hd trai nghiem huong nghiep 5

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Giang
Ngày gửi: 10h:23' 03-03-2025
Dung lượng: 14.3 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Giang
Ngày gửi: 10h:23' 03-03-2025
Dung lượng: 14.3 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
1
NGUYỄN THỊ MỸ LỘC & ĐINH THỊ KIM THOA
(CHỦ BIÊN)
Hà Nội – 2012
2
NHÓM TÁC GIẢ
GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc
PGS.TS. Đinh Thị Kim Thoa
TS. Đặng Hoàng Minh
TS. Trần Văn Tính
ThS.Vũ Phương Liên
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
PHẦN 1: MỘT SỐ VẤN đỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN TRONG GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG
A. GIÁ TRỊ SỐNG
I. GIÁ TRỊ, VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC
1. Thế nào là giá trị, hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị?
2. Mối quan hệ giữa giá trị với văn hóa và bản sắc
II. GIÁ TRỊ SỐNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ SỐNG
1. Giá trị sống (hay giá trị cuộc sống)
2. Định hướng giá trị sống
III. GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀ
GIÁ TRỊ NHÂN LOẠI
1. Các giá trị truyền thống
2. Các giá trị sống phổ quát của nhân loại
B. KỸ NĂNG SỐNG
I. MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG DÙNG
1. Kỹ năng mềm và kỹ năng cứng
2. Kỹ năng sống và kỹ năng xã hội
II. CÁC KỸ NĂNG SỐNG ĐƯỢC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
1. Kết quả nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống
2. Các loại mục tiêu kỹ năng sống hướng tới
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG
1. Giá trị sống là nền tảng để hình thành kỹ năng sống
2. Kỹ năng sống là công cụ hình thành và thể hiện giá trị sống
PHẦN 2: ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM SINH LÝ CỦA HỌC
SINH
A. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH THCS
I. NHỮNG THAY ĐỔI VỀ MẶT SINH LÝ VÀ XÃ HỘI
1. Những thay đổi về mặt sinh lý – giai đoạn tuổi dậy thì
2. Sự thay đổi về mặt xã hội
II. SỰ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM VÀ QUAN HỆ CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1. Hình thành kiểu quan hệ mới của học sinh THCS
2. Hoạt động giao lưu tâm tình bè bạn
3. Đặc điểm tình cảm của học sinh THCS
III. SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT
ĐỘNG HỌC TẬP
1. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh THCS
2. Sự phát triển hứng thú, động cơ và thái độ học tập của học sinh THCS
3. Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh THCS
TRANG
4
IV. TỰ Ý THỨC
1. Sự hình thành tự ý thức của học sinh THCS
2. Ý thức đạo đức của học sinh THCS
B. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM SNH LÝ CỦA HỌC SINH THPT
I. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA HỌC SINH THPT
1. Đặc điểm phát triển thể lực của học sinh THPT
2. Nảy sinh cảm nhận về “tính chất người lớn” của bản thân
3. Sự phát triển tự ý thức
4. Sự hình thành thế giới quan
II. ĐẶC ĐIỂM HỌC TẬP VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
1. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh THPT
2. Sự phát triển tâm lý dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập
3. Ý thức nghề nghiệp và sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai
III. SỰ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM CỦA HỌC SINH
THPT
1. Sự phát triển đời sống tình cảm
2. Sự phát triển các loại tình cảm
3. Sự phát triển tình bạn, tình yêu
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
I. CÁC CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG
1. Hình thành định hướng giá trị sống
2. Đồng nhất hóa các giá trị sống
3. Hình thành thói quen hành vi đạo đức
4. Quan điểm và chiến lược hình thành thái độ và giá trị của Klausmeier &
Goodwin
II. LÀM THẾ NÀO ĐỂ DẠY CÁC GIÁ TRỊ VÀ KỸ NĂNG SỐNG?
1. Phương pháp mô hình mẫu
2. Phương pháp thuyết trình kết hợp với các phương pháp khác
3. Phương pháp động não
4. Phương pháp nghiên cứu tình huống
5. Phương pháp trò chơi
6. Phương pháp hoạt động nhóm
7. Phương pháp đóng vai
8. Phương pháp tưởng tượng/nội suy
9. Phương pháp bản đồ tư duy, sơ đồ hóa, mô hình hóa
10. Phương pháp trải nghiệm/thực hành
III. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ
VÀ KỸ NĂNG SỐNG
1. Xây dựng bầu không khí tâm lý thân thiện, gần gũi và cởi mở
2. Các hoạt động nhận diện giá trị sống và kỹ năng sống
3. Tổ chức thảo luận, chia sẻ các giá trị
4. Tổ chức hoạt động để học sinh thể hiện hiểu biết và cảm nhận về giá trị
và kỹ năng sống một cách sáng tạo
5
5. Tổ chức các hoạt động thực tiễn
IV. GỢI Ý VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ
KỸ NĂNG SỐNG
PHẦN 4: HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI MỘT SỐ NỘI DUNG GIÁO
DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
CHỦ ĐỀ 1: KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC GIÁ TRỊ CỦA BẢN THÂN
CHỦ ĐỀ 2: HÌNH THÀNH SỰ TỰ TRỌNG
CHỦ ĐỀ 3: KỸ NĂNG ĐỒNG CẢM
CHỦ ĐỀ 4: KỸ NĂNG KIÊN CƯỜNG
CHỦ ĐỀ 5: KỸ NĂNG TƯ DUY PHÊ PHÁN
CHỦ ĐỀ 6: KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ RA QUYẾT ĐỊNH
CHỦ ĐỀ 7: KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT
CHỦ ĐỀ 8: KỸ NĂNG KIÊN ĐỊNH
CHỦ ĐỀ 9: KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS
CHỦ ĐỀ 10: KỸ NĂNG HỢP TÁC
CHỦ ĐỀ 11: KỸ NĂNG THƯƠNG LƯỢNG/ THUYẾT PHỤC
CHỦ ĐỀ 12: KỸ NĂNG THIẾT LẬP VÀ THỰC HIỆN MỤC TIÊU
CHỦ ĐỀ 13: KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO
CHỦ ĐỀ 14: KỸ NĂNG HỌC TẬP ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
PHẦN 5: TRÒ CHƠI, THƠ CA, THÔNG TIN HƯỚNG NGHIỆP SỬ
DỤNG TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ & KỸ NĂNG SỐNG
A. MỘT SỐ TRÒ CHƠI GIÁO DỤC GIÁ TRỊ VÀ KỸ NĂNG SỐNG
B. GIÁ TRỊ SỐNG THỂ HIỆN TRONG THƠ CA VIỆT NAM
C. PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CẦN CHUẨN BỊ CHO NGHỀ
NGHIỆP TƯƠNG LAI
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn sách “Phương pháp giáo dục Giá trị sống và Kỹ năng sống
cho học sinh trung học” được các tác giả biên soạn giúp Giáo viên trung
học trong việc tổ chức thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống
trong nhà trường. Giáo viên hoàn toàn có thể tổ chức các giờ dạy hay hoạt
động giáo dục giá trị và kỹ năng sống một cách riêng biệt hoặc lồng ghép
trong dạy học các môn học mà giáo viên đảm nhận.
Cuốn sách được viết lồng ghép giữa giáo dục giá trị sống và kỹ năng
sống, trong đó giáo dục giá trị sống luôn là nền tảng và kỹ năng sống là
công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống. Chính vì vậy,
khi giáo viên tổ chức hoạt động giáo dục nếu trọng tâm nghiêng về Giá trị
sống thì cần chỉ ra những kỹ năng sống nào cần hình thành và nếu hoạt
động trọng tâm nghiêng về kỹ năng sống thì cần chỉ ra giá trị sống nào làm
nền tảng cơ bản cho kỹ năng đó.
Để hoàn thành cuốn sách này, nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn
các chuyên gia trong lĩnh vực, những tác giả với nhiều tài liệu bổ ích và
nguồn tài liệu, hình ảnh phong phú trên mạng xã hội – nguồn lực vô cùng
quan trọng đã được minh họa, tham khảo và biên soạn. Cuốn sách này
chưa thể đáp ứng đầy đủ những mong mỏi của người sử dụng, nhóm tác
giả trân trọng những đóng góp của độc giả để cuốn sách được hoàn thiện
hơn.
Thay mặt nhóm tác giả
PGS.TS. Đinh Thị Kim Thoa
7
PHẦN 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN CƠ BẢN
TRONG GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ SỐNG
VÀ KỸ NĂNG SỐNG
8
A. GIÁ TRỊ SỐNG
I. GIÁ TRỊ, VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC
1. Thế nào là giá trị, hệ
giá trị, thang giá trị và
chuẩn giá trị?
a. Giá trị
Giá trị là khái niệm còn nhiều tranh cãi. Đã có nhiều quan điểm đưa
ra khi nói về giá trị. Việc lý giải sự thống nhất và đa dạng của thế giới giá
trị phụ thuộc vào cách tiếp cận của chúng ta.
Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên
nhân, điều kiện kinh tế xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống
giá trị nhất định của một xã hội.
Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm
mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển
của nhân cách. Theo quan điểm này, thế giới chủ quan của con người được
xem xét như nguồn gốc của giá trị. Những mục đích của cá nhân, những
cảm xúc riêng tư, ý chí và những nhu cầu, hay những định hướng của cá
nhân hình thành trong xã hội đã được qui chiếu bởi những giá trị nào đó.
Còn chính giá trị lại được hiểu như bất kỳ một vật nào đó có ý nghĩa, có giá
trị đối với con người. Trong công trình "Về tâm lý học tồn tại' của
A.Maslow đã được xuất bản ở Mỹ vào năm 1968, ông cho rằng tồn tại ba
9
mức độ giá trị:
Thứ nhất - đó là mức độ chung cho toàn thể mọi người.
Thứ hai, mức độ giá trị của một nhóm người nhất định.
Thứ ba, mức độ giá trị của các cá thể đặc thù.
Như vậy, giá trị là tình huống chọn lựa được nảy sinh từ nhu cầu và
đôi khi còn được đồng nhất với nhu cầu. Các nhu cầu hay các giá trị lại
được gắn bó chặt chẽ với nhau có thứ tự và tiến triển. Giá trị là các khách
thể vật chất hay tinh thần có khả năng thoả mãn những nhu cầu nào đó của
con người, giai cấp, xã hội và đáp ứng những mục đích và lợi ích của họ.
Theo Kinh tế học, khái niệm giá trị luôn gắn liền với hàng hóa, giá
cả và sản xuất hàng hóa. Phía sau nó là sức lao động, giá trị lao động của
con người làm ra hàng hóa. Giá trị sức mạnh của vật chất này khống chế
những vật chất khác khi trao đổi. Để bộc lộ giá trị, vật phẩm phải có ích lợi,
nghĩa là có khả năng thỏa mãn nhu cầu, lòng ham muốn của con người. Do
vậy mà khi phân tích, “giá trị” là vị trí tương đối của hàng hóa trong trật tự
ưu tiên, vị trí của nó ngày càng cao thì giá trị của nó ngày càng lớn.
Dưới góc độ Triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về giá trị. Tuy
nhiên, ở đây chúng tôi xem xét theo quan điểm Macxit, giá trị được coi là
những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động
sáng tạo của con người. Giá trị là sự thống nhất giữa cái chủ quan và cái
khách quan.
Giá trị trong Đạo đức học luôn gắn liến với những khái niệm trung
tâm như: cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái bởi vì khái niệm giá
trị thuộc phạm vi đời sống đạo đức của con người, các quan hệ xã hội và
quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức của xã hội.
Tóm lại, khái niệm giá trị đều có các đặc điểm như sau:
- Mức độ của một vật đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn được khát
vọng của con người, là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên
10
cơ sở mối quan hệ với sự vật đó.
- Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội, với phí tổn cần
thiết để tạo ra cái lợi đó.
- Mang tính khách quan – nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi
của giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người.
- Được hiểu theo hai góc độ: vật chất và tinh thần. Giá trị vật chất
là giá trị đo được bằng tiền bạc dưới góc độ kinh tế, còn giá trị
tinh thần tạo cho con người khoái cảm, hứng thú và sảng khoái.
- Mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm, hành vi của
chủ thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị.
- Là một phạm trù lịch sử vì giá trị thay đổi theo thời gian, theo sự
biến động của xã hội, phụ thuộc vào tính dân tộc, tôn giáo và
cộng đồng.
b. Hệ giá trị
Hệ giá trị (hay còn gọi là hệ thống giá trị) là một tổ hợp giá trị khác
nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định, thành
một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù
trong việc đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất
định của giá trị. Các hệ giá trị có vị trí độc lập tương đối và tương tác với
nhau theo những thứ bậc phù hợp với quá trình thực hiện các chức năng xã
hội trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. Do vậy, hệ thống giá trị luôn mang
tính lịch sử xã hội và chịu sự chế ước bởi lịch sử - xã hội. Trong hệ thống
giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ, của hiện tại và có thể cả
những nhân tố trong tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại,
các giá trị có tính nhân loại, tính dân tộc, tính cộng đồng, tính giai cấp, tính
lý tưởng và tính hiện thực v.v...
Thí dụ, 5 điều Bác dạy thiếu niên và nhi đồng là hệ giá trị dành cho
thế hệ trẻ:
11
1. Yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào
2. Học tập tốt, lao động tốt
3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt
5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.
c. Thang giá trị
Thang giá trị (thước đo giá trị) là một tổ hợp giá trị, một hệ thống giá
trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định.
Thang giá trị biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển, biến đổi của
xã hội loài người, cộng đồng và từng cá nhân. Trong quá trình biến đổi đó,
thang giá trị của xã hội, của cộng đồng và của nhóm chuyển thành thang
giá trị của từng người, cứ thế qua từng giai đoạn lịch sử của con người.
Thang giá trị là một trong những động lực thôi thúc con người hoạt
động. Hoạt động được tiến hành theo những thang giá trị cụ thể sẽ tạo nên
những giá trị nhất định, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người. Chính
trong hoạt động tạo ra những giá trị lại góp phần khẳng định, củng cố, phát
huy, bổ sung, hoàn thiện hoặc hay đổi thang giá trị.
Thí dụ, thang giá trị về vai trò của người thầy: Dân tộc ta có truyền
thống “tôn sư trọng đạo”. Thời phong kiến, trong bậc thang giá trị, nhà giáo
xếp sau vua nhưng trước cha mẹ: “Quân – Sư – Phụ”.
d. Chuẩn giá trị
Chuẩn giá trị là những giá trị giữ vị trí cốt lõi, chiếm vị trí ở thứ bậc
cao hoặc vị trí then chốt và mang tính chuẩn mực chung cho nhiều người.
Khi xây dựng các giá trị theo những chuẩn mực nhất định về kinh tế, chính
trị, đạo đức, xã hội, hay thẩm mỹ sẽ tạo ra các chuẩn giá trị. Mọi hoạt động
của xã hội, của nhóm cũng như của từng cá nhân được thực hiện theo
những chuẩn giá trị nhất định sẽ bảo đảm định hướng cho các hoạt động và
12
hạn chế khả năng lệch chuẩn mực xã hội, đồng thời tạo ra những giá trị
tương ứng đảm bảo sự tồn tại của con người.
Thí dụ: lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.
2. Mối quan hệ giữa giá trị
với văn hóa và bản sắc
a. Văn hóa và giá trị
Văn hoá là một giá trị, một ý nghĩa, một lối sống bất khả phân với
con người. Con người là con người bởi có văn hoá; văn hoá là văn hoá bởi
từ con người và cho con người.
Văn hoá thiết yếu được hình thành trong cộng đồng, xã hội hơn là
mang lấy hình ảnh trọn vẹn của một cá nhân đơn độc. Tuy vậy văn hoá cá
nhân không thể bị xem nhẹ, bởi nó là sự đào luyện đầu tiên tạo tiền đề cho
con người có thể hội nhập vào đời sống văn hoá của xã hội. Văn hóa cá thể
và văn hóa xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau. Văn hóa xã hội làm
cho mỗi cá nhân có thể đào luyện thành người, văn hóa cá thể góp phần
phát triển văn hóa xã hội, cộng đồng. Mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có
văn hóa của riêng mình và văn hóa chung. Rõ ràng, dân tộc nào cũng có
nền văn hoá mang diện mạo đặc thù khác nhau. Và, con người nào cũng có
văn hoá, chỉ có mức độ văn hoá ở mỗi người khác nhau.
Muốn trở thành văn hoá, một con người, một gia đình, một xã hội
phải đào luyện, chắt lọc mình trong từng cử chỉ, từng hành vi, từng thể
13
thức, từng thái độ. Và một nền giáo dục phải nhắm đến mục đích đào tạo
những con người có bản lĩnh cho xã hội khao khát theo đuổi giá trị văn hoá,
như Bogoslovski nói: “Nền giáo dục phải giúp đỡ học sinh sống đời sống
thịnh vượng và ý nghĩa, nó phải xây nên những nhân cách có khả năng hoà
điệu và phong phú, giúp học sinh có khả năng tham dự vào ánh sáng chói
loà nhất của vinh quang hạnh phúc cũng như có thể đối mặt với đau khổ
một cách đầy phẩm hạnh và cam lòng thủ đắc, và cuối cùng họ có thể giúp
đỡ người khác sống cuộc đời cao thượng”. Đào luyện con người văn hoá,
trước hết là đào luyện một nền văn hoá toàn diện cho con người, và sau đó
con người đó sẽ mang theo hành trang văn hoá của mình gia nhập cuộc
hành trình của xã hội. Một công dân được giáo dục văn hoá là công dân có
khả năng tham dự vào xã hội bằng một tấm lòng nhân ái, một thái độ cư xử
lịch lãm, đúng mực, và một tâm hồn cao thượng. Một xã hội chỉ có thể trở
thành văn hoá với những công dân đã được đào luyện văn hoá, và nền văn
hoá đó giúp cho mọi người được sống trong ánh sáng nhân bản.
Con người mong muốn càng ngày càng trở nên con người hơn. Nhân
loại mong muốn tiến đến một nhân loại tiến bộ hơn. Văn hoá hướng tới một
nền văn hoá ngày càng cao, hoàn hảo hơn, nhân bản hơn.
Giá trị văn hóa chính là những hình thức, phương thức hoạt động quan hệ làm cho con người trở thành chủ thể tự do và sáng tạo.
b. Bản sắc và giá trị
Như chúng ta biết chương trình giáo dục của mỗi quốc gia chính là
sự cô đọng các giá trị văn hóa của một đất nước, một dân tộc, một thời đại.
Chính vì thế mà mỗi lần cải cách giáo dục, thay đổi sách giáo khoa là một
lần đánh giá lại các giá trị văn hóa, là một lần thay đổi lại bảng giá trị văn
hóa để sản xuất con người đạt hiệu quả cao, đáp ứng những đòi hỏi mới của
cuộc sống.
Nhưng sự đánh giá lại theo định hướng nào? Theo định hướng hình
14
thành con người tự do và sáng tạo. Tự do và sáng tạo luôn đi kèm với
khuôn mẫu và kế thừa, luôn đi kèm với hiện đại, tiên tiến và đậm đà bản
sắc dân tộc. Nhìn nhận một cách sâu xa hơn, chúng ta thấy bảng giá trị
chính là kết quả trong quan hệ giá trị của con người với hiện thực hay nói
chính xác hơn, trong quan hệ giá trị của chủ thể đánh giá với các sự vật,
hiện tượng mang giá trị. Vậy thì các giá trị nằm ở đâu? Ở chủ thể đánh giá
hay ở sự vật hay ở chính không gian đặc thù được hình thành nhờ quan hệ
giá trị. Như vậy, chính trong quá trình làm lại tự nhiên bởi con người và
làm lại con người bởi con người, một không gian đặc thù cho sự tồn tại của
loài người đã được hình thành: giá trị quyển. Không gian đặc thù này tạo
nên cái bản sắc riêng của các giá trị. Mỗi bản sắc đều có giá trị riêng của
mình. Mỗi cá nhân hay xã hội đều mang trong mình những giá trị bản sắc
và giá trị chung.
II. GIÁ TRỊ SỐNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ SỐNG
1. Giá trị sống
(hay giá trị cuộc sống)
Ở phần trên khái niệm giá trị đã được bàn đến từ nhiều góc độ. Tựu
trung, có 2 loại giá trị cơ bản: giá trị kinh tế và giá trị về tâm lý xã hội,
trong đó giá trị kinh tế hướng tới chủ yếu thế giới vật thể, còn giá trị tâm lý
15
xã hội hướng đến các giá trị cuộc sống, liên quan nhiều đến giá trị đạo đức
và thái độ của con người đối với cuộc sống xã hội...
Giá trị cuộc sống (hay giá trị sống) là những điều chúng ta cho là quý
giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. Giá trị
sống trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó. Giá trị
sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống
nhau. Có người cho rằng "tiền bạc là trên hết". Có người cho rằng tình yêu
thương mới là điều quý giá nhất trên đời. Có người coi trọng lòng trung
thực, hay sự bình yên…
Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ
thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các
mối quan hệ của con người với con người. Giá trị sống
về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực
trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển
trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận. Giá trị
sống là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời
sống, và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân,
điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã
hội. Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong các
khái niệm: thiện, ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương
tâm, trách nhiệm…
2. Định hướng giá trị
sống
16
Tuy có định nghĩa cách này hay cách khác, song các khái
niệm trên đều thống nhất ở các điểm sau:
- Định hướng giá trị là hiện tượng tâm lý có nguồn gốc khách quan,
nảy sinh trong quá trình hoạt động, tác động tích cực qua lại giữa con
người và thế giới khách quan trên cơ sở nắm vững hệ thống kinh nghiệm xã
hội lịch sử loài người.
- Có sự phân biệt các giá trị trong ý thức và tâm lý con người, là sự
xác định giá trị của cá nhân trên cơ sở đó hình thành lối sống, phong cách
giao tiếp và toàn bộ hành vi cá nhân. Chính vì vậy việc xác định thang giá
trị và thực hiện các hành vi trên cơ sở lựa chọn các giá trị đó chính là định
hướng giá trị của cá nhân.
- Định hướng giá trị như là xu hướng nhân cách hướng tới giá trị nào
đó, là cơ sở điều chỉnh hành vi con người và là thành phần trong cấu trúc
nhân cách.
Các giá trị của con người rất phong phú và đa dạng mà con người lại
sống trong môi trường xã hội, tham gia vào các hoạt động đa dạng, do vậy
việc phân loại định hướng giá trị cũng rất phức tạp, song có thể chấp nhận
một số cơ sở phân loại phổ biến như sau:
* Nếu căn cứ vào ý nghĩa xã hội hay cá nhân của những mục đích
mà con người hướng tới, thì có 2 loại:
+ Định hướng giá trị xã hội: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá
nhân trong quan hệ với xã hội như lòng thương người, chấp hành
luật pháp, lịch sự nơi công cộng, biết ơn thế hệ trước...
+ Định hướng giá trị cá nhân: là thái độ, là sự lựa chọn các giá trị
trong mối quan hệ với bản thân như lòng trung thực, sự khiêm tốn, vị
tha, yêu cầu cao, chấp nhận thử thách...
* Nếu căn cứ vào đối tượng của sự định hướng giá trị ta có:
+ Định hướng giá trị vật chất: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của
17
cá nhân hướng tới các giá trị vật chất như tiền bạc, của cải, cách làm
giàu...
+ Định hướng giá trị tinh thần: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của
cá nhân hướng tới các giá trị tinh thần như sự thanh thản, tình yêu
nghệ thuật, yêu thương con người...
* Căn cứ vào ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những giá trị mà con
người đang theo đuổi ta có:
+ Định hướng giá trị tích cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá
nhân hướng tới các giá trị tích cực như trung thực, thẳng thắn, giúp
đỡ, thương người, tự hào dân tộc...
+ Định hướng giá trị tiêu cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá
nhân hướng tới các giá trị tiêu cực như dối trá, hèn nhát, ích kỷ...
Vai trò của định hướng giá trị sống
Định hướng giá trị giúp con người lập chương trình cho hành động
của mình trong một thời gian dài, quy định đường lối chiến lược cho hành
vi, đồng thời định hướng giá trị có thể quy định trực tiếp hành vi thậm chí
từng thao tác, động tác của con người.
Định hướng giá trị là nhân tố trung tâm chi phối mọi suy nghĩ, điều
chỉnh hành vi, hoạt động của con người, từ đó hướng hoạt động tới mục
đích cơ bản của cuộc đời.
III. GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀ GIÁ TRỊ NHÂN
LOẠI
18
1. Các giá trị
truyền thống
Việt Nam là một nước nông nghiệp với điều kiện tự nhiên của Việt
Nam với mưa nắng thất thường gây ra nhiều thiên tai, hạn hán, mất mùa
nên đã ảnh hưởng tới sự hình thành hệ giá trị của dân tộc Việt Nam, tạo nên
sự gắn bó cộng đồng làng xã bền chặt, sự thương yêu đùm bọc “tắt lửa tối
đèn” có nhau, tạo nên tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm. Lịch sử Việt
Nam là lịch sử của đấu tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc nên người Việt
Nam phải hy sinh nhiều lợi ích riêng của mình, cùng nhau đoàn kết bảo vệ
những lợi ích chung.
Trên nền tảng của văn hoá bản địa, với điều kiện địa lý thuận lợi,
Việt Nam còn tiếp thu được những tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là
văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ với cốt lõi là Nho giáo, Phật giáo và Đạo
giáo. Với tư tưởng từ bi, bác ái, Phật giáo của nền văn hoá Ấn Độ đã dễ
dàng thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Bằng thuyết nhân quả luân hồi, ở
hiền gặp lành, Phật giáo khuyến khích con người ăn ở nhân đức để có được
cuộc sống tốt đẹp trong thế giới mai sau. Phật giáo cũng củng cố cách sống
nhân nghĩa, chân tình của người Việt Nam.
Chính đặc điểm hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam đã làm
cho các giá trị đạo đức được bồi đắp thường xuyên trong suốt chiều dài lịch
sử. Cùng với thời gian, những giá trị này trở nên ổn định và được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành động lực, sức mạnh, bản
sắc của nhân cách con người Việt Nam.
19
a. Tinh thần yêu nước
Trong các giá trị, nổi bật nhất là tinh thần yêu nước. Tinh thần yêu
nước là "nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung
của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện
tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc". Thực ra, trên thế
giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có tình yêu đất nước, nhưng bản sắc, sự
hình thành cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau. Ở Việt Nam,
chúng ta có thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý
nhất của dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong
thang bậc giá trị truyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, "là
tiêu điểm của mọi tiêu điểm". Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của
nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất
nước, có ý thức giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân
tộc.
Tinh thần yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm
bình dị, đơn sơ của mỗi người dân. Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan
tâm đến những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển
cao thành tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm
sinh, mà là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước
nhất định.
Tình yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất
nước, nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước. Trên
thế giới, hầu như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình bảo vệ đất nước,
chống xâm lăng. Nhưng có lẽ không dân tộc nào lại phải trải qua quá trình
giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam.
Nhận xét về truyền thống yêu nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh
20
thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó
bước qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và
cướp nước".
b. Yêu thương con người
Lòng thương người của dân tộc Việt Nam xuất phát từ tình cảm yêu
quý con người - "người ta là hoa của đất". Chính trong quá trình lao động
sản xuất và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cha ông ta đã rút ra triết lý: con
người là vốn quý hơn cả, không có gì có thể so sánh được. Mọi người luôn
luôn "thương người như thể thương thân" và vì lẽ đó, trong quan hệ đối xử
hàng ngày, người Việt Nam luôn coi trọng tình, luôn đặt tình nghĩa lên trên
hết - "vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy". Chữ "tình" chiếm một vị trí quan
trọng trong đời sống của người dân. Trong gia đình, đó là tình cảm vợ
chồng "đầu gối tay ấp", tình anh em "như thể tay chân", tình cảm đối với
bố mẹ: "Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy
ra". Rộng hơn là tình cảm đối với làng xóm: "Sớm khuya tối lửa tắt đèn có
nhau”. Và, rộng hơn cả là tình yêu đất nước: "Nhiễu điều phủ lấy giá
gương. Người trong một nước thì thương nhau cùng", "Bầu ơi thương lấy
bí cùng. Tuy là khác giống nhưng chung một giàn"... Chính sự coi trọng
chữ "tình" mà trong những xung đột, người Việt Nam thường cố gắng giải
quyết theo phương châm "có lý có tình", "chín bỏ làm mười". Bởi với họ,
tình cảm con người là cao quý hơn cả, không thể vì những điều khác mà bỏ
đi được, "một mặt người hơn mười mặt của", "người sống đống vàng”…
Tinh thần thương yêu con người còn biểu hiện trong sự tương trợ và
giúp đỡ lẫn nhau theo kiểu "lá lành đùm lá rách", "chị ngã em nâng", "một
con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ"... ở tình cảm bao dung, vị tha: "đánh kẻ
chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại". Họ không những vị tha với nhau, mà
còn vị tha với cả kẻ thù. Lịch sử đã từng ghi lại rất nhiều rằng, với những tù
binh chiến tranh, họ luôn được đối xử tử tế, được mở đường hiếu sinh,
21
được cấp đầy đủ quân trang khi trở về nước.
Tóm lại, tình thương yêu con người là giá trị đạo đức đặc trưng của
dân tộc ta, một giá trị rất đáng tự hào. Nó gắn liền với tình yêu thương
đồng loại và là "cái gốc của đạo đức. Không có lòng nhân ái thì không thể
có lòng yêu nước, thương nhân dân được".
c. Tinh thần đoàn kết
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết đã làm nên sức
mạnh để dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ non sông, bờ cõi, thống
nhất giang sơn; vượt qua mọi khó khăn thử thách do thiên tai liên tiếp xảy
ra để xây dựng đất nước. Tinh thần đoàn kết là sản phẩm đặc thù của một
hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam.
Đây là một trong những nhân tố cốt lõi trong hệ giá trị truyền thống của
dân tộc Việt Nam. Nhờ sự đoàn kết dân tộc, con người Việt Nam, dân tộc
Việt Nam tạo ra sức mạnh phi thường để chống trọi mọi thử thách, khó
khăn của cuộc sống. Câu chuyện về Âu Cơ và Lạc Long Quân là một minh
chứng về sự thấu hiểu của sức mạnh đoàn kết và nhu cầu cần phải đoàn kết
của mỗi người dân Việt - con Lạc cháu Rồng.
Truyền thống này càng cần phải phát huy trong thời nay, khi mà nền
kinh tế thị trường có thể ảnh hưởng đến các giá trị tốt đẹp này. Nhưng
chúng ta cũng cần phải thấu hiểu, nếu không biết đoàn kết với nhau, không
ai, không dân tộc nào có thể phát triển và bình ổn. “Một cây làm chẳng nên
non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
d. Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị đạo đức nổi
bật trong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam. Thực ra, để kiến tạo ra của cải
vật chất thì bất cứ dân tộc nào cũng phải lao động, cũng phải chịu khó, và
họ cũng có thể tự hào về những thành quả đã tạo dựng được của mình,
nhưng dân tộc Việt Nam lại là một trường hợp đặc biệt. Bởi lẽ, như đã nói,
22
Việt Nam là một nước có nền văn minh nông nghiệp lâu đời. Lao động
nông nghiệp là loại hình lao động vất vả, cần nhiều thời gian, công sức mới
có hạt gạo, bát cơm để ăn. Hơn nữa, thiên nhiên lại quá nhiều nắng gió,
mưa bão mà nhiều khi, mùa nắng thì hạn cháy đồng, mùa mưa lại lũ lụt.
Như giáo sư Trần Văn Giàu đã chia sẻ, những người nước ngoài đến Việt
Nam đều hết sức ngạc nhiên khi thấy mọi cơ năng trên con người Việt Nam
đều được dùng để làm việc: đầu đội, vai gánh, lưng cõng, tay nhanh nhẹn
và khéo léo, chân chạy như bay. Ngoài sự khéo léo, đó còn là một minh
chứng cho sự cần cù, chịu khó của người Việt Nam. Lao động cần cù như
một yêu cầu tất yếu để đảm bảo cho sự sinh tồn của dân tộc. Sau đó, trong
sự đấu tranh gian khổ với thiên nhiên, với cuộc sống luôn bị kẻ thù xâm
lăng, lao động cần cù đã trở thành một phẩm chất đạo đức không thể thiếu
đối với con người Việt Nam. Người Việt luôn nhắc nhở với nhau rằng,
"năng nhặt chặt bị", "kiến tha lâu đầy tổ". Người ta luôn luôn phê phán thói
"ăn không ngồi rồi", bởi với họ, "nhàn cư vi bất thiện". Lao động cần cù
của người Việt Nam luôn gắn với tiết kiệm, bởi lẽ, "buôn tàu buôn bè
không bằng ăn dè hà tiện", "khi có mà không ăn dè, đến khi ăn dè chẳng có
mà ăn".
Ngoài những giá trị nói trên, dân tộc Việt Nam còn có nhiều giá trị
đạo đức khác tạo nên cốt cách con người Việt Nam, như đức tính khiêm
tốn, lòng thuỷ chung, tính trung thực... Những đức tính này không tồn tại
riêng rẽ mà liên quan đến nhau - đức tính này là điều kiện, là biểu hiện của
đức tính kia. Người ta không thể nói yêu Tổ quốc mà không yêu thương
con người, không có lòng nhân ái, bao dung. Thương người cũng là ý thức
về tính cộng đồng, về lý tưởng phục vụ cộng đồng, về việc biết đặt cái
chung lên trên cái riêng. Con người ta lao động cần cù, tiết kiệm để kiến
tạo cuộc sống của mình cũng như cuộc sống của con cháu mình cũng là thể
hiện lòng yêu nước. Để thực hiện được những ước vọng đó, con người ta
23
cần phải đoàn kết lại để xây dựng, bảo vệ những thành quả do mình làm ra.
Chính những giá trị đạo đức truyền thống này đã tạo nên lịch sử vẻ
vang của dân tộc Việt Nam. Chúng là nhân tố quan trọng định hướng tư
tưởng, tình cảm, hành động của con người Việt Nam trong suốt quá trình
phát triển của mình. Chúng đã tạo nên những con người biết sống xả thân
vì nghĩa, vì đồng bào, dân tộc...
NGUYỄN THỊ MỸ LỘC & ĐINH THỊ KIM THOA
(CHỦ BIÊN)
Hà Nội – 2012
2
NHÓM TÁC GIẢ
GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc
PGS.TS. Đinh Thị Kim Thoa
TS. Đặng Hoàng Minh
TS. Trần Văn Tính
ThS.Vũ Phương Liên
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
PHẦN 1: MỘT SỐ VẤN đỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN TRONG GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG
A. GIÁ TRỊ SỐNG
I. GIÁ TRỊ, VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC
1. Thế nào là giá trị, hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị?
2. Mối quan hệ giữa giá trị với văn hóa và bản sắc
II. GIÁ TRỊ SỐNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ SỐNG
1. Giá trị sống (hay giá trị cuộc sống)
2. Định hướng giá trị sống
III. GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀ
GIÁ TRỊ NHÂN LOẠI
1. Các giá trị truyền thống
2. Các giá trị sống phổ quát của nhân loại
B. KỸ NĂNG SỐNG
I. MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG DÙNG
1. Kỹ năng mềm và kỹ năng cứng
2. Kỹ năng sống và kỹ năng xã hội
II. CÁC KỸ NĂNG SỐNG ĐƯỢC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
1. Kết quả nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống
2. Các loại mục tiêu kỹ năng sống hướng tới
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG
1. Giá trị sống là nền tảng để hình thành kỹ năng sống
2. Kỹ năng sống là công cụ hình thành và thể hiện giá trị sống
PHẦN 2: ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM SINH LÝ CỦA HỌC
SINH
A. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH THCS
I. NHỮNG THAY ĐỔI VỀ MẶT SINH LÝ VÀ XÃ HỘI
1. Những thay đổi về mặt sinh lý – giai đoạn tuổi dậy thì
2. Sự thay đổi về mặt xã hội
II. SỰ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM VÀ QUAN HỆ CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1. Hình thành kiểu quan hệ mới của học sinh THCS
2. Hoạt động giao lưu tâm tình bè bạn
3. Đặc điểm tình cảm của học sinh THCS
III. SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT
ĐỘNG HỌC TẬP
1. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh THCS
2. Sự phát triển hứng thú, động cơ và thái độ học tập của học sinh THCS
3. Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh THCS
TRANG
4
IV. TỰ Ý THỨC
1. Sự hình thành tự ý thức của học sinh THCS
2. Ý thức đạo đức của học sinh THCS
B. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM SNH LÝ CỦA HỌC SINH THPT
I. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA HỌC SINH THPT
1. Đặc điểm phát triển thể lực của học sinh THPT
2. Nảy sinh cảm nhận về “tính chất người lớn” của bản thân
3. Sự phát triển tự ý thức
4. Sự hình thành thế giới quan
II. ĐẶC ĐIỂM HỌC TẬP VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
1. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh THPT
2. Sự phát triển tâm lý dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập
3. Ý thức nghề nghiệp và sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai
III. SỰ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM CỦA HỌC SINH
THPT
1. Sự phát triển đời sống tình cảm
2. Sự phát triển các loại tình cảm
3. Sự phát triển tình bạn, tình yêu
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
I. CÁC CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG
1. Hình thành định hướng giá trị sống
2. Đồng nhất hóa các giá trị sống
3. Hình thành thói quen hành vi đạo đức
4. Quan điểm và chiến lược hình thành thái độ và giá trị của Klausmeier &
Goodwin
II. LÀM THẾ NÀO ĐỂ DẠY CÁC GIÁ TRỊ VÀ KỸ NĂNG SỐNG?
1. Phương pháp mô hình mẫu
2. Phương pháp thuyết trình kết hợp với các phương pháp khác
3. Phương pháp động não
4. Phương pháp nghiên cứu tình huống
5. Phương pháp trò chơi
6. Phương pháp hoạt động nhóm
7. Phương pháp đóng vai
8. Phương pháp tưởng tượng/nội suy
9. Phương pháp bản đồ tư duy, sơ đồ hóa, mô hình hóa
10. Phương pháp trải nghiệm/thực hành
III. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ
VÀ KỸ NĂNG SỐNG
1. Xây dựng bầu không khí tâm lý thân thiện, gần gũi và cởi mở
2. Các hoạt động nhận diện giá trị sống và kỹ năng sống
3. Tổ chức thảo luận, chia sẻ các giá trị
4. Tổ chức hoạt động để học sinh thể hiện hiểu biết và cảm nhận về giá trị
và kỹ năng sống một cách sáng tạo
5
5. Tổ chức các hoạt động thực tiễn
IV. GỢI Ý VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ
KỸ NĂNG SỐNG
PHẦN 4: HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI MỘT SỐ NỘI DUNG GIÁO
DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
CHỦ ĐỀ 1: KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC GIÁ TRỊ CỦA BẢN THÂN
CHỦ ĐỀ 2: HÌNH THÀNH SỰ TỰ TRỌNG
CHỦ ĐỀ 3: KỸ NĂNG ĐỒNG CẢM
CHỦ ĐỀ 4: KỸ NĂNG KIÊN CƯỜNG
CHỦ ĐỀ 5: KỸ NĂNG TƯ DUY PHÊ PHÁN
CHỦ ĐỀ 6: KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ RA QUYẾT ĐỊNH
CHỦ ĐỀ 7: KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT
CHỦ ĐỀ 8: KỸ NĂNG KIÊN ĐỊNH
CHỦ ĐỀ 9: KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS
CHỦ ĐỀ 10: KỸ NĂNG HỢP TÁC
CHỦ ĐỀ 11: KỸ NĂNG THƯƠNG LƯỢNG/ THUYẾT PHỤC
CHỦ ĐỀ 12: KỸ NĂNG THIẾT LẬP VÀ THỰC HIỆN MỤC TIÊU
CHỦ ĐỀ 13: KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO
CHỦ ĐỀ 14: KỸ NĂNG HỌC TẬP ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
PHẦN 5: TRÒ CHƠI, THƠ CA, THÔNG TIN HƯỚNG NGHIỆP SỬ
DỤNG TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ & KỸ NĂNG SỐNG
A. MỘT SỐ TRÒ CHƠI GIÁO DỤC GIÁ TRỊ VÀ KỸ NĂNG SỐNG
B. GIÁ TRỊ SỐNG THỂ HIỆN TRONG THƠ CA VIỆT NAM
C. PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CẦN CHUẨN BỊ CHO NGHỀ
NGHIỆP TƯƠNG LAI
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn sách “Phương pháp giáo dục Giá trị sống và Kỹ năng sống
cho học sinh trung học” được các tác giả biên soạn giúp Giáo viên trung
học trong việc tổ chức thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống
trong nhà trường. Giáo viên hoàn toàn có thể tổ chức các giờ dạy hay hoạt
động giáo dục giá trị và kỹ năng sống một cách riêng biệt hoặc lồng ghép
trong dạy học các môn học mà giáo viên đảm nhận.
Cuốn sách được viết lồng ghép giữa giáo dục giá trị sống và kỹ năng
sống, trong đó giáo dục giá trị sống luôn là nền tảng và kỹ năng sống là
công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống. Chính vì vậy,
khi giáo viên tổ chức hoạt động giáo dục nếu trọng tâm nghiêng về Giá trị
sống thì cần chỉ ra những kỹ năng sống nào cần hình thành và nếu hoạt
động trọng tâm nghiêng về kỹ năng sống thì cần chỉ ra giá trị sống nào làm
nền tảng cơ bản cho kỹ năng đó.
Để hoàn thành cuốn sách này, nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn
các chuyên gia trong lĩnh vực, những tác giả với nhiều tài liệu bổ ích và
nguồn tài liệu, hình ảnh phong phú trên mạng xã hội – nguồn lực vô cùng
quan trọng đã được minh họa, tham khảo và biên soạn. Cuốn sách này
chưa thể đáp ứng đầy đủ những mong mỏi của người sử dụng, nhóm tác
giả trân trọng những đóng góp của độc giả để cuốn sách được hoàn thiện
hơn.
Thay mặt nhóm tác giả
PGS.TS. Đinh Thị Kim Thoa
7
PHẦN 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN CƠ BẢN
TRONG GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ SỐNG
VÀ KỸ NĂNG SỐNG
8
A. GIÁ TRỊ SỐNG
I. GIÁ TRỊ, VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC
1. Thế nào là giá trị, hệ
giá trị, thang giá trị và
chuẩn giá trị?
a. Giá trị
Giá trị là khái niệm còn nhiều tranh cãi. Đã có nhiều quan điểm đưa
ra khi nói về giá trị. Việc lý giải sự thống nhất và đa dạng của thế giới giá
trị phụ thuộc vào cách tiếp cận của chúng ta.
Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên
nhân, điều kiện kinh tế xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống
giá trị nhất định của một xã hội.
Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm
mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển
của nhân cách. Theo quan điểm này, thế giới chủ quan của con người được
xem xét như nguồn gốc của giá trị. Những mục đích của cá nhân, những
cảm xúc riêng tư, ý chí và những nhu cầu, hay những định hướng của cá
nhân hình thành trong xã hội đã được qui chiếu bởi những giá trị nào đó.
Còn chính giá trị lại được hiểu như bất kỳ một vật nào đó có ý nghĩa, có giá
trị đối với con người. Trong công trình "Về tâm lý học tồn tại' của
A.Maslow đã được xuất bản ở Mỹ vào năm 1968, ông cho rằng tồn tại ba
9
mức độ giá trị:
Thứ nhất - đó là mức độ chung cho toàn thể mọi người.
Thứ hai, mức độ giá trị của một nhóm người nhất định.
Thứ ba, mức độ giá trị của các cá thể đặc thù.
Như vậy, giá trị là tình huống chọn lựa được nảy sinh từ nhu cầu và
đôi khi còn được đồng nhất với nhu cầu. Các nhu cầu hay các giá trị lại
được gắn bó chặt chẽ với nhau có thứ tự và tiến triển. Giá trị là các khách
thể vật chất hay tinh thần có khả năng thoả mãn những nhu cầu nào đó của
con người, giai cấp, xã hội và đáp ứng những mục đích và lợi ích của họ.
Theo Kinh tế học, khái niệm giá trị luôn gắn liền với hàng hóa, giá
cả và sản xuất hàng hóa. Phía sau nó là sức lao động, giá trị lao động của
con người làm ra hàng hóa. Giá trị sức mạnh của vật chất này khống chế
những vật chất khác khi trao đổi. Để bộc lộ giá trị, vật phẩm phải có ích lợi,
nghĩa là có khả năng thỏa mãn nhu cầu, lòng ham muốn của con người. Do
vậy mà khi phân tích, “giá trị” là vị trí tương đối của hàng hóa trong trật tự
ưu tiên, vị trí của nó ngày càng cao thì giá trị của nó ngày càng lớn.
Dưới góc độ Triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về giá trị. Tuy
nhiên, ở đây chúng tôi xem xét theo quan điểm Macxit, giá trị được coi là
những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động
sáng tạo của con người. Giá trị là sự thống nhất giữa cái chủ quan và cái
khách quan.
Giá trị trong Đạo đức học luôn gắn liến với những khái niệm trung
tâm như: cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái bởi vì khái niệm giá
trị thuộc phạm vi đời sống đạo đức của con người, các quan hệ xã hội và
quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức của xã hội.
Tóm lại, khái niệm giá trị đều có các đặc điểm như sau:
- Mức độ của một vật đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn được khát
vọng của con người, là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên
10
cơ sở mối quan hệ với sự vật đó.
- Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội, với phí tổn cần
thiết để tạo ra cái lợi đó.
- Mang tính khách quan – nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi
của giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người.
- Được hiểu theo hai góc độ: vật chất và tinh thần. Giá trị vật chất
là giá trị đo được bằng tiền bạc dưới góc độ kinh tế, còn giá trị
tinh thần tạo cho con người khoái cảm, hứng thú và sảng khoái.
- Mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm, hành vi của
chủ thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị.
- Là một phạm trù lịch sử vì giá trị thay đổi theo thời gian, theo sự
biến động của xã hội, phụ thuộc vào tính dân tộc, tôn giáo và
cộng đồng.
b. Hệ giá trị
Hệ giá trị (hay còn gọi là hệ thống giá trị) là một tổ hợp giá trị khác
nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định, thành
một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù
trong việc đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất
định của giá trị. Các hệ giá trị có vị trí độc lập tương đối và tương tác với
nhau theo những thứ bậc phù hợp với quá trình thực hiện các chức năng xã
hội trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. Do vậy, hệ thống giá trị luôn mang
tính lịch sử xã hội và chịu sự chế ước bởi lịch sử - xã hội. Trong hệ thống
giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ, của hiện tại và có thể cả
những nhân tố trong tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại,
các giá trị có tính nhân loại, tính dân tộc, tính cộng đồng, tính giai cấp, tính
lý tưởng và tính hiện thực v.v...
Thí dụ, 5 điều Bác dạy thiếu niên và nhi đồng là hệ giá trị dành cho
thế hệ trẻ:
11
1. Yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào
2. Học tập tốt, lao động tốt
3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt
5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.
c. Thang giá trị
Thang giá trị (thước đo giá trị) là một tổ hợp giá trị, một hệ thống giá
trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định.
Thang giá trị biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển, biến đổi của
xã hội loài người, cộng đồng và từng cá nhân. Trong quá trình biến đổi đó,
thang giá trị của xã hội, của cộng đồng và của nhóm chuyển thành thang
giá trị của từng người, cứ thế qua từng giai đoạn lịch sử của con người.
Thang giá trị là một trong những động lực thôi thúc con người hoạt
động. Hoạt động được tiến hành theo những thang giá trị cụ thể sẽ tạo nên
những giá trị nhất định, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người. Chính
trong hoạt động tạo ra những giá trị lại góp phần khẳng định, củng cố, phát
huy, bổ sung, hoàn thiện hoặc hay đổi thang giá trị.
Thí dụ, thang giá trị về vai trò của người thầy: Dân tộc ta có truyền
thống “tôn sư trọng đạo”. Thời phong kiến, trong bậc thang giá trị, nhà giáo
xếp sau vua nhưng trước cha mẹ: “Quân – Sư – Phụ”.
d. Chuẩn giá trị
Chuẩn giá trị là những giá trị giữ vị trí cốt lõi, chiếm vị trí ở thứ bậc
cao hoặc vị trí then chốt và mang tính chuẩn mực chung cho nhiều người.
Khi xây dựng các giá trị theo những chuẩn mực nhất định về kinh tế, chính
trị, đạo đức, xã hội, hay thẩm mỹ sẽ tạo ra các chuẩn giá trị. Mọi hoạt động
của xã hội, của nhóm cũng như của từng cá nhân được thực hiện theo
những chuẩn giá trị nhất định sẽ bảo đảm định hướng cho các hoạt động và
12
hạn chế khả năng lệch chuẩn mực xã hội, đồng thời tạo ra những giá trị
tương ứng đảm bảo sự tồn tại của con người.
Thí dụ: lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.
2. Mối quan hệ giữa giá trị
với văn hóa và bản sắc
a. Văn hóa và giá trị
Văn hoá là một giá trị, một ý nghĩa, một lối sống bất khả phân với
con người. Con người là con người bởi có văn hoá; văn hoá là văn hoá bởi
từ con người và cho con người.
Văn hoá thiết yếu được hình thành trong cộng đồng, xã hội hơn là
mang lấy hình ảnh trọn vẹn của một cá nhân đơn độc. Tuy vậy văn hoá cá
nhân không thể bị xem nhẹ, bởi nó là sự đào luyện đầu tiên tạo tiền đề cho
con người có thể hội nhập vào đời sống văn hoá của xã hội. Văn hóa cá thể
và văn hóa xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau. Văn hóa xã hội làm
cho mỗi cá nhân có thể đào luyện thành người, văn hóa cá thể góp phần
phát triển văn hóa xã hội, cộng đồng. Mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có
văn hóa của riêng mình và văn hóa chung. Rõ ràng, dân tộc nào cũng có
nền văn hoá mang diện mạo đặc thù khác nhau. Và, con người nào cũng có
văn hoá, chỉ có mức độ văn hoá ở mỗi người khác nhau.
Muốn trở thành văn hoá, một con người, một gia đình, một xã hội
phải đào luyện, chắt lọc mình trong từng cử chỉ, từng hành vi, từng thể
13
thức, từng thái độ. Và một nền giáo dục phải nhắm đến mục đích đào tạo
những con người có bản lĩnh cho xã hội khao khát theo đuổi giá trị văn hoá,
như Bogoslovski nói: “Nền giáo dục phải giúp đỡ học sinh sống đời sống
thịnh vượng và ý nghĩa, nó phải xây nên những nhân cách có khả năng hoà
điệu và phong phú, giúp học sinh có khả năng tham dự vào ánh sáng chói
loà nhất của vinh quang hạnh phúc cũng như có thể đối mặt với đau khổ
một cách đầy phẩm hạnh và cam lòng thủ đắc, và cuối cùng họ có thể giúp
đỡ người khác sống cuộc đời cao thượng”. Đào luyện con người văn hoá,
trước hết là đào luyện một nền văn hoá toàn diện cho con người, và sau đó
con người đó sẽ mang theo hành trang văn hoá của mình gia nhập cuộc
hành trình của xã hội. Một công dân được giáo dục văn hoá là công dân có
khả năng tham dự vào xã hội bằng một tấm lòng nhân ái, một thái độ cư xử
lịch lãm, đúng mực, và một tâm hồn cao thượng. Một xã hội chỉ có thể trở
thành văn hoá với những công dân đã được đào luyện văn hoá, và nền văn
hoá đó giúp cho mọi người được sống trong ánh sáng nhân bản.
Con người mong muốn càng ngày càng trở nên con người hơn. Nhân
loại mong muốn tiến đến một nhân loại tiến bộ hơn. Văn hoá hướng tới một
nền văn hoá ngày càng cao, hoàn hảo hơn, nhân bản hơn.
Giá trị văn hóa chính là những hình thức, phương thức hoạt động quan hệ làm cho con người trở thành chủ thể tự do và sáng tạo.
b. Bản sắc và giá trị
Như chúng ta biết chương trình giáo dục của mỗi quốc gia chính là
sự cô đọng các giá trị văn hóa của một đất nước, một dân tộc, một thời đại.
Chính vì thế mà mỗi lần cải cách giáo dục, thay đổi sách giáo khoa là một
lần đánh giá lại các giá trị văn hóa, là một lần thay đổi lại bảng giá trị văn
hóa để sản xuất con người đạt hiệu quả cao, đáp ứng những đòi hỏi mới của
cuộc sống.
Nhưng sự đánh giá lại theo định hướng nào? Theo định hướng hình
14
thành con người tự do và sáng tạo. Tự do và sáng tạo luôn đi kèm với
khuôn mẫu và kế thừa, luôn đi kèm với hiện đại, tiên tiến và đậm đà bản
sắc dân tộc. Nhìn nhận một cách sâu xa hơn, chúng ta thấy bảng giá trị
chính là kết quả trong quan hệ giá trị của con người với hiện thực hay nói
chính xác hơn, trong quan hệ giá trị của chủ thể đánh giá với các sự vật,
hiện tượng mang giá trị. Vậy thì các giá trị nằm ở đâu? Ở chủ thể đánh giá
hay ở sự vật hay ở chính không gian đặc thù được hình thành nhờ quan hệ
giá trị. Như vậy, chính trong quá trình làm lại tự nhiên bởi con người và
làm lại con người bởi con người, một không gian đặc thù cho sự tồn tại của
loài người đã được hình thành: giá trị quyển. Không gian đặc thù này tạo
nên cái bản sắc riêng của các giá trị. Mỗi bản sắc đều có giá trị riêng của
mình. Mỗi cá nhân hay xã hội đều mang trong mình những giá trị bản sắc
và giá trị chung.
II. GIÁ TRỊ SỐNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ SỐNG
1. Giá trị sống
(hay giá trị cuộc sống)
Ở phần trên khái niệm giá trị đã được bàn đến từ nhiều góc độ. Tựu
trung, có 2 loại giá trị cơ bản: giá trị kinh tế và giá trị về tâm lý xã hội,
trong đó giá trị kinh tế hướng tới chủ yếu thế giới vật thể, còn giá trị tâm lý
15
xã hội hướng đến các giá trị cuộc sống, liên quan nhiều đến giá trị đạo đức
và thái độ của con người đối với cuộc sống xã hội...
Giá trị cuộc sống (hay giá trị sống) là những điều chúng ta cho là quý
giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. Giá trị
sống trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó. Giá trị
sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống
nhau. Có người cho rằng "tiền bạc là trên hết". Có người cho rằng tình yêu
thương mới là điều quý giá nhất trên đời. Có người coi trọng lòng trung
thực, hay sự bình yên…
Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ
thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các
mối quan hệ của con người với con người. Giá trị sống
về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực
trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển
trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận. Giá trị
sống là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời
sống, và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân,
điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã
hội. Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong các
khái niệm: thiện, ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương
tâm, trách nhiệm…
2. Định hướng giá trị
sống
16
Tuy có định nghĩa cách này hay cách khác, song các khái
niệm trên đều thống nhất ở các điểm sau:
- Định hướng giá trị là hiện tượng tâm lý có nguồn gốc khách quan,
nảy sinh trong quá trình hoạt động, tác động tích cực qua lại giữa con
người và thế giới khách quan trên cơ sở nắm vững hệ thống kinh nghiệm xã
hội lịch sử loài người.
- Có sự phân biệt các giá trị trong ý thức và tâm lý con người, là sự
xác định giá trị của cá nhân trên cơ sở đó hình thành lối sống, phong cách
giao tiếp và toàn bộ hành vi cá nhân. Chính vì vậy việc xác định thang giá
trị và thực hiện các hành vi trên cơ sở lựa chọn các giá trị đó chính là định
hướng giá trị của cá nhân.
- Định hướng giá trị như là xu hướng nhân cách hướng tới giá trị nào
đó, là cơ sở điều chỉnh hành vi con người và là thành phần trong cấu trúc
nhân cách.
Các giá trị của con người rất phong phú và đa dạng mà con người lại
sống trong môi trường xã hội, tham gia vào các hoạt động đa dạng, do vậy
việc phân loại định hướng giá trị cũng rất phức tạp, song có thể chấp nhận
một số cơ sở phân loại phổ biến như sau:
* Nếu căn cứ vào ý nghĩa xã hội hay cá nhân của những mục đích
mà con người hướng tới, thì có 2 loại:
+ Định hướng giá trị xã hội: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá
nhân trong quan hệ với xã hội như lòng thương người, chấp hành
luật pháp, lịch sự nơi công cộng, biết ơn thế hệ trước...
+ Định hướng giá trị cá nhân: là thái độ, là sự lựa chọn các giá trị
trong mối quan hệ với bản thân như lòng trung thực, sự khiêm tốn, vị
tha, yêu cầu cao, chấp nhận thử thách...
* Nếu căn cứ vào đối tượng của sự định hướng giá trị ta có:
+ Định hướng giá trị vật chất: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của
17
cá nhân hướng tới các giá trị vật chất như tiền bạc, của cải, cách làm
giàu...
+ Định hướng giá trị tinh thần: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của
cá nhân hướng tới các giá trị tinh thần như sự thanh thản, tình yêu
nghệ thuật, yêu thương con người...
* Căn cứ vào ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những giá trị mà con
người đang theo đuổi ta có:
+ Định hướng giá trị tích cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá
nhân hướng tới các giá trị tích cực như trung thực, thẳng thắn, giúp
đỡ, thương người, tự hào dân tộc...
+ Định hướng giá trị tiêu cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá
nhân hướng tới các giá trị tiêu cực như dối trá, hèn nhát, ích kỷ...
Vai trò của định hướng giá trị sống
Định hướng giá trị giúp con người lập chương trình cho hành động
của mình trong một thời gian dài, quy định đường lối chiến lược cho hành
vi, đồng thời định hướng giá trị có thể quy định trực tiếp hành vi thậm chí
từng thao tác, động tác của con người.
Định hướng giá trị là nhân tố trung tâm chi phối mọi suy nghĩ, điều
chỉnh hành vi, hoạt động của con người, từ đó hướng hoạt động tới mục
đích cơ bản của cuộc đời.
III. GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀ GIÁ TRỊ NHÂN
LOẠI
18
1. Các giá trị
truyền thống
Việt Nam là một nước nông nghiệp với điều kiện tự nhiên của Việt
Nam với mưa nắng thất thường gây ra nhiều thiên tai, hạn hán, mất mùa
nên đã ảnh hưởng tới sự hình thành hệ giá trị của dân tộc Việt Nam, tạo nên
sự gắn bó cộng đồng làng xã bền chặt, sự thương yêu đùm bọc “tắt lửa tối
đèn” có nhau, tạo nên tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm. Lịch sử Việt
Nam là lịch sử của đấu tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc nên người Việt
Nam phải hy sinh nhiều lợi ích riêng của mình, cùng nhau đoàn kết bảo vệ
những lợi ích chung.
Trên nền tảng của văn hoá bản địa, với điều kiện địa lý thuận lợi,
Việt Nam còn tiếp thu được những tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là
văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ với cốt lõi là Nho giáo, Phật giáo và Đạo
giáo. Với tư tưởng từ bi, bác ái, Phật giáo của nền văn hoá Ấn Độ đã dễ
dàng thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Bằng thuyết nhân quả luân hồi, ở
hiền gặp lành, Phật giáo khuyến khích con người ăn ở nhân đức để có được
cuộc sống tốt đẹp trong thế giới mai sau. Phật giáo cũng củng cố cách sống
nhân nghĩa, chân tình của người Việt Nam.
Chính đặc điểm hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam đã làm
cho các giá trị đạo đức được bồi đắp thường xuyên trong suốt chiều dài lịch
sử. Cùng với thời gian, những giá trị này trở nên ổn định và được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành động lực, sức mạnh, bản
sắc của nhân cách con người Việt Nam.
19
a. Tinh thần yêu nước
Trong các giá trị, nổi bật nhất là tinh thần yêu nước. Tinh thần yêu
nước là "nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung
của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện
tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc". Thực ra, trên thế
giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có tình yêu đất nước, nhưng bản sắc, sự
hình thành cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau. Ở Việt Nam,
chúng ta có thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý
nhất của dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong
thang bậc giá trị truyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, "là
tiêu điểm của mọi tiêu điểm". Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của
nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất
nước, có ý thức giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân
tộc.
Tinh thần yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm
bình dị, đơn sơ của mỗi người dân. Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan
tâm đến những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển
cao thành tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm
sinh, mà là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước
nhất định.
Tình yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất
nước, nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước. Trên
thế giới, hầu như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình bảo vệ đất nước,
chống xâm lăng. Nhưng có lẽ không dân tộc nào lại phải trải qua quá trình
giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam.
Nhận xét về truyền thống yêu nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh
20
thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó
bước qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và
cướp nước".
b. Yêu thương con người
Lòng thương người của dân tộc Việt Nam xuất phát từ tình cảm yêu
quý con người - "người ta là hoa của đất". Chính trong quá trình lao động
sản xuất và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cha ông ta đã rút ra triết lý: con
người là vốn quý hơn cả, không có gì có thể so sánh được. Mọi người luôn
luôn "thương người như thể thương thân" và vì lẽ đó, trong quan hệ đối xử
hàng ngày, người Việt Nam luôn coi trọng tình, luôn đặt tình nghĩa lên trên
hết - "vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy". Chữ "tình" chiếm một vị trí quan
trọng trong đời sống của người dân. Trong gia đình, đó là tình cảm vợ
chồng "đầu gối tay ấp", tình anh em "như thể tay chân", tình cảm đối với
bố mẹ: "Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy
ra". Rộng hơn là tình cảm đối với làng xóm: "Sớm khuya tối lửa tắt đèn có
nhau”. Và, rộng hơn cả là tình yêu đất nước: "Nhiễu điều phủ lấy giá
gương. Người trong một nước thì thương nhau cùng", "Bầu ơi thương lấy
bí cùng. Tuy là khác giống nhưng chung một giàn"... Chính sự coi trọng
chữ "tình" mà trong những xung đột, người Việt Nam thường cố gắng giải
quyết theo phương châm "có lý có tình", "chín bỏ làm mười". Bởi với họ,
tình cảm con người là cao quý hơn cả, không thể vì những điều khác mà bỏ
đi được, "một mặt người hơn mười mặt của", "người sống đống vàng”…
Tinh thần thương yêu con người còn biểu hiện trong sự tương trợ và
giúp đỡ lẫn nhau theo kiểu "lá lành đùm lá rách", "chị ngã em nâng", "một
con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ"... ở tình cảm bao dung, vị tha: "đánh kẻ
chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại". Họ không những vị tha với nhau, mà
còn vị tha với cả kẻ thù. Lịch sử đã từng ghi lại rất nhiều rằng, với những tù
binh chiến tranh, họ luôn được đối xử tử tế, được mở đường hiếu sinh,
21
được cấp đầy đủ quân trang khi trở về nước.
Tóm lại, tình thương yêu con người là giá trị đạo đức đặc trưng của
dân tộc ta, một giá trị rất đáng tự hào. Nó gắn liền với tình yêu thương
đồng loại và là "cái gốc của đạo đức. Không có lòng nhân ái thì không thể
có lòng yêu nước, thương nhân dân được".
c. Tinh thần đoàn kết
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết đã làm nên sức
mạnh để dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ non sông, bờ cõi, thống
nhất giang sơn; vượt qua mọi khó khăn thử thách do thiên tai liên tiếp xảy
ra để xây dựng đất nước. Tinh thần đoàn kết là sản phẩm đặc thù của một
hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam.
Đây là một trong những nhân tố cốt lõi trong hệ giá trị truyền thống của
dân tộc Việt Nam. Nhờ sự đoàn kết dân tộc, con người Việt Nam, dân tộc
Việt Nam tạo ra sức mạnh phi thường để chống trọi mọi thử thách, khó
khăn của cuộc sống. Câu chuyện về Âu Cơ và Lạc Long Quân là một minh
chứng về sự thấu hiểu của sức mạnh đoàn kết và nhu cầu cần phải đoàn kết
của mỗi người dân Việt - con Lạc cháu Rồng.
Truyền thống này càng cần phải phát huy trong thời nay, khi mà nền
kinh tế thị trường có thể ảnh hưởng đến các giá trị tốt đẹp này. Nhưng
chúng ta cũng cần phải thấu hiểu, nếu không biết đoàn kết với nhau, không
ai, không dân tộc nào có thể phát triển và bình ổn. “Một cây làm chẳng nên
non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
d. Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị đạo đức nổi
bật trong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam. Thực ra, để kiến tạo ra của cải
vật chất thì bất cứ dân tộc nào cũng phải lao động, cũng phải chịu khó, và
họ cũng có thể tự hào về những thành quả đã tạo dựng được của mình,
nhưng dân tộc Việt Nam lại là một trường hợp đặc biệt. Bởi lẽ, như đã nói,
22
Việt Nam là một nước có nền văn minh nông nghiệp lâu đời. Lao động
nông nghiệp là loại hình lao động vất vả, cần nhiều thời gian, công sức mới
có hạt gạo, bát cơm để ăn. Hơn nữa, thiên nhiên lại quá nhiều nắng gió,
mưa bão mà nhiều khi, mùa nắng thì hạn cháy đồng, mùa mưa lại lũ lụt.
Như giáo sư Trần Văn Giàu đã chia sẻ, những người nước ngoài đến Việt
Nam đều hết sức ngạc nhiên khi thấy mọi cơ năng trên con người Việt Nam
đều được dùng để làm việc: đầu đội, vai gánh, lưng cõng, tay nhanh nhẹn
và khéo léo, chân chạy như bay. Ngoài sự khéo léo, đó còn là một minh
chứng cho sự cần cù, chịu khó của người Việt Nam. Lao động cần cù như
một yêu cầu tất yếu để đảm bảo cho sự sinh tồn của dân tộc. Sau đó, trong
sự đấu tranh gian khổ với thiên nhiên, với cuộc sống luôn bị kẻ thù xâm
lăng, lao động cần cù đã trở thành một phẩm chất đạo đức không thể thiếu
đối với con người Việt Nam. Người Việt luôn nhắc nhở với nhau rằng,
"năng nhặt chặt bị", "kiến tha lâu đầy tổ". Người ta luôn luôn phê phán thói
"ăn không ngồi rồi", bởi với họ, "nhàn cư vi bất thiện". Lao động cần cù
của người Việt Nam luôn gắn với tiết kiệm, bởi lẽ, "buôn tàu buôn bè
không bằng ăn dè hà tiện", "khi có mà không ăn dè, đến khi ăn dè chẳng có
mà ăn".
Ngoài những giá trị nói trên, dân tộc Việt Nam còn có nhiều giá trị
đạo đức khác tạo nên cốt cách con người Việt Nam, như đức tính khiêm
tốn, lòng thuỷ chung, tính trung thực... Những đức tính này không tồn tại
riêng rẽ mà liên quan đến nhau - đức tính này là điều kiện, là biểu hiện của
đức tính kia. Người ta không thể nói yêu Tổ quốc mà không yêu thương
con người, không có lòng nhân ái, bao dung. Thương người cũng là ý thức
về tính cộng đồng, về lý tưởng phục vụ cộng đồng, về việc biết đặt cái
chung lên trên cái riêng. Con người ta lao động cần cù, tiết kiệm để kiến
tạo cuộc sống của mình cũng như cuộc sống của con cháu mình cũng là thể
hiện lòng yêu nước. Để thực hiện được những ước vọng đó, con người ta
23
cần phải đoàn kết lại để xây dựng, bảo vệ những thành quả do mình làm ra.
Chính những giá trị đạo đức truyền thống này đã tạo nên lịch sử vẻ
vang của dân tộc Việt Nam. Chúng là nhân tố quan trọng định hướng tư
tưởng, tình cảm, hành động của con người Việt Nam trong suốt quá trình
phát triển của mình. Chúng đã tạo nên những con người biết sống xả thân
vì nghĩa, vì đồng bào, dân tộc...
 








Các ý kiến mới nhất