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề.
- Phương pháp dạy học dựa trên dự án.
- Phương pháp dạy học theo góc.
- Phương pháp trò chơi học tập.
2.3.1.3. Kĩ thuật dạy học là gì?
Kĩ thuật dạy học là những cách thức hành động của giáo viên và học sinh
trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
2.3.1.4. Một số kĩ thuật dạy học tích cực
- Kĩ thuật các mảnh ghép.
- Kĩ thuật sơ đồ tư duy.
- Kĩ thuật KWL.
- Kĩ thuật khăn trải bàn.
- Kĩ thuật trạm.
- Kĩ thuật think-pair-share.
2.3.2. Vận dụng hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực tại trường PTDTBT THCS Lý Tự Trọng
Có rất nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực giúp phát triển
phẩm chất, năng lực học sinh. Tuy nhiên việc lựa chọn phương pháp và kĩ thuật
dạy học trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy và học phải đảm bảo phù hợp
với nội dung bài học, phù hợp với đối tượng học sinh, đảm bảo thời gian của
một tiết học. Trong quá trình dạy học môn khoa học tự nhiên tại trường
PTDTBT THCS Lý Tự Trọng, tôi đã sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực sau:
2.3.2.1. Các phương pháp dạy học tích cực
a. Phương pháp dạy học theo dự án
Phương pháp dạy học theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh
được học dưới sự điều khiển và giúp đỡ của các giáo viên, nhưng phải tự giải
quyết nhiệm vụ học của mình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực
hành. Thông qua quá trình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập.
- Dạng bài học có thể áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng phương pháp dạy
học theo dự án vào hoạt động vận dụng và giao cho học sinh về nhà thực hiện:
2
- Trong môn khoa học tự nhiên, giáo viên có thể giao cho học sinh một số
dạng bài tập dự án sau:
+ Bài tập dự án khảo sát thực trạng đối tượng.
Ví dụ: KHTN 8, sau khi học bài 32: dinh dưỡng và hệ tiêu hoá ở người thì
giáo viên giao cho học sinh thực hiện dự án: điều tra một số bệnh đường tiêu
hoá và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở địa bàn xã Trà Giác.
Sau bài 39: da và điều hoà thân nhiệt ở người thì giáo viên có thể giao cho
học sinh về thực hiện dự án điều tra một số bệnh ngoài da tại xã Trà Giác,
nguyên nhân và cách phòng ngừa.
+ Bài tập dự án kiến tạo: tập trung vào việc tạo ra các sản phẩm vật chất
hoặc thực hiện các hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như
trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác…..
Ví dụ: hoá học 9: sau khi dạy chủ đề kim loại, giáo viên giao cho học sinh
về nhà thực hiện dự án tái chế vỏ lon thành những đồ dùng hữu ích
-
Khi giao dự án cho học sinh thực hiện, giáo viên cần nêu rõ các yêu cầu của sản
phẩm, tiêu chí chấm điểm. Ví dụ khi giáo viên giao cho học sinh về nhà thực
hiện dự án tái chế vỏ lon thành những đồ dùng hữu ích. Thì yêu cầu học sinh
thực hiện theo bảng tiêu chí sau:
Tiêu chí
Yêu cầu
Điểm
Nguyên vật liệu
Vỏ lon, vỏ đồ hộp……
2 điểm
Tính ứng dụng
Có tính ứng dụng cao
2 điểm
Tính thẩm mỹ, sáng tạo.
Sản phẩm có tính thẩm mỹ, sự sáng tạo.
2 điểm
Giá thành
Chi phí thấp
(dưới 50.000 đồng cho 1 sản phẩm)
2 điểm
Thuyết trình
Thuyết trình lưu loát, rõ ràng, hiểu rõ các
bước làm ra sản phẩm.
2 điểm
b. Phương pháp trò chơi học tập
Phương pháp trò chơi học tập là phương pháp giáo viên thông qua việc tổ
chức các trò chơi liên quan đến nội dung bài học, có tác dụng phát huy tính tích
3
cực nhận thức, gây hứng thú học tập cho học sinh. Qua trò chơi, học sinh tiếp
thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, đồng thời qua trò chơi phát triển sự
tự giác, tự chủ của học sinh.
Trong quá trình giảng dạy bộ môn KHTN tại đơn vị, tôi đã sử dụng một
số trò chơi sau:
- Trò chơi Game Show: Giáo viên tạo các trò chơi mô phỏng theo game
show trên truyền hình như Rung chuông vàng, và tổ chức cho học sinh chơi theo
nhóm hoặc trên quy mô toàn lớp học. Đối với trò chơi này, giáo viên có thể áp
dụng để kiểm tra kiến thức cũ hoặc luyện tập nội dung bài mới. Khi sử dụng trò
chơi này, giáo viên có thể huy động tất cả học sinh tham gia. Giáo viên cũng có
thể đánh giá khả năng tiếp thu của mỗi học sinh nếu áp dụng vào hoạt động
luyện tập của bài học.
Lưu ý khi tổ chức trò chơi rung chuông vàng: nếu phòng thiết bị có bảng
con thì giáo viên chuẩn bị mỗi học sinh 1 bảng con cùng với phấn hoặc bút lông.
Nếu không có bảng con giáo viên có thể sử dụng giấy A4. Yêu cầu học sinh
không được tẩy xoá đáp án sẽ phạm quy.
Tất cả học sinh đều hào hứng khi tham gia trò chơi rung chuông vàng
- Trò chơi trên các ứng dụng
trực tuyến: giáo viên có thể đăng kí tài
khoản trên các trang tạo trò chơi trực
4
tuyến như Kahoot.com. Sau khi đăng kí, giáo viên có thể thiết kế các trò chơi
dưới dạng các câu hỏi trắc nghiệm. Học sinh sẽ dùng điện thoại thông minh có
kết nối mạng để chơi theo nhóm. Điểm số của mỗi nhóm sẽ là điểm trả lời đúng
câu hỏi với thời gian nhanh nhất. Nếu trả lời đúng nhưng thời gian nhiều hơn thì
số điểm ghi được sẽ ít hơn. Khi tham gia trò chơi đòi hỏi cả nhóm phải hợp tác
thật tốt: một bán bấm đáp án, tất cả các bạn còn lại có nhiệm vụ tìm đáp án. Trò
chơi này cũng khá mới nên học sinh rất hứng thú khi được tham gia.
Lưu ý khi sử dụng trò chơi trực tuyến: yêu cầu mỗi nhóm phải có một
điện thoại kết nối wifi hoặc 4G. Sau khi trò chơi kết thúc, giáo viên cần nhắc
nhở học sinh cất điện thoại ngay để tránh trường hợp các em sử dụng điện thoại
vào việc cá nhân trong giờ học.
Giáo viên sẽ chiếu câu hỏi và đáp án trên màn hình.
Học
sinh dùng
điện
thoại
theo mã số giáo viên cung cấp và
2.3.2.2.
Các kĩ
thuật
dạyđăng
học nhập
tích cực
tiến hành
tham khăn
gia trảtrải
lờibàn
câu hỏi bằng cách nhập đáp án trên điện thoại.
a. Kĩ thuật
5
Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm sẽ
có một bảng nhóm. Chia bảng nhóm thành phần chính giữa và phần xung quanh,
tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của
nhóm (4 hoặc 6 người). Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình
(về một vấn đề nào đó mà giáo viên yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn”
trước mặt mình. Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào
phần chính giữa “khăn trải bàn”.
Trong quá trình giảng dạy bộ môn KHTN tôi đã áp dụng kĩ thuật khăn trải
bàn vào một số dạng bài như sau:
- Kiểu bài cần thu thập ý kiến.
Ví dụ 1: KHTN lớp 6, bài 11: Oxygen – không khí. Để tìm hiểu “nguyên
nhân và hậu quả của ô nhiễm không khí” giáo viên có thể cho học sinh thảo luận
nhóm theo kĩ thuật khăn trải bàn.
Ví dụ 2: KHTN lớp 6, baì 27: vi khuẩn. Để tìm hiểu vai trò của vi khuẩn,
giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm theo kĩ thuật khăn trải bàn.
- Luyện tập cùng 1 dạng bài.
Ví dụ: KHTN lớp 7, bài 7: hoá trị và công thức hoá học. Hoạt động luyện
tập: giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để thảo luận và
hoàn thành bài tập sau: Lập công thức hoá học của hợp chất tạo bởi:
a. Carbon hoá trị IV và Oxygen.
b. Copper hoá trị II và Chlorine hoá trị I.
6
- Một số lưu ý khi sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để mang lại hiệu quả:
Đối với một số yêu cầu có câu trả lời với nội dung dài thì giáo viên nên sử
dụng phiếu học tập có dán keo 2 mặt phía sau, để sau khi HS trả lời xong sẽ dán
vào xung quanh bảng nhóm.
Để học sinh làm quen với việc thảo luận nhóm theo kĩ thuật khăn trải bàn,
giáo viên có thể nêu yêu cầu cụ thể như sau: Các em có 3 phút để suy nghĩ cá
nhân, ghi đáp án của mình vào góc của bảng phụ. Sau 3 phút, giáo viên tiếp tục
yêu cầu các nhóm kết thúc làm việc cá nhân. Mỗi nhóm có 3 phút thảo luận,
thống nhất và ghi đáp án vào chính giữa bảng phụ.
b. Kĩ thuật sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một hình thức trình bày thông tin trực quan. Thông tin
được sắp theo thứ tự ưu tiên và biểu diễn bằng các từ khoá, hình ảnh… Thông
thường, chủ đề hoặc ý tưởng chính được đặt ở giữa, các nội dung hoặc ý triển
khai được sắp xếp vào các nhánh chính và nhánh phụ xung quanh. Có thể vẽ sơ
đồ tư duy trên giấy, bảng hoặc thực hiện trên máy tính.
Trong quá trình giảng dạy môn KHTN tại trường PTDTBT THCS Lý Tự
Trọng, tôi đã áp dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy như sau:
7
- Đối với những bài học có nội dung dài, lượng kiến thức lớn, có thể cho
học sinh vẽ sơ đồ tư duy đối với một phần nội dung của bài học.
- Đối với đối tượng học sinh ở trường, giáo viên không yêu cầu học sinh
vẽ một sơ đồ tư duy tóm tắt kiến thức bài học, học sinh sẽ không thực hiện được.
Thay vào đó giáo viên sẽ chuẩn bị sơ đồ tư duy dạng điền khuyết, tên chủ đề, từ
khoá, sau đó yêu cầu học sinh tìm từ thích hợp để điền vào chỗ trống trên sơ đồ
tư duy. Để tăng sự hứng thú cho tiết học, giáo viên có thể tổ chức trò chơi thi
đua giữa các nhóm, xem nhóm nào hoàn thành nhanh và chính xác nhất.
- Ví dụ: Trong môn khoa học tự nhiên 6, khi dạy bài 17: tách chất ra khỏi
hỗn hợp. Ở hoạt động luyện tập giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành sơ đồ tư
duy sau với các từ khoá: Cô cạn; lọc; chiết; tách chất rắn tan; khó bay hơi ra
khỏi dung dịch; tách chất rắn không tan trong chất lỏng; tách chất lỏng
không hoà tan vào nhau.
Tách chất
ra khỏi
hỗn hợp
Nguyên lí
Nguyên lí
Nguyên lí
c. Kĩ thuật dạy học theo trạm
Lớp học được chia thành nhiều trạm, sắp xếp ở các vị trí khác nhau trong
lớp, mỗi trạm sẽ có một nhiệm vụ cụ thể, độc lập với các trạm khác. Học sinh
sau khi thực hiện xong nhiệm vụ ở mỗi trạm, sẽ luân phiên di chuyển đến các
trạm tiếp theo để thực hiện nhiệm vụ khác. Cứ như thế cho đến khi thực hiện
xong nhiệm vụ ở tất cả các trạm thì sẽ lên thuyết trình, báo cáo.
Trong quá trình giảng dạy môn KHTN tại trường PTDTBT THCS Lý Tự
Trọng, tôi đã áp dụng kĩ thuật dạy học theo trạm như sau:
- Bài học có thể áp dụng kĩ thuật dạy học theo trạm: bài học có tính chất
vật lí, tính chất hoá học, ứng dụng……mỗi nội dung là 1 trạm. Hoặc có thể cùng
1 nội dung tính chất hoá học, nhưng những tính chất khó làm thí nghiệm thì lập
trạm quan sát video, tính chất dễ thực hiện thí nghiệm thì lập trạm thực hành…
8
- Nếu điều kiện về phòng học nhỏ, số lượng học sinh đông, khi tổ chức
dạy học theo trạm, giáo viên không nên tổ chức cho học sinh di chuyển qua các
trạm để lần lượt thực hiện nhiệm vụ học tập. Thay vào đó giáo viên yêu cầu học
sinh ngồi tại chỗ, còn học liệu thì di chuyển đến từng nhóm. Khi chuyển trạm có
nghĩa là di chuyển học liệu. Học liệu có thể là dụng cụ thí nghiệm, trải nghiệm,
quan sát……. Giáo viên nên thiết kế gọn vào 1 khay để khi di chuyển sẽ thuận
tiện hơn.
- Ví dụ: trong môn khoa học tự nhiên 8, bài 7: tốc độ phản ứng và chất
xúc tác. Khi dạy nội dung: một số yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng. Giáo
viên có thể thiết kế mỗi yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng thành 1 trạm cụ
thể như sau:
+ Trạm 1: nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ đến tốc độ phản ứng.
+ Trạm 2: nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phản ứng.
+ Trạm 3: nghiên cứu ảnh hưởng của diện tích bề mặt tiếp xúc đến tốc độ
phản ứng.
Lớp học sẽ được chia thành 6 nhóm. 3 nhóm 1 cụm. Mỗi cụm sẽ có 3
lượt di chuyển.
+ Lượt 1: giáo viên yêu cầu học sinh ngồi theo đúng sơ đồ sau và thực
hiện các nhiệm vụ học tập của trạm tương ứng.
NHÓM 1
(TRẠM 1)
NHÓM 6
(TRẠM 3)
NHÓM 5
(TRẠM 2)
9
NHÓM 2
NHÓM 3
NHÓM 4
(TRẠM 3)
(TRẠM 1)
+ Lượt 2: giáo viên yêu cầu học sinh chuyển trạm (di chuyển học liệu của
mỗi trạm) theo đúng sơ đồ sau và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ học tập của
trạm tiếp theo.
NHÓM 1
(TRẠM 3)
NHÓM 6
(TRẠM 2)
NHÓM 5
(TRẠM 1)
NHÓM 2
(TRẠM 1)
NHÓM 3
(TRẠM 2)
NHÓM 4
(TRẠM 3)
+ Lượt 3: giáo viên yêu cầu học sinh tiếp tục chuyển trạm (di chuyển học
liệu của mỗi trạm) theo đúng sơ đồ sau và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ học
tập của trạm cuối cùng.
NHÓM 1
(TRẠM 2)
NHÓM 6
(TRẠM 1)
NHÓM 5
(TRẠM 3)
NHÓM 2
(TRẠM 3)
NHÓM 3
(TRẠM 1)
NHÓM 4
(TRẠM 2)
Sau 3 lượt di chuyển. Giáo viên mời các nhóm lên trình bày sản phẩm của
mỗi trạm học tập. Các nhóm nhận xét lẫn nhau. Giáo viên chuẩn hoá kiến thức.
2.4. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Bản thân tôi đã áp dụng khá thành công sáng kiến này trong hội thi giáo
viên dạy giỏi cấp huyện năm học 2023-2024 tại trường THCS Nguyễn Du.
Vì vậy sáng kiến này không chỉ áp dụng được ở bộ môn KHTN tại trường
PTDTBT THCS Lý Tự Trọng mà còn có thể áp dụng cho bộ môn KHTN ở tất
cả các trường THCS trên địa bàn huyện Bắc Trà My.
10
2.5. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có):
2.5.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Sau khi áp dụng biện pháp này, tôi nhận thấy ý thức học tập của các em
được nâng lên rõ rệt. Các em sôi nổi, tích cực tham gia thực hiện các hoạt động
học tập hơn, từ đó khắc sâu kiến thức của bài học. Những học sinh cá biệt và
học sinh khuyết tật cũng tự giác tham gia vào các hoạt động học tập, hoạt động
nhóm mà không cần giáo viên nhắc nhở. Thông qua việc áp dụng một số kĩ thuật
dạy học tích cực còn giúp các em phát triển các phẩm chất như chăm chỉ, trung
thực, trách nhiệm và một số năng lực như giao tiếp hợp tác, năng lực KHTN.
Sau đây là bảng thống kê chất lượng bộ môn Khoa học tự nhiên 6, 7 trước
khi áp dụng sáng kiến (học kì 1, năm học 2022-2023) và sau khi áp dụng sáng
kiến (học kì 1, năm học 2023-2024):
Chất lượng bộ
KHỐI 6
KHỐI 7
môn
Năm học
Năm học
Năm học
Năm học
2022-2023
2023-2024
2022-2023
2023-2024
0 <= Điểm < 5
13,7%
12.77%
14,8%
9,46%
5 <= Điểm < 6.5
52,86%
56.38%
54,05%
54,05%
6.5 <= Điểm < 8
26,92%
24.47%
24,32%
27,03%
8 <= Điểm < 10
9,52%
6.38%
6,83%
9,46%
5<= Điểm <= 10
86,3%
87.23%
85,2%
90,54%
Qua bảng thống kê chất lượng bộ môn có thể thấy sau khi áp dụng sáng
kiến vào giảng dạy, tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình trở lên tăng hơn so với
năm trước. Tuy tỉ lệ chênh lệch không nhiều nhưng đó cũng là một kết quả hết
sức tích cực và rất đáng khích lệ để bản thân tiếp tục tìm tòi và áp dụng những
phương pháp và kĩ thuật dạy học mới vào giảng dạy.
2.5.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng
kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có): không có
3. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): không có
4. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: để áp dụng sáng kiến
thành công cần đảm bảo một số điều kiện về thiết bị dạy học, về sóng wifi, cũng
như một số thiết bị điện tử như điện thoại thông minh, ipad.
5. Danh sách những thành viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp
dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): không có
11
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực trong môn khoa học tự nhiên tại trường Phổ Thông Dân Tộc Bán Trú Trung
Học Cơ Sở Lý Tự Trọng.
2. Mô tả bản chất của sáng kiến
2.1. Các bước và cách thức thực hiện giải pháp
- Tìm hiểu phương pháp dạy học là gì?
- Tìm hiểu một số phương pháp dạy học tích cực được sử dụng phổ biến
hiện nay.
- Tìm hiểu kĩ thuật dạy học là gì?
- Tìm hiểu một số kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng phổ biến hiện
nay.
- Vận dụng hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong
môn khoa học tự nhiên tại trường PTDTBT THCS Lý Tự Trọng.
- Kết quả thực hiện.
2.2. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết
Phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực chỉ những phương pháp và kĩ
thuật giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính
tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực
của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp dạy học tích cực thì giáo
viên phải nỗ lực rất nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Trên thực tế việc dạy học theo phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực ở
trường phổ thông còn chưa đồng bộ. Nhiều giáo viên vẫn dạy theo phương pháp
cũ, hoặc sử dụng phương pháp dạy học tích cực nhưng còn lúng túng, chưa biết
cách sử dụng sao cho phù hợp. Mặc dù đã được tập huấn về sử dụng phương
pháp và kĩ thuật dạy học tích cực tuy nhiên nhiều giáo viên vẫn chưa thực sự
hiểu rõ nội dung các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực cũng như cách áp
dụng chúng vào các hoạt động dạy và học. Học sinh khi học theo phương pháp
cũ, đa số thụ động, ngại phát biểu. Khi thảo luận nhóm, hầu như chỉ có một số
học sinh khá giỏi thực hiện, còn lại đa số các em có suy nghĩ ỷ lại, không tích
cực tham gia thực hiện nhiệm vụ học tập. Chính vì vậy, việc phát triển các phẩm
chất, năng lực còn nhiều hạn chế.
2.3. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm
hiện tại
1
2.3.1. Tìm hiểu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
2.3.1.1. Phương pháp dạy học là gì?
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh,
trong điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
2.3.1.2. Một số phương pháp dạy học tích cực
- Phương pháp dạy học hợp tác.
- Phương pháp dạy học khám phá.
- Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề.
- Phương pháp dạy học dựa trên dự án.
- Phương pháp dạy học theo góc.
- Phương pháp trò chơi học tập.
2.3.1.3. Kĩ thuật dạy học là gì?
Kĩ thuật dạy học là những cách thức hành động của giáo viên và học sinh
trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
2.3.1.4. Một số kĩ thuật dạy học tích cực
- Kĩ thuật các mảnh ghép.
- Kĩ thuật sơ đồ tư duy.
- Kĩ thuật KWL.
- Kĩ thuật khăn trải bàn.
- Kĩ thuật trạm.
- Kĩ thuật think-pair-share.
2.3.2. Vận dụng hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực tại trường PTDTBT THCS Lý Tự Trọng
Có rất nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực giúp phát triển
phẩm chất, năng lực học sinh. Tuy nhiên việc lựa chọn phương pháp và kĩ thuật
dạy học trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy và học phải đảm bảo phù hợp
với nội dung bài học, phù hợp với đối tượng học sinh, đảm bảo thời gian của
một tiết học. Trong quá trình dạy học môn khoa học tự nhiên tại trường
PTDTBT THCS Lý Tự Trọng, tôi đã sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực sau:
2.3.2.1. Các phương pháp dạy học tích cực
a. Phương pháp dạy học theo dự án
Phương pháp dạy học theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh
được học dưới sự điều khiển và giúp đỡ của các giáo viên, nhưng phải tự giải
quyết nhiệm vụ học của mình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực
hành. Thông qua quá trình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập.
- Dạng bài học có thể áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng phương pháp dạy
học theo dự án vào hoạt động vận dụng và giao cho học sinh về nhà thực hiện:
2
- Trong môn khoa học tự nhiên, giáo viên có thể giao cho học sinh một số
dạng bài tập dự án sau:
+ Bài tập dự án khảo sát thực trạng đối tượng.
Ví dụ: KHTN 8, sau khi học bài 32: dinh dưỡng và hệ tiêu hoá ở người thì
giáo viên giao cho học sinh thực hiện dự án: điều tra một số bệnh đường tiêu
hoá và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở địa bàn xã Trà Giác.
Sau bài 39: da và điều hoà thân nhiệt ở người thì giáo viên có thể giao cho
học sinh về thực hiện dự án điều tra một số bệnh ngoài da tại xã Trà Giác,
nguyên nhân và cách phòng ngừa.
+ Bài tập dự án kiến tạo: tập trung vào việc tạo ra các sản phẩm vật chất
hoặc thực hiện các hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như
trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác…..
Ví dụ: hoá học 9: sau khi dạy chủ đề kim loại, giáo viên giao cho học sinh
về nhà thực hiện dự án tái chế vỏ lon thành những đồ dùng hữu ích
-
Khi giao dự án cho học sinh thực hiện, giáo viên cần nêu rõ các yêu cầu của sản
phẩm, tiêu chí chấm điểm. Ví dụ khi giáo viên giao cho học sinh về nhà thực
hiện dự án tái chế vỏ lon thành những đồ dùng hữu ích. Thì yêu cầu học sinh
thực hiện theo bảng tiêu chí sau:
Tiêu chí
Yêu cầu
Điểm
Nguyên vật liệu
Vỏ lon, vỏ đồ hộp……
2 điểm
Tính ứng dụng
Có tính ứng dụng cao
2 điểm
Tính thẩm mỹ, sáng tạo.
Sản phẩm có tính thẩm mỹ, sự sáng tạo.
2 điểm
Giá thành
Chi phí thấp
(dưới 50.000 đồng cho 1 sản phẩm)
2 điểm
Thuyết trình
Thuyết trình lưu loát, rõ ràng, hiểu rõ các
bước làm ra sản phẩm.
2 điểm
b. Phương pháp trò chơi học tập
Phương pháp trò chơi học tập là phương pháp giáo viên thông qua việc tổ
chức các trò chơi liên quan đến nội dung bài học, có tác dụng phát huy tính tích
3
cực nhận thức, gây hứng thú học tập cho học sinh. Qua trò chơi, học sinh tiếp
thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, đồng thời qua trò chơi phát triển sự
tự giác, tự chủ của học sinh.
Trong quá trình giảng dạy bộ môn KHTN tại đơn vị, tôi đã sử dụng một
số trò chơi sau:
- Trò chơi Game Show: Giáo viên tạo các trò chơi mô phỏng theo game
show trên truyền hình như Rung chuông vàng, và tổ chức cho học sinh chơi theo
nhóm hoặc trên quy mô toàn lớp học. Đối với trò chơi này, giáo viên có thể áp
dụng để kiểm tra kiến thức cũ hoặc luyện tập nội dung bài mới. Khi sử dụng trò
chơi này, giáo viên có thể huy động tất cả học sinh tham gia. Giáo viên cũng có
thể đánh giá khả năng tiếp thu của mỗi học sinh nếu áp dụng vào hoạt động
luyện tập của bài học.
Lưu ý khi tổ chức trò chơi rung chuông vàng: nếu phòng thiết bị có bảng
con thì giáo viên chuẩn bị mỗi học sinh 1 bảng con cùng với phấn hoặc bút lông.
Nếu không có bảng con giáo viên có thể sử dụng giấy A4. Yêu cầu học sinh
không được tẩy xoá đáp án sẽ phạm quy.
Tất cả học sinh đều hào hứng khi tham gia trò chơi rung chuông vàng
- Trò chơi trên các ứng dụng
trực tuyến: giáo viên có thể đăng kí tài
khoản trên các trang tạo trò chơi trực
4
tuyến như Kahoot.com. Sau khi đăng kí, giáo viên có thể thiết kế các trò chơi
dưới dạng các câu hỏi trắc nghiệm. Học sinh sẽ dùng điện thoại thông minh có
kết nối mạng để chơi theo nhóm. Điểm số của mỗi nhóm sẽ là điểm trả lời đúng
câu hỏi với thời gian nhanh nhất. Nếu trả lời đúng nhưng thời gian nhiều hơn thì
số điểm ghi được sẽ ít hơn. Khi tham gia trò chơi đòi hỏi cả nhóm phải hợp tác
thật tốt: một bán bấm đáp án, tất cả các bạn còn lại có nhiệm vụ tìm đáp án. Trò
chơi này cũng khá mới nên học sinh rất hứng thú khi được tham gia.
Lưu ý khi sử dụng trò chơi trực tuyến: yêu cầu mỗi nhóm phải có một
điện thoại kết nối wifi hoặc 4G. Sau khi trò chơi kết thúc, giáo viên cần nhắc
nhở học sinh cất điện thoại ngay để tránh trường hợp các em sử dụng điện thoại
vào việc cá nhân trong giờ học.
Giáo viên sẽ chiếu câu hỏi và đáp án trên màn hình.
Học
sinh dùng
điện
thoại
theo mã số giáo viên cung cấp và
2.3.2.2.
Các kĩ
thuật
dạyđăng
học nhập
tích cực
tiến hành
tham khăn
gia trảtrải
lờibàn
câu hỏi bằng cách nhập đáp án trên điện thoại.
a. Kĩ thuật
5
Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm sẽ
có một bảng nhóm. Chia bảng nhóm thành phần chính giữa và phần xung quanh,
tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của
nhóm (4 hoặc 6 người). Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình
(về một vấn đề nào đó mà giáo viên yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn”
trước mặt mình. Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào
phần chính giữa “khăn trải bàn”.
Trong quá trình giảng dạy bộ môn KHTN tôi đã áp dụng kĩ thuật khăn trải
bàn vào một số dạng bài như sau:
- Kiểu bài cần thu thập ý kiến.
Ví dụ 1: KHTN lớp 6, bài 11: Oxygen – không khí. Để tìm hiểu “nguyên
nhân và hậu quả của ô nhiễm không khí” giáo viên có thể cho học sinh thảo luận
nhóm theo kĩ thuật khăn trải bàn.
Ví dụ 2: KHTN lớp 6, baì 27: vi khuẩn. Để tìm hiểu vai trò của vi khuẩn,
giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm theo kĩ thuật khăn trải bàn.
- Luyện tập cùng 1 dạng bài.
Ví dụ: KHTN lớp 7, bài 7: hoá trị và công thức hoá học. Hoạt động luyện
tập: giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để thảo luận và
hoàn thành bài tập sau: Lập công thức hoá học của hợp chất tạo bởi:
a. Carbon hoá trị IV và Oxygen.
b. Copper hoá trị II và Chlorine hoá trị I.
6
- Một số lưu ý khi sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để mang lại hiệu quả:
Đối với một số yêu cầu có câu trả lời với nội dung dài thì giáo viên nên sử
dụng phiếu học tập có dán keo 2 mặt phía sau, để sau khi HS trả lời xong sẽ dán
vào xung quanh bảng nhóm.
Để học sinh làm quen với việc thảo luận nhóm theo kĩ thuật khăn trải bàn,
giáo viên có thể nêu yêu cầu cụ thể như sau: Các em có 3 phút để suy nghĩ cá
nhân, ghi đáp án của mình vào góc của bảng phụ. Sau 3 phút, giáo viên tiếp tục
yêu cầu các nhóm kết thúc làm việc cá nhân. Mỗi nhóm có 3 phút thảo luận,
thống nhất và ghi đáp án vào chính giữa bảng phụ.
b. Kĩ thuật sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một hình thức trình bày thông tin trực quan. Thông tin
được sắp theo thứ tự ưu tiên và biểu diễn bằng các từ khoá, hình ảnh… Thông
thường, chủ đề hoặc ý tưởng chính được đặt ở giữa, các nội dung hoặc ý triển
khai được sắp xếp vào các nhánh chính và nhánh phụ xung quanh. Có thể vẽ sơ
đồ tư duy trên giấy, bảng hoặc thực hiện trên máy tính.
Trong quá trình giảng dạy môn KHTN tại trường PTDTBT THCS Lý Tự
Trọng, tôi đã áp dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy như sau:
7
- Đối với những bài học có nội dung dài, lượng kiến thức lớn, có thể cho
học sinh vẽ sơ đồ tư duy đối với một phần nội dung của bài học.
- Đối với đối tượng học sinh ở trường, giáo viên không yêu cầu học sinh
vẽ một sơ đồ tư duy tóm tắt kiến thức bài học, học sinh sẽ không thực hiện được.
Thay vào đó giáo viên sẽ chuẩn bị sơ đồ tư duy dạng điền khuyết, tên chủ đề, từ
khoá, sau đó yêu cầu học sinh tìm từ thích hợp để điền vào chỗ trống trên sơ đồ
tư duy. Để tăng sự hứng thú cho tiết học, giáo viên có thể tổ chức trò chơi thi
đua giữa các nhóm, xem nhóm nào hoàn thành nhanh và chính xác nhất.
- Ví dụ: Trong môn khoa học tự nhiên 6, khi dạy bài 17: tách chất ra khỏi
hỗn hợp. Ở hoạt động luyện tập giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành sơ đồ tư
duy sau với các từ khoá: Cô cạn; lọc; chiết; tách chất rắn tan; khó bay hơi ra
khỏi dung dịch; tách chất rắn không tan trong chất lỏng; tách chất lỏng
không hoà tan vào nhau.
Tách chất
ra khỏi
hỗn hợp
Nguyên lí
Nguyên lí
Nguyên lí
c. Kĩ thuật dạy học theo trạm
Lớp học được chia thành nhiều trạm, sắp xếp ở các vị trí khác nhau trong
lớp, mỗi trạm sẽ có một nhiệm vụ cụ thể, độc lập với các trạm khác. Học sinh
sau khi thực hiện xong nhiệm vụ ở mỗi trạm, sẽ luân phiên di chuyển đến các
trạm tiếp theo để thực hiện nhiệm vụ khác. Cứ như thế cho đến khi thực hiện
xong nhiệm vụ ở tất cả các trạm thì sẽ lên thuyết trình, báo cáo.
Trong quá trình giảng dạy môn KHTN tại trường PTDTBT THCS Lý Tự
Trọng, tôi đã áp dụng kĩ thuật dạy học theo trạm như sau:
- Bài học có thể áp dụng kĩ thuật dạy học theo trạm: bài học có tính chất
vật lí, tính chất hoá học, ứng dụng……mỗi nội dung là 1 trạm. Hoặc có thể cùng
1 nội dung tính chất hoá học, nhưng những tính chất khó làm thí nghiệm thì lập
trạm quan sát video, tính chất dễ thực hiện thí nghiệm thì lập trạm thực hành…
8
- Nếu điều kiện về phòng học nhỏ, số lượng học sinh đông, khi tổ chức
dạy học theo trạm, giáo viên không nên tổ chức cho học sinh di chuyển qua các
trạm để lần lượt thực hiện nhiệm vụ học tập. Thay vào đó giáo viên yêu cầu học
sinh ngồi tại chỗ, còn học liệu thì di chuyển đến từng nhóm. Khi chuyển trạm có
nghĩa là di chuyển học liệu. Học liệu có thể là dụng cụ thí nghiệm, trải nghiệm,
quan sát……. Giáo viên nên thiết kế gọn vào 1 khay để khi di chuyển sẽ thuận
tiện hơn.
- Ví dụ: trong môn khoa học tự nhiên 8, bài 7: tốc độ phản ứng và chất
xúc tác. Khi dạy nội dung: một số yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng. Giáo
viên có thể thiết kế mỗi yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng thành 1 trạm cụ
thể như sau:
+ Trạm 1: nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ đến tốc độ phản ứng.
+ Trạm 2: nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phản ứng.
+ Trạm 3: nghiên cứu ảnh hưởng của diện tích bề mặt tiếp xúc đến tốc độ
phản ứng.
Lớp học sẽ được chia thành 6 nhóm. 3 nhóm 1 cụm. Mỗi cụm sẽ có 3
lượt di chuyển.
+ Lượt 1: giáo viên yêu cầu học sinh ngồi theo đúng sơ đồ sau và thực
hiện các nhiệm vụ học tập của trạm tương ứng.
NHÓM 1
(TRẠM 1)
NHÓM 6
(TRẠM 3)
NHÓM 5
(TRẠM 2)
9
NHÓM 2
NHÓM 3
NHÓM 4
(TRẠM 3)
(TRẠM 1)
+ Lượt 2: giáo viên yêu cầu học sinh chuyển trạm (di chuyển học liệu của
mỗi trạm) theo đúng sơ đồ sau và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ học tập của
trạm tiếp theo.
NHÓM 1
(TRẠM 3)
NHÓM 6
(TRẠM 2)
NHÓM 5
(TRẠM 1)
NHÓM 2
(TRẠM 1)
NHÓM 3
(TRẠM 2)
NHÓM 4
(TRẠM 3)
+ Lượt 3: giáo viên yêu cầu học sinh tiếp tục chuyển trạm (di chuyển học
liệu của mỗi trạm) theo đúng sơ đồ sau và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ học
tập của trạm cuối cùng.
NHÓM 1
(TRẠM 2)
NHÓM 6
(TRẠM 1)
NHÓM 5
(TRẠM 3)
NHÓM 2
(TRẠM 3)
NHÓM 3
(TRẠM 1)
NHÓM 4
(TRẠM 2)
Sau 3 lượt di chuyển. Giáo viên mời các nhóm lên trình bày sản phẩm của
mỗi trạm học tập. Các nhóm nhận xét lẫn nhau. Giáo viên chuẩn hoá kiến thức.
2.4. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Bản thân tôi đã áp dụng khá thành công sáng kiến này trong hội thi giáo
viên dạy giỏi cấp huyện năm học 2023-2024 tại trường THCS Nguyễn Du.
Vì vậy sáng kiến này không chỉ áp dụng được ở bộ môn KHTN tại trường
PTDTBT THCS Lý Tự Trọng mà còn có thể áp dụng cho bộ môn KHTN ở tất
cả các trường THCS trên địa bàn huyện Bắc Trà My.
10
2.5. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có):
2.5.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Sau khi áp dụng biện pháp này, tôi nhận thấy ý thức học tập của các em
được nâng lên rõ rệt. Các em sôi nổi, tích cực tham gia thực hiện các hoạt động
học tập hơn, từ đó khắc sâu kiến thức của bài học. Những học sinh cá biệt và
học sinh khuyết tật cũng tự giác tham gia vào các hoạt động học tập, hoạt động
nhóm mà không cần giáo viên nhắc nhở. Thông qua việc áp dụng một số kĩ thuật
dạy học tích cực còn giúp các em phát triển các phẩm chất như chăm chỉ, trung
thực, trách nhiệm và một số năng lực như giao tiếp hợp tác, năng lực KHTN.
Sau đây là bảng thống kê chất lượng bộ môn Khoa học tự nhiên 6, 7 trước
khi áp dụng sáng kiến (học kì 1, năm học 2022-2023) và sau khi áp dụng sáng
kiến (học kì 1, năm học 2023-2024):
Chất lượng bộ
KHỐI 6
KHỐI 7
môn
Năm học
Năm học
Năm học
Năm học
2022-2023
2023-2024
2022-2023
2023-2024
0 <= Điểm < 5
13,7%
12.77%
14,8%
9,46%
5 <= Điểm < 6.5
52,86%
56.38%
54,05%
54,05%
6.5 <= Điểm < 8
26,92%
24.47%
24,32%
27,03%
8 <= Điểm < 10
9,52%
6.38%
6,83%
9,46%
5<= Điểm <= 10
86,3%
87.23%
85,2%
90,54%
Qua bảng thống kê chất lượng bộ môn có thể thấy sau khi áp dụng sáng
kiến vào giảng dạy, tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình trở lên tăng hơn so với
năm trước. Tuy tỉ lệ chênh lệch không nhiều nhưng đó cũng là một kết quả hết
sức tích cực và rất đáng khích lệ để bản thân tiếp tục tìm tòi và áp dụng những
phương pháp và kĩ thuật dạy học mới vào giảng dạy.
2.5.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng
kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có): không có
3. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): không có
4. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: để áp dụng sáng kiến
thành công cần đảm bảo một số điều kiện về thiết bị dạy học, về sóng wifi, cũng
như một số thiết bị điện tử như điện thoại thông minh, ipad.
5. Danh sách những thành viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp
dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): không có
11
 








Các ý kiến mới nhất