Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

BÁC HỒ VÀ BÁC TÔN MỘT TÌNH BẠN CAO CẢ (PHẦN 2)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 08h:06' 27-12-2024
Dung lượng: 13.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
T Ừ H À NỘI ĐẾN CHIẾN K H U VIỆT BẮC

ừ Côn Đảo trở về, đang lăn lộn trên chiến
trưòng miền Nam, Bác Tôn lên đưòiig ra Hà
Nội, từ Hà Nội sang Pháp - trong một khoảng
thòi gian ngắn mà cuộc đòi đã mở ra cả một không
gian vô cùng rộng lổn. Đó cũng là năm Bác Tôn trải
qua nhiều trọng trách trong Đảng, Chính quyền,
Quốic hội, M ặt trận. Và đặc biệt n h ấ t chính là cuộc
gặp Bác Hồ vào mùa xuân. Một m ùa xuân đặc biệt,
mở ra những sự kiện mối trong nửa sau của đòi Bác,
mà cái chính, cái cốt lõi là từ ấy, trong suôt 23 năm
sau, ngót một phần tư th ế kỷ Bác được sông, làm việc,
sá t cánh bên Bác Hồ, trở thành một trong những lãnh
tụ xuất sắc của Đảng, Quốc hội và M ặt trậ n Tổ quốc.
Sự kiện đầu tiên ỏ Hà Nội là sau khi đưỢc gặp Bác
Hồ, Tổng Bí thư Trưòng Chinh, Bác Tôn dự kỳ họp
thứ n h ất của Quốc hội nưóc Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà vào ngày 2-3-1946. Tại kỳ họp này, khi Chủ tịch
Chính phủ lâm thòi Hồ Chí Minh nói lòi từ chức, trao
quyền để Quốc hội chọn người xứng đáng đứng ra
th àn h lập Chính phủ mới. Bác Tôn Đức Thắng,
Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Nam Bộ, lập tức đứng
lên phát biểu;

T

116

Từ Mà riội đến chiến khu Việt Bác
Tôi xin giối thiệu Cụ Hồ Chí Minh, tức nhà yêu
nước Nguyễn Ái Quổc là người xứng đáng hơn ai hết,
đứng ra thành lập Chính phủ mới!
Tiếng nói của Bác Tôn có sức nặng đặc biệt, vì đó là
tiếng nói của đại diện Thành đồng Tổ quốc, của
những con người đang gan góc chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc. Đó cũng là tiếng nói phù hỢp với nguyện vọng
của 25 triệu đồng bào từ Nam chí Bắc. Tiếng nói ấy
đồng thời làm th ấ t bại hoàn toàn âm mưu của các lực
lượng phản động đang định tung ra danh sách một
Chính phủ do chúng thao túng.
Được sự nhất trí cử làm Chủ tịch Chính phủ Kháng
chiến và kiến quốc, Bác Hồ đọc báo cáo trước Quốc hội
về việc thành lập Chính phủ mới, giới thiệu thành
phần của Chính phủ, cô' vấn đoàn và kháng chiến uỷ
viên hội để ra mắt Quốc hội. Người đã đề nghị Quốc hội
chuẩn y lời thỉnh cầu của Chính phủ, mỏ rộng sô" lượng
đại biểu Quốc hội thêm 70 ngưòi cho Việt Nam Quôc
dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội.
Sau khi cùng các thành viên Chính phủ, cô" vấn
đoàn và kháng chiến uỷ viên hội tuyên thệ nhậm
chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời bế mạc kỳ họp thứ
nhất, Quốc hội khoá 1 nước Việt Nam Dân chủ Cộng
ỉioà và tuyên bô": ''Quốc hội họp lần này là Quốc hội
kháng chiến mà Chính phủ cử ra là Chính phủ Kháng
chiến. Tôi mong rằng Quốc hội họp lần sau sẽ là Quốc
hội thắng lợi, mà Chính phủ củng sẽ là Chính phủ
thắng lợi”.
Liên tiếp những ngày sau đó Ngưòi chủ trì các cuộc
họp của Hội đồng Chính phủ để bàn bạc các công việc
đốì nội, đối ngoại; đến ngày 15 và 16 Ngưòi tiếp phái
đoàn Quốc hội Việt Nam đưỢc cử đi Paris chào Quôc
117

BÁC HỒ VÀ BẤC T ô n - MỘT TÌHH BẠn CAO CẢ

hội Pháp. Ngưòi căn dặn: “P/ỉáỉ đoàn có ba việc phải
làm là đoàn kết, cẩn thận, làm cho người Pháp hiểu
ta đ ể gây tinh hữu nghị giữa hai dân tộc”.
Trong thòi gian Bác Hồ đi thăm chính thức nước
Pháp, Bác Tôn đảm nhiệm các công việc ở Ban thường
trực Quốc hội, Hội Liên Việt (lúc này Cụ Hội trưởng
Huỳnh Thúc Kháng đảm nhiệm chức vụ Quyền Chủ
tịch nưốc) và phụ trách Phòng Nam Bộ. Giúp việc Bác
Tôn ở phòng này có bà Nguyễn Thị Sóc (tức Hai Sóc).
Phòng có nhiệm vụ theo dõi cuộc chiến đấu của nhân
dân ta ở miền Nam, giúp Đảng và Chính phủ hoạch
định chiến lược, sách lược và chính sách kháng chiến
ở miền Nam. Ngoài nhiệm vụ bổ sung nhân lực cho
quân dân ta ỏ miền Nam, miền Bắc còn có nhiệm vụ
cung cấp vũ khí, đạn dược và của cải cho miền Nam.
Vừa ở Pháp về, giữa bao nhiêu công việc bộn bề, Bác
Hồ đã đến thăm Phòng Nam Bộ (lúc đó đặt d đưòng
Gia Định, tức phô'Trần N hật Duật, Hà Nội). Từ nhiều
tháng trước, Bác Hồ rấ t quan tâm đến công việc của
Phòng. Trong khi trao đổi công việc với Bác Tôn, Bác
Hồ đã nói đến những khó khăn do nền kinh tế kiệt
quệ của một đất nưóc vừa giành được chính quyền sau
gần một th ế kỷ bị đô hộ. Lấy tiền bạc ở đâu để có thể
giúp đõ thiết thực cho cuộc kháng chiến của quân dân
miền Nam. Theo sáng kiến của Bác Hồ, của Đảng và
Chính phủ, trong cả nước đã phát động Tuần lễ vàng.
Tuần lễ vàng đã đem lại một kết quả kỳ diệu là thu
h ú t được vàng dưối mọi hình thức từ trong nhân dân
về kho quỹ của Nhà nưóc. N hân dân quyên góp vào
Chính phủ hoa tai vàng, nh ẫn vàng, vòng tay, vòng cổ
vàng, cả những thỏi vàng, những lá vàng bao lâu nay
nằm sâu dưổi đáy hòm của các gia đình. Bác Hồ dặn
118

Từ Hà nội đến chiến khu Việt Bác
ông Nguyễn Lương Bằng, người phụ trách tài chính
của Đảng: '"Vàng, bạc được nhân dân ủng hộ, chú
phải hết sức tiết kiệm, sử dụng cho đúng. Chú báo cáo
với Thường vụ trích một phần cho người đem ra nước
ngoài mua một sô'máy vô tuyến điện phân cho các khu
đê bảo đảm liên lạc giữa Trung ương với các khu và
chuẩn bị kháng chiến, mua phụ tùng máy móc tốt cho
Đài Tiếng nói Việt Nam. Còn lại dùng một phần đúc
thành thỏi gửi cho Nam Bộ Kháng chiến”.
Một số vàng đã được đúc thành thỏi và gửi làm
nhiều lần vào Nam như lời căn dặn của Bác Hồ. Và
chính Bác Tôn là ngưòi phụ trách công việc đúc vàng.
Giúp Bác Tôn trong công việc này có bà Hai Sóc, hai
con gái của Bác là Tôn Thị Hạnh, Tôn Thị Nghiêm và
ngưòi con gái nuôi là Tôn Thị Tuyết Dung. Cơ quan
của Bác Tôn đóng ngay tại Hà Nội, được Trung ương
Đảng mà trực tiếp là Tổng Bí thư Trường Chinh luôn
quan tâm. Nhưng, trong suốt thời gian vận động
Tuần lễ vàng, Bác Tôn và các cộng sự thường xuyên
tiến hành các chuyên đi về các tỉnh lân cận, nhất là
Sơn Tây làm nhiệm vụ. Người ta còn nhớ mãi hình
ảnh Bác Tôn, tuổi gần 60, đạp chiếc xe cũ kỹ trên
đoạn đường dài ngót 50 cây số. Và cũng nhớ mãi
những đêm đông lạnh buốt, Bác chỉ đắp chiếc chăn
chiên không đủ ấm, nhất là vói một người đã quen
sông vối khí hậu miền Nam. Bữa ăn cũng rấ t đạm
bạc, thường chỉ có dưa cà, mắm muối, những bát canh
loãng, những bữa cdm độn khoai, sắn.®
(1) Dần theo Phạm Thành, sách “Tôn Đức Thắng - Người cộng sản m ẫu
m ực...”, tr. 415.
(2) Sách đã dẫn, tr. 419.

119

BÁC MỒ VÀ BÁC T ô n - MỘT TỈNH BẠN CAO CẢ

Sông và hoạt động ở miền Bắc, lòng Bác Tôn vẫn
luôn hướng về miền Nam th ân yêu. Bác rấ t cảm động
trước sự quan tâm và những tình cảm, lòi nói của Bác
Hồ dành cho miền Nam, ndi “đi trước về sau” trong
cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Người đã thay m ặt
Chính phủ trao tặng Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng
Tổ quốc”. Ngày 19-5, các đại biểu Nam Bộ tới chúc
mừng sinh nhật Bác, Bác nói;
Tôi xin cảm ơn các anh, các chị Nam Bộ đã đến
chúc thọ tôi. Thật ra, các báo ở đây làm to sinh nhật
tôi, chứ tuổi 56 chưa có gì đáng chúc thọ, cũng hãy còn
như thanh niên cả, mà trước các anh, các chị, trước
cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi th ậ t lấy làm xấu hổ rằng
trong Nam chưa được thái b ìn h /“
Cũng trong tìrửi cảm ấy, vừa từ Pháp về, ngày 23-101946, trong LM tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp
về, về vấn đề Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Mộí ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào
còn chịu khổ, là một ngày tồi ăn không ngon, ngủ
không yên”.
10 ngày sau, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I,
Ngưồi đưỢc Quốc hội tặng danh hiệu NGƯỜI CÔNG
DÂN THỨ NHÂT và đưỢc uỷ quyền thành lập Chính
phủ mới - “một Chính phủ tỏ rõ cái tinh thần quốc dân
liên hiệp”, “một Chính phủ chú trọng thực tế và sẽ nỗ lực
làm việc, đê tranh thủ quyền độc lập và thống nhất lãnh
thô cùng xây dưng một nước Việt Nam mới”.(2)
Cũng tại phiên họp bế mạc của kỳ họp này, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao bản Hiến pháp đầu
tiên của nưốc ta. 0 cương vị của một nhà lãnh đạo
(1) H ồ Chí M inh - Biên niên tiểu sử, T3, tr. 202-203.
(2) H ồ C hí M inh Toàn tập. T4, tr. 430-431.

120

Từ íià Nôi đến chiến khu Viêt Bác




Quốc hội, Bác Tôn thực sự vui mừng về bản Hiến
pháp này, bởi vì, như vị Chủ tịch nước đã khẳng
định: ''Hiến pháp đó tuyên bô' với th ế giới nước Việt
N am đã độc lập... đã có đủ mọi quyền tự do... Phụ nữ
Việt N am đã được đứng ngang hàng với đàn ông...
Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ
giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm
khiết, công binh của các giai cấp”}'^^ Phải chăng, đó là
một trong những mong ước lớn lao mà Nguyễn Ái
Quốc thể hiện trong ''Việt Nam yêu cầu cá”, viết từ
đầu thập kỷ 20 của th ế kỷ, đã thành hiện thực? Câu
ca ấy, bao người đã thuộc:
Bẩy xin hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền!
Để đạt đưỢc điều này, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh, Tôn Đức Thắng và biết bao chiến sĩ cách mạng
cùng các tầng lớp nhân dân đã hy sinh phấn đấu!
Bước vào tháng 11 rồi tháng 12, tình hình xung đột
do thực dân Pháp gây ra ở nhiều nơi, nhất là ở Hải
Phòng, Lạng Sơn ngày một trở nên gay gắt. Chủ tịch
Hồ Chí Minh viết Lời kêu gọi gửi Quổic hội và Đảng
Cộng sản Pháp, tô" cáo những hành động gây hấn của
binh lính Pháp ở Việt Nam, phá hoại Hiệp định Sơ bộ
6-3 và Tạm ưóc 14-9. Người kêu gọi:
“Ọuôc hội ưà Đảng Cộng sản Pháp hãy nghĩ đến lợi
quyền chung tối cao của hai dân tộc Pháp, Việt, hạ
lệnh cho đương cục Pháp khôi phục tinh trạng trước

ngày 20-11-1946, đ ể cùng Chính phủ Việt Nam thi
hành Tạm ước, đ ể xây đắp sự cộng tác Pháp - Việt
thân thiện và lâu dài”.
(1) H ô Chì Minh Toàn tập. T4, tr. 440.
121

BÁC HÒ VÀ BẤC T ô rt - MỘT TÌriH B Ạ n CAO CẢ

Trong các cuộc tiếp xúc vối các nhà ngoại giao và
báo chí nưôc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu cao
thiện chí hoà bình, mong rằng “cả Pháp lẫn nước Việt
Nam đều không thể phí sức gây ra một cuộc chiến
tran h khốc hại...”. Sau rấ t nhiều nỗ lực, tình hình vẫn
trở nên căng thẳng hơn. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh
giao nhiệm vụ cho ông Nguyễn Lưdng Bằng lên Việt
Bắc chuẩn bị mọi m ặt cho việc di chuyển cd quan lãnh
đạo Đảng và Nhà nước khi cần thiết. Và ngày 19
tháng 12, tại gác hai trong một ngôi nhà làng Vạn
Phúc, Hà Đông Ngưòi viết Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến, trong đó nêu rõ:
''Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân
nhượng. N hưng chúng ta càng nhân nhượng, thực
dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước
ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả,
chứ nhất định không chịu m ất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!...
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng
cương quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!...”
-k *
Chừng một tuần lễ sau, một cuộc họp Hội đồng
Chính phủ mở rộng đưỢc triệu tập với sự chủ trì của
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ban thường trực Quốc hội và
Uỷ ban kiến thiết cũng có mặt. Đại diện cho Ban
thường trực Quốc hội gồm: Cụ Trưởng ban Bùi Bằng
Đoàn, Cụ Linh mục Phạm Bá Trực, Phó Trưởng ban và
Cụ Tôn Đức Thắng. Cuộc họp diễn ra tại một khu vực
122

Từ Hà nội đến chiến khu Việt Bác
bí m ật của tỉnh Hà Đông. Có thể hình dung đôi nét qua
Hồi ký của Cố Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến:
''Sau khi nghe báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng, ai nấy đều tán
thành kháng chiến đến cùng đê giành lại nền độc lập
hoàn toàn cho dân tộc. Trong một gian phòng kín, bốn
bề im lặng, dưới ánh sáng nhỏ của ngọn đèn dầu, sau
lời tuyên bố quyết chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất
cả nắm tay giơ lên, biểu dương tất cả ý chí của một
d ân tộc...

Cuộc hội nghị đến 1 giờ sáng. Đêm nay, lửa cháy
rực trời Hà Nội...”
Từ đầu năm 1947, Bác Hồ và Thưòng vụ Trung
ương đã quyết định chọn Việt Bắc làm căn cứ địa
kháng chiến.
Đây là lần đầu Bác Tôn lên Việt Bắc, nhưng từ lâu
rồi, Người biết đó là quê hương của cách mạng. Lần
này, với chuyên đi gian khổ trong cuộc trường kỳ
kháng chiến, Bác càng thấm thìa với lồi khẳng định
của Bác Hồ trong Thư gửi đổng bào các tỉnh Việt Bắc:
''Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thi
kháng chiến sẽ do Việt Bác mà thắng lợi”.
Ông Trần Quốc Hương, người giúp việc đắc lực
Tổng Bí thư Trưòng Chinh, sau này là Bí thư Trung
ương Đảng, Trưỏng ban Nội chính trung ương, kể:
“Sau Tết Đinh Hợi (1947), Bác Hồ và Thưòng vụ
trung ương vẫn còn ở xã cần Kiệm, Thạch Thất (Sơn
Tây). Ngày 2-2-1947, họp xong Hội đồng Chính phủ,
Bác Hồ chuyển đến khu Chùa Một Mái (Sài Sơn, Quốc
Oai, Sơn Tây). Tại đây, Bác Hồ đã chỉ thị cho Bộ Tổng
chỉ huy hạ lệnh rút Trung đoàn Thủ đô chiến đấu
trong Liên khu I (Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ngày nay)
123

BÁC HỒ VÀ BẤC T ổ n - MỢr TỈDH BẠH CAO CẢ

vượt vòng vây địch ra ngoài vùng tự do để bảo toàn và
củng cố đội ngũ, sẵn sàng chiến đâ'u lâu dài.
Đầu tháng 3-1947, khi quân Pháp có thêm quân
tiếp viện, đánh nốhg ra ngoại thành và các vùng phụ
cận, xe tăng địch có lúc đã xuất hiện ở bên kia bò đê
sông Đáy, Bác Hồ và Thường vụ trung ương mới quyết
định di chuyển lên Việt Bắc.
Chiếc xe “pho” cũ kỹ chạy rất chậm vì trên đưòng có
rấ t đông đồng bào gồng gánh, kéo nhau đi tản cư.
Ngưòi lái xe vẫn là anh Nền (tức Ngọc). Nhưng đi được
vài cây số thì xe nô lốp, Bác Hồ và mấy đồng chí cận vệ
phải đi tiếp bằng xe ngựa chỏ thuê của đồng bào. Để
bảo đảm bí mật, Bác quàng khăn che kín râu, tay xách
nải chuôi như một người bình thường đi tản cư. Đến
bến phà Trung Hà thì mới có ô tô để Bác qua sông. Bác
Hồ đã dừng chân nghỉ lại ở đồn điền của ông Ba Triệu
(Hưng Hoá, Phú Thọ) mà xa xa, bên kia sông là bóng
núi Hy Cương với Đền Hùng vùng Đất Tổ”.
Cũng theo lời kể của ông Hương, với sự dẫn đường
và bảo vệ của đội công tác do bà Lê Thị Lịch và ông
Trần Triệu phụ trách, Bác Tôn Đức Thắng, Tổng Bí
thư Trường Chinh và các ông Lê Văn Lưdng, Lê Đức
Thọ đã di chuyển theo hưống mà Bác Hồ đã đi qua. Bộ
phận gọn nhẹ của Xưởng in Tiến bộ theo sá t sự di
chuyển của Thường vụ trung ương, đóng ở Trung Giáp
(Phú Thọ) khẩn trướng in báo Sự thật số 69 ra ngày 43-1947, số báo xuất bản đầu tiên trong kháng chiến.
Trong dòng người các cơ quan của Đảng và Chính
phủ đi lẫn với nhân dân tả n cư lên Phú Thọ và Tuyên
Quang, ông Hương cũng gặp bà Hai Sóc và hai người
con gái của Bác Tôn (Hạnh và Nghiêm), lúc này đã trở
thành cán bộ bộ phận điện đài của Trung ương sau
khi học một khoá đánh “mã điện” (morse) ở H à Nội.
124

Từ Hà nôi đến chiến khu Viêt Bác
Bác Hồ và Thưòng vụ trung ương chỉ nghỉ lại đồn
điền của ông Ba Triệu một ngày rồi chuyển ngay đến
xóm Đồi, xã Cổ Tiết, Tam Nông, Phú Thọ. Sau chặng
dừng chân này là Chu Hoá, vẫn theo quốc lộ 2. Đến
30-3 lại ròi đến xã Yên Kiện, Đoan Hùng (Phú Thọ).
Ngày 2-4-1947, Bác Hồ chuyển đến làng xảo, thuộc
châu Sơn Dương, từ đây mang tên mối là châu Tự Do
thuộc đất Tuyên Quang.
Cùng thời gian này, vẫn theo lòi kể của ông Trần
Quốc Hương, Tổng Bí thư Trưòng Chinh, Văn phòng
Thường vụ trung ương và các bộ phận gọn nhẹ như báo
Sự thật, điện đài và anh em trong Ban GLA'“ từ Tuyên
Quang qua đèo Kliế đến Văn Lãng ở chân núi Hồng, rồi
ngược lên Phú Minh, Quảng Nạp vào sâu trong Điềm
Mặc bấy giờ thuộc châu Định Hoá, Thái Nguyên.
ATK Tân Trào (tên gốc là Kim Long) và Chiêm Hoá
là cán cứ của các cơ quan Chính phủ, còn ATK Định
Hoá là căn cứ của Thưồng vụ trung ương, Tổng bộ Việt
Minh, Trung ương Hội Liên Việt, Bộ Quốc phòng và Bộ
Tổng chỉ huy các lực lượng bộ đội, dân quân và tự vệ.
Ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ, cho biết: khi mói lên
Việt Bắc, Bác Hồ ở tạm nhà dân. Chỉ ít ngày sau, Bác và
những người giúp việc - trong đó có cảnh vệ, văn phòng,
thư ký, liên lạc, hậu cần, được Bác đặt tên là Tniờng-KỳKháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi - làm lán ở riêng.
Đó là một chiếc lán mái lợp lá cọ rất xiiửi xắn, chung
quanh có một mảnh đất khá rộng. Bác cho tìm ít hạt
giống bí đỏ để trồng, nhií thẻ vừa đỡ lãng phí đất, vừa
làm đẹp cảnh nhà. Sau những giờ làm việc căng thẳng,
Bác thường ra vườn chăm sóc mấy gốc bí...
(1) Ban công tác đặc biệt của Trung ương: Ban Giao thông, Liên lạc và
An toàn khu, do ông Nguyễn Lương Bằng phụ trách.

125

BẤC HÒ VÀ BÁC TÔN - MỘT TÌMH BẠH CAO CẢ

Nhưng Bác không ở một nơi cô" định. Chỉ có một nơi
Bác ở lâu là chân núi Hồng mà Người đã miêu tả
trong thơ:
Trên có núi, dưới có sông
Có đất ta trồng, có bãi ta chơi
Tiện đường sang Bộ tổng
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng ráo, kín mái
Gần dân, không gần đường
Bác Tôn Đức Thắng - theo lời ông T rần Quốc
Hương kể - từ những ngày đầu lên Việt Bắc, rấ t ham
sang cơ quan Văn phòng Tổng Bí thư đọc sách chữ
Hán. Có một thời gian, Bác Tôn đã dịch đưỢc mấy
chục trang trong tác phẩm Bàn về giai đoạn mới của
Mao Trạch Đông. Hồi này, ông Lê Văn Giạng, một thư
ký của Tổng Bí thư, cũng đang cặm cụi dịch cuốn
Đánh lâu dài của Mao Trạch Đông. Tuy đường sá xa
xôi, đi lại vất vả, nhưng Văn phòng Tổng Bí thư đã cố
gắng mang theo một sô" lớn sách quý hiếm để làm việc,
trong đó là các tác phẩm kinh điển của Mác, Ăngghen,
Lênin, các tác phẩm về chiến lược quân sự hoặc tác
phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung
Quốic... Bác Tôn nói với mọi người:
Công việc nghiên cứu lý luận chiến tran h lúc này
rấ t cần thiết. Vì chúng ta muốn đánh thắng kẻ thù
xâm lươc là thưc dân phản đông Pháp, tníớc hết phải
học tập ông cha ta như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi,
Nguyễn Trãi, Quang Trung... xưa kia là một nưỏc nhỏ
đã đánh thắng được nưốc lốn kéo quân đến xâm lược
nưốc ta. Mặt khác, chúng ta cũng phải biết vận dụng
một cách sáng tạo kinh nghiệm của nưóc bạn Trung
126

Từ Hà riội đến chiến khu Việt Bác
Quốc trong chiến tranh chống N hật vào hoàn cảnh
thực tế của Việt Nam chúng ta.''*
Công việc ở chiến khu Việt Bắc đang dần đi vào ổn
định thì một tin đau buồn đã đến: cụ Huỳnh Thúc
Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Hội trưởng Hội Liên
Việt, ngưòi đưỢc Bác Hồ cử đi kinh lý miền Trung và
miền Nam Trung Bộ vói danh nghĩa đại diện Chính
phủ trung ương từ trước ngày kháng chiến toàn quốc
bùng nổ, đã lâm bệnh và qua đòi ngày 23-4-1947 ở
Quảng Ngãi! Trước khi qua đời, cụ đọc cho ngưòi thư
ký riêng viết bức điện gửi Hồ Chủ tịch:
'''Kính gửi Hồ Chủ tịch!
Tôi bị bệnh nặng không qua khỏi. Bốn mươi năm
ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ
dân chủ đã thực hiện, th ế là tôi chết hả, chỉ tiếc là
không đưỢc gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu
đê diu dắt quốc dân trên đường vinh quang hạnh
phúc. Chào vĩnh quyếtr
Được tin này, Bác Tôn cũng rấ t thương tiếc cụ
Huỳnh, “một người học hành rất rộng, chí khí rấ t bền,
đạo đức rấ t cao” như trong thư của Bác Hồ gửi đồng
bào toàn quốc ngày 29-4-1947. Cụ Huỳnh từ H uế ra
Hà Nội nhận công tác theo lời mời của Bác Hồ vào
tháng Giêng 1946, tức là chừng một tháng trước khi
Bác Tôn có m ặt ở Hà Nội. Tuy trưốc đây không cùng
chính kiến, nhưng Bác Hồ, Bác Tôn và cụ Huỳnh đều
là những nhà yêu nước, đã gặp nhau, hiểu nhau và
cảm phục nhau, hỢp tác bên nhau vô cùng kháng khít.
Cụ Huỳnh đã hoàn thành xuất sắc cương vỊ quyền
Chủ tịch nước khi Bác Hồ sang Pháp. Bác Tôn đã đảm
nhận công việc chính ở Hội Liên Việt và Quốc hội,
(1) “Tôn Đức Thắng - người cộng sản mẫu mực...", tr. 91.

127

BÁC HÒ VÀ BÁC T ô n - MỘT TÌnH BẠn CAO CẢ

thường xuyên gặp gõ, trao đổi công việc vối cụ Huỳnh.
Cụ Huỳnh từng bị đày ra Côn Đảo trước Bác Tôn và
cũng như Bác Tôn, ''mười mấy năm trường, gian nan
cực khổ, nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi
của Cụ chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết”.
ở Bộ Nội vụ còn có một tin buồn nữa, ông Hoàng Hữu
Nam, thứ trưỏng, trong lúc tắm sông ỏ Tuyên Quang
bị chuột rú t và nưốc xoáy cuốh trôi.
Trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 30-4,
theo N hật ký của cố Bộ trưởng Lê Văn Hiến, Chủ tịch
Hồ Chí M inh đã nói vắn tắ t tiểu sử cụ Huỳnh Thúc
Kháng và ông Hoàng Hữu Nam. Sau khi tấ t cả các
th àn h viên Chính phủ đứng mặc niệm một phút, “mọi
ngưòi đều cảm động trước cái chết của cụ Huỳnh và
anh Nam trong lúc quốc dân đang cần nhân tài để
đảm đương việc nước”, “Cụ Chủ tịch nói với giọng đau
đớn như Cụ đã m ất một ngưòi anh và một ngưòi con”.
Tại cuộc họp này, Hội đồng Chính phủ nhất trí tán
th àn h việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cử Bác Tôn đảm
nhiệm Bộ trưởng và ông T rần Duy Hưng giữ chức thứ
trưởng Bộ Nội vụ.
Như vậy là thòi gian này, Bác Tôn cùng một lúc giữ
ba trọng trách ỗ Quốc hội, Hội Liên Việt và Hội đồng
Chính phủ.
Bôn tháng sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh
số 234-SL/M ngày 4-8-1947 bổ nhiệm Bác Tôn,
nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ, giữ chức Thanh tra đặc
biệt toàn quốc.
Và khoảng bốn tháng sau nữa, sau chiến thắng Việt
Bắc thu đông 1947, tại Hội nghị trung ương mở rộng do
Thưòng vụ trung ương triệu tập trong ba ngày 15, 16,
17-1-1948, Bác Tôn đưỢc bầu bổ sung vào Ban Chấp
128

Từ Hà nội đến chiến khu Việt Bác
hành Trung ương Đảng cùng ba người nữa là Phạm
Văn Đồng, Lê Văn Lương và Trần Hữu Dực. Cũng tại
Hội nghị này, theo sáng kiến của Bác Hồ, Ban Chấp
hành Trung ưdng Đảng ra chỉ thị phát động phong trào
thi đua ái quốc để động viên mọi lực lượng phục vụ
công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Ngày 11-6-1948,
nhân kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến toàn quốc, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi, chính thức phát động
cuộc vận động thi đua ái quốc. Người chỉ rõ:
“Mục đích thi đua ái quốc là:
Diệt giặc đói
Diệt giặc dốt
Diệt giặc ngoại xâm
Cách làm là dựa vào:
Lực lượng của dân
Tinh thần của dân
Đ ể gây hạnh phúc cho dân'
Ngay sau Hội nghị trung ưdng mở rộng tháng 1-1948
nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung
ương đã quyết định cử Bác Tôn làm Trưởng ban Trung
ương vận động thi đua ái quốc, ông Hoàng Đạo Thuý,
nguyên Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc đầu tiên của
quân đội ta, được cử làm Tổng Thư ký của Ban. Một
hôm, ông Thuý nhận được bức thư của Hồ Chủ tịch:
''Gửi ông Hoàng Đạo Thuý
Lão đồng chí,
Nay có một việc rất quan trọng, cần một người có
sáng kiến, nhiều kinh nghiệm và tính xốc vác. Tức là
làm Tổng B í thư cho Ban thi đua Trung ương.
Tôi muốn nhờ đồng chí phụ trách việc ấy, chắc
đồng chí sẽ không từ chối.
129

BẤC HỒ VÀ BÁC T ô n - MỘT TÌn H BẠn CAO CẢ

vẫn biết bên Quốc phòng và Tổng chỉ huy củng cần
đồng chí giúp. Song, nếu đồng chí bằng lòng: thi tôi sẽ
tim cách thu xếp.
Chào thân ái và quyết thắng.
Tháng 6-1948".
Sau đó ít lâu, Bác Hồ gửi tặng ông Thuý .Tiột chiếc
quạt giấy do nhân dân thôn Canh Hoạch, huyện
Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ kính tặng Bác. Bác căn
dặn ông Thuý:
Chú dùng cái quạt này đ ể quạt cho phong trào
m ạnh lên.
★*
Theo lời kể của ông Trần Quốc Hương, từ ngày 2011-1947, khi cánh quân địch từ Bắc Cạn và Chợ Mới
đi tắ t qua đường rừng đến Quán Vuông rồi tiến xuổng
Quảng Nạp thì Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tiiường vụ
trung ương đến ở và làm việc ở Điềm Mặc, Phú Đình,
huyện Định Hoá. 0 Tỉn Keo có một chiếc lán khá
rộng. Ngoài cửa lán là một cây râm bụt mà Bác Hồ đã
trồng khi Ngưòi mổi tới đây ở. Sau lán, có rr.ột đường
hầm đào xuyên qua đồi Tỉn Keo, thông ra lối đi lên
đèo De. Bác Hồ chỉ ở Khuôn T át và Tỉn Keo chừng
mười ngày rồi lại chuyển đến nơi ở mới là ỉíhuôn Đào
(thuộc xã Trung Yên, châu Sơn Dương, Tuyên
Quang). Sang đầu tháng 12-1947, Bác Hồ chayển đến
Khuổi Tấu (xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn, Tuyên
Quang) tiếp đó là Bản Ca (Bình Trung, chợ Đồn, Bắc
Cạn). Sang đầu năm mới Mậu Tý (1948) Bác Hồ lại
trỏ về Khuôn Tát.
130

Từ lia riội đến cliiến khu Việt Bác
Trong tháng 11-1947, Bác Hồ có viết một lá thư
đài, đề gửi “Cụ Tôn Đức Thắng, Trưởng ban trung
ương vận động thi đua ái quôc” để trao đổi về công tác
huấn luyện cán bộ, về cách huấn luyện, về việc khen
thưỏng và các danh hiệu thi đua. Hồi này Bác Tôn
thường ở Bản Bắc và Điềm Mặc. Nhận bức thư của
Bác Hồ, Bác Tôn cùng ông Hoàng Đạo Thuý nghiên
cứu rấ t kỹ vể từng điểm Bác Hồ nêu, chứng tỏ Bác Hồ
hết sức quan tâm công tác thi đua ái quốc, mặc dù
Người còn bận nhiều công việc trọng đại khác. Đằng
sau những số' liệu, chi tiết trong thư, người đọc còn
cảm nhận tình cảm, tấm lòng trân trọng, thân tình
của Bác Hồ đối với Bác Tôn. Kèm theo bức thư, Người
vẽ sơ đồ một huyện vối 64 làng làm ví dụ để minh hoạ
cụ thê các bước huấn luyện theo gợi ý của Người trong
thư: “Thưa Cụ, về phong trào thi đua ái quốc, tôi rất
đồng ý với Cụ là cần phải có cán bộ được huấn luyện
hăn hoi (...)
Khu X đã huấn luyện được 34 cán bộ trong 30 ngày.
R ất tốt, nhưng họ huấn luyện những gi, học viên là ai?
Về khoản chi phí, kỳ trước Ban Trung ương đã lãnh
một sô, và đã phát cho mồi khu một lần. Khoản ấy đã
chi tiêu th ế nào và nay Ban Trung ương cần bao
nhiêu, trong thơ Cụ chưa thấy nói rõ.
Theo thiển ý của tôi, chúng ta rất cần huấn luyện
cán hộ, mủ huấn ỉiiỵện cán bộ xã trước hết. Rồi lựa
chọn những cán hộ xã có năng lực nhất, đưa dần lên
làm cán bộ huyện, tỉnh, khu.
Đây là vài ý kiến của tồi về cách huấn luyện:
- Cần có một chương trình thiết thực.
- Cần có giáo viên có kinh nghiệm.
131

BÁC HỒ VÀ BÁC T ô n - MỘT TÌHH BẠĨÌ CAO CẢ

- Cán bộ chuyên nghiệp của Ban trung ương, lúc
đầu chỉ mươi người là đủ.
- Thời giờ huấn luyện, độ 10 ngày là đủ. Sau tiếp
tục mở ban khác.
- Vừa học uừa làm.
- Mỗi ban huấn luyện phải có cán bộ những làng
lân cận đến dự (...)
Về việc khen thưởng, tôi có vài ý kiến sơ lược như
sau:
- Mỗi làng, mỗi nhà máy, mỗi ngành, mỗi huyện sẽ
cử ra người khá nhất, sau một cuộc kết thúc thi đua
sáu tháng. Những người làm đưỢc kết quả đặc biệt,
th ì khen thường ngay. N hững người này sẽ đưỢc bằng
khen, gọi là Chiến sĩ thi đua.
Mỗi tỉnh, mỗi khu, mỗi ngành trong toàn khu hoặc
toàn quốc cử những người giỏi nhất. N hững người này
sẽ được bằng khen, gọi là A nh hùng thi đu a do Chính
p h ủ cấp (...)
... Thiển ý như thế, xin Cụ và Ban trung ương xét
bàn kỹ.
K ính chúc Cụ mạnh khoẻ và gửi Cụ lời chào thân
ái và quyết thắng.
HỒ Chí M inh"
Đúng như lòi Đại tưống Võ Nguyên Giáp, phong
trào thi đua ái quốc là một sáng kiến vĩ đại của Chủ
tịch Hồ Chí Minh... Cũng như nhiều phong trào do
Người phát động, thi đua ái quốc bắt đầu từ vài câu
nói, ít dòng viết rấ t giản dị của Người.“'

(1) Võ Nguyên Giáp - “Chiến đấu trong vòng vây”, Nxb Quân đội Nhân
dân - 2001, tr. 268.

132

HAI CÂY ĐẠI THỤ
CỦA RÙNG C â y đ ạ i ĐOẰN

kết

^ăm 1948 quả một năm có nhiều sự kiện trong
cuộc đời Bác Tôn. Bác vẫn gầy, nhưng rấ t vui
vì bưốc sang tuổi 60, Bác vẫn mạnh khoẻ,
ngày đêm gánh vác những trọng trách mà Bác Hồ và
Trung ương giao phó. Ngày 17-1, Bác Tôn và các ông
Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Trần Hữu Dực được
bầu bổ sung vào Ban Châ'p hành Trung ương Đảng.
Bác rất vui vì mùa xuân qua, đến chúc Tết Bác Hồ,
Bác đưỢc Bác Hồ tặng một cái tên mới: Tôn Tất
Thắng. Chỉ đổi có một tên đệm, nhưng Bác Hồ gửi
gắm vào người đồng chí; ngưòi bạn yêu quý của mình
})iết bao niềm tin tưởng. Giữa những người đồng chí
trong Trung ương Đảng và Chính phủ mà Bác Hồ là
hình ảnh trung tâm - Bác Tôn cảm thây mình trẻ lại.
Đằng sau bộ quần áo bà ba nâu giản dị, nét m ặt đôn
hậu, giọng nói trầm âm, mái tóc và chòm râu bạc
trang là một trái tim nóng bỏng, ngày đêm đập cho
cách mạng. Bác Tôn đã sông trong tình đồng chí ấm
áp, trong những đêm lửa trại, những cuộc gặp gỡ lý
thú, với những tiết mục văn nghệ “cây nhà lá vườn”
do Bác Hồ chủ trì. Bác Hồ và Bác Tôn dành cho các
bậc nhân sĩ, trí thức, từ các cụ Bùi Bằng Đoàn, Phan
Kế Toại, Vi Văn Định đến những anh em như Phan

N

133

BÁC HỒ VÀ BÁC Tốn - M ợ r T irtH B Ạ n CAO CA

Anh, Tạ Quang Bửu, Đặng Phúc Thông... những tình
cảm bao la và ý chí “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
- Thành công, thcinh còng, đại thành công”. Bác Tôn
từng nghe thơ Bác Hồ gửi Bộ trưỏng Phan Anh, tặng
Trưởng ban Thường trực Quôc hội Bùi Bằng Đoàn,
mừng Thứ trưởng ĐặnỉỊ Phúc Thông từ Hà Nội vượt
bao gian khó để về bên Bác Hồ, vói cơ quan đầu não
của kháng chiến. Bác Tôn vui được đón những người
đại diộn quân dân miền Nam ra thăm Bác Hồ và
Trung ưđng do Khu trưởng líliu VIII Nam Bộ Trần
Văn Trà dẫn đầu để báo cáo tình hình kháng chiến
của nhân dân Nam Bộ. Được Bác Hồ ân cần thăm hỏi,
lại được Bác Hồ bảo: “Các cháu đến chào và gặp Bác
Hai của các cháu đi”. Những người con của Nam Bộ
xúm xít vây quanh Bác Tôn, dưới ánh mắt vui sưỏng
của Bác Hồ. Sau này, Thượng tướng Trần Văn Trà
nhớ lại: Gặp Bác Tôn là một niềm vui mừng khôn xiết,
hết sức cảm động. “Bác Tôn gặp lại chúng tôi như gặp
lại những người đồng chí, đồng bào thân yêu từ Nam
Bộ ra, với bao nhiêu mừng rõ trong lòng mỗi người
chúng tôi không sao kể hết”. Bác Tôn nói với ông Trà:
“Mặc dầu tham gia vào cuộc lãnh đạo chung ở ngoài
này - một nhiệm ưụ rất lớn - nhưng lúc nào tôi cũng
nghĩ tới đồng bào N am Bộ, lúc nào củng nghĩ tới chiến
trường N am Bộ là nơi đồng chí, đồng bào đương
kháng chiến gian lao. Tôi đã nhiều lần đề nghi với
Bác Hồ, với Trung ương cho trở về chiến trường đ ể
cùng với đồng chí, đồng bào N am Bộ tham gia kháng
chiến, nhưng Bác Hồ chưa đồng ý.”“'
(1) Sách đã dẫn, tr. 132.

134

H ai c â y đ ạ i th ụ c ú a I ừncỊ c ã y đ ạ i đ o à n k ế t

Ông Trà nói: “Chúng tôi hiểu, Bác Tôn là ngưòi
tiêu biểu nhất, người cou trung thành nhất của đồng
bào và nhân dân Nam Bộ, một người thông thạo về
mọi m ặt của Nam Bộ mà đậc biệt là thông thạo, hiếu
biết về đồng bào Nam Bộ rất nhiều. Cho nên, Bác ở lại
Trung ương là một điều vò cùng quan trọng. Trong
lòng Bác thì lúc nào cũng mong được về trực tiếp
chiến đấu cùng vói đồng chí, đồng bào Nam Bộ. Chưa
đưỢc về ngay, buộc phai o lại theo yêu cầu của Bác Hồ
và Trung ương chắc Bủc Tôn trăn trở lắm. Bác nói
rằng: Đề nghị đnnư ch i, đề nghị đoàn về báo cáo lại với
X ứ uỷ và với đồng hào Nam Bộ rằng, Tôn Đức Thắng
là người con của nhăn dân Nam Bộ, lúc nào củng nghĩ
tới đồng bào Nam Bộ, nghĩ tới. xứ sở mà m ình đã sinh
ra và đã từng hoạt động'.
Ông Trà và các thành viên khác nghe Bác Tôn nói,
đều nghĩ; “Lời nói ấy của Bác Tôn đã làm chúng tôi vô
cùng xúc độnp khi nghĩ rằng, một đồng chí lốn tuổi
từng hoạt động lâu năm, trải qua bao gian khổ, tù đày
th ế nhưng nặng lòng thường nhớ quê hương và có ý
t,hức tổ chức kỷ luật cao đã khuyên khích cho chúng
tôi rất nhiều. Có thể nói rằng, chúng tôi đã khắc phục
được gian khổ
Triíđng Sơn trở về, đi tối nơi về tối
chôn đê rồi háng hái 1ham gia tích cực vào cuộc kháng
chiến có sự động viên lốn cua Bác Tôn”“'
Ông Nguyễn Văn Hoàtih, nguyên Phó Cục trưởng
Cục quản trị T.TS, Ban Tài chính quản trị Trung
ưdng, ngiídi CỈKỌC
việc clio đ o àn , đ ã kê lại cuộc
vượt Triíòng S('Ỉ1 tư i)(ing Tháp Mười đến Việt Bắc
ngót 6 tháng U'0 Ì bail- dôi chân, nhiều lần băng qua

các đồn boi địch, nhưng ai nấy đều quên hết mọi cực
(1) Sách đà dẫn, ír" 13.';,
13 5

BÁC HỒ VÀ BÁC T ô n - MỘT TÌriH BẠPi CAO CẢ

nhọc, nguy hiểm, chỉ thấy vô cùng hào hứng mà sức
lực tiếp cho họ “chính là tinh cảm mong mỏi được gặp
Bác Hồ, Bác Tôn và các nhà lãnh đạo khác của Đảng
và N hà nước”, ô n g Hoành nói; “Thật là vò cùng sung
sướng và hạnh phúc, đoàn chúng tôi được gặp Bác Hồ
và gặp cả Bác Tôn, một cuộc gặp có một không hai, và
chúng tôi nhớ mãi suốt
Qua nhiều bài viết, bài nói của Bác Hồ, ai cũng cảm
nhận tấm lòng yêu mến sâu sắc của Người đổì với
Nam Bộ nói riêng, với miền Nam nói chung. Và,
Người nhìn ở Bác Tôn cả một hình ảnh chung đúc,
một biểu tượng sáng ngờ...
 
Gửi ý kiến