NGUYÊN HỒNG TOÀN TẬP 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:20' 20-02-2024
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:20' 20-02-2024
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Tiểu Sử Nguyên Hồng (1918-1982)
Lời Giới Thiệu
Linh Hồn
Nhà Sư Nữ Chùa Âm Hồn
Bảy Hựu
Đây, Bóng Tối
Trong Cảnh Khốn Cùng
Con Chó Vàng
Sông Máu
Chín Huyền
Hàng Cơm Đêm
Tôi Dạy Học
Hai Nhà Nghề
Sau Cơn Giông Tố
Người Chị
Sau Hai Mươi Năm
Con "Đoàn" Cuối Cùng
Tội Ác
Mối Hờn
Nhà Bố Nấu
Hai Mẹ Con
Khói "Ken Nếp" Và Xà Lim
Tết Của Tù Đàn Bà
Lớp Học Lẩn Lút
Những Mầm Sống
Cô Gái Quê
Những Giọt Sữa
Sự Đau Khổ Của Một Con Người
Người Đàn Bà Tàu
Mợ Du
Bố Con Lão Đen
Cái Xích Cũ
Người Mẹ Không Con
Miếng Bánh
Người Con Gái
Một Trưa Nắng
Láng
Lúc Chiều Xuống
Hai Dòng Sữa
Giọt Máu
Cánh Cửa Xám
Thịt Chết
Buổi Chiều Xám
Trước Xác Chết
Đi
Tàu Đêm
Vũng Máu
Bà Cụ Việt
Lửa Thiêu
Cơn Sốt
Lưới Sắt
Ngòi Lửa
Tiếng Nói
Một Buổi Chiều Nhà Quê
Con Gái Người Mãi Võ Họ Hoa
Những Ngày Thơ Ấu
Bước Đường Viết Văn
Một Tuổi Thơ Văn
NGUYÊN HỒNG TOÀN TẬP 1
Nguyên Hồng
www.dtv-ebook.com
Tiểu Sử Nguyên Hồng (1918-1982)
Nguyên Hồng họ Nguyễn, tên khai sinh đồng thời cũng là bút hiệu duy
nhất trong cuộc đời cầm bút của nhà văn. Nguyên Hồng sinh ngày 5-11-1918
tại phố Hàng Cau, thành phố Nam Định trong một gia đình nghèo theo đạo
Thiên Chúa. Mười hai tuổi, bố chết vì ho lao, người mẹ trẻ nghèo khổ phải
vào Vinh ở vú đầm, rồi mấy năm sau đi bước nữa. Mười lăm tuổi, vừa đậu
xong Tiểu học đã bị đày đọa trong các nhà lao Nam Định, Hà Nội rồi bị giải
đi Phúc Yên. Mười sáu tuổi, hết hạn tù được tha, Nguyên Hồng phải từ giã
thành phố Nam Định và người bà nội ngoan đạo, cùng mẹ và bố dượng ra
sinh sống ở xóm Cấm, Hải Phòng. Hơn ba năm, Nguyên Hồng đã dạy học lẩn
lút trong các xóm nghèo lao động với hơn hai mươi đứa trẻ lau nhau, rách
rưới, con em của những người làm nghề đội than, khuân vác hoặc buôn thúng
bán mẹt ở xóm Cấm và xóm chùa Đông Khê. Cũng chính ở Hải Phòng,
Nguyên Hồng gặp nhà thơ Thế Lữ (1935), kiện tướng của phong trào Thơ
mới, thành viên của Tự lực văn đoàn. Từ đó, người thanh niên thất nghiệp
này nuôi khát vọng đi vào con đường văn chương, coi văn chương là lẽ sống
cao cả nhất của đời mình. Những trang bản thảo đầu tiên rất trong sáng và say
mê của tiểu thuyết Bỉ vỏ và hồi ký Những ngày thơ ấu đã được hình thành
dần trong những căn nhà ổ chuột tối tăm, bẩn thỉu của khu phu phen thuyền
thợ xóm Cấm, Hải Phòng. Năm 1937, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng và Kim tiền
của Vi Huyền Đắc được nhận giải thưởng Tự lực văn đoàn và từ năm 1938
báo Ngày nay bắt đầu giới thiệu Những ngày thơ ấu. Mối quan hệ giữa
Nguyên Hồng với Thạch Lam bắt đầu từ những ngày đó.
Thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Nguyên Hồng đã bắt đầu liên lạc với chính trị
phạm ở Sơn La, Côn Lôn trở về như Vũ Thiện Chân, Bùi Vũ Trụ và ở trụ sở
chi nhánh báo Thời thế ở đường Cát Dài, Hải Phòng, Nguyên Hồng đã có cơ
hội tìm đọc Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Vấn đề dân cày của Qua Ninh, Vân
Đình, Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến và những tiểu thuyết của Marxime
Gorki... Năm 1938, Nguyên Hồng gặp Như Phong, sinh hoạt trong Đoàn
Thanh niên Dân chủ và viết trên các báo Thế giới, Người mới và Mới cùng
với Như Phong, Nguyễn Thường Khanh, Trần Minh Tước, Lưu Quý Kỳ
(Thanh Vệ) và Lê Hy (Lã Vĩnh Lợi). Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng
nổ, ngày 29-9-1939, Nguyên Hồng bị mật thám Pháp bắt bỏ tù ở Hải Phòng
về tội tàng trữ và truyền bá sách báo cộng sản. Trong nhà tù Hải Phòng,
Nguyên Hồng đã được gặp Tô Hiệu, Bùi Đình Đống, Ngô Minh Loan và
tham dự lớp huấn luyện theo Đề cương cách mạng tư sản dân quyền do Bí
thư thành ủy Tô Hiệu hướng dẫn. Những vốn sống quý báu đó đã tạo điều
kiện cho Nguyên Hồng viết về những chiến sĩ cách mạng trong Lưới sắt, Lò
lửa, Sóng gầm...
Năm 1940, Nguên Hồng lại bị bắt giam và bị giải lên trại tập trung Bắc
Mê, Hà Giang, đi làm cỏ vê, gánh đá cùng với Xuân Thủy, Đinh Nhu, Trần
Các... Tiểu thuyết Xóm Cháy (phác thảo đầu tiên của Sóng gầm) viết được
300 trang thì bị bọn mật thám tịch thu, ông chuyển sang viết những mẩu ngăn
ngắn giả làm nhật ký thư (Cuộc sống).
Cuối mùa hè năm 1943, Nguyên Hồng tham gia tổ chức Văn hóa Cứu
quốc bí mật (trong Mặt trận Việt minh) cùng với Như Phong, Nam Cao, Tô
Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng... Chính trong tổ chức này,
Nguyên Hồng được đọc Đề cương Văn hóa 1943 của Đảng và những phương
châm của Đề cương đã có ảnh hưởng rõ rệt đến những tác phẩm như Hơi thở
tàn, Hai dòng sữa, Ngọn lửa, Buổi chiều xám..., những tác phẩm được viết
trong thời kỳ Tiền khởi nghĩa.
Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyên Hồng tham gia khởi nghĩa ở
Hà Nội, là biên tập viên tạp chí Tiên phong, cơ quan vận động văn hóa mới
của Đảng. Sau đợt Nam tiến vào mặt trận Nha Trang, khi kháng chiến toàn
quốc bùng nổ, năm 1947, Nguyên Hồng cùng gia đình lên Việt Bắc, sống ở
ấp Cầu Đen, Yên Thế cùng với một số văn nghệ sĩ như Ngô Tất Tố, Kim
Lân, Nguyễn Huy Tưởng... Nguyên Hồng tham gia hoạt động trong Hội Văn
nghệ Việt Nam, là biên tập viên tạp chí Văn nghệ của Hội và phụ trách
trường Văn nghệ nhân dân Trung ương. Năm 1948, Nguyên Hồng cùng với
Nam Cao được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng
sản Việt Nam).
Hòa bình lập lại năm 1954, Nguyên Hồng cùng gia đình về Hà Nội, công
tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Tháng 4 - 1957, Hội Nhà văn Việt Nam
thành lập, ông tham gia Ban Chấp hành, làm Thư ký tòa soạn tuần báo Văn
của Hội. Năm 1958, Nguyên Hồng về tham gia lao động ở nhà máy Xi măng
Hải Phòng, chính thời gian này ông bắt đầu thai nghén tiểu thuyết Cửa biển,
bộ tiểu thuyết - sử thi bốn tập đầu tiên ở nước ta. Từ năm 1962, Nguyên
Hồng cùng gia đình trở lại ấp Cầu Đen, Yên Thế (nay là xã Quang Tiến,
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang). Tháng 1 -1963, tại Đại hội Nhà văn lần thứ
II, Nguyên Hồng được bầu vào Ban Chấp hành và năm 1964 được cử làm
Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng. Sau Hải Phòng, Yên Thế đã trở thành quê
hương thứ hai của Nguyên Hồng, là nơi ông sống lâu nhất và cũng là nơi ông
đang xây dựng một bộ tiểu thuyết lịch sử ba tập: Hoàng Hoa Thám và Núi
rừng Yên Thế. Tập hai đang hoàn thành thì ông đột ngột từ trần ngày 2-51982.
Nhà văn Nguyên Hồng được Chính phủ truy tặng Huân chương Độc lập
hạng Ba và giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt đầu tiên
(1996). Nguyên Hồng là một nhà văn xuôi lớn của nền văn học Việt Nam
hiện đại, đồng thời cũng là người thầy trực tiếp dìu dắt nhiều thế hệ nhà văn
trẻ đi vào con đường sáng tác văn học.
TÁC PHẨM NGUYÊN HỒNG
· Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938)
· Bảy Hựu (tập truyện ngắn, 1940)
· Những ngày thơ ấu (hồi ký, 1940)
· Cuộc sống (tiểu thuyết, 1942)
· Qua những màn tối (truyện vừa, 1942)
· Quán Nải (tiểu thuyết, 1942)
· Hai dòng sữa (tập truyện ngắn, 1943)
· Hơi thở tàn (tiểu thuyết, 1944)
· Vực thẳm (truyện vừa, 1944)
· Ngọn lửa (truyện vừa, 1944)
· Miếng bánh (tập truyện ngắn, 1945)
· Địa ngục và Lò lửa (tập truyện ngắn, 1946)
· Đất nước yêu dấu (ký, 1949)
· Đêm giải phóng (truyện vừa, 1952)
· Giữ thóc (tập truyện ngắn, 1956)
· Trời xanh (thơ, 1960)
· Sóng gầm (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1961)
· Sức sống của ngòi bút (tạp văn, 1964)
· Cơn bão đã đến (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1965)
· Bước đường viết văn (hồi ký, 1971)
· Thời kỳ đen tối (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1973)
· Một tuổi thơ văn (hồi ký, 1973)
· Sông núi quê hương (thơ, 1973)
· Khi đứa con ra đời (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1975)
· Những nhân vật ấy đã sống với tôi (hồi ký, 1978)
· Thù nhà nợ nước (tiểu thuyết lịch sử, 1981)
· Tuyển tập Nguyên Hồng (1983 - 1985)
DI CẢO
· Núi rừng Yên Thế (tập I trong bộ tiểu thuyết lịch sử Hoàng Hoa Thám
và Núi rừng Yên Thế, 1993)
· Người con gái họ Dương (Dương Hậu) (kịch)
· Hoa trái đất (thơ)
NIÊN BIỂU NGUYÊN HỒNG
Tên khai sinh: Nguyễn Nguyên Hồng.
Ngày sinh: 5-11-1918
Nơi sinh: Phố Hàng Cau - Thành phố Nam Định.
Ngày mất: 2-5-1982.
Nơi mất: Ấp Cầu Đen - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang.
1930: Bố mất, mẹ đi bước nữa. Ở với bà nội nhưng gần như phải tự lập để
ăn học.
1935: Cùng gia đình ra Hải Phòng, lưu trú tại xóm Cấm, lén dạy tư để
kiếm sống. Gặp Thế Lữ ở ngõ Nghè, quyết theo nghề văn.
1936: Đăng truyện ngắn đầu tay Linh hồn trên Tiểu thuyết thứ Bảy.
1937: Bỉ vỏ (tiểu thuyết) được đăng tải trên các báo và được trao giải
thưởng của Tự lực văn đoàn.
1938: - Bỉ vỏ được in thành sách.
- Gặp Như Phong ở Hà Nội. Tham gia Cách mạng, mở đầu bằng việc dự
mít tinh 1-5 tại Đấu Xảo. Vào Mặt trận Dân chủ ở Hải Phòng.
- Viết cho các báo: Ngày nay, Tiểu thuyết thứ Bảy, Thế giới, Người mới ở
Hà Nội; Mới, Đông Phương ở Sài Gòn.
- Hồi ký Những ngày thơ ấu được đăng nhiều kỳ trên Ngày nay từ số 134
(ra ngày 29-10-1938).
1939: - Bị chính quyền Pháp bắt giam ở Hải Phòng, kết án tù 6 tháng.
- In truyện ngắn Người đàn bà Tàu (sau đổi là Một người mẹ Trung Quốc)
và một số truyện ngắn.
- Gặp Tô Hiệu (Bí thư Thành ủy Hải Phòng). Tiếp xúc trực tiếp với những
người Cộng sản.
1940: Bị đưa đi trại tập trung ở Bắc Mê (Hà Giang). In Những ngày thơ
ấu (NXB. Đời nay). Viết Xóm Cháy nhưng bị mất bản thảo.
1941: In Bảy Hựu (tập truyện ngắn).
- Tháng 11, rời Bắc Mê, bị quản thúc tại Nam Định.
1942: Về Hà Nội. In Qua những màn tối (truyện vừa). Tháng 6, lập gia
đình. In Cuộc sống (tiểu thuyết - NXB. Tân Dân).
1943: - Tham gia Hội văn hóa Cứu quốc bí mật cùng Tô Hoài, Như
Phong, Vũ Quốc Uy, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao...
- In Hai dòng sữa (truyện ngắn), Quán Nải (tiểu thuyết), Đàn chim non
(tiểu thuyết).
1944: In Vực thẳm (truyện vừa), Hơi thở tàn (tiểu thuyết)..., chịu ảnh
hưởng rõ rệt của Đề cương Văn hóa 1943.
1945: - Tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Hà Nội.
- Là một trong những người sáng lập tạp chí Tiên phong.
- In Ngọn lửa (truyện vừa), Miếng bánh (truyện ngắn).
1946: Viết Địa ngục và Lò lửa (tập truyện ngắn), trong đó có một số
truyện đã in trên Tiên phong. Tham gia Nam tiến đến mặt trận Nha Trang.
Năm sau cùng một số gia đình văn nghệ sĩ lên khai phá ấp Kỳ Nhân (tức ấp
Cầu Đen - Yên Thế). Tham gia Hội Văn nghệ Việt Nam (đến 1957).
1948: Kết nạp Đảng tại chiến khu Việt Bắc.
1949: In Đất nước yêu dấu (ký).
1952: Viết Đêm giải phóng (truyện vừa). Phụ trách Trường văn nghệ nhân
dân Trung ương, Ban Văn hóa công nhân, được gọi thân mật là "ông đốc
Hồng".
1955: Hải Phòng giải phóng. Về làm báo tại thành phố cảng. In lại Đất
nước yêu dấu. In Giữ thóc (truyện ngắn).
1956: Trở thành biên tập viên của báo Văn nghệ. In lại Địa ngục và Lò
lửa. In Giọt máu (truyện ngắn).
1957: Tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam vừa thành lập,
phụ trách báo Văn. In lại Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu.
1958: Về Yên Thế, hình thành ý tưởng viết bộ tiểu thuyết Cửa biển.
1959: Viết Sóng gầm. In Trời xanh (thơ). In lại Địa ngục và Lò lửa.
1961: In Sóng gầm.
1963: Tham gia Ban vận động thành lập Chi hội văn nghệ Hải Phòng. In
Sức sống của ngòi bút (tạp văn). In lại Những ngày thơ ấu. Gặp Pierre
Abraham, chủ nhiệm tạp chí Châu Âu tại Hà Nội.
1964: Được bầu làm chủ tịch Chi hội văn nghệ Hải Phòng (mới thành lập)
cho đến lúc mất.
1965: Về thăm quê.
1966: Đọc tham luận tại Hội nghị trí thức Việt Nam chống Mỹ cứu nước.
1967: In Cơn bão đã đến (trong Cửa biển).
1971: In Bước đường viết văn của tôi (hồi ký). Viết xong Thời kỳ đen tối
(trong Cửa biển). In lại Bỉ vỏ.
1972: In Cháu gái người mãi võ họ Hoa (truyện thiếu nhi).
1973: In Thời kỳ đen tối, Một tuổi thơ văn (hồi ký), Sông núi quê hương
(thơ).
1976: In Khi đứa con ra đời (tập cuối), hoàn thành Cửa biển (hơn 2000
trang).
1978: In Những nhân vật ấy đã sống với tôi (hồi ký). Xuất bản Tuyển tập
Nguyên Hồng tại Liên Xô (Nguyễn Tuân đề tựa).
1981: In Thù nhà nợ nước (tập I, bộ tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế).
1982: Sau khi Nguyên Hồng mất, NXB. Văn học in Tuyển tập Nguyên
Hồng (tập I: 1983; tập II: 1984; tập III: 1985).
(Dựa theo Niên biểu Nguyên Hồng của Mai Hải Oanhbtrong Nguyên
Hồng - Cát bụi và ánh sáng - NXB. Hội nhà văn 1992, có bổ sung)
DI CẢO:
- Núi rừng Yên Thế (tiểu thuyết, tập II - xuất bản 1993).
- Người con gái họ Dương (Dương Hậu) (kịch, 1978)
- Hoa trái đất (thơ, 1960)
GIẢI THƯỞNG:
- Giải văn chương của Tự lực văn đoàn trao cho Bỉ vỏ (1937)
- Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật
(Đợt I, 1996).
NGUYÊN HỒNG TOÀN TẬP 1
Nguyên Hồng
www.dtv-ebook.com
Lời Giới Thiệu
Lần đầu tiên gặp Nguyên Hồng trong Khách sạn Metropole ở Hà Nội,
Pierre Abraham (1892-1974), Tổng biên tập tạp chí Europe (Châu Âu) nhận
xét: "Như từ bờ bãi sông Hồng đỏ rực gió cuốn đến đây, nhà văn lớn này là
người của đất, thật là người của đất". Những ai gặp Nguyên Hồng lần đầu
đều có ấn tượng như thế, đều không quên được cái dáng dấp tất tưởi, lam lũ,
nụ cười tự tin, yêu đời trên khuôn mặt nhân hậu, còn in rõ dấu vết những
tháng ngày đói khổ, tủi nhục trong cuộc đời sớm vất vả trước đây của anh. Có
thể nói từ bé đến lớn, anh đã phải chịu đựng biết bao dằn vặt, đầy đọa trong
những năm tháng dài dằng dặc và tối tăm của xã hội cũ. Mười hai tuổi, bố ho
lao chết, người mẹ trẻ nghèo khổ phải từ giã con trai vào Vinh ở vú đầm; cậu
bé thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu mọi tình thương yêu chăm sóc đã lang thang nơi
đầu đường xó chợ, đánh đáo kiếm ăn, chung đụng với đủ các hạng trẻ nghèo
đói, du đãng (Những ngày thơ ấu). Mười lăm tuổi, vừa đậu xong tiểu học đã
bị đày đọa trong các nhà lao Nam Định, Hà Nội rồi bị giải đi Phúc Yên, cậu
"tù trẻ con"... (1)đã nhiều lần bưng mặt khóc ngay dưới gốc cây, bên cạnh xe
bò rác mỗi khi nghĩ đến tuổi ấu thơ và cái thành phố quê hương của mình,
nhưng rồi lại vội vội vàng vàng lấy vạt áo chùi nước mắt lúc chợt thấy người
lạ đi qua. Đoạn tang cha, mẹ đi bước nữa, rồi năm sau, cậu thiếu niên hết hạn
tù được tha. Họ hàng nhà chồng khinh bỉ người đàn bà cải giá và những
người xung quanh rẻ rúng, ghê sợ đứa con trai "mới một dúm tuổi mà đã trải
hết lao này sang lao khác".
----(1) Tù trẻ con là một tập ký pha tiểu thuyết hơn 300 trang, Nguyên Hồng
viết xong bảy ngày trước khi bị Pháp bắt ở Hải Phòng (29-9-1939). Khi đi tù,
bản thảo bị mật thám Hà Nội đốt mất.
Tránh mọi thành kiến hẹp hòi, mọi tai tiếng dị nghị, mọi con mắt xoi mói,
dòm ngó ở một tỉnh nhỏ, gia đình Nguyên Hồng bỏ nơi chôn rau cắt rốn tìm
ra Hải Phòng kiếm kế sinh nhai ở một thành phố công nghiệp ồn ào, đông
đúc, cái nơi thiên hạ tứ xứ mà dù có phải kéo xe hay bán ốc đầu đường cũng
được, không ai biết đấy là đâu...
Nhưng rồi từ ngày đó người ta thấy xuất hiện trên đường phố Hải Phòng
một người thanh niên thất nghiệp, dáng người nhỏ bé lom khom, áo chùng
thâm dán lấy ngực, mũ trắng vành to, gương mặt xanh xao mất máu, ngày
ngày lang thang ở bến tàu Sáu Kho, Nhà máy xi măng, Sở dầu Thượng Lý
hoặc chầu chực ở cổng các nhà máy Cốt phát, Máy tơ, Máy chỉ, Máy ống, các
hãng chuyên chở hàng hóa, các bến ôtô tàu thủy, các kho hàng, cửa hiệu, tràn
than, lán củi, hoặc lân la ở các xóm ngõ đầu đường nơi đi về của phu phen
thuyền thợ... để nghe ngóng, thăm dò công việc. Vườn hoa Đưa người là
chặng nghỉ cuối cùng sau những buổi sáng, buổi chiều đi chầu chực, xin xỏ
các nơi không được việc gì cả, là nơi sau những buổi tối cơm chiều không có,
đèn nhà hết dầu, anh đến đứng lặng thẫn thờ, trong lòng đau khổ, buồn bã vô
cùng.
Chợ Vườn hoa Đưa người trông xuống sông Lấp, mà một bên bờ có khu
nhà thương và khu đề lao. Đứng lẫn trong đám người thất nghiệp trên Hà Nội
xuống, ở Nam Định ra, ngoài Hòn Gai, Cẩm Phả về tụ tập tại đây chầu chực
đi ăn đi ở, Nguyên Hồng thường trông ra đường, lòng thắt lại khi thấy những
chuyến xe chở vội những xác chết vô thừa nhận và những đám tù giải đi xử
án. Những cảnh ngộ buồn thảm đó cứ trĩu xuống tâm hồn anh, đe dọa cuộc
sống thoi thóp từng ngày của gia đình anh.
Bao nhiêu ngày tháng bị câu thúc thân thể, bị đày đọa tù tội, bây giờ lại
thêm cảnh đói khổ thất nghiệp kéo dài, Nguyên Hồng nhiều lúc lo sợ, bối rối,
tưởng mình sẽ chết đau đớn ở cái tuổi mười sáu. Và người thanh niên đó thấy
ham sống, thèm sống, tha thiết, khắc khoải lạ thường. Anh nghĩ dù có chết
cũng phải để lại cho cõi đời mà anh yêu mến một cái gì vừa tinh khiết, trong
sáng, vừa tha thiết yêu thương nhất của tâm hồn.
Đối với một người thanh niên thời đó, địa vị không có, gia đình suy tàn,
học thức tầm thường nhỏ nhoi, anh nghĩ, chỉ còn một cách tồn tại trong cuộc
sống bằng cái cao quý, trong sạch của văn chương. Và anh bắt đầu viết, viết
suốt ngày suốt đêm, viết một cách đau khổ, say mê, bất chấp "cái đói ê ẩm
thấm thía vô cùng trong đêm mưa lạnh hoang vắng".
Bỉ vỏ được viết "trên một cái bàn kê bên khung cửa trông ra vũng nước
đen ngầu bọt của một bãi đất lấp dở dang và một chuồng lợn ngập ngụa phân
tro" (2). Cũng như một nhân vật của Nam Cao trong truyện ngắn Trăng sáng,
Nguyên Hồng thường mê mải ngồi viết truyện giữa tiếng tranh giành xô xát,
mỉa mai đay nghiến, eo sèo khắc khoải của những người dân nghèo trong các
ngõ hẻm thành phố. Viết văn đối với anh là một lẽ sống. Cho nên ngay cả
trong những ngày đi tù ở Bắc Mê, cứ mỗi buổi trưa đi làm cỏ vê về anh lại
ngồi viết ở một gốc cây mé sau trại giam, dưới một bầu trời mờ mờ xám xám,
xung quanh là màu xanh hoang vu của núi rừng dày đặc và tiếng gió rừng
lạnh lẽo hú lên từ thung lũng này qua thung lũng khác (Cuộc sống).
----(2) Tôi viết Bỉ vỏ.
Cho đến những năm dài về sau, khát vọng sáng tạo vẫn cứ luôn luôn thôi
thúc anh một cách mạnh mẽ, tha thiết, đến mức anh nghĩ rằng mình có thể
chết dần chết mòn nếu như vì một lý do nào đấy, không thể cầm bút được
nữa...
Những ảnh hưởng lung linh, choáng ngợp ban đầu của Thế Lữ, Lưu Trọng
Lư, V.Hugo... có thể kéo cây bút Nguyên Hồng về phía chủ nghĩa lãng mạn.
Cả cái hưng phấn nội tâm, cái bút pháp cường điệu, phóng đại cũng có thể
hướng anh về phía đó. Nhưng cuộc đời đói khổ, lam lũ đã giúp cho ngòi bút
của anh ngày càng cắm sâu trên mảnh đất màu mỡ của chủ nghĩa hiện thực.
Anh sẽ viết những sự thực đau đớn và những khát vọng da diết của cuộc
đời anh và cuộc đời những người lao động nghèo cùng cảnh ngộ ở cái xóm
Cấm và xóm chùa Đông Khê. Hơn ba năm, Nguyên Hồng đã dạy học lẩn lút
trong cái xóm nghèo lao động đó với hơn hai mươi đứa trẻ lau nhau, rách
rưới, con các phu phen thuyền thợ, các người buôn bán nhỏ, các người gánh
nước thuê... Cả cái xóm lam lũ, đói khổ đó đã tin yêu, đùm bọc lấy cậu giáo
nghèo của họ. Cho nên không phải là ngẫu nhiên mà hơn bốn chục năm nay,
Nguyên Hồng đã viết về lớp dân nghèo thành thị với một "niềm tin tưởng tha
thiết", một tình "yêu thương đắm đuối", một niềm đồng cảm sâu sắc của
những người "cùng một hoàn cảnh, cùng một đời sống thấp kém và tối tăm,
vì thiếu thốn đủ mọi thứ, vì phải chịu đựng đủ mọi thứ" (Lớp học lẩn lút).
Dường như mỗi nhà văn đều có một nguồn suối tinh thần yêu thương của họ.
Ngô Tất Tố tiếp thu được cái hơi thở khỏe mạnh, hồn hậu, lạc quan của nông
dân, còn Nguyên Hồng thì bắt rễ sâu vào cuộc sống và những tình cảm tốt
đẹp của những người dân nghèo, thợ thuyền thành phố. Anh luôn luôn nói
đến những người lao động nghèo khổ với lòng biết ơn tình nghĩa, với sự gắn
bó thủy chung.
***
Trong mấy chục năm gần đây, người ta đã nói nhiều đến những tập tiểu
thuyết của Nguyên Hồng như Bỉ vỏ, Sóng gầm, Cơn bão đã đến... Thực ra
trong sự nghiệp văn học của anh, truyện ngắn có một vị trí quan trọng, không
thua kém gì tiểu thuyết. Chúng ta có thể nói đến Nguyên Hồng như một
phong cách truyện ngắn trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. Sưu tầm và tuyển
chọn những tác phẩm trước và sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta sẽ có một
tập truyện ngắn giá trị với nhiều màu sắc độc đáo.
Khá nhiều truyện ngắn của Nguyên Hồng được viết với một bút pháp hiện
thực tỉnh táo. Trong các truyện Đây, bóng tối; Láng; Vực thẳm; Người con
gái; Hai mẹ con, cái cường độ ngột ngạt căng thẳng cứ tăng lên mãi và tác
giả, dường như cứ lạnh lùng, bình tĩnh xoáy sâu mãi vào chỗ tột cùng của bi
thảm khiến cho người đọc bỗng cảm thấy đau xót, nhức nhối vô hạn cho
những kiếp người thống khổ trong xã hội cũ. Trong một số truyện, để đạt
hiệu quả tố cáo cao nhất, ngòi bút nghiêm ngặt của ông không ngần ngại
phanh phui những chi tiết tỉ mỉ, trần trụi, đôi khi cứ như là chấp chới bên bờ
của chủ nghĩa tự nhiên (Đi, Người học trò, Tàu đêm)... Lại có truyện, tác giả
như giấu mình đi, sử dụng một lối văn trần thuật khách quan, một ngôn ngữ
trung tính để cho lòng sôi sục căm giận của người đọc bị nén chặt lại, chuẩn
bị cho quả bộc phá bùng nổ (Ngòi lửa, Giọt máu). Nhưng cũng có truyện tràn
đầy một âm hưởng trữ tình lãng mạn, không phải thứ lãng mạn tiêu cực, thoát
ly mà là một chất thơ bắt nguồn từ cuộc sống cần lao của người dân Hải
Phòng, một chủ nghĩa lãng mạn cách mạng bắt nguồn từ một niềm tin lý
tưởng (Những mầm sống, một số truyện trong Cuộc sống). Có khi lại là màu
sắc lãng mạn trong các truyện dân gian, nhân vật "trông như là Thạch Sanh
hay quân lính của đức Thánh Gióng, đức Thánh Trần vậy" (Chuyện cái xóm
tha hương).
Tính chiến đấu của truyện ngắn Nguyên Hồng được thể hiện qua những
thủ pháp nghệ thuật tương phản trong việc xây dựng kết cấu và hệ thống hình
tượng. Có khi là sự đối lập giữa hai kiểu người, hai lối sống, một bên là lòng
nhân hậu, là nghĩa thủy chung, một bên là sự hưởng thụ ích kỷ, là thói độc ác
tàn nhẫn (Giọt máu, Cô gái quê, Nhà bố Nấu). Cũng có khi là sự đối lập giữa
hai quan điểm nghệ thuật (Hai dòng sữa, Cái bào thai). Có truyện tác giả để
cho sự việc tự nói lên (Giọt máu) nhưng cũng có truyện mang tính luận đề rõ
rệt và các chi tiết ít nhiều có ý nghĩa tượng trưng (Một trưa nắng, Hai dòng
sữa). Truyện ngắn của Nguyên Hồng đôi khi có khuynh hướng mở rộng quy
mô và dung lượng, kết cấu dàn trải theo chiều dài cuộc đời bi thảm của nhân
vật (Người con gái; Đây, bóng tối; Con gái người mãi võ họ Hoa); nhưng
cũng có truyện chỉ là một cảnh ngộ tối tăm (Tôi dạy học, Lúc chiều xuống),
một câu chuyện dằn vặt lương tâm (Miếng bánh). Khi Nguyên Hồng tránh
được sự dàn trải trong truyện ngắn và cả trong tiểu thuyết (Hơi thở tàn, Quán
Nải), biết tập trung vào tấn bi kịch của cuộc đời, thì thường anh có những
truyện ngắn xuất sắc (Giọt máu, Buổi chiều xám).
Ở đây, ngòi bút của anh khá linh hoạt. Khi thì miêu tả lướt qua những tấn
bi kịch của một đám đông (nạn đói năm 1945), trong đó làm nổi lên một số
trường hợp điển hình (Người học trò, Tàu đêm), khi thì từ cuộc đời lam lũ,
vất vả của một cô gái, tác giả soi sáng cuộc đời chung của những người đàn
bà nhẫn nhục chịu đựng, thầm lặng hy sinh trong xã hội phong kiến (Hàng
cơm đêm). Ống kính của người viết truyện đang quay cận cảnh, bỗng mở ra
một viễn cảnh rộng lớn, có tầm khái quát cao hơn.
Truyện ngắn của Nguyên Hồng sử dụng nhiều bút pháp, nhiều lối kết cấu
và xây dựng nhân vật khác nhau. Tất cả những thủ pháp nghệ thuật đó đều
nhằm phản ánh cuộc sống của từng lớp dân nghèo thành thị: những cuộc đời
lương thiện bị vùi dập tan nát, những tấm lòng yêu thương đùm bọc, nhân
nghĩa thủy chung, những khao khát ước mơ trong sáng, đẹp đẽ hướng về một
thế giới tràn đầy ánh sáng và lý tưởng.
Tác phẩm Nguyên Hồng đã làm sống dậy cuộc sống lam lũ cơ cực, bần
cùng của những người lao động nghèo khổ ở các vùng ngoại ô, ngõ hẻm các
thành phố lớn như ngoại ô Bạch Mai, ô Yên Phụ, bãi Phúc Xá, bãi Nhà dầu ở
Hà Nội hay xóm Cấm, xóm chùa Đông Khê, xóm Chợ con, ngõ Hàng Gà của
Hải Phòng. Những nhân vật của Nguyên Hồng thường sống trong những xóm
nhà lá hoặc lợp tôn chen chúc, úp xúp, với những ngọn đèn leo lét như ngái
ngủ, đêm đến vang lên tiếng muỗi như ri và những tiếng ú ớ trong giấc ngủ
mê mệt sau một ngày bán sức quần quật ở Sáu Kho, Máy đá, Ximăng...
Chúng ta cũng thường gặp họ ở những ngõ hẻm lầy lội mà sau một trận mưa,
nước ngập vào tận giường ngủ của các gia đình, những ngày mùa hè luôn
luôn có tiếng ầm ầm xô xát giành giật nhau ở ngoài máy nước đầu ngõ; cái
ngõ hẻm đêm ngày nhớp nháp vì người ta gánh nước, đổ rác, gánh rau đậu đi
chợ và luôn luôn nổi lên những tiếng kêu cướp giật, ăn uống chằng bửa, đi xe
quỵt, đánh chém nhau vì một ván bài ù không được tiền hay vì giọng cười
khiêu khích của một gái nhảy.
Nguyên Hồng không miêu tả trực tiếp quá trình những người nông dân
phá sản, bị cướp đoạt, bỏ làng quê ra thành phố nhưng anh thấy rõ số đông
dân nghèo ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định là những người lìa hẳn quê lên
đây "sau mấy năm lụt lội, đói khát, dịch tễ liên tiếp, họ đâu như đã bán nốt
miếng đất cuối cùng của ông cha cho bọn kỳ lý, cho Nhà Chung, để gỡ nợ, để
chạy kiện, để thoát vạ rượu, vạ cướp tiêu sưng, để khỏi nhìn những cảnh đau
tủi, uất ức mà đi tha hương cầu thực, thử xem ngoài những nơi chôn rau cắt
rốn của họ, đời họ có thay đổi được chút nào không?" (Ngọn lửa). Trong số
họ cũng có những cô gái quê bị mẹ gả bán, ép uổng hoặc bị đày đọa bởi
những hủ tục, luật lệ phong kiến khắc nghiệt, đã bỏ làng ra tỉnh rồi bị lừa bịp,
cưỡng hiếp, biến thành lưu manh, gái điếm (như Tám Bính trong Bỉ vỏ) hoặc
rơi vào ổ của bọn cờ bạc bịp và buôn hàng lậu (Muống trong Quán Nải)...
Sớm muộn thì cái đám dân quê xiêu dạt ra thành phố này sẽ dần dần mất đi
lịch sử riêng, mà chỉ còn là đám đông vô danh trong một bộ đồng phục màu
xám, hàng ngày lang thang đi kiếm ăn trong những điều kiện sống hết sức
khắc nghiệt, vô tình của những thành phố tư sản.
Trước 1945, Nguyên Hồng chưa ý thức được rõ rệt (như sau này trong
Sóng gầm) sự bóc lột, cướp đoạt, lối sống lạnh lùng, bất cận nhân tình của
những thành phố kỹ nghệ tư sản. Nhưng anh đã miêu tả một cách trung thực,
đau đớn và dữ dội, quá trình bần cùng hóa và lưu manh hóa của dân nghèo
thành thị. Anh là chứng nhân cho bao câu chuyện đau khổ, uất ức, tan nát,
chia lìa của những gia đình lương thiện (Đây, bóng tối; Hai mẹ con; Hơi thở
tàn; Người con gái; Vực thẳm; Giọt máu...).
Kết quả của chính sách bóc lột, bần cùng hóa của bọn thực dân phong
kiến làm hàng vạn gia đình dân nghèo bị tan nát hoặc bị đẩy vào những bi
kịch không lối thoát. Cuộc sống cùng quẫn, tối tăm đã làm xuất hiện những
kiểu người gần như mụ mị, mất trí hoặc phát điên. Do cuộc sống cùng quẫn
kéo dài và bị cái xã hội cũ đầu độc, một số phu phen, thợ thuyền đâm ra phản
ứng cực đoan, rượu chè cờ bạc, đánh vợ chửi con, càng ngày càng chìm sâu
vào vũng bùn tội lỗi (Sau hai mươi năm, Người mẹ không con, Bố con lão
Đen). Một số dân nghèo đã bị cái chế độ độc ác, vô lương biến thành lưu
manh, gái điếm (Bỉ vỏ, Chín Huyền, Bảy Hựu, Khói ken nếp và xà lim...).
Cái xã hội những kẻ lưu manh đó đã trở thành đề tài trong khá nhiều truyện
thời kỳ đầu của Nguyên Hồng. Xã hội này cũng có tôn ti trật tự, có uống
máu, ăn thề, có báo thù, hy sinh cho đồng đội... Họ sống bằng lừa bịp, chém
giết một cách say sưa, rồ dại rồi cuối cùng tàn lụi đi do những tội ác của mình
gây nên.
Nhưng điều đáng làm chúng ta suy nghĩ không phải ở chỗ Nguyên Hồng
miêu tả những câu chuyện kỳ lạ trong xã hội lưu manh, gái điếm. Ngay ở
những tầng lớp cặn bã nhất, chỉ biết có chém giết lừa bịp, vẫn ánh lên những
tia sáng nhân đạo, vẫn còn lòng yêu thương chung thủy, lòng hy sinh, dám xả
thân vì một nghĩa cử, dám sống chết để bảo vệ đồng đội và nhất là những
thoáng khát vọng muốn thoát khỏi cuộc đời tội lỗi của mình. Cái nhìn của
Nguyên Hồng ở đây cũng giống như cái nhìn của Gorki khi viết về tầng lớp
"dưới đáy" của xã hội Nga, mang đầy tính chất nhân đạo chủ nghĩa. Cho nên
đọc chuyện những nhân vật này, ta thấy tội ác của họ, nhưng đồng thời cũng
thương xót cho những kiếp người đã bị xã hội độc ác nhấn chìm vào vũng
bùn tội lỗi và ngụp lặn trong ấy cơ hồ không thể ngoi lên được.
Sống bên Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở đất Cảng, nhưng tâm hồn Tám
Bính vẫn luôn hướng về một cuộc đời lương thiện trong trắng. Bính nuối tiếc
cuộc đời trong sạch ngày xưa, khi mình còn là cô gái quê ngày ngày đua đòi
cùng với chị em đi các chợ gần chợ xa, đòn gánh trên vai dẻo dang nhún nhảy
nhịp cùng những bước đi thoăn thoắt, những cánh tay mềm mại vung tà áo
nâu ra trước gió. Giờ đây, Bính chỉ ước mong được sống trong một gia đình
lương thiện:
"Một tia hy vọng bỗng thoáng chiếu vào tâm trí Bính như làn chớp vụt xé
vùng trời mờ tối. Bằng sự lần hồi buôn bán, tần tảo ở các chợ xa, rồi đây
Bính sẽ nuôi được đứa con sắp đẻ; sẽ nuôi Năm để Năm khỏi làm điều gian
ác, dần dà Bính trở về quê chuộc đứa con đầu lòng đày ải kia và giúp đỡ cha
mẹ gây dựng cho hai em" (Bỉ vỏ).
Trong tầng lớp lưu manh, cặn bã của xã hội, Nguyên Hồng đã khám phá,
đã nâng niu từng tia sáng nhân đạo, phần lương tâm còn lại dưới đáy sâu tâm
hồn vụt lóe lên.
Tác phẩm của Nguyên Hồng cho ta thấy quá trình bần cùng hóa, lưu manh
hóa của những người dân nghèo thành thị, nhưng cái hướng chính, hướng
lương thiện của họ, theo ông, vẫn là niềm khao khát vươn tới ánh sáng,
những mong muốn có một sự thay đổi, một sự chuyển biến mạnh mẽ nhằm
tạo ra một cuộc sống công bằng hơn, đẹp đẽ hơn. Vấn đề chính trong tác
phẩm của Nguyên Hồng trước cách mạng là: những con người quằn quại
trong sự đau khổ nhưng vẫn lạc quan, yêu đời, vẫn muốn "ngoi lên ánh sáng
như những mầm cây xanh" (Ngọn lửa).
Những người dân nghèo trong tác phẩm của Nguyên Hồng hơi giống
chàng trai trong truyện Lấy vợ cóc. Hình thức bên ngoài xù xì, lem luốc
nhưng tâm hồn bên trong rất cao đẹp, rất đáng quý. Đó là tình thương yêu,
đùm bọc lẫn nhau giữa những người cùng khổ (Hơi thở tàn); tình nghĩa chung
thủy và lòng hy sinh cho hạnh phúc của người khác (Đây, bóng tối; Trong
cảnh khốn cùng); lòng tự trọng, dù đói khổ vẫn không chấp nhận lối sống
trụy lạc, bán rẻ nhân phẩm để chạy theo đồng tiền và danh vọng (Cô gái quê,
Nhà bố Nấu...). Nhưng dù sao, nhiều nhân vật nghèo của Nguyên Hồng vẫn
còn giữ một thái độ cam phận, nhẫn nhục, chịu đựng trước cảnh ngộ. Đôi lúc
ta lại có cảm tưởng dường như ngòi bút nhà văn chìm sâu một cách triền
miên trong sự khổ đau, say sưa trong một thứ chủ nghĩa cùng khổ.
Nhược điểm này từ 1938 trở đi, dần dần được khắc phục. Do những ảnh
hưởng khá quyết định của phong trào Mặt trận Dân chủ, nhà văn Nguyên
Hồng đã bắt đầu có ý thức nâng cao sự giác ngộ giai cấp, giúp những người
dân nghèo tìm ra nguyên nhân của sự đói khổ, từ đó dần dần gợi cho họ tinh
thần đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống mọi sự mê muội về mặt tinh thần
của một thứ thuốc phiện tôn giáo (Nhà bố Nấu, Những mầm sống).
Cùng đứng trong chủ nghĩa hiện thực phê phán nhưng Ngô Tất Tố,
Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng... mỗi người
có một phong cách riêng, phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng cũng
mang những màu sắc thẩm mỹ độc đáo.
Cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm Nguyên Hồng dường như chủ yếu
chưa phải xuất phát từ một thái độ phẫn nộ, muốn lên án bọn địa chủ, tư sản,
quan lại, muốn vạch mặt trái những chính sách mỵ dân giả dối, lừa bịp và tố
cáo những thủ đoạn đ...
Tiểu Sử Nguyên Hồng (1918-1982)
Lời Giới Thiệu
Linh Hồn
Nhà Sư Nữ Chùa Âm Hồn
Bảy Hựu
Đây, Bóng Tối
Trong Cảnh Khốn Cùng
Con Chó Vàng
Sông Máu
Chín Huyền
Hàng Cơm Đêm
Tôi Dạy Học
Hai Nhà Nghề
Sau Cơn Giông Tố
Người Chị
Sau Hai Mươi Năm
Con "Đoàn" Cuối Cùng
Tội Ác
Mối Hờn
Nhà Bố Nấu
Hai Mẹ Con
Khói "Ken Nếp" Và Xà Lim
Tết Của Tù Đàn Bà
Lớp Học Lẩn Lút
Những Mầm Sống
Cô Gái Quê
Những Giọt Sữa
Sự Đau Khổ Của Một Con Người
Người Đàn Bà Tàu
Mợ Du
Bố Con Lão Đen
Cái Xích Cũ
Người Mẹ Không Con
Miếng Bánh
Người Con Gái
Một Trưa Nắng
Láng
Lúc Chiều Xuống
Hai Dòng Sữa
Giọt Máu
Cánh Cửa Xám
Thịt Chết
Buổi Chiều Xám
Trước Xác Chết
Đi
Tàu Đêm
Vũng Máu
Bà Cụ Việt
Lửa Thiêu
Cơn Sốt
Lưới Sắt
Ngòi Lửa
Tiếng Nói
Một Buổi Chiều Nhà Quê
Con Gái Người Mãi Võ Họ Hoa
Những Ngày Thơ Ấu
Bước Đường Viết Văn
Một Tuổi Thơ Văn
NGUYÊN HỒNG TOÀN TẬP 1
Nguyên Hồng
www.dtv-ebook.com
Tiểu Sử Nguyên Hồng (1918-1982)
Nguyên Hồng họ Nguyễn, tên khai sinh đồng thời cũng là bút hiệu duy
nhất trong cuộc đời cầm bút của nhà văn. Nguyên Hồng sinh ngày 5-11-1918
tại phố Hàng Cau, thành phố Nam Định trong một gia đình nghèo theo đạo
Thiên Chúa. Mười hai tuổi, bố chết vì ho lao, người mẹ trẻ nghèo khổ phải
vào Vinh ở vú đầm, rồi mấy năm sau đi bước nữa. Mười lăm tuổi, vừa đậu
xong Tiểu học đã bị đày đọa trong các nhà lao Nam Định, Hà Nội rồi bị giải
đi Phúc Yên. Mười sáu tuổi, hết hạn tù được tha, Nguyên Hồng phải từ giã
thành phố Nam Định và người bà nội ngoan đạo, cùng mẹ và bố dượng ra
sinh sống ở xóm Cấm, Hải Phòng. Hơn ba năm, Nguyên Hồng đã dạy học lẩn
lút trong các xóm nghèo lao động với hơn hai mươi đứa trẻ lau nhau, rách
rưới, con em của những người làm nghề đội than, khuân vác hoặc buôn thúng
bán mẹt ở xóm Cấm và xóm chùa Đông Khê. Cũng chính ở Hải Phòng,
Nguyên Hồng gặp nhà thơ Thế Lữ (1935), kiện tướng của phong trào Thơ
mới, thành viên của Tự lực văn đoàn. Từ đó, người thanh niên thất nghiệp
này nuôi khát vọng đi vào con đường văn chương, coi văn chương là lẽ sống
cao cả nhất của đời mình. Những trang bản thảo đầu tiên rất trong sáng và say
mê của tiểu thuyết Bỉ vỏ và hồi ký Những ngày thơ ấu đã được hình thành
dần trong những căn nhà ổ chuột tối tăm, bẩn thỉu của khu phu phen thuyền
thợ xóm Cấm, Hải Phòng. Năm 1937, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng và Kim tiền
của Vi Huyền Đắc được nhận giải thưởng Tự lực văn đoàn và từ năm 1938
báo Ngày nay bắt đầu giới thiệu Những ngày thơ ấu. Mối quan hệ giữa
Nguyên Hồng với Thạch Lam bắt đầu từ những ngày đó.
Thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Nguyên Hồng đã bắt đầu liên lạc với chính trị
phạm ở Sơn La, Côn Lôn trở về như Vũ Thiện Chân, Bùi Vũ Trụ và ở trụ sở
chi nhánh báo Thời thế ở đường Cát Dài, Hải Phòng, Nguyên Hồng đã có cơ
hội tìm đọc Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Vấn đề dân cày của Qua Ninh, Vân
Đình, Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến và những tiểu thuyết của Marxime
Gorki... Năm 1938, Nguyên Hồng gặp Như Phong, sinh hoạt trong Đoàn
Thanh niên Dân chủ và viết trên các báo Thế giới, Người mới và Mới cùng
với Như Phong, Nguyễn Thường Khanh, Trần Minh Tước, Lưu Quý Kỳ
(Thanh Vệ) và Lê Hy (Lã Vĩnh Lợi). Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng
nổ, ngày 29-9-1939, Nguyên Hồng bị mật thám Pháp bắt bỏ tù ở Hải Phòng
về tội tàng trữ và truyền bá sách báo cộng sản. Trong nhà tù Hải Phòng,
Nguyên Hồng đã được gặp Tô Hiệu, Bùi Đình Đống, Ngô Minh Loan và
tham dự lớp huấn luyện theo Đề cương cách mạng tư sản dân quyền do Bí
thư thành ủy Tô Hiệu hướng dẫn. Những vốn sống quý báu đó đã tạo điều
kiện cho Nguyên Hồng viết về những chiến sĩ cách mạng trong Lưới sắt, Lò
lửa, Sóng gầm...
Năm 1940, Nguên Hồng lại bị bắt giam và bị giải lên trại tập trung Bắc
Mê, Hà Giang, đi làm cỏ vê, gánh đá cùng với Xuân Thủy, Đinh Nhu, Trần
Các... Tiểu thuyết Xóm Cháy (phác thảo đầu tiên của Sóng gầm) viết được
300 trang thì bị bọn mật thám tịch thu, ông chuyển sang viết những mẩu ngăn
ngắn giả làm nhật ký thư (Cuộc sống).
Cuối mùa hè năm 1943, Nguyên Hồng tham gia tổ chức Văn hóa Cứu
quốc bí mật (trong Mặt trận Việt minh) cùng với Như Phong, Nam Cao, Tô
Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng... Chính trong tổ chức này,
Nguyên Hồng được đọc Đề cương Văn hóa 1943 của Đảng và những phương
châm của Đề cương đã có ảnh hưởng rõ rệt đến những tác phẩm như Hơi thở
tàn, Hai dòng sữa, Ngọn lửa, Buổi chiều xám..., những tác phẩm được viết
trong thời kỳ Tiền khởi nghĩa.
Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyên Hồng tham gia khởi nghĩa ở
Hà Nội, là biên tập viên tạp chí Tiên phong, cơ quan vận động văn hóa mới
của Đảng. Sau đợt Nam tiến vào mặt trận Nha Trang, khi kháng chiến toàn
quốc bùng nổ, năm 1947, Nguyên Hồng cùng gia đình lên Việt Bắc, sống ở
ấp Cầu Đen, Yên Thế cùng với một số văn nghệ sĩ như Ngô Tất Tố, Kim
Lân, Nguyễn Huy Tưởng... Nguyên Hồng tham gia hoạt động trong Hội Văn
nghệ Việt Nam, là biên tập viên tạp chí Văn nghệ của Hội và phụ trách
trường Văn nghệ nhân dân Trung ương. Năm 1948, Nguyên Hồng cùng với
Nam Cao được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng
sản Việt Nam).
Hòa bình lập lại năm 1954, Nguyên Hồng cùng gia đình về Hà Nội, công
tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Tháng 4 - 1957, Hội Nhà văn Việt Nam
thành lập, ông tham gia Ban Chấp hành, làm Thư ký tòa soạn tuần báo Văn
của Hội. Năm 1958, Nguyên Hồng về tham gia lao động ở nhà máy Xi măng
Hải Phòng, chính thời gian này ông bắt đầu thai nghén tiểu thuyết Cửa biển,
bộ tiểu thuyết - sử thi bốn tập đầu tiên ở nước ta. Từ năm 1962, Nguyên
Hồng cùng gia đình trở lại ấp Cầu Đen, Yên Thế (nay là xã Quang Tiến,
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang). Tháng 1 -1963, tại Đại hội Nhà văn lần thứ
II, Nguyên Hồng được bầu vào Ban Chấp hành và năm 1964 được cử làm
Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng. Sau Hải Phòng, Yên Thế đã trở thành quê
hương thứ hai của Nguyên Hồng, là nơi ông sống lâu nhất và cũng là nơi ông
đang xây dựng một bộ tiểu thuyết lịch sử ba tập: Hoàng Hoa Thám và Núi
rừng Yên Thế. Tập hai đang hoàn thành thì ông đột ngột từ trần ngày 2-51982.
Nhà văn Nguyên Hồng được Chính phủ truy tặng Huân chương Độc lập
hạng Ba và giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt đầu tiên
(1996). Nguyên Hồng là một nhà văn xuôi lớn của nền văn học Việt Nam
hiện đại, đồng thời cũng là người thầy trực tiếp dìu dắt nhiều thế hệ nhà văn
trẻ đi vào con đường sáng tác văn học.
TÁC PHẨM NGUYÊN HỒNG
· Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938)
· Bảy Hựu (tập truyện ngắn, 1940)
· Những ngày thơ ấu (hồi ký, 1940)
· Cuộc sống (tiểu thuyết, 1942)
· Qua những màn tối (truyện vừa, 1942)
· Quán Nải (tiểu thuyết, 1942)
· Hai dòng sữa (tập truyện ngắn, 1943)
· Hơi thở tàn (tiểu thuyết, 1944)
· Vực thẳm (truyện vừa, 1944)
· Ngọn lửa (truyện vừa, 1944)
· Miếng bánh (tập truyện ngắn, 1945)
· Địa ngục và Lò lửa (tập truyện ngắn, 1946)
· Đất nước yêu dấu (ký, 1949)
· Đêm giải phóng (truyện vừa, 1952)
· Giữ thóc (tập truyện ngắn, 1956)
· Trời xanh (thơ, 1960)
· Sóng gầm (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1961)
· Sức sống của ngòi bút (tạp văn, 1964)
· Cơn bão đã đến (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1965)
· Bước đường viết văn (hồi ký, 1971)
· Thời kỳ đen tối (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1973)
· Một tuổi thơ văn (hồi ký, 1973)
· Sông núi quê hương (thơ, 1973)
· Khi đứa con ra đời (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1975)
· Những nhân vật ấy đã sống với tôi (hồi ký, 1978)
· Thù nhà nợ nước (tiểu thuyết lịch sử, 1981)
· Tuyển tập Nguyên Hồng (1983 - 1985)
DI CẢO
· Núi rừng Yên Thế (tập I trong bộ tiểu thuyết lịch sử Hoàng Hoa Thám
và Núi rừng Yên Thế, 1993)
· Người con gái họ Dương (Dương Hậu) (kịch)
· Hoa trái đất (thơ)
NIÊN BIỂU NGUYÊN HỒNG
Tên khai sinh: Nguyễn Nguyên Hồng.
Ngày sinh: 5-11-1918
Nơi sinh: Phố Hàng Cau - Thành phố Nam Định.
Ngày mất: 2-5-1982.
Nơi mất: Ấp Cầu Đen - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang.
1930: Bố mất, mẹ đi bước nữa. Ở với bà nội nhưng gần như phải tự lập để
ăn học.
1935: Cùng gia đình ra Hải Phòng, lưu trú tại xóm Cấm, lén dạy tư để
kiếm sống. Gặp Thế Lữ ở ngõ Nghè, quyết theo nghề văn.
1936: Đăng truyện ngắn đầu tay Linh hồn trên Tiểu thuyết thứ Bảy.
1937: Bỉ vỏ (tiểu thuyết) được đăng tải trên các báo và được trao giải
thưởng của Tự lực văn đoàn.
1938: - Bỉ vỏ được in thành sách.
- Gặp Như Phong ở Hà Nội. Tham gia Cách mạng, mở đầu bằng việc dự
mít tinh 1-5 tại Đấu Xảo. Vào Mặt trận Dân chủ ở Hải Phòng.
- Viết cho các báo: Ngày nay, Tiểu thuyết thứ Bảy, Thế giới, Người mới ở
Hà Nội; Mới, Đông Phương ở Sài Gòn.
- Hồi ký Những ngày thơ ấu được đăng nhiều kỳ trên Ngày nay từ số 134
(ra ngày 29-10-1938).
1939: - Bị chính quyền Pháp bắt giam ở Hải Phòng, kết án tù 6 tháng.
- In truyện ngắn Người đàn bà Tàu (sau đổi là Một người mẹ Trung Quốc)
và một số truyện ngắn.
- Gặp Tô Hiệu (Bí thư Thành ủy Hải Phòng). Tiếp xúc trực tiếp với những
người Cộng sản.
1940: Bị đưa đi trại tập trung ở Bắc Mê (Hà Giang). In Những ngày thơ
ấu (NXB. Đời nay). Viết Xóm Cháy nhưng bị mất bản thảo.
1941: In Bảy Hựu (tập truyện ngắn).
- Tháng 11, rời Bắc Mê, bị quản thúc tại Nam Định.
1942: Về Hà Nội. In Qua những màn tối (truyện vừa). Tháng 6, lập gia
đình. In Cuộc sống (tiểu thuyết - NXB. Tân Dân).
1943: - Tham gia Hội văn hóa Cứu quốc bí mật cùng Tô Hoài, Như
Phong, Vũ Quốc Uy, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao...
- In Hai dòng sữa (truyện ngắn), Quán Nải (tiểu thuyết), Đàn chim non
(tiểu thuyết).
1944: In Vực thẳm (truyện vừa), Hơi thở tàn (tiểu thuyết)..., chịu ảnh
hưởng rõ rệt của Đề cương Văn hóa 1943.
1945: - Tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Hà Nội.
- Là một trong những người sáng lập tạp chí Tiên phong.
- In Ngọn lửa (truyện vừa), Miếng bánh (truyện ngắn).
1946: Viết Địa ngục và Lò lửa (tập truyện ngắn), trong đó có một số
truyện đã in trên Tiên phong. Tham gia Nam tiến đến mặt trận Nha Trang.
Năm sau cùng một số gia đình văn nghệ sĩ lên khai phá ấp Kỳ Nhân (tức ấp
Cầu Đen - Yên Thế). Tham gia Hội Văn nghệ Việt Nam (đến 1957).
1948: Kết nạp Đảng tại chiến khu Việt Bắc.
1949: In Đất nước yêu dấu (ký).
1952: Viết Đêm giải phóng (truyện vừa). Phụ trách Trường văn nghệ nhân
dân Trung ương, Ban Văn hóa công nhân, được gọi thân mật là "ông đốc
Hồng".
1955: Hải Phòng giải phóng. Về làm báo tại thành phố cảng. In lại Đất
nước yêu dấu. In Giữ thóc (truyện ngắn).
1956: Trở thành biên tập viên của báo Văn nghệ. In lại Địa ngục và Lò
lửa. In Giọt máu (truyện ngắn).
1957: Tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam vừa thành lập,
phụ trách báo Văn. In lại Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu.
1958: Về Yên Thế, hình thành ý tưởng viết bộ tiểu thuyết Cửa biển.
1959: Viết Sóng gầm. In Trời xanh (thơ). In lại Địa ngục và Lò lửa.
1961: In Sóng gầm.
1963: Tham gia Ban vận động thành lập Chi hội văn nghệ Hải Phòng. In
Sức sống của ngòi bút (tạp văn). In lại Những ngày thơ ấu. Gặp Pierre
Abraham, chủ nhiệm tạp chí Châu Âu tại Hà Nội.
1964: Được bầu làm chủ tịch Chi hội văn nghệ Hải Phòng (mới thành lập)
cho đến lúc mất.
1965: Về thăm quê.
1966: Đọc tham luận tại Hội nghị trí thức Việt Nam chống Mỹ cứu nước.
1967: In Cơn bão đã đến (trong Cửa biển).
1971: In Bước đường viết văn của tôi (hồi ký). Viết xong Thời kỳ đen tối
(trong Cửa biển). In lại Bỉ vỏ.
1972: In Cháu gái người mãi võ họ Hoa (truyện thiếu nhi).
1973: In Thời kỳ đen tối, Một tuổi thơ văn (hồi ký), Sông núi quê hương
(thơ).
1976: In Khi đứa con ra đời (tập cuối), hoàn thành Cửa biển (hơn 2000
trang).
1978: In Những nhân vật ấy đã sống với tôi (hồi ký). Xuất bản Tuyển tập
Nguyên Hồng tại Liên Xô (Nguyễn Tuân đề tựa).
1981: In Thù nhà nợ nước (tập I, bộ tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế).
1982: Sau khi Nguyên Hồng mất, NXB. Văn học in Tuyển tập Nguyên
Hồng (tập I: 1983; tập II: 1984; tập III: 1985).
(Dựa theo Niên biểu Nguyên Hồng của Mai Hải Oanhbtrong Nguyên
Hồng - Cát bụi và ánh sáng - NXB. Hội nhà văn 1992, có bổ sung)
DI CẢO:
- Núi rừng Yên Thế (tiểu thuyết, tập II - xuất bản 1993).
- Người con gái họ Dương (Dương Hậu) (kịch, 1978)
- Hoa trái đất (thơ, 1960)
GIẢI THƯỞNG:
- Giải văn chương của Tự lực văn đoàn trao cho Bỉ vỏ (1937)
- Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật
(Đợt I, 1996).
NGUYÊN HỒNG TOÀN TẬP 1
Nguyên Hồng
www.dtv-ebook.com
Lời Giới Thiệu
Lần đầu tiên gặp Nguyên Hồng trong Khách sạn Metropole ở Hà Nội,
Pierre Abraham (1892-1974), Tổng biên tập tạp chí Europe (Châu Âu) nhận
xét: "Như từ bờ bãi sông Hồng đỏ rực gió cuốn đến đây, nhà văn lớn này là
người của đất, thật là người của đất". Những ai gặp Nguyên Hồng lần đầu
đều có ấn tượng như thế, đều không quên được cái dáng dấp tất tưởi, lam lũ,
nụ cười tự tin, yêu đời trên khuôn mặt nhân hậu, còn in rõ dấu vết những
tháng ngày đói khổ, tủi nhục trong cuộc đời sớm vất vả trước đây của anh. Có
thể nói từ bé đến lớn, anh đã phải chịu đựng biết bao dằn vặt, đầy đọa trong
những năm tháng dài dằng dặc và tối tăm của xã hội cũ. Mười hai tuổi, bố ho
lao chết, người mẹ trẻ nghèo khổ phải từ giã con trai vào Vinh ở vú đầm; cậu
bé thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu mọi tình thương yêu chăm sóc đã lang thang nơi
đầu đường xó chợ, đánh đáo kiếm ăn, chung đụng với đủ các hạng trẻ nghèo
đói, du đãng (Những ngày thơ ấu). Mười lăm tuổi, vừa đậu xong tiểu học đã
bị đày đọa trong các nhà lao Nam Định, Hà Nội rồi bị giải đi Phúc Yên, cậu
"tù trẻ con"... (1)đã nhiều lần bưng mặt khóc ngay dưới gốc cây, bên cạnh xe
bò rác mỗi khi nghĩ đến tuổi ấu thơ và cái thành phố quê hương của mình,
nhưng rồi lại vội vội vàng vàng lấy vạt áo chùi nước mắt lúc chợt thấy người
lạ đi qua. Đoạn tang cha, mẹ đi bước nữa, rồi năm sau, cậu thiếu niên hết hạn
tù được tha. Họ hàng nhà chồng khinh bỉ người đàn bà cải giá và những
người xung quanh rẻ rúng, ghê sợ đứa con trai "mới một dúm tuổi mà đã trải
hết lao này sang lao khác".
----(1) Tù trẻ con là một tập ký pha tiểu thuyết hơn 300 trang, Nguyên Hồng
viết xong bảy ngày trước khi bị Pháp bắt ở Hải Phòng (29-9-1939). Khi đi tù,
bản thảo bị mật thám Hà Nội đốt mất.
Tránh mọi thành kiến hẹp hòi, mọi tai tiếng dị nghị, mọi con mắt xoi mói,
dòm ngó ở một tỉnh nhỏ, gia đình Nguyên Hồng bỏ nơi chôn rau cắt rốn tìm
ra Hải Phòng kiếm kế sinh nhai ở một thành phố công nghiệp ồn ào, đông
đúc, cái nơi thiên hạ tứ xứ mà dù có phải kéo xe hay bán ốc đầu đường cũng
được, không ai biết đấy là đâu...
Nhưng rồi từ ngày đó người ta thấy xuất hiện trên đường phố Hải Phòng
một người thanh niên thất nghiệp, dáng người nhỏ bé lom khom, áo chùng
thâm dán lấy ngực, mũ trắng vành to, gương mặt xanh xao mất máu, ngày
ngày lang thang ở bến tàu Sáu Kho, Nhà máy xi măng, Sở dầu Thượng Lý
hoặc chầu chực ở cổng các nhà máy Cốt phát, Máy tơ, Máy chỉ, Máy ống, các
hãng chuyên chở hàng hóa, các bến ôtô tàu thủy, các kho hàng, cửa hiệu, tràn
than, lán củi, hoặc lân la ở các xóm ngõ đầu đường nơi đi về của phu phen
thuyền thợ... để nghe ngóng, thăm dò công việc. Vườn hoa Đưa người là
chặng nghỉ cuối cùng sau những buổi sáng, buổi chiều đi chầu chực, xin xỏ
các nơi không được việc gì cả, là nơi sau những buổi tối cơm chiều không có,
đèn nhà hết dầu, anh đến đứng lặng thẫn thờ, trong lòng đau khổ, buồn bã vô
cùng.
Chợ Vườn hoa Đưa người trông xuống sông Lấp, mà một bên bờ có khu
nhà thương và khu đề lao. Đứng lẫn trong đám người thất nghiệp trên Hà Nội
xuống, ở Nam Định ra, ngoài Hòn Gai, Cẩm Phả về tụ tập tại đây chầu chực
đi ăn đi ở, Nguyên Hồng thường trông ra đường, lòng thắt lại khi thấy những
chuyến xe chở vội những xác chết vô thừa nhận và những đám tù giải đi xử
án. Những cảnh ngộ buồn thảm đó cứ trĩu xuống tâm hồn anh, đe dọa cuộc
sống thoi thóp từng ngày của gia đình anh.
Bao nhiêu ngày tháng bị câu thúc thân thể, bị đày đọa tù tội, bây giờ lại
thêm cảnh đói khổ thất nghiệp kéo dài, Nguyên Hồng nhiều lúc lo sợ, bối rối,
tưởng mình sẽ chết đau đớn ở cái tuổi mười sáu. Và người thanh niên đó thấy
ham sống, thèm sống, tha thiết, khắc khoải lạ thường. Anh nghĩ dù có chết
cũng phải để lại cho cõi đời mà anh yêu mến một cái gì vừa tinh khiết, trong
sáng, vừa tha thiết yêu thương nhất của tâm hồn.
Đối với một người thanh niên thời đó, địa vị không có, gia đình suy tàn,
học thức tầm thường nhỏ nhoi, anh nghĩ, chỉ còn một cách tồn tại trong cuộc
sống bằng cái cao quý, trong sạch của văn chương. Và anh bắt đầu viết, viết
suốt ngày suốt đêm, viết một cách đau khổ, say mê, bất chấp "cái đói ê ẩm
thấm thía vô cùng trong đêm mưa lạnh hoang vắng".
Bỉ vỏ được viết "trên một cái bàn kê bên khung cửa trông ra vũng nước
đen ngầu bọt của một bãi đất lấp dở dang và một chuồng lợn ngập ngụa phân
tro" (2). Cũng như một nhân vật của Nam Cao trong truyện ngắn Trăng sáng,
Nguyên Hồng thường mê mải ngồi viết truyện giữa tiếng tranh giành xô xát,
mỉa mai đay nghiến, eo sèo khắc khoải của những người dân nghèo trong các
ngõ hẻm thành phố. Viết văn đối với anh là một lẽ sống. Cho nên ngay cả
trong những ngày đi tù ở Bắc Mê, cứ mỗi buổi trưa đi làm cỏ vê về anh lại
ngồi viết ở một gốc cây mé sau trại giam, dưới một bầu trời mờ mờ xám xám,
xung quanh là màu xanh hoang vu của núi rừng dày đặc và tiếng gió rừng
lạnh lẽo hú lên từ thung lũng này qua thung lũng khác (Cuộc sống).
----(2) Tôi viết Bỉ vỏ.
Cho đến những năm dài về sau, khát vọng sáng tạo vẫn cứ luôn luôn thôi
thúc anh một cách mạnh mẽ, tha thiết, đến mức anh nghĩ rằng mình có thể
chết dần chết mòn nếu như vì một lý do nào đấy, không thể cầm bút được
nữa...
Những ảnh hưởng lung linh, choáng ngợp ban đầu của Thế Lữ, Lưu Trọng
Lư, V.Hugo... có thể kéo cây bút Nguyên Hồng về phía chủ nghĩa lãng mạn.
Cả cái hưng phấn nội tâm, cái bút pháp cường điệu, phóng đại cũng có thể
hướng anh về phía đó. Nhưng cuộc đời đói khổ, lam lũ đã giúp cho ngòi bút
của anh ngày càng cắm sâu trên mảnh đất màu mỡ của chủ nghĩa hiện thực.
Anh sẽ viết những sự thực đau đớn và những khát vọng da diết của cuộc
đời anh và cuộc đời những người lao động nghèo cùng cảnh ngộ ở cái xóm
Cấm và xóm chùa Đông Khê. Hơn ba năm, Nguyên Hồng đã dạy học lẩn lút
trong cái xóm nghèo lao động đó với hơn hai mươi đứa trẻ lau nhau, rách
rưới, con các phu phen thuyền thợ, các người buôn bán nhỏ, các người gánh
nước thuê... Cả cái xóm lam lũ, đói khổ đó đã tin yêu, đùm bọc lấy cậu giáo
nghèo của họ. Cho nên không phải là ngẫu nhiên mà hơn bốn chục năm nay,
Nguyên Hồng đã viết về lớp dân nghèo thành thị với một "niềm tin tưởng tha
thiết", một tình "yêu thương đắm đuối", một niềm đồng cảm sâu sắc của
những người "cùng một hoàn cảnh, cùng một đời sống thấp kém và tối tăm,
vì thiếu thốn đủ mọi thứ, vì phải chịu đựng đủ mọi thứ" (Lớp học lẩn lút).
Dường như mỗi nhà văn đều có một nguồn suối tinh thần yêu thương của họ.
Ngô Tất Tố tiếp thu được cái hơi thở khỏe mạnh, hồn hậu, lạc quan của nông
dân, còn Nguyên Hồng thì bắt rễ sâu vào cuộc sống và những tình cảm tốt
đẹp của những người dân nghèo, thợ thuyền thành phố. Anh luôn luôn nói
đến những người lao động nghèo khổ với lòng biết ơn tình nghĩa, với sự gắn
bó thủy chung.
***
Trong mấy chục năm gần đây, người ta đã nói nhiều đến những tập tiểu
thuyết của Nguyên Hồng như Bỉ vỏ, Sóng gầm, Cơn bão đã đến... Thực ra
trong sự nghiệp văn học của anh, truyện ngắn có một vị trí quan trọng, không
thua kém gì tiểu thuyết. Chúng ta có thể nói đến Nguyên Hồng như một
phong cách truyện ngắn trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. Sưu tầm và tuyển
chọn những tác phẩm trước và sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta sẽ có một
tập truyện ngắn giá trị với nhiều màu sắc độc đáo.
Khá nhiều truyện ngắn của Nguyên Hồng được viết với một bút pháp hiện
thực tỉnh táo. Trong các truyện Đây, bóng tối; Láng; Vực thẳm; Người con
gái; Hai mẹ con, cái cường độ ngột ngạt căng thẳng cứ tăng lên mãi và tác
giả, dường như cứ lạnh lùng, bình tĩnh xoáy sâu mãi vào chỗ tột cùng của bi
thảm khiến cho người đọc bỗng cảm thấy đau xót, nhức nhối vô hạn cho
những kiếp người thống khổ trong xã hội cũ. Trong một số truyện, để đạt
hiệu quả tố cáo cao nhất, ngòi bút nghiêm ngặt của ông không ngần ngại
phanh phui những chi tiết tỉ mỉ, trần trụi, đôi khi cứ như là chấp chới bên bờ
của chủ nghĩa tự nhiên (Đi, Người học trò, Tàu đêm)... Lại có truyện, tác giả
như giấu mình đi, sử dụng một lối văn trần thuật khách quan, một ngôn ngữ
trung tính để cho lòng sôi sục căm giận của người đọc bị nén chặt lại, chuẩn
bị cho quả bộc phá bùng nổ (Ngòi lửa, Giọt máu). Nhưng cũng có truyện tràn
đầy một âm hưởng trữ tình lãng mạn, không phải thứ lãng mạn tiêu cực, thoát
ly mà là một chất thơ bắt nguồn từ cuộc sống cần lao của người dân Hải
Phòng, một chủ nghĩa lãng mạn cách mạng bắt nguồn từ một niềm tin lý
tưởng (Những mầm sống, một số truyện trong Cuộc sống). Có khi lại là màu
sắc lãng mạn trong các truyện dân gian, nhân vật "trông như là Thạch Sanh
hay quân lính của đức Thánh Gióng, đức Thánh Trần vậy" (Chuyện cái xóm
tha hương).
Tính chiến đấu của truyện ngắn Nguyên Hồng được thể hiện qua những
thủ pháp nghệ thuật tương phản trong việc xây dựng kết cấu và hệ thống hình
tượng. Có khi là sự đối lập giữa hai kiểu người, hai lối sống, một bên là lòng
nhân hậu, là nghĩa thủy chung, một bên là sự hưởng thụ ích kỷ, là thói độc ác
tàn nhẫn (Giọt máu, Cô gái quê, Nhà bố Nấu). Cũng có khi là sự đối lập giữa
hai quan điểm nghệ thuật (Hai dòng sữa, Cái bào thai). Có truyện tác giả để
cho sự việc tự nói lên (Giọt máu) nhưng cũng có truyện mang tính luận đề rõ
rệt và các chi tiết ít nhiều có ý nghĩa tượng trưng (Một trưa nắng, Hai dòng
sữa). Truyện ngắn của Nguyên Hồng đôi khi có khuynh hướng mở rộng quy
mô và dung lượng, kết cấu dàn trải theo chiều dài cuộc đời bi thảm của nhân
vật (Người con gái; Đây, bóng tối; Con gái người mãi võ họ Hoa); nhưng
cũng có truyện chỉ là một cảnh ngộ tối tăm (Tôi dạy học, Lúc chiều xuống),
một câu chuyện dằn vặt lương tâm (Miếng bánh). Khi Nguyên Hồng tránh
được sự dàn trải trong truyện ngắn và cả trong tiểu thuyết (Hơi thở tàn, Quán
Nải), biết tập trung vào tấn bi kịch của cuộc đời, thì thường anh có những
truyện ngắn xuất sắc (Giọt máu, Buổi chiều xám).
Ở đây, ngòi bút của anh khá linh hoạt. Khi thì miêu tả lướt qua những tấn
bi kịch của một đám đông (nạn đói năm 1945), trong đó làm nổi lên một số
trường hợp điển hình (Người học trò, Tàu đêm), khi thì từ cuộc đời lam lũ,
vất vả của một cô gái, tác giả soi sáng cuộc đời chung của những người đàn
bà nhẫn nhục chịu đựng, thầm lặng hy sinh trong xã hội phong kiến (Hàng
cơm đêm). Ống kính của người viết truyện đang quay cận cảnh, bỗng mở ra
một viễn cảnh rộng lớn, có tầm khái quát cao hơn.
Truyện ngắn của Nguyên Hồng sử dụng nhiều bút pháp, nhiều lối kết cấu
và xây dựng nhân vật khác nhau. Tất cả những thủ pháp nghệ thuật đó đều
nhằm phản ánh cuộc sống của từng lớp dân nghèo thành thị: những cuộc đời
lương thiện bị vùi dập tan nát, những tấm lòng yêu thương đùm bọc, nhân
nghĩa thủy chung, những khao khát ước mơ trong sáng, đẹp đẽ hướng về một
thế giới tràn đầy ánh sáng và lý tưởng.
Tác phẩm Nguyên Hồng đã làm sống dậy cuộc sống lam lũ cơ cực, bần
cùng của những người lao động nghèo khổ ở các vùng ngoại ô, ngõ hẻm các
thành phố lớn như ngoại ô Bạch Mai, ô Yên Phụ, bãi Phúc Xá, bãi Nhà dầu ở
Hà Nội hay xóm Cấm, xóm chùa Đông Khê, xóm Chợ con, ngõ Hàng Gà của
Hải Phòng. Những nhân vật của Nguyên Hồng thường sống trong những xóm
nhà lá hoặc lợp tôn chen chúc, úp xúp, với những ngọn đèn leo lét như ngái
ngủ, đêm đến vang lên tiếng muỗi như ri và những tiếng ú ớ trong giấc ngủ
mê mệt sau một ngày bán sức quần quật ở Sáu Kho, Máy đá, Ximăng...
Chúng ta cũng thường gặp họ ở những ngõ hẻm lầy lội mà sau một trận mưa,
nước ngập vào tận giường ngủ của các gia đình, những ngày mùa hè luôn
luôn có tiếng ầm ầm xô xát giành giật nhau ở ngoài máy nước đầu ngõ; cái
ngõ hẻm đêm ngày nhớp nháp vì người ta gánh nước, đổ rác, gánh rau đậu đi
chợ và luôn luôn nổi lên những tiếng kêu cướp giật, ăn uống chằng bửa, đi xe
quỵt, đánh chém nhau vì một ván bài ù không được tiền hay vì giọng cười
khiêu khích của một gái nhảy.
Nguyên Hồng không miêu tả trực tiếp quá trình những người nông dân
phá sản, bị cướp đoạt, bỏ làng quê ra thành phố nhưng anh thấy rõ số đông
dân nghèo ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định là những người lìa hẳn quê lên
đây "sau mấy năm lụt lội, đói khát, dịch tễ liên tiếp, họ đâu như đã bán nốt
miếng đất cuối cùng của ông cha cho bọn kỳ lý, cho Nhà Chung, để gỡ nợ, để
chạy kiện, để thoát vạ rượu, vạ cướp tiêu sưng, để khỏi nhìn những cảnh đau
tủi, uất ức mà đi tha hương cầu thực, thử xem ngoài những nơi chôn rau cắt
rốn của họ, đời họ có thay đổi được chút nào không?" (Ngọn lửa). Trong số
họ cũng có những cô gái quê bị mẹ gả bán, ép uổng hoặc bị đày đọa bởi
những hủ tục, luật lệ phong kiến khắc nghiệt, đã bỏ làng ra tỉnh rồi bị lừa bịp,
cưỡng hiếp, biến thành lưu manh, gái điếm (như Tám Bính trong Bỉ vỏ) hoặc
rơi vào ổ của bọn cờ bạc bịp và buôn hàng lậu (Muống trong Quán Nải)...
Sớm muộn thì cái đám dân quê xiêu dạt ra thành phố này sẽ dần dần mất đi
lịch sử riêng, mà chỉ còn là đám đông vô danh trong một bộ đồng phục màu
xám, hàng ngày lang thang đi kiếm ăn trong những điều kiện sống hết sức
khắc nghiệt, vô tình của những thành phố tư sản.
Trước 1945, Nguyên Hồng chưa ý thức được rõ rệt (như sau này trong
Sóng gầm) sự bóc lột, cướp đoạt, lối sống lạnh lùng, bất cận nhân tình của
những thành phố kỹ nghệ tư sản. Nhưng anh đã miêu tả một cách trung thực,
đau đớn và dữ dội, quá trình bần cùng hóa và lưu manh hóa của dân nghèo
thành thị. Anh là chứng nhân cho bao câu chuyện đau khổ, uất ức, tan nát,
chia lìa của những gia đình lương thiện (Đây, bóng tối; Hai mẹ con; Hơi thở
tàn; Người con gái; Vực thẳm; Giọt máu...).
Kết quả của chính sách bóc lột, bần cùng hóa của bọn thực dân phong
kiến làm hàng vạn gia đình dân nghèo bị tan nát hoặc bị đẩy vào những bi
kịch không lối thoát. Cuộc sống cùng quẫn, tối tăm đã làm xuất hiện những
kiểu người gần như mụ mị, mất trí hoặc phát điên. Do cuộc sống cùng quẫn
kéo dài và bị cái xã hội cũ đầu độc, một số phu phen, thợ thuyền đâm ra phản
ứng cực đoan, rượu chè cờ bạc, đánh vợ chửi con, càng ngày càng chìm sâu
vào vũng bùn tội lỗi (Sau hai mươi năm, Người mẹ không con, Bố con lão
Đen). Một số dân nghèo đã bị cái chế độ độc ác, vô lương biến thành lưu
manh, gái điếm (Bỉ vỏ, Chín Huyền, Bảy Hựu, Khói ken nếp và xà lim...).
Cái xã hội những kẻ lưu manh đó đã trở thành đề tài trong khá nhiều truyện
thời kỳ đầu của Nguyên Hồng. Xã hội này cũng có tôn ti trật tự, có uống
máu, ăn thề, có báo thù, hy sinh cho đồng đội... Họ sống bằng lừa bịp, chém
giết một cách say sưa, rồ dại rồi cuối cùng tàn lụi đi do những tội ác của mình
gây nên.
Nhưng điều đáng làm chúng ta suy nghĩ không phải ở chỗ Nguyên Hồng
miêu tả những câu chuyện kỳ lạ trong xã hội lưu manh, gái điếm. Ngay ở
những tầng lớp cặn bã nhất, chỉ biết có chém giết lừa bịp, vẫn ánh lên những
tia sáng nhân đạo, vẫn còn lòng yêu thương chung thủy, lòng hy sinh, dám xả
thân vì một nghĩa cử, dám sống chết để bảo vệ đồng đội và nhất là những
thoáng khát vọng muốn thoát khỏi cuộc đời tội lỗi của mình. Cái nhìn của
Nguyên Hồng ở đây cũng giống như cái nhìn của Gorki khi viết về tầng lớp
"dưới đáy" của xã hội Nga, mang đầy tính chất nhân đạo chủ nghĩa. Cho nên
đọc chuyện những nhân vật này, ta thấy tội ác của họ, nhưng đồng thời cũng
thương xót cho những kiếp người đã bị xã hội độc ác nhấn chìm vào vũng
bùn tội lỗi và ngụp lặn trong ấy cơ hồ không thể ngoi lên được.
Sống bên Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở đất Cảng, nhưng tâm hồn Tám
Bính vẫn luôn hướng về một cuộc đời lương thiện trong trắng. Bính nuối tiếc
cuộc đời trong sạch ngày xưa, khi mình còn là cô gái quê ngày ngày đua đòi
cùng với chị em đi các chợ gần chợ xa, đòn gánh trên vai dẻo dang nhún nhảy
nhịp cùng những bước đi thoăn thoắt, những cánh tay mềm mại vung tà áo
nâu ra trước gió. Giờ đây, Bính chỉ ước mong được sống trong một gia đình
lương thiện:
"Một tia hy vọng bỗng thoáng chiếu vào tâm trí Bính như làn chớp vụt xé
vùng trời mờ tối. Bằng sự lần hồi buôn bán, tần tảo ở các chợ xa, rồi đây
Bính sẽ nuôi được đứa con sắp đẻ; sẽ nuôi Năm để Năm khỏi làm điều gian
ác, dần dà Bính trở về quê chuộc đứa con đầu lòng đày ải kia và giúp đỡ cha
mẹ gây dựng cho hai em" (Bỉ vỏ).
Trong tầng lớp lưu manh, cặn bã của xã hội, Nguyên Hồng đã khám phá,
đã nâng niu từng tia sáng nhân đạo, phần lương tâm còn lại dưới đáy sâu tâm
hồn vụt lóe lên.
Tác phẩm của Nguyên Hồng cho ta thấy quá trình bần cùng hóa, lưu manh
hóa của những người dân nghèo thành thị, nhưng cái hướng chính, hướng
lương thiện của họ, theo ông, vẫn là niềm khao khát vươn tới ánh sáng,
những mong muốn có một sự thay đổi, một sự chuyển biến mạnh mẽ nhằm
tạo ra một cuộc sống công bằng hơn, đẹp đẽ hơn. Vấn đề chính trong tác
phẩm của Nguyên Hồng trước cách mạng là: những con người quằn quại
trong sự đau khổ nhưng vẫn lạc quan, yêu đời, vẫn muốn "ngoi lên ánh sáng
như những mầm cây xanh" (Ngọn lửa).
Những người dân nghèo trong tác phẩm của Nguyên Hồng hơi giống
chàng trai trong truyện Lấy vợ cóc. Hình thức bên ngoài xù xì, lem luốc
nhưng tâm hồn bên trong rất cao đẹp, rất đáng quý. Đó là tình thương yêu,
đùm bọc lẫn nhau giữa những người cùng khổ (Hơi thở tàn); tình nghĩa chung
thủy và lòng hy sinh cho hạnh phúc của người khác (Đây, bóng tối; Trong
cảnh khốn cùng); lòng tự trọng, dù đói khổ vẫn không chấp nhận lối sống
trụy lạc, bán rẻ nhân phẩm để chạy theo đồng tiền và danh vọng (Cô gái quê,
Nhà bố Nấu...). Nhưng dù sao, nhiều nhân vật nghèo của Nguyên Hồng vẫn
còn giữ một thái độ cam phận, nhẫn nhục, chịu đựng trước cảnh ngộ. Đôi lúc
ta lại có cảm tưởng dường như ngòi bút nhà văn chìm sâu một cách triền
miên trong sự khổ đau, say sưa trong một thứ chủ nghĩa cùng khổ.
Nhược điểm này từ 1938 trở đi, dần dần được khắc phục. Do những ảnh
hưởng khá quyết định của phong trào Mặt trận Dân chủ, nhà văn Nguyên
Hồng đã bắt đầu có ý thức nâng cao sự giác ngộ giai cấp, giúp những người
dân nghèo tìm ra nguyên nhân của sự đói khổ, từ đó dần dần gợi cho họ tinh
thần đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống mọi sự mê muội về mặt tinh thần
của một thứ thuốc phiện tôn giáo (Nhà bố Nấu, Những mầm sống).
Cùng đứng trong chủ nghĩa hiện thực phê phán nhưng Ngô Tất Tố,
Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng... mỗi người
có một phong cách riêng, phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng cũng
mang những màu sắc thẩm mỹ độc đáo.
Cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm Nguyên Hồng dường như chủ yếu
chưa phải xuất phát từ một thái độ phẫn nộ, muốn lên án bọn địa chủ, tư sản,
quan lại, muốn vạch mặt trái những chính sách mỵ dân giả dối, lừa bịp và tố
cáo những thủ đoạn đ...
 








Các ý kiến mới nhất