Giải pháp:Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong công tác chủ nhiệm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Xuân Huấn
Ngày gửi: 22h:44' 13-11-2022
Dung lượng: 65.5 KB
Số lượt tải: 1708
Nguồn:
Người gửi: Phạm Xuân Huấn
Ngày gửi: 22h:44' 13-11-2022
Dung lượng: 65.5 KB
Số lượt tải: 1708
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Hữu Phát)
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO GIẢI PHÁP
1. Tên giải pháp: “Một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục trong công tác chủ nhiệm”
2. Lĩnh vực áp dụng giải pháp: Giải pháp tác nghiệp trong giáo dục.
3. Báo cáo bản chất của giải pháp:
- Thực trạng tình hình:
+ Thuận lợi:
- Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Ban giám hiệu và các bộ phận có
liên quan trong nhà trường.
- Thầy cô giáo phụ trách bộ môn nhiệt tình có trách nhiệm trong việc dạy
học và giáo dục nhân cách cho học sinh.
- Hầu hết quý phụ huynh đều rất quan tâm đến việc học tập và phát triển
nhân cách của con em mình.
- Đa số các em xác định được việc học tập của bản thân nên có động cơ
học tập đúng đắn từ đó các em rất ngoan.
- Ban cán sự lớp là những học sinh tích cực, nhiệt tình có trách nhiêm, dễ
hòa đồng luôn giúp đỡ bạn bè.
- Ngoài ra còn nhiều hoạt động tập thể thi đua sôi nổi giúp các em gần gũi
và gắn kết nhiều hơn từ đó các em gạt bỏ những mặc cảm tự ti.
+ Khó khăn
- Là lớp đầu cấp nên các em còn bỡ ngỡ, chưa làm quen với môi trường
học tập mới, còn quên chuẩn bị dụng cụ, đồ dùng học tập. Một số học sinh chưa
xác định được mục tiêu và nhiệm vụ học tập nên cũng thường xuyên vi phạm
nội quy như: không soạn bài, không làm bài tập, không phát biểu xây dựng bài,
thường hay trễ học, không thuộc bài, không làm bài tập ở nhà.
- Một số phụ huynh đi làm ăn xa không có thời gian chăm sóc các em,
nhắc nhở thường xuyên nên các em cũng thường vi phạm nội quy, quy định của
nhà trường.
- Giáo viên chủ nhiệm chịu nhiều áp lực nên nhiều lúc không quan tâm
đến học sinh. Đồng thời gióa viên chủ nhiệm chưa tìm hiểu kỹ các tác nghiệp
trong việc giáo dục học sinh nên hiệu quả giáo dục học sinh chưa cao.
- Nội dung giải pháp:
+ Mục đích giải pháp:
Xuất phát từ thực tế khách quan và nguyên nhân chủ quan tìm hiểu về
phương pháp giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh lớp chủ nhiệm
2
giúp học sinh bồi dưỡng những cảm xúc, xây dựng cái thiện trong mỗi con
người, hình thành thói quen tốt.
+ Nội dung giải pháp: Bằng thực tiễn trong công tác chủ nhiệm, tôi đưa ra
một số kinh nghiệm cụ thể như sau:
Giải pháp 1: Giáo viên chủ nhiệm phải có năng lực quản lí.
- Thông thường mỗi giáo viên chủ nhiệm (GVCN) phải quản lý một lớp
khoảng trên 35 học sinh. Do đó, năng lực quản lý, lãnh đạo của GVCN là yếu tố
vô cùng quan trọng, quyết định đến sự thành công của một lớp học.
- GVCN phải có đủ hiểu biết và các kỹ năng để điều tra khảo sát, xây
dựng kế hoạch lớp chủ nhiệm, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết
quả giáo dục đến từng học sinh. Ngoài việc thực hiện các chỉ đạo của Hiệu
trưởng, của ngành thì GVCN cần phải biết xây dựng các hoạt động độc lập
riêng, mang tính đặc thù của lớp mình. GVCN cũng cần phải có tầm nhìn, phát
hiện và giải quyết sớm các vấn đề nảy sinh ở lớp mình chủ nhiệm. Khi triển khai
một hoạt động giáo dục mới cần phải có kỹ năng “truyền lửa” làm cho mỗi HS
tích cực, nhiệt huyết tham gia các hoạt động đó. Người giáo viên chủ nhiệm
cũng phải là người “Cầm cân, nẩy mực” để sử lý mọi tình huống xảy ra trong
lớp. Vì thế rất cần giáo viên chủ nhiệm phải công tâm, nhiệt tình, trách nhiệm,
tâm lí yêu thương học sinh và xây dựng một ban cán sự lớp tự quản có uy tín, có
trách nhiệm, có năng lực, bản lĩnh.
Giải pháp 2. GVCN phải Gần gũi, thấu hiểu quan tâm và nắm chắc
hoàn cảnh của từng HS trong lớp.
- Đầu năm khi nhận lớp việc đầu tiên tôi làm là phải nắm bắt được thông
tin cá nhân từng em, lí lịch trích ngang, biết được vị trí nhà ở của các em, gần
gũi thấu hiểu và nắm chắc hoàn cảnh của từng học sinh trong lớp về những
thuận lợi và khó khăn, đặc biệt quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh đặc biệt.
Những trường hợp này tôi luôn gần gũi trò chuyện tiếp xúc với các em nhiều
hơn, tạo cho các em sự thân thiết, tin tưởng để có thể dễ dàng bộc lộ tâm tư tình
cảm, điều mong muốn của chính mình khi cần thiết. Qua đó tôi sẽ hiểu các em
hơn và kịp thời ngăn chặn những suy nghĩ nông cạn, sai lầm hay các hành vi
không hay… hướng các em nhận thức được giá trị bản thân, nâng cao lòng tự
trọng và biết cố gắng để vượt qua những khó khăn trong học tập cũng như trong
cuộc sống.
- GVCN phải bằng tấm lòng nhân ái, bao dung không vụ lợi , yêu thương
học sinh bằng tấm lòng chân thành, cởi mở, tạo cho các em miềm vui khi đến
3
trường. Cần giáo dục học sinh biết quan tâm đến người khác bằng những việc
làm cụ thể như: Tham gia các phong trào từ thiện nhân đạo, kế hoạch nhỏ, giúp
đỡ các bạn khó khăn trong lớp v.v… Việc làm này tuy nhỏ nhưng có tác dụng
làm cho học sinh tự động viên nhắc nhở nhau trong học tập và tinh thần đoàn kết
tương thân tương ái.
Giải pháp 3. GVCN phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
- Người giáo viên chủ nhiệm phải thực sự mẫu mực, phải là tấm gương
sáng toàn vẹn từ nhận thức đến hành động thực tiễn, từ lời nói cử chỉ điệu bộ
đến thái độ ứng xử hằng ngày đây là cách giáo dục dùng nhân cách tác động đến
nhân cách. Luôn cố gắng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, không ngừng
học hỏi để tiến bộ hơn hoàn thiện hơn.
- GVCN phải rèn luyện tay nghề để trở thành giáo viên dạy giỏi, vững
vàng về chuyên môn. Có nhiều quan điểm cho rằng dạy và chủ nhiệm là hai
công việc khác nhau, không liên quan đến nhau. Tôi cho rằng GVCN phải ý
thức được giảng dạy bộ môn tốt góp phần quan trọng cho công tác chủ nhiệm tốt
ở ngay lớp mình chủ nhiệm, góp phần tạo nên uy tín của giáo viên, vì tâm lí học
sinh cũng như phụ huynh luôn cảm thấy yên tâm khi GVCN có năng lực chuyên
môn. Ngoài ra GVCN là người cha, người mẹ là chỗ dựa tinh thần cho các em,
phải biết lắng nghe học sinh nói và không áp đặt học sinh. Có như thế các em
mới thấy mình được tôn trọng.
- Để khích lệ các em, tôi luôn gần gũi, quan tâm, khen chê các em đúng
và kịp thời, xử phạt nghiêm minh. Tổ nào ý thức đoàn kết tự quản tốt, cá nhân
nào gương mẫu, tiến bộ, thành tích tốt đều được tuyên dương, khen thưởng kịp
thời trong mỗi tiết sinh hoạt vào cuối tuần. Dịp cuối tháng thì xếp loại thi đua và
gửi kết quả rèn luyện của HS về cho gia đình.
Giải pháp 4. GVCN là “cầu nối” Phối hợp với giáo viên bộ môn trong
công tác giảng dạy.
- Trong quá trình giảng dạy, bên cạnh sự quán xuyến, đôn đốc, theo dõi
của GVCN còn có một tập thể các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy và truyền đạt
kiến thức bộ môn. GVCN có thể trao đổi với giáo viên bộ môn để nắm bắt thêm
về tinh thần, thái độ học tập, ý thức tổ chức kỷ luật…của từng học sinh trong
lớp. Từ đó tạo điều kiện cho giáo viên chủ nhiệm có sự nhìn nhận và đánh giá
khách quan về chất lượng học tập của từng học sinh trong lớp đồng thời có biện
pháp động viên, nhắc nhở, giáo dục phù hợp đối với từng học sinh giúp các em
học tập và rèn luyện nhân cách đạo đức tốt hơn.
4
Giải pháp 5. Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với phụ huynh của lớp
- Để làm được công tác chủ nhiệm tốt, tôi không thể không nói tới sự phối
hợp chặt chẽ giữa GVCN và phụ huynh học sinh. Đây là mối quan hệ không thể
thiếu được. Chính vì ngay từ khi nhận lớp tôi đã lập danh sách số điện thoại liên
lạc của gia đình, đây là điều kiện thuận lợi giúp GVCN trao đổi với cha mẹ học
sinh khi cần thiết. Ngoài ra GVCN cần phải tiếp xúc riêng để trao đổi thông tin
với cha mẹ học sinh những học sinh cá biệt. Thông qua công việc này giúp giáo
viên biết được các thói quen, sở thích thái độ của học sinh thường biểu hiện ở
gia đình. Qua đó giúp cha mẹ học sinh biết được tình hình học tập những dấu
hiệu sa sút của các em đồng thời giúp cha mẹ học sinh thấy được sự quan tâm
của nhà trường đối với gia đình từ đó tạo được niềm tin đối với phụ huynh trong
việc giáo dục con cái họ. Mối quan hệ có tác động hai chiều này nhằm hạn chế
bớt mặc cảm, tự ti ở các em giảm bớt tâm lí lo sợ khi tiếp xúc với GVCN.
- Những thông tin cần bảo mật (nếu có): Không
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp:
+ Áp dụng trực tiếp trong quá trình giảng dạy và ngoại khóa.
+ Sử dụng các loại tài liệu có liên quan đến giáo dục học sinh.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tác giả:
Qua thời gian áp dụng đã thu được hiệu quả cụ thể ở các mặt như sau:
3. Hiệu quả đạt được
- Kết quả xếp loại học lực- hạnh kiểm năm học 2020-2021 khi chưa áp
dụng giải pháp:
TSHS
HỌC LỰC
G
KHÁ
TB
HẠNH KIỂM
YẾU
KÉM
TỐT
KHÁ
29 80,5
07 19,5
TB
YẾU
0
0
36
4 11 10 28
%
%
17 47 5 14
%
%
0
%
%
5
- Kết quả xếp loại học lực- hạnh kiểm cuối năm học 2021-2022 khi đã
áp dụng giải pháp:
TSHS
36
HỌC LỰC
G
KHÁ
TB
8 22 16 44 12 34
%
%
%
HẠNH KIỂM
YẾU
0 0
%
KÉM
0
TỐT
3
KHÁ
TB
89
4 11 0
%
%
YẾU
0
So sánh giữa năm học 2020-2021 khi chưa áp dụng sáng kiến và năm
học 2021-2022 khi đã áp dụng sáng kiến:
Trong quá trình chủ nhiệm lớp tôi đã áp dụng kinh nghiệm này và kết quả
đạt được rất khả quan:
- Về học lực:
+ Tỉ lệ xếp loại học lực giỏi tăng lên từ 11% năm học 2020-2021 lên 22%
năm học 2021-2022.
+ Tỉ lệ xếp loại học lực khá cũng tăng lên từ 28% năm học 2020-2021 lên
44% năm học 2021-2022.
- Về hạnh kiểm: tỉ lệ xếp loại hạnh kiểm tốt tăng từ 80,5% năm học 20202021 lên 89% năm học 2021-2022.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Nam Thái A, ngày 05 tháng 11 năm 2022
Người viết báo cáo
PHẠM XUÂN HUẤN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO GIẢI PHÁP
1. Tên giải pháp: “Một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục trong công tác chủ nhiệm”
2. Lĩnh vực áp dụng giải pháp: Giải pháp tác nghiệp trong giáo dục.
3. Báo cáo bản chất của giải pháp:
- Thực trạng tình hình:
+ Thuận lợi:
- Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Ban giám hiệu và các bộ phận có
liên quan trong nhà trường.
- Thầy cô giáo phụ trách bộ môn nhiệt tình có trách nhiệm trong việc dạy
học và giáo dục nhân cách cho học sinh.
- Hầu hết quý phụ huynh đều rất quan tâm đến việc học tập và phát triển
nhân cách của con em mình.
- Đa số các em xác định được việc học tập của bản thân nên có động cơ
học tập đúng đắn từ đó các em rất ngoan.
- Ban cán sự lớp là những học sinh tích cực, nhiệt tình có trách nhiêm, dễ
hòa đồng luôn giúp đỡ bạn bè.
- Ngoài ra còn nhiều hoạt động tập thể thi đua sôi nổi giúp các em gần gũi
và gắn kết nhiều hơn từ đó các em gạt bỏ những mặc cảm tự ti.
+ Khó khăn
- Là lớp đầu cấp nên các em còn bỡ ngỡ, chưa làm quen với môi trường
học tập mới, còn quên chuẩn bị dụng cụ, đồ dùng học tập. Một số học sinh chưa
xác định được mục tiêu và nhiệm vụ học tập nên cũng thường xuyên vi phạm
nội quy như: không soạn bài, không làm bài tập, không phát biểu xây dựng bài,
thường hay trễ học, không thuộc bài, không làm bài tập ở nhà.
- Một số phụ huynh đi làm ăn xa không có thời gian chăm sóc các em,
nhắc nhở thường xuyên nên các em cũng thường vi phạm nội quy, quy định của
nhà trường.
- Giáo viên chủ nhiệm chịu nhiều áp lực nên nhiều lúc không quan tâm
đến học sinh. Đồng thời gióa viên chủ nhiệm chưa tìm hiểu kỹ các tác nghiệp
trong việc giáo dục học sinh nên hiệu quả giáo dục học sinh chưa cao.
- Nội dung giải pháp:
+ Mục đích giải pháp:
Xuất phát từ thực tế khách quan và nguyên nhân chủ quan tìm hiểu về
phương pháp giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh lớp chủ nhiệm
2
giúp học sinh bồi dưỡng những cảm xúc, xây dựng cái thiện trong mỗi con
người, hình thành thói quen tốt.
+ Nội dung giải pháp: Bằng thực tiễn trong công tác chủ nhiệm, tôi đưa ra
một số kinh nghiệm cụ thể như sau:
Giải pháp 1: Giáo viên chủ nhiệm phải có năng lực quản lí.
- Thông thường mỗi giáo viên chủ nhiệm (GVCN) phải quản lý một lớp
khoảng trên 35 học sinh. Do đó, năng lực quản lý, lãnh đạo của GVCN là yếu tố
vô cùng quan trọng, quyết định đến sự thành công của một lớp học.
- GVCN phải có đủ hiểu biết và các kỹ năng để điều tra khảo sát, xây
dựng kế hoạch lớp chủ nhiệm, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết
quả giáo dục đến từng học sinh. Ngoài việc thực hiện các chỉ đạo của Hiệu
trưởng, của ngành thì GVCN cần phải biết xây dựng các hoạt động độc lập
riêng, mang tính đặc thù của lớp mình. GVCN cũng cần phải có tầm nhìn, phát
hiện và giải quyết sớm các vấn đề nảy sinh ở lớp mình chủ nhiệm. Khi triển khai
một hoạt động giáo dục mới cần phải có kỹ năng “truyền lửa” làm cho mỗi HS
tích cực, nhiệt huyết tham gia các hoạt động đó. Người giáo viên chủ nhiệm
cũng phải là người “Cầm cân, nẩy mực” để sử lý mọi tình huống xảy ra trong
lớp. Vì thế rất cần giáo viên chủ nhiệm phải công tâm, nhiệt tình, trách nhiệm,
tâm lí yêu thương học sinh và xây dựng một ban cán sự lớp tự quản có uy tín, có
trách nhiệm, có năng lực, bản lĩnh.
Giải pháp 2. GVCN phải Gần gũi, thấu hiểu quan tâm và nắm chắc
hoàn cảnh của từng HS trong lớp.
- Đầu năm khi nhận lớp việc đầu tiên tôi làm là phải nắm bắt được thông
tin cá nhân từng em, lí lịch trích ngang, biết được vị trí nhà ở của các em, gần
gũi thấu hiểu và nắm chắc hoàn cảnh của từng học sinh trong lớp về những
thuận lợi và khó khăn, đặc biệt quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh đặc biệt.
Những trường hợp này tôi luôn gần gũi trò chuyện tiếp xúc với các em nhiều
hơn, tạo cho các em sự thân thiết, tin tưởng để có thể dễ dàng bộc lộ tâm tư tình
cảm, điều mong muốn của chính mình khi cần thiết. Qua đó tôi sẽ hiểu các em
hơn và kịp thời ngăn chặn những suy nghĩ nông cạn, sai lầm hay các hành vi
không hay… hướng các em nhận thức được giá trị bản thân, nâng cao lòng tự
trọng và biết cố gắng để vượt qua những khó khăn trong học tập cũng như trong
cuộc sống.
- GVCN phải bằng tấm lòng nhân ái, bao dung không vụ lợi , yêu thương
học sinh bằng tấm lòng chân thành, cởi mở, tạo cho các em miềm vui khi đến
3
trường. Cần giáo dục học sinh biết quan tâm đến người khác bằng những việc
làm cụ thể như: Tham gia các phong trào từ thiện nhân đạo, kế hoạch nhỏ, giúp
đỡ các bạn khó khăn trong lớp v.v… Việc làm này tuy nhỏ nhưng có tác dụng
làm cho học sinh tự động viên nhắc nhở nhau trong học tập và tinh thần đoàn kết
tương thân tương ái.
Giải pháp 3. GVCN phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
- Người giáo viên chủ nhiệm phải thực sự mẫu mực, phải là tấm gương
sáng toàn vẹn từ nhận thức đến hành động thực tiễn, từ lời nói cử chỉ điệu bộ
đến thái độ ứng xử hằng ngày đây là cách giáo dục dùng nhân cách tác động đến
nhân cách. Luôn cố gắng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, không ngừng
học hỏi để tiến bộ hơn hoàn thiện hơn.
- GVCN phải rèn luyện tay nghề để trở thành giáo viên dạy giỏi, vững
vàng về chuyên môn. Có nhiều quan điểm cho rằng dạy và chủ nhiệm là hai
công việc khác nhau, không liên quan đến nhau. Tôi cho rằng GVCN phải ý
thức được giảng dạy bộ môn tốt góp phần quan trọng cho công tác chủ nhiệm tốt
ở ngay lớp mình chủ nhiệm, góp phần tạo nên uy tín của giáo viên, vì tâm lí học
sinh cũng như phụ huynh luôn cảm thấy yên tâm khi GVCN có năng lực chuyên
môn. Ngoài ra GVCN là người cha, người mẹ là chỗ dựa tinh thần cho các em,
phải biết lắng nghe học sinh nói và không áp đặt học sinh. Có như thế các em
mới thấy mình được tôn trọng.
- Để khích lệ các em, tôi luôn gần gũi, quan tâm, khen chê các em đúng
và kịp thời, xử phạt nghiêm minh. Tổ nào ý thức đoàn kết tự quản tốt, cá nhân
nào gương mẫu, tiến bộ, thành tích tốt đều được tuyên dương, khen thưởng kịp
thời trong mỗi tiết sinh hoạt vào cuối tuần. Dịp cuối tháng thì xếp loại thi đua và
gửi kết quả rèn luyện của HS về cho gia đình.
Giải pháp 4. GVCN là “cầu nối” Phối hợp với giáo viên bộ môn trong
công tác giảng dạy.
- Trong quá trình giảng dạy, bên cạnh sự quán xuyến, đôn đốc, theo dõi
của GVCN còn có một tập thể các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy và truyền đạt
kiến thức bộ môn. GVCN có thể trao đổi với giáo viên bộ môn để nắm bắt thêm
về tinh thần, thái độ học tập, ý thức tổ chức kỷ luật…của từng học sinh trong
lớp. Từ đó tạo điều kiện cho giáo viên chủ nhiệm có sự nhìn nhận và đánh giá
khách quan về chất lượng học tập của từng học sinh trong lớp đồng thời có biện
pháp động viên, nhắc nhở, giáo dục phù hợp đối với từng học sinh giúp các em
học tập và rèn luyện nhân cách đạo đức tốt hơn.
4
Giải pháp 5. Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với phụ huynh của lớp
- Để làm được công tác chủ nhiệm tốt, tôi không thể không nói tới sự phối
hợp chặt chẽ giữa GVCN và phụ huynh học sinh. Đây là mối quan hệ không thể
thiếu được. Chính vì ngay từ khi nhận lớp tôi đã lập danh sách số điện thoại liên
lạc của gia đình, đây là điều kiện thuận lợi giúp GVCN trao đổi với cha mẹ học
sinh khi cần thiết. Ngoài ra GVCN cần phải tiếp xúc riêng để trao đổi thông tin
với cha mẹ học sinh những học sinh cá biệt. Thông qua công việc này giúp giáo
viên biết được các thói quen, sở thích thái độ của học sinh thường biểu hiện ở
gia đình. Qua đó giúp cha mẹ học sinh biết được tình hình học tập những dấu
hiệu sa sút của các em đồng thời giúp cha mẹ học sinh thấy được sự quan tâm
của nhà trường đối với gia đình từ đó tạo được niềm tin đối với phụ huynh trong
việc giáo dục con cái họ. Mối quan hệ có tác động hai chiều này nhằm hạn chế
bớt mặc cảm, tự ti ở các em giảm bớt tâm lí lo sợ khi tiếp xúc với GVCN.
- Những thông tin cần bảo mật (nếu có): Không
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp:
+ Áp dụng trực tiếp trong quá trình giảng dạy và ngoại khóa.
+ Sử dụng các loại tài liệu có liên quan đến giáo dục học sinh.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tác giả:
Qua thời gian áp dụng đã thu được hiệu quả cụ thể ở các mặt như sau:
3. Hiệu quả đạt được
- Kết quả xếp loại học lực- hạnh kiểm năm học 2020-2021 khi chưa áp
dụng giải pháp:
TSHS
HỌC LỰC
G
KHÁ
TB
HẠNH KIỂM
YẾU
KÉM
TỐT
KHÁ
29 80,5
07 19,5
TB
YẾU
0
0
36
4 11 10 28
%
%
17 47 5 14
%
%
0
%
%
5
- Kết quả xếp loại học lực- hạnh kiểm cuối năm học 2021-2022 khi đã
áp dụng giải pháp:
TSHS
36
HỌC LỰC
G
KHÁ
TB
8 22 16 44 12 34
%
%
%
HẠNH KIỂM
YẾU
0 0
%
KÉM
0
TỐT
3
KHÁ
TB
89
4 11 0
%
%
YẾU
0
So sánh giữa năm học 2020-2021 khi chưa áp dụng sáng kiến và năm
học 2021-2022 khi đã áp dụng sáng kiến:
Trong quá trình chủ nhiệm lớp tôi đã áp dụng kinh nghiệm này và kết quả
đạt được rất khả quan:
- Về học lực:
+ Tỉ lệ xếp loại học lực giỏi tăng lên từ 11% năm học 2020-2021 lên 22%
năm học 2021-2022.
+ Tỉ lệ xếp loại học lực khá cũng tăng lên từ 28% năm học 2020-2021 lên
44% năm học 2021-2022.
- Về hạnh kiểm: tỉ lệ xếp loại hạnh kiểm tốt tăng từ 80,5% năm học 20202021 lên 89% năm học 2021-2022.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Nam Thái A, ngày 05 tháng 11 năm 2022
Người viết báo cáo
PHẠM XUÂN HUẤN
 









Các ý kiến mới nhất