Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

NHỮNG CÂU CHUYỆN HỒI HỘP NHẤT

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:14' 05-02-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Những câu chuyện hồi hộp nhất
Paul Jennings
Chia sẻ Ebook: http://www.downloadsach.com
Follow us on Facebook:
https://www.facebook.com/caphebuoitoi

TABLE OF CONTENTS
Cụ Ben Byron không có áo
Bộ xương người trong nhà xí
Ngọn hải đăng
Bên trong, bên ngoài
Con chim ma
Mười hai bông hồng nở thắm
Liên minh ma quỷ
Những bộ quần áo ma thuật
Món quà của ông tôi
Bộ mặt của lương tâm
Những cái bóng
Lời khuyên dành cho ma quỷ
Bản sao
Lý do hành nghề
Người dơi
Bệ xí bọc nhung

Những con cóc nhồi
Con sò có mắt
Điện thoại di động
Con ma không quần áo
[1]
[2]
[3]
[4]
[5]
[6]
[7]
[8]
[9]
[10]
[11]
[12]
[13]

Mục Lục
Cụ Ben Byron không có áo

Bộ xương người trong nhà xí

Ngọn hải đăng

Bên trong, bên ngoài

Con chim ma

Mười hai bông hồng nở thắm

Liên minh ma quỷ

Những bộ quần áo ma thuật

Món quà của ông tôi

Bộ mặt của lương tâm

Những cái bóng

Lời khuyên dành cho ma quỷ

Bản sao

Lý do hành nghề

Người dơi

Bệ xí bọc nhung

Những con cóc nhồi

Con sò có mắt

Điện thoại di động

Con ma không quần áo



Hiện tượng Paul Jennings bắt đầu với tác phẩm
Không thật! xuất bản năm 1985. Kể từ đó, hơn 7,5
triệu cuốn sách đã được giới thiệu với độc giả trên
toàn thế giới.
Tại Việt Nam, từ năm 2000 Nhà xuất bản Kim
Đồng bắt đầu giới thiệu với bạn đọc nhỏ tuổi những
câu chuyện hấp dẫn của Paul Jenning với tập Chuyện
bí ẩn thường ngày ( tên do NXB tự đặt) gồm 16
truyện, qua bản dịch của dịch giả Nguyễn Xuân Hoài.
Tập truyện nhanh chóng được các bạn nhỏ yêu thích
bởi các tình tiết hấp dẫn mà hài hước, hồi hộp mà lí
thú. Tập truyện đã được in trong Tủ sách vàng- tủ
sách bao gồm những tác phẩm nổi tiếng, có giá trị văn
học, nghệ thuật và giáo dục của Nhà xuất bản Kim
Đồng.

Chuyện bí ẩn thường ngày được viết theo lối giả
tưởng. Tất cả những câu chuyện đều diễn ra trong
cuộc sống hiện tại mà dường như chỉ có thể xảy ra ở
thế giới khác. Các nhân vật của chúng ta sống, học tập,

trò chuyện rất bình thường, nhưng bất ngờ họ có,
hoặc họ gặp những điều không thể tin nổi: Một chú bé
có hàm răng phát sáng trong đêm tối. Một giống táo
có vị cá. Một loại nước mà nếu bạn uống vào có thể
đọc được suy nghĩ của người khác. Một thầy giáo lúc
nào cũng cau có, nghiêm khắc bởi nụ cười của thầy bị
giam giữ ở đâu đó. Một cậu bé không được bạn bè ưa
thích, không được ai tặng một nụ hôn thân thiện, cho
đến một ngày cậu ta được cho một thỏi sáp môi…
Paul Jennings đã viết hơn một trăm cuốn truyện
và đã hơn 40 lần được trẻ em Australia bình chọn là
“tác giả được yêu thích”. Ông cũng giành được tất cả
các loại giải thưởng do độc giả nhí bình chọn. Phim
truyền hình nhiều tập đắt khách Chuyện nhà Twist
và Phát điên lên được sản xuất dựa trên việc chọn lọc
các truyện ngắn từ nhiều tuyển tập truyện ngắn nổi
tiếng của ông, ví dụ như Vô hình- tuyển tập đoạt giải
thưởng văn học Queensland Premie dành cho cuốn
sách viết cho trẻ em hay nhất vào năm 1999.
Năm 1995, Paul Jennings được bầu là thành viên
Order of Australia để phục vụ văn học thiếu nhi và
đến năm 2001, ông được trao tặng huân chương uy
tín Dromkeen. Những tác phẩm gần đây nhất của ông

gồm Những câu chuyện hài hước nhất, Những câu
chuyện hồi hộp nhất…( trong bộ Chuyện bí ẩn
thường ngày) đã bán được hơn 30.000 bản. Cuốn
Con bọ đọc…và làm thế nào để giúp con bạn bắt nó
(2003), tuyển tập truyện ngắn Những đứa trẻ tinh
quái dành cho độc giả nhỏ tuổi và cuốn tiểu thuyết
đầu tiên của ông Hedley Hopkins đã thách thức như
thế nào… đã lọt vào vòng cuối của giải thưởng hàng
năm do Hội đồng Úc trao tặng cho những tác phẩm
văn học thiếu nhi xuất sắc.
Năm 2009, Nhà xuất bản Kim Đồng cho ra mắt
bạn đọc 4 tập Chuyện bí ẩn thường ngày của Paul
Jennings với các tiêu đề: Những câu chuyện kì lạ
nhất ( Weirdest Stories ); Những câu chuyện hài
hước nhất ( Funniest Stories); Những chuyện lừa
ngoạn mục nhất ( Trickiest Stories); Những câu
chuyện hồi hộp nhất ( Spookiest Stories). Hy vọng đó
sẽ là những tập sách gối đầu giường cho bạn đọc sau
những giờ phút học tập và làm việc. Các bạn sẽ được
đắm chìm trong trí tưởng tượng phong phú, kì diệu
của Paul Jennings – nhà văn nổi tiếng Australia.

NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỒNG



1
Thầy Bush đảo mắt nhìn cả cả lớp rồi nói:
- Brian Bell, em là người đầu tiên được kể về lai
lịch của mình.
Tim tôi đập thình thịch. Tôi cảm thấy nhộn nhạo
khó chịu trong người. Thật là một cơn ác mộng đối với
tôi khi phải đứng kể chuyện trước lớp.
Tôi nói:
- Thưa thầy, không có áo!
Sue Feathersone (con gái ông chủ tịch) cười rúc

rích. Tôi đi từ từ lên bảng. Tôi nghĩ, mình chết mất.
Miệng tôi khô và đắng ngắt.
- Thưa thầy em xin kể về cụ nội em. Cụ vốn là
thủy thủ chuyên đưa thực phẩm bằng tàu biển tới
Warmambooe, không có áo.
Ba chục đôi mắt nhìn tôi chòng chọc. Sue
Feathernene lại cười. Nó hỏi:
- Tại sao cụ không có áo?
Nó biết tất câu trả lời của tôi sẽ như thế nào song
nó muốn nghe tôi nói xem sao.
- Cụ tên là Byron. Mọi người gọi cụ là “cụ Ben
Byron, không có áo”
Sue hỏi với cái cười đầy chế giễu:
- Tại sao họ lại gọi cụ là cụ Ben Byron không có áo,
tên gì mà buồn cười thế?

Thầy giáo nói:
- Em đừng có kich bạn như thế, bạn ấy rất cố gắng
đấy.
Sue là một đưa con gái đáng ghét, một đứa hết
sức tồi tệ. Nó thừa biết là tôi không thể không nói:
“Không có áo”. Hễ mở miệng, bao giờ tôi cũng phải
thêm vào mấy từ “không có áo”. Suốt từ nhỏ đến giờ
tôi đều nói như thế. Xin đừng hỏi tôi, tại sao. Tôi cũng
không hiểu nữa, chỉ biết rằng tôi không thể làm khác
được. Tôi đã nhờ hàng chục bác sĩ nhưng không ai tìm
được nguyên nhân và chẳng ai chữa được cái tật đó
cho tôi. Thật là kinh khủng. Mọi người chế nhạo và
cho rằng tôi bị ấm đầu.
Tôi nhìn Sue và nói:
- Mày đểu vừa thôi, đừng có trêu chọc tao. Mày
thừa biết bao giờ tôi cũng phải chêm vào mấy từ
“không có áo”. Không có áo.

Tất cả cười như vỡ lớp ra, nhiều đứa cố gắng bụm
miệng nhưng không sao nhịn nổi. Mặt tôi đỏ như gấc.
Giá như tôi có thể chết được, và cả con Sue nữa. Nó là
đứa nanh đọc nhất và luôn luôn tìm cách chọc ghẹo
tôi.
Thầy Bush nói:
- Thôi được, Brian, thứ tư tới em trình bày tiếp.
Chắc rằng hôm đó em sẽ nói khá hơn.
Tôi ngồi vào chỗ của mình. Thầy giáo thương cảm
tôi, mọi người thương cảm tôi, mọi người, trừ Sue. Nó
thì không. Nó là đứa không bao giờ nghĩ tới người
khác mà chỉ nghĩ đến mình.

2
Tôi cùng với Shovel[1] từ trường về nhà. Shovel là
tên con chó của tôi. Nó tên như vậy vì nó có thói hay
cào đất. Nó bới đủ mọi thứ rác rưởi rồi tha về để ngay
ở bậu cửa.

Một hôm có ông hàng xóm đi câu. Ông mang theo
một túi sò, hến làm mồi. Khi về nhà ông để quên
trong cốp xe ô tô. Hai tuần sau ông đã tìm thấy túi sò,
hến đó hay nói đúng hơn túi sò hến đó đã tìm thấy
ông ta. Nó thối kinh khủng. Ông ta chôn nó ở phía sân
sau. Ngày hôm sau con Shoved lại tha túi sò về nhà.
Hồi ấy tôi không nở mắng vì nó có ý tốt với tôi. Tôi xoa
đầu con Shovel, vỗ nhẹ vào gáy nó và khen “Mày
ngoan lăm, không có áo”. Shovel là một con chó tuyệt
vời – nó đúng loại siêu. Đành rằng, tôi thừa nhận
Shovel không được đẹp mã. Nó chột mắt, lại mất một
nửa cái tai. Shoved lúc nào cũng gãi, nhưng đó không
phải lỗi của nó mà vì mấy con rận. Nó không tài nào
thoát không khỏi mấy con rận. Tôi mua cho nó vòng cổ
chống rận nhưng cũng không ăn thua. Cũng có thể vì
Shovel hay thích vây chỗ có phân bò.
Trừ những chuyện vặt đó ra, khó có thể kiếm có
một con chó như Shovel. Nó rất quý chủ, khi mừng nó
nhảy cẩng lên và liếm mặt tôi. Mẹ tôi và tôi có lẽ
không thể rời được nó. Shovel còn là kỉ vật mà bố để
lại cho chúng tôi. Trước kia Shovel là của bố. Ông mất
trong một vụ tai nạn giao thông. Cũng chính vì thế mà
chúng tôi, con Shovel, mẹ và tôi, càng gắn bó khăng

khít với nhau hơn.
Khi về đến nhà, tôi nhốt Shovel ở sân sau. Giờ ở
đây không có vẻ gì là một cái sân nữa mà là một bãi
chiến trường. Shovel đào bới loạn cả lên. Nếu có lấp
thì ngay sau đó nó lại bới tung ngay.
Tôi vào bếp lấy nước uống. Bỗng nghe tiếng mẹ
đang nói chuyện với ai đó ở phòng khách. Đó là bà
Featherstone (vợ ông chủ tịch). Ngôi nhà chúng tôi
đang ở là thuê của bà ta. Bà cao nhăng nhẳng, gầy và
có mái tóc màu xanh. Bà đeo chuỗi hạt ngọc dài (ngọc
thật) và có giọng nói rất đài các. Bà ta nói:
- Thưa bà, tôi e rằng bà phải tìm một chỗ ở khác.
Quả thật không thể tiếp tục mãi như thế này được
nữa. Cái con chó này đào bới lung tung khắp mọi nơi.
Sân sau trông nham nhở như mặt trăng. Hoặc là bà
cho con chó đi hoặc bà hãy rời ngôi nhà này.
Mẹ tôi nói:
- Thưa bà, chúng tôi không thể làm như vậy.

Thằng cháu Brian rất quý nó. Nó làm cho cháu nhớ
tới bố cháu. Không, thưa bà, chúng tôi không thể cho
ai con Shovel cả.
Đúng lúc đó Shovel xuất hiện ở cửa sổ. Nó ngoạm
cái gì đó. Bà Featherstone nói:
- Cái con khốn ấy đây rồi, mà nó tha cái gì trong
mõm thế kia?
Tôi chạy vội vào nhà mà nói:
- Xin bà đừng sợ, đó là Tibby, không có áo.
Bà Featherstone rít lên:
- Tibby? Tibby là cái gì?
Tôi nói:
- Con mèo nhà cháu. Nó chết cách đây sáu tháng

và cháu đã chôn nó ở sân sau, không có áo.
Mặt bà ta bỗng trắng bệch ra, bà lảo đảo và khuỵu
xuống. Tôi không hiểu vì chuyện gì mà bà ta lại có thể
ngất xỉu được. Chẳng qua chỉ là một con mèo chết.
Thôi thì trông Tibby lúc này cũng không được như khi
nó còn sống, nhưng chằng lẽ đấy là lí do làm bà ta đến
nỗi bị ngất xỉu.
Có điều, chính vì những chuyện đó mà mẹ con tôi
bị tống cổ ra khỏi nhà và phải ra nghĩa trang để ở.

3
Khi tôi nói, chúng tôi phải ra nghĩa trang, không
có nghĩa là chúng tôi phải ở dưới mồ đâu. Không,
chúng tôi ở trong một ngôi nhà trên nghĩa trang. Đó là
một ngôi nhà to, lạnh lẽo và có từ lâu rồi. Hồi trước
người gác nghĩa trang ở đây, nay chuyển đi nơi khác,
từ đấy đến nay chẳng có ai muốn dọn đến nữa. Vì vậy
giá thuê nhà thấp, phù hợp với khả năng của mẹ con
tôi. Mẹ tôi sống nhờ vào lương hưu, tiền của chẳng

nhiều nhặn gì.
Ông môi giới nhà đất nói với mẹ:
- Bà ở đây sẽ thấy dễ chịu, bốn bề yên tĩnh, đây là
cái nhà rẻ nhất thành phố.
Mẹ bảo:
- Chẳng ai cảm thấy dễ chịu khi phải sống ở nghĩa
địa. Nhưng chúng tôi buộc phải làm quen với hoàn
cảnh, chúng tôi không thể trả hơn được nữa.
Ông môi giới nhà đất ra ô tô, tủm tỉm cười vì một
lẽ gì đó rồi chỉ tay vào con Shovel nói:
- Tôi hy vọng con chó của bà không cào bới gì ở
đây. Chó ở nghĩa địa càng không được làm như thế.
Có lẽ lão thấy cái chuyện đó rất buồn cười cho nên
khi ra tới cổng vẫn còn tủm tỉm.

Tôi nói với theo lão ta:
- Thật là tếu vô cùng, không có áo!
Chúng tôi dọn nhà vào ngày hôm sau. Tôi ở tầng
trên và từ đó tôi có thể nhìn thấy tẩt cả mồ mả. Nghĩa
địa nằm ngay bên bờ biển, chỉ đi qua một rặng cây là
đã ra tới vịnh Lady. Tôi đi đi lại lại trong phòng và bắt
đầu đọc bài tập kể chuyện ở trường. Tôi nghĩ, tốt nhất
nên chép tất cả ra giấy, như vậy tôi có thể yên tâm sẽ
không xuất hiện cụm từ “không có áo”. Quyết không
để cho con Sue chọc ghẹo tôi. Tôi bực nhất là cái lần
cuối cùng vừa rồi, tôi vẫn luôn nhắt tới cụm từ “không
có áo”.
Tuy nhiên cũng cứ thử xem sao. May ra lần này
thành công. Thế là tôi viết:
CỤ BEN BYRON
Cụ Ben Byron là cụ tổ tôi. Cụ là thuyền trưởng
trên một chiếc thuyền buồm. Cụ chở đủ thứ hàng
cung cấp cho thành phố. Cụ là một trong những người

di cư đầu tiên tới vùng này. Chính nhờ những người
như thế nên mới có thành phố này.
Một hôm có người ngã xuống biển, cụ tôi nhà
xuống cứu, người đó thoát chết còn cụ Ben Byron bỏ
mạng dưới biển khơi. Cụ bị chết mất xác.
Có lẽ những điều vừa kể chưa đủ cho một bài kể
chuyện ở lớp. Dứt khoát quá ngắn là đằng khác.
Nhưng sau đó xảy ra một việc làm cho tôi phải tạm
kết thúc bài diễn thuyết của mình.
Con Shovel biến đi đâu khá lâu và tôi bắt đầu cảm
thấy lo lắng. Mong sao nó đừng ra bới ở khu mộ. Tôi
nhìn qua cửa sổ và thấy Shovel đang trên đường về
nhà. Nó chạy lên cầu thang rồi đi về buồng tôi. Đến
bậu cửa nó để rơi một cái gì đó. Một mẫu xương.

4
Tôi cầm mẫu xương lên chăm chú nhìn. Đó là một
mẫu xương nhỏ có gờ sắc nhọn – hoàn toàn không có

gì đặc biệt, chỉ là một mẫu xương màu trắng. Tôi tin
chắc rằng mẫu xương đó đã có từ lâu rồi. Dường như
tôi đã trông thấy mẫu xương như thế này ở đâu đó
nhưng tôi không tài nào nhớ nổi ở đâu. Trong lòng tôi
trào lên một cảm giác là lạ. Tôi thấy mình cô đơn,
trống trải và cách biệt với mọi người. Dường như tôi
chỉ là một cái xác nằm sâu ở đáy biển dưới những lớp
sóng cồn.
Tôi run run tay làm rơi mẫu xương. Tôi cẩn thận
nhìn theo và thấy nó rơi ngay cạnh bàn chân trần
trước ngón út của mình. Chính vì thế nên tôi mới biết
đó là xương gì. Đây là mẫu xương của ngón chân út,
ngón chân người.
Tôi nói với Shovel:
- Trời ơi, mày hư đốn quá, mày lại đào bới ở đâu
thế này? Mày bới đất cái mộ nào hả? Nếu có ai biết thì
chúng ta sẽ lại bị tống cổ ra khỏi nơi này mất thôi. Mà
lúc đó thì biết đi đâu mà ở kia chứ? Không có áo.
Tôi xỏ giày và chạy ra ngoài. Khi ra khỏi phòng và
đóng cửa buồng lại tôi bỗng nhiên không còn có cảm

gái là lạ kia nữa. Chỉ lúc ở gần mẫu xương tôi mới cảm
thấy buồn tê tái. Ngoài trời vừa gió vừa rét. Tôi nghe
rõ tiếng sóng vồ oàm oạp. Tôi gọi con Shovel.
- Nào, mày hãy chỉ cho tao biết mày đào bới ngôi
mộ nào, không có áo?
Con Shovel làm như không nghe thấy tôi nói. Nó
chạy qua các ngôi mộ đi ra biển. Đây là một nghĩa địa
có từ lâu đời với hàng trăm ngàn ngôi mộ cỏ mọc
xanh rùm.
Tôi chạy từ ngôi mộ này sang ngôi mộ khác để tìm
dấu vết đào bới cù con chó. Hết cả buổi chiều mà
không tìm thấy nơi con Shovel đã đào bới.
Tôi thất vọng, buồn bã đi về nhà, không biết phải
làm gì với mẫu xương đó. Nếu như có ai biết việc này
nhất định chúng tôi sẽ bị đuổi ra khỏi nghĩa trang.
Con Shovel đứng chờ tôi ngay ở cổng nhà, vẫy
đuôi mừng rỡ. Lông Shovel bám đầy cát và mõm nó
lại ngoạm một mẫu xương nhỏ. Tôi reo lên:

- A, Shovel tìm thấy mẫu xương ngoài bờ biển,
không có áo!
Tôi cầm mẫu xương. Đúng lúc tôi chạm mẫu
xương lòng tôi trào lên cảm giác như lúc nãy: buồn
buồn và trống trải. Tôi nói với con chó:
- Lạ thật, không có áo.
Tôi cầm mẫu xương thứ hai và để ra cửa. Cảm
giác buồn bã tăng lên. Tôi thấy thật lạ lùng và mở cửa
để hai mẫu xương lại gần nhau như cũ. Ngay tức khắc
tôi đỡ thấy cô đơn. Tôi nói:
- Những mẫu xương này cảm thấy cô đơn, chúng
không muốn bị chia lìa, chúng muốn được gần nhau,
không có áo.

5

Đã đến lúc phải mắng con Shovel một trận. tôi
nhấc đầu nó và nói:
- Nhất định mày phải chỉ cho tao nơi mày tìm
thấy mấy mẫu xương. Tao phải lấp chỗ ấy lại. Mày
nghe đấy, cấm không được đào bới lung tung như thế,
rõ chưa? Không có áo!
Con Shovel giương hai con mắt to, màu nâu nhìn
tôi chằm chằm. Tôi có cảm giác nó hiểu nhiều hơn
mình tưởng. Nó chạy ra cửa và cào cào ở đấy. Tôi bảo:
- Thôi được, tao sẽ đi cùng với mày, nhưng trước
hết tao phải giấu hai mẫu xương này đã. Không có áo.
Tôi để chúng vào ngăn để tất của mình. Chúng
vẫn còn buồn. Tôi cũng buồn. Nhưng cảm giác đó biến
mất khi tôi đóng ngăn kéo.
Chúng tôi chạy ra bãi biển. Gió thổi thốc cát vào
mắt, vào tai tôi. Tôi trông chờ cái gì nhỉ? Một cái hố to
tướng mà con Shovel đã đào bới và trong đó cò có cả
bộ xương? Hay xác một người chết bị trôi dạt vào?

Chúng tôi leo qua đụn cát chảy ra bãi biển. Trời
lạnh, ở đây không một bóng người. Tôi nói với con
Shovel:
- Nào, bây giờ chỉ cho tao biết mày lấy những mẫu
xương ấy ở đâu. Không có áo.
Shovel phóng lên một đụn cát, ở đây có một cái lỗ
nóng không quá một bàn tay. Chẳng thấy cái hố nào
cả, tôi lấy tay moi rộng cái lỗ ra nhưng cũng không
thấy có thêm mẫu xương nào. Tôi bảo con chó:
- Thế là không có hố, không có xác người, chỉ có
hai mẫu xương ngón chân, ngày mai ta sẽ chôn hai
mẫu xương đó, thế là ổn. Không có áo.
Con Shovel chẳng buồn nghe, nó chạy tít về đầu
bãi cát phải bên kia. Nó chạy rất xa nhưng tôi vẫn
quyết đuổi theo. Khi đến nơi thì nó đang đào một cái
lỗ mới. Nó lại nhặt được hai mẫu xương ngón chân.
Tôi vừa nhặt những mẫu xương đó lên đã cảm thấy
dâng trào trong lòng cảm xúc buồn bã, thương cảm.

Tôi nói:
- Chúng muốn đến cùng với những mẫu xương
khác, mày hãy tìm nữa đi. Không có áo.
Con Shovel chạy đi chạy lại từ đầu bãi cát bên này
tới đầu bãi cát bên kia. Nó bới khoảng 30 lỗ, mỗi lỗ lòi
ra một, hai cái xương, đôi khi có những cái khá to. Tôi
tìm được một cái túi ni lông cũ trên bãi biển và cho
tất cả xương vào trong đó. Đến sẫm tối thì cái túi đã
căng đầy những mẫu xương bất hạnh. Tôi chỉ muốn
khóc, không hiểu vì sao. Ngay đến con Shovel cũng tỏ
ra buồn bã, đuôi nó cụp hẳn xuống.
Tôi đi qua đồi cát trên đường trở về. Con Shovel
không muốn đi cùng. Nó lại moi một cái lỗ mới rất
sâu, sâu đến mức Shovel lọt thỏm vào trong đó. Một
lúc sau nó mới hiện ra và tha cái gì đó trong mồm, lần
này không phải là xương mà là một chiếc giày cũ nát
không giống như những loại giày mà ngày nay người
ta có thể mua được ở các cửa hàng. Chiếc giày này có
khóa bằng vàng. Do trời tối tôi nhìn không được rõ
cho nên tôi mang nó theo.

Tôi bảo con Shovel:
- Nào, về thôi, tối rồi, hẳn mẹ đang nghĩ không
biết chúng mình đi đâu. Không có áo.
Sau đó tôi xách túi và chậm rãi đi về nhà.

6
Tôi quẳng hai mẫu xương ngón chân vào cùng với
những mẫu xương khác trong túi ni lông, cho tất cả
vào tủ và khóa lại. Làm xong tôi thấy nhẹ cả người.
Những cái xương đó thật là bất hạnh và chúng làm
cho tôi thấy bất hạnh theo. Tôi cũng đã hiểu vì sao:
Chúng muốn ở cùng một chỗ với những cái xương
khác. Có lẽ chúng đã bị chôn vùi ở nhiều nơi khác
nhau trên bãi biển này.
Tôi quan sát chiếc giày. Trông nó thật cũ nát. Chắc
chắn nó đã nằm lâu lắm rồi dưới doi cát ven biển.
Không biết là của ai? Tôi phát hiện được hai vết khắc
ở đế giày, đó là hai chữ B. B mờ nhạt.

Tôi reo lên:
- Những mẫu xương này là của cụ tổ tôi. Không có
áo!
Bỗng nhiên tôi sực nhớ đến một điều – chính
chiếc giày đã làm cho tôi nhớ đến chuyện đó. Ngày
mai là thứ tư và tôi phải kể chuyện trước lớp. Trời
đất ơi! Tôi biết, đêm nay tôi sẽ không thể nào ngủ
được và lúc nào cũng bị ám ảnh vì việc đó. Tôi càng
nghĩ càng thấy băn khoăn lo lắng, càng lo lắng lại càng
luống cuống và kết quả bài kể chuyện sẽ chẳng ra gì.
Lần cuối cùng mới đây tôi kể chuyện chỉ được một
điểm, mà điểm tối đa là mười! Thật không thể kém
hơn được nữa.
Bất ngờ tôi nảy ra một sáng kiến. Tôi sẽ mang
theo chiếc giày. Tôi sẽ kể chuyện mình đã tìm được
chiếc giày của cụ tổ như thế nào. Việc này sẽ làm cho
câu chuyện hấp dẫn hơn! May ra tôi sẽ được điểm 3,
nếu như tôi mang theo chiếc giày. Tôi để chiếc giày
vào trong ngăn để tất và lấy cái túi đựng xương ra để
xem lại kĩ càng hơn.

Thế là tôi dốc toàn bộ túi xương ra nền nhà. Có ba
cái xương lớn và một lô xương nhỏ. Cảm giác trống
trải cô đơn lại đè nặng tâm hồn tôi. Tôi ngồi trên
giường và ngắm nhìn đống xương buồn bã. Bỗng tôi
cảm thấy choáng váng, sợ run lên, người sởn gai ốc.
Tôi không còn tin vào mắt mình nữa. Đống xương bắt
đầu cựa quậy. Nó chuyển động chậm chạp trên nền
nhà. Chúng uốn éo, ngó nguấy như những con rắn.
Những cái xương đó tự phân loại, sắp xếp rồi gắn
liền lại với nhau, lúc đầu thành hình bàn chân rồi đến
cả cái chân, tất cả các mẫu xương đều nằm đúng vị trí
của mình và tôi có đầy đủ bộ xương chân của cụ tổ
mình.
Cái chân đó không cự quậy, nó nằm yên trên nền
nhà. Tôi ngồi ngây trên giường nhìn trân trân bộ
xương. Thực tình mà nói, tôi sợ vã mồ hôi hột. Nhưng
dù sao tôi cũng không thể để bộ xương đó nằm chổng
trơ ở đây. Có thể mẹ tôi vào và trông thấy. Tôi cảm
thấy ghê ghê khi biết có bộ xương chân của người
khác nằm ngay bên cạnh giường mình. Cuối cùng tôi
chồm dậy, cho tẩt cả xương vào túi và để vào một góc.

Xong xuôi tôi leo lên giường, trùm chăn kín đầu. Tôi
tìm cách tự nhủ, không có xương xiếc gì ở đây cả.

7
Ngày hôm sau tôi phải kể chuyện ở trường. Mọi
việc còn tồi tệ hơn tôi tưởng. Thật kinh khủng. Tôi
đứng đực ra trước cả lớp không nói nên lời. Tôi hồi
hộp đến mức đầu gối run lẩy bẩy. Tôi không tài nào
mở mồm ra nói. Con Sue độp luôn:
- Kìa, đằng ấy làm sao thế, hôm nay không có áo à?
Cả lớp cười rộ lên.
Nhưng cuối cùng tôi cũng đọc được đến đoạn kết
thúc của câu chuyện. Tôi không muốn nói thêm một
từ nào nữa. Nhưng tôi bỗng thấy có cái gì đó cuồn
cuộn đang dâng lên trong lòng như một trái bom sắp
sửa phát nổ. Tôi mím môi lại nhưng các từ lại muốn
bật ra. Má tôi phồng lên, mặt tôi đỏ dữ. Con Sue lại xỏ
xiên:

- Trông kìa, nó đang bơm, đang bơm!
Thật chó đểu. Tôi lại bật ra: “Không có áo”.
Tôi xấu hổ quá? Phải làm gì bây giờ. Tôi vớ đại
chiếc giày và nói:
- Đây là chiếc giày của Ben Byron, nó bị trôi dạt
vào bãi biển. Không có áo.
Con Sue đế luôn:
- Mày nói láo. Đó là chiếc giày cũ mày moi lên từ
đống rác.

Mọi chuyện hỏng cả. Có lẽ tôi sẽ bị điểm không.
Nhưng rồi xảy ra một việc. Tôi có cảm giác đau buồn

tê tái. Các bạn trong lớp cảm nhận được điều đó và
tất cả đều rầu rĩ. Bỗng có ai đó kêu thét lên. Bộ xương
chân, nó đứng ngay cạnh cửa ra vào, rồi nhảy lò cò
vào lớp. Hai tay tôi run lập cập làm rơi chiếc giày. Cái
chân lò cò tới chỗ tôi và chiếc giày. Nó muốn xỏ vào
giày:
Con Sue nhìn bộ xương chân rồi tru tréo lên:
- Quẳng đi, quẳng cái thứ ghê tởm đó đi!
Cái chân lò cò về chỗ Sue, nhảy phốc lên bàn. Sue
rú lên, chạy thốc ra cửa, mọi người la hét, hốt hoảng
cùng chạy theo Sue. Ai cũng muốn vọt ra cửa đầu tiên,
mẳt tái xanh tái xám.
Cái chân rượt theo cả lớp, chạy chéo qua sân
trường ra ngoài đường. Cả đời tôi chưa bao giờ chứng
kiến cảnh hoảng loạng kinh khủng đến như vậy. Tôi
đứng trơ trọi một mình, chỉ còn thầy Bush ở trong
lớp. Thầy ngồi ở chỗ của mình và lắc đầu. Một lúc sau
thầy nói:

- Brian này, thầy không hiểu em làm như thế nào,
nhưng em bày ra cái trò đó thật là khá. Thầy cho em
điểm mười về bài kể chuyện ngày hôm nay.
Tôi nói:
- Em xin cảm ơn thầy, không có áo.

8
Cái chân chờ tôi khi tôi trên đường từ trường về
nhà. Nó đứng ở trong góc buồng không hề động cựa.
Nhưng nó rất buồn và làm cho tôi bị buồn lây. Tôi có
cảm giác mình chỉ là một bộ xương. Tôi có cảm giác
xương của tôi cũng bị sóng đánh tung lên và nằm rải
rác trên bãi biển. Giờ thì tôi hiểu điều gì đã xảy ra với
cụ tổ mình. Xương của cụ bị sóng đánh tan tác và nằm
rải rác khắp nơi trong vịnh.
Tôi tìm Shovel và bảo nó:

- Chúng ta phải đi tìm nốt những chiếc xương còn
lại. Cái chân này sẽ không yên chừng nào chưa tìm
được đủ những chiếc xương khác. Phải tìm cho đủ,
tìm ngay bây giờ. Không có áo.
Tôi cầm xẻng, một chiếc bao tải và đi ra bãi biển.
Con Shovel và cả cái chân cũng đi cùng. Nó nhảy lò cò
sau lưng chúng tôi, phát ra tiếng động se sẽ, bàn chân
vẫn xỏ giày. May trên bãi biển không có một bóng
người, nếu có ai đó trông thấy chúng tôi, kẻ đó ắt
không thể tin vào mắt mình được nữa: một thằng
nhóc, một con chó và một bộ xương chân đi dạo chơi
ven biển. Bản thân tôi cũng còn không tin nổi vào
chuyện đó.
Tôi không biết phải bắt đầu tìm từ đâu. Những cái
chân thì biết. Nó nhảy lò cò trên bãi biển, chỗ nào nó
dừng là chúng tôi đào. Suốt cả buổi chiều chúng tôi đi
theo cái chân và đào không biết bao nhiêu lỗ. Chỗ nào
cũng tìm thấy một vài mẫu xương. Tôi làm việc hết
sức mình và muốn chấm dứt càng nhanh càng tốt
cảm giác sầu não. Tôi buồn đến nỗi mặt mũi đầm đìa
nước mắt. Tôi để tất cả xương tìm được vào trong bao
tải. Tôi tin rằng chúng vui lắm vì lại được đoàn tụ.
Nhưng chúng không thật hài lòng, chúng chưa thể vui

mừng thật sự chừng nào chưa tìm thấy đến mẫu
xương cuối cùng.
Rồi mọi việc cũng kết thúc. Thứ cuối cùng tôi tìm
thấy là xương sọ. Lúc đó cái chân nhảy tọt vào bao tải
cùng với những cái xương khác.

9
Khi cái chân nhảy vào bao tải cùng với những cái
xương khác thì cảm giác sầu não, buồn bã như tan
biến ngay tức khắc. Tất cả các xương đều vui, tôi cũng
vui và con Shovel cũng thế.
Tôi nói với Shovel:
- Này, cún thân yêu ơi, giờ thì chúng ta chỉ còn
mỗi một việc phải làm là đưa toàn bộ hài cốt đến một
nơi để chôn cất. Không có áo.
Tôi vác túi đầy những cái xương rất vui vẻ đến

một chỗ yên tĩnh trên doi cát ven biển, Shovel và tôi
cùng nhau đào bới. Chúng tôi đào rất lâu và cuối cùng
cũng đạt được độ sâu cần thiết. Tôi dốc bao đổ toàn
bộ xương xuống huyệt. Xương chất thành từng đống,
sau đó chúng bắt đầu cựa quậy, ngọ nguậy trong
huyệt. Đáng ra tôi phải sợ lắm, nhưng tôi rất bình
tĩnh vì tôi biết điều gì sẽ xảy ra. Những mẫu xương
kết nối lại với nhau thành một bộ hài cốt hoàn chỉnh.
Bộ xương nằm yên trong mồ và nhìn tôi chằm chằm.
Nhưng rõ ràng nó có vẻ gì đó chưa được mãn nguyện.
Hẳn còn thiếu một cái gì mà nó chưa được đáp ứng.
Tôi nhìn vào trong bao tải. Cái áo còn nằm trong đó.
Tôi để cái áo xuống huyệt và nói:
- Cụ yên tâm, cháu không chôn cụ không có áo
đâu.
Một lần nữa, lần cuối cùng, bộ xương động đậy.
Nó nằm nghiêng một bên, chiếc áo kê dưới đầu. Nó
ngủ, tư thế thật thoải mái, thanh thản. Từ nấm mồ
như có tiếng nhạc du dương, tuy không thành tiếng
nhưng tôi cảm nhận tiếng nhạc tự đáy lòng.
Chúng tôi đổ đất xuống mộ, trên cùng phủ một

lớp cát, rồi dậm thật chặt. Tôi quyết định phải nói vài
lời, vì xét cho cùng chúng tôi đang làm một tang lễ.
Tôi nhìn ra biển và thấy mắt mình đẫm lệ. Tôi nói:
- Nơi đây an nghỉ bộ hài cốt của Ben Byron. Cuối
cùng người đã tìm được sự bình yên ở cái vịnh tuyệt
vời này.
Con Shovel ngước mắt nhìn tôi. Dường như nó
mỉm cười.
Bỗng tôi reo lên:
- Tôi không nói gì về cái áo! Tôi không nói gì cả!
Và tôi không bao giờ nói lại điều đó nữa.

Nguyễn Xuân Hoài dịch


1
Thôi được, vậy là các bạn muốn nghe tôi kể về
chuyện con ma trong nhà xí. Ai cũng muốn nghe đi
nghe lại chuyện này. Thế thì tôi kể lần này là lần cuối
cùng. Tôi sẽ kể vào băng.
Ai muốn ghi lại thì ghi. Tôi hay phạm lỗi chính tả.
Vả lại tôi cũng chẳng có nhiều thời gian để ghi chép
mất công.
Tôi cũng xin nói trước để các bạn biết chuyện này
cũng chẳng phải là chuyện cao sang lắm đâu. Nếu

như các bạn cảm thấy ghê ghê thì đó là lỗi của các
bạn. Tôi xin nói toạc ra nhé. Đã là nhà xí thì cứ gọi
béng là nhà xí, vòng vo làm gì. Bạn nào sống ở
Australia đều biết Dunny là cái gì. Đó là nhà vệ sinh,
nhà xí. Ngoài ra nó còn có nhiều tên khác nữa như
ngai vàng, WC, chỗ đại tiện và sấm rền. Tôi còn biết
nhiều cái tên khác, nhưng thôi chẳng kể ra ở đây làm
gì. Tôi không phải là loại bất lịch sự, nên chỉ muốn
nêu đúng sự việc mà thôi.
Đôi khi nhà xí ở ngoài trời. Thông thường nhà xí
ngoài trời hay nằm ở góc vườn và thường cách nhà
khá xa. Khi mưa thì bị ướt, lúc tối phải dùng đèn pin
và dò dẫm mà đi. Lúc xong phải kéo cái dây xích,
không có nút bấm hoặc tay vặn mạ kền bóng nhoáng
đâu.

2
Nhưng thôi, tôi phải quay lại câu chuyện của
mình. Mọi việc bắt đầu khi tôi mười bốn tuổi. Hồi ấy
bố mẹ tôi mất trong một vụ tai nạn giao thông và từ
đó tôi sống ở nhà dì Flo. Dì ở quê gần vùng Timboon.

Lúc đó tôi tuyệt vọng, đau khổ vô cùng. Tôi đang
sống yên lành, trong một ngôi nhà đồ sộ ở thành phố
bên cạnh cha mẹ, đùng một cái phải về nhà quê ở với
dì Flo bốn bề cây cối rậm rạp um tùm.
Dì Flo thì tốt rồi. Dì cũng chẳng có lỗi gì về tất cả
những điều đã xảy ra làm cho tôi vô cùng buồn bã.
Chịu đựng được những chuyện như thế không phải
dễ.
Nơi ở mới của tôi là một ngôi nhà gỗ cũ kĩ. Xung
quanh nhà đều có hiên. Mái bằng tôn, ban đêm khi
mưa, nghe như gõ trống.
Trong nhà chỗ nào cũng tối om om, hay nói cho
đúng rất ảm đạm. Tất cả các cửa đều có rèm bằng
những chuỗi hạt gỗ. Trên tường treo đầy những bức
ảnh cũ kĩ, người trong ảnh trông mới buồn làm sao.
Tại tiền sảnh có chiếc đồng hồ to tướng của ông tôi.
Tiếng tích tắc rất to, ngôi nhà yên ắng đến mức bất cứ
ngồi ở phòng nào cũng nghe tiếng đồng hồ rõ mồn
một. Không biết tại sao ở trong ngôi nhà này người ta
có cảm giác luôn luôn phải thì thầm như ở trong thư

viện vậy. Năm học đã hết. Tôi đang nghỉ hè, ở đây
chẳng có gì để mà làm. Tôi cũng chẳng quen ai ngoài
thị xã vì vậy tôi hay đi săn thỏ hoặc bắt rắn.
Dì Flo đối xử tốt với tôi. Di thương tôi. Dì luôn
mồm nói:”Bob, cháu phải béo lên mới được”. Dì hay
làm các loại bánh ngọt và bày biện sạch sẽ, đẹp mắt
để sẵn trên bàn. Dì nấu ăn ngon lắm và dì cũng đã có
tuổi. Dì chẳng hiểu biết mấy về bọn con trai cho nên
tôi muốn làm gì thì làm. Dì chỉ có một yêu cầu nghiêm
ngặt là muốn đi đâu thì đi nhưng vào giờ uống trà
phải có mặt ở nhà. Tôi yêu quý dì nhưng tôi không
thích cái hố xí ngoài trời.

3
Một hôm dì cầm tay tôi, tay kia dì cầm một tờ giấy
và trịnh trọng nói:
- Dì rất buồn vì những chuyện đã xảy ra với bố mẹ
cháu. Dì cũng cảm thấy lo cho tương lai của cháu. Nếu
dì chết thì chẳng còn ai lo lắng cho cháu.

Dì thật tốt bụng. Dì rưng rưng nước mắt và nói:
-...
 
Gửi ý kiến