Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

MIÈN XANH THẲM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:31' 01-02-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
0

Miền xanh thẳm
1.
Buổi sáng ấy trời đẹp lạ lùng. Gần đến mười giờ, nắng vẫn rất dịu. Những đám mây
lông ngỗng phơ phất bay tản mát khắp bầu trời. Từng cụm, từng cụm mây bông nõn,
mỏng tang trôi chầm chậm trên nền trời xanh thẳm, trong vắt. Gió vi vút thổi. Có thể
nhận ra từng đợt gió trườn đi nhẹ nhàng trên cánh đồng qua từng đợt sóng lúa lúc
xanh đậm, lúc hoe vàng cuồn cuộn xô dạt tới nơi xa tít tắp.
Con tàu sầm sập sầm sập lao đi giữa một vùng đồng bằng phì nhiêu. Thỉnh thoảng nó
lại rú lên một hồi còi lảnh lói đầy kiêu hãnh. Khói tàu trắng xóa cuồn cuộn phun lên
rồi nhanh chóng nhạt nhòa trong không gian.
Tôi nài nỉ thầy Tín cho tôi được ngồi sát bên cửa sổ. Đây là lần đầu tiên tôi được đi
tàu. Tuyến đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan mới được khôi phục trước đây ít lâu.
Hòa bình mới được trở lại sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy hy sinh
gian khổ. Không khí náo nức của những ngày hòa bình đầu tiên vẫn đang chan hòa
khắp nơi khắp chốn. Đâu đâu cũng vang lên câu hát: “Trùng trùng say trong câu hát.
Lớp lớp đoàn quân tiến về…”, “Bồ câu tung cánh bay trên nền trời xuân thắm tươi.
Lòng hân hoan sướng vui đón hòa bình ca vang khắp nơi…”. Ngồi bên cửa sổ, tôi
thỏa sức nhìn ra cánh đồng. Ở những cánh đồng ruộng trũng, lúa xanh mơn mởn. Trên
những thửa ruộng cao, người cày, người cuốc, người tát nước, người gieo hạt…
Những chú bé chăn trâu chăn bò nhảy cẫng lên reo hò đến khản giọng chào đón con
tàu. Có chú còn chạy đuổi theo một thôi dài. Bọn bò bê nhiều con cũng thôi gặm cỏ,
nghếch mặt lên nhìn theo đoàn tàu, miệng bỏm bẻm nhai, đôi mắt ngơ ngác. Ở đầu
các bờ ruộng, đây đó cắm những lá cờ đỏ sao vàng, cờ hòa bình xanh da trời ở giữa có
con chim bồ câu trắng tung cánh bay. Trên nóc một lô cốt cũ kề bên một xóm nhỏ,
người phụ nữ trẻ đang phơi thóc. Trên con đường nhựa chạy song song với đường sắt,
những chiếc ô tô hàng lao vun vút, có hành khách nhoài ra cửa xe vẫy đoàn tàu. Mấy
chiếc xe bò chở gạch, chở cát đủng đỉnh, chiếc nào cũng cắm cờ đỏ, cờ xanh trên
thành xe. Một đoàn thiếu nhi đang diễu hành, tiếng chiêng trống rộn ràng, biểu ngữ,
cờ hoa tưng bừng. Trông thấy đoàn tàu, đám thiếu nhi cùng nhảy lên hò reo, tiếng
trống, tiếng kèn náo động hẳn lên. Để đáp lại nhiệt tình của lũ nhỏ, con tàu rú lên một
hồi còi dài đầy phấn khích.
Tôi như mê đi trước bao cảnh vật mới lạ đang hiển hiện ra trước mắt. Quang cảnh rộn
ràng náo nức của những ngày hòa bình đầu tiên ấy in sâu mãi mãi vào ký ức tôi, suốt
đời không thể nào quên. Con tàu vẫn sầm sập lăn bánh. Cả một không gian rộng lớn
đang xoay vòng xung quanh tôi. Cánh đồng trải rộng hút tầm mắt, những lũy tre mờ
xa, những hàng cây phi lao, cây xà cừ ven đường, những ngôi nhà, những con người
đang mải mê cày cuốc…, tất cả đang xoay vòng, đang lùi lại dần ở phía sau. Con tàu
kiêu hãnh như một nàng công chúa đang ung dung dạo gót trước sự ngưỡng mộ của
đất trời, của con người. Tôi đắm chìm trong một cảm giác ngây ngất trước bao cảnh
đẹp mới lạ lần đầu tiên được thấy.
- Này, chú bé mơ mộng, nghĩ gì mà đăm chiêu thế? - Thầy Tín vỗ nhẹ vai tôi, đưa tôi
trở về thực tại.
1

Tôi chớp chớp mắt, mỉm cười ngượng nghịu:
- Đẹp quá, thầy nhỉ?
- Sắp đến thị xã Bắc Ninh rồi đấy. Quá lên mạn trên nữa, cảnh vật còn đa dạng hơn.
Có đồi núi, có sông, có những xóm làng vùng bán sơn địa, đẹp hơn nhiều.
- Thế bao giờ thì đến thị xã Bắc Giang ạ?
- Hơn một tiếng đồng hồ nữa thôi…
Thầy Tín kể cho tôi nghe về thị xã Bắc Giang, nơi chúng tôi sắp sửa đến. Thầy kể về
tuyến đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan vừa mới được khôi phục mấy tháng trước.
Rồi đây, tuyến đường sắt này còn kéo dài thêm nhiều nữa. Trước mắt, sẽ vượt qua
biên giới, nối đến Bằng Tường của Trung Quốc. Rồi Bắc Kinh. Rồi Ulan Bato của
Mông Cổ. Rồi Mạc Tư Khoa của Liên Xô. Rồi các nước dân chủ nhân dân ở Đông
Âu, những Ba Lan, Tiệp Khắc, Hunggari, Rumani, Cộng hòa dân chủ Đức…
Thầy nói hào hứng. Tôi mê mải lắng nghe như muốn nuốt lấy từng lời nói của thầy.
Viễn cảnh về một tương lai vô cùng đẹp đẽ mở rộng trước mắt tôi. Tôi lại nhìn ra
ngoài cánh đồng đang chầm chậm xoay tròn. Những cánh đồng lúa xanh bát ngát.
Những luống cày đang được lật lên, màu đất nâu ẩm ướt màu mỡ. Những thửa ruộng
đang bắt đầu được trồng ngô, trồng khoai, màu xanh non còn loáng thoáng, chưa phủ
kín đất. Chỗ này người lúi húi tra đỗ, tra lạc, chỗ kia người vung tay gieo hạt… Đất
nước cũng giống như cánh đồng đang cày vỡ kia, còn biết bao ngổn ngang, dang dở
nhưng rồi đây sẽ xanh tươi, sẽ trù phú, sẽ được hồi sinh, đó là một điều chắc chắn…
Lòng náo nức, tôi hồi hộp chuẩn bị bước vào những ngày mới. Lần này, tôi xa nhà,
lên Bắc Giang trọ học. Gia đình tôi sống ở Hà Nội. Riêng mình tôi, mười ba tuổi, xa
nhà lên trọ học ở Bắc Giang cũng là có nguyên do, sau này tôi sẽ kể kỹ hơn. Một
trong những nguyên do đó là trường Ngô Sĩ Liên, nơi tôi sắp đến học lớp năm, vốn là
trường các anh chị tôi đã từng học từ ngày còn kháng chiến. Hòa bình lập lại, các anh
chị tôi người đi bộ đội, người học Sư phạm, người về Hà Nội học tiếp. Các thầy giáo,
cô giáo của nhà trường biết rõ hoàn cảnh gia đình tôi, rất yêu quý các anh chị tôi, nên
khi chị cả tôi xin cho tôi vào học, các thầy giáo, cô giáo vui vẻ nhận lời ngay. Thầy
Tín vốn là bộ đội, sau khi giải ngũ, thầy về làm giáo viên dạy môn chính trị và giáo
dục công dân ở trường. Thầy đặc biệt thân thiết với các anh chị tôi vốn là những học
trò xuất sắc của thầy. Nhân có việc về Hà Nội lo công chuyện của nhà trường, thầy
ghé thăm gia đình tôi, tiện thể đón tôi cùng đi luôn. Mẹ tôi mất sớm, khi tôi mới lên
bảy tuổi, từ đó tôi đã từng sống ở nhiều nơi, nay với ông bà, mai với chú thím… nên
lần này đi xa, tôi cũng không bỡ ngỡ, lo lắng lắm. Thầy Tín bảo thầy sẽ gửi tôi vào
sống cùng một nhóm mấy anh em học sinh nghèo, có những hoàn cảnh khó khăn đặc
biệt nên rất yêu thương gắn bó với nhau. Trong số đó có mấy anh biết anh chị tôi nên
tôi càng yên tâm hơn.
Con tàu bắt đầu đi vào một vùng bán sơn địa. Những xóm nghèo ở rải rác mỗi nơi
dăm bảy nóc nhà tường đất thấp, mái rạ cũ kỹ ẩn dưới những lùm tre lơ phơ vàng hoe.
Những ngọn đồi đất đỏ đầy sỏi đá, những bụi sim, bụi mua, những lau lách vốn không
xa lạ gì đối với tôi trong những năm tháng tản cư ở vùng đồi núi Yên Thế trước đây…

2

Xa xa, những ngọn đồi như bát úp, ngọn giống hình con rùa, ngọn giống hình con voi
nằm phủ phục. Bên phía tay phải, một rặng núi dài án ngữ nơi chân trời. Thầy Tín bảo
tôi: “Núi Neo đấy! Cả thẩy có chín mươi chín ngọn. Sự tích hay lắm. Để hôm nào
thầy kể cho mà nghe”. Rồi sông Thương hiện ra trước mắt. Con “sông Thương nước
chảy đôi dòng” tôi đã từng được nghe nói đến nhiều, bây giờ đang ở ngay trước mặt
tôi kia. Trên bến dưới thuyền tấp nập. Không khí làm ăn, xây dựng rộn ràng lây cả
sang tôi, làm tôi cũng thấy náo nức theo.
Thầy Tín bảo tôi:
- Tới nơi rồi đó, em! Ta chuẩn bị xuống tàu.
Tự nhiên tôi bỗng thấy hơi ngần ngại, thoáng lo sợ. Sắp tới đây, tôi sẽ gặp gỡ những
ai? Những ngày tới tôi sẽ sống thế nào? Tôi thầm ước giá mình cứ được ngồi trên tàu
lâu thêm chút nữa, kéo dài thêm cảm giác lâng lâng của một chuyến dạo chơi đầy thú
vị. Nhưng thầy Tín đã đứng lên, lấy trên giá để hành lý xuống chiếc ba lô, quàng lên
vai tôi, nắm tay tôi đi dần ra cửa toa.
2.
Ở ga xuống, thầy Tín đưa tôi về khu tập thể giáo viên của nhà trường, nơi thầy có một
căn phòng nhỏ ở cuối dãy. Trước mặt khu tập thể là trường học gồm mười mấy ngôi
nhà vách đất, lợp lá gồi, chạy song song với nhau, ngôi nọ cách ngôi kia chừng bốn,
năm mét. Đang giờ học buổi chiều. Học sinh ngồi đầy trong các lớp nhưng rất yên
tĩnh. Chỉ thấy vang lên tiếng các thầy cô đang giảng bài.
Khu tập thể vắng tanh. Tôi thầm mừng mình đến đúng vào lúc các thầy cô giáo đang
lên lớp. Nếu không, tôi sẽ rất lúng túng trước các thầy cô giáo lạ. Chợt một người phụ
nữ cao lớn, tóc cắt ngắn đi tới. Vừa mở khóa phòng, thầy Tín vừa cười xởi lởi:
- Hôm nay chị không có giờ lên lớp hở chị Kim?
- Tôi vừa dạy xong hai tiết đầu. Thế nào, anh đi Hà Nội có được việc không? Lại có
chú bé nào thế kia?
- Cậu Thiện, em cô Trọng, cô Ngà học sinh cũ của trường, chị còn nhớ không?
Cô Kim cười, để lộ chiếc răng khểnh làm vẻ mặt cô thêm tươi và gần gũi:
- Nhớ chứ sao quên được! - Rồi cô quay sang tôi, vồn vã. - Các anh chị có khỏe không
em? Lâu quá cô cũng chưa gặp lại cái Trọng, cái Ngà, thằng Hiệu. Chắc em lên đây
học trường cũ của các anh chị cho tiện hả?
Tôi ấp úng chưa kịp trả lời thì thầy Tín đã đỡ lời:
- Đúng đấy chị Kim ạ. Cô Trọng đã trình bày mọi chuyện với anh Lê Minh hiệu
trưởng từ mấy tháng trước rồi. Anh Lê Minh đã đồng ý. Nhân tôi về Hà Nội, cô Trọng
nhờ tôi đón Thiện đi luôn.
Cô Kim hỏi tôi:

3

- Thiện học lớp mấy rồi?
- Dạ thưa cô, em học lớp năm.
- Vậy là vào đúng lớp cô làm chủ nhiệm. Sáng mai em bắt đầu lên lớp được chưa?
- Dạ, được ạ! - Tôi đáp lí nhí.
Như chợt nhớ ra điều gì, cô quay sang hỏi thầy Tín:
- Anh Tín đã thu xếp cho em nó ở đâu chưa?
Thầy Tín cười vui vẻ:
- Tôi đã tính sẵn hết rồi. Định để Thiện ở với cậu Nhu, cậu Hoàng. Các cậu ấy rất tốt,
lại là bạn cũ cùng lớp của cô Trọng, cô Ngà.
Cô Kim mừng rỡ hiện rõ ra nét mặt:
- Thế thì yên tâm rồi. Lại ở ngay gần trường, qua lại cũng tiện. - Chợt giọng cô thảng
thốt. - À, mà hai thầy trò đã cơm nước gì chưa? Chắc mới xuống tàu, chưa ăn gì phải
không? Thôi, hai thầy trò rửa ráy chân tay rồi sang bên tôi ăn cơm luôn thể. Tôi cũng
đã ăn uống gì đâu. Hôm nay nhà có món riêu cua ăn mát ruột lắm.
Sau khi ăn cơm ở nhà cô Kim xong, thầy Tín dẫn tôi đi gặp anh Nhu. Tôi định xách
ba lô theo, nhưng thầy ngăn lại:
- Mình cứ sang tay không đã em ạ. Giờ này không biết mấy anh em bên đó có nhà
không?
Tưởng đi đâu xa, hóa ra nhà mấy anh trọ ở liền kề ngay trường học, chỉ cách một bờ
rào bằng nứa. Trước khi sang, để cho chắc ăn, thầy Tín đứng trên hiên nhà, gọi với
sang qua hàng rào:
- Cậu Nhu có nhà không đấy?
- Ai đấy? Ai gọi Nhu đấy? - Tiếng đáp lại gần như liền tức thì, cứ như là người trả lời
đã chờ sẵn câu gọi từ lâu.
Một anh người cao, có khuôn mặt chữ điền từ trong nhà chạy ra. Tôi chợt giật mình.
Đúng là anh Nhu rồi. Anh Nhu ngày trước… Ban sáng nghe thầy Tín nói, tôi đã hơi
ngờ ngợ nhưng chưa dám tin hẳn. Tôi cứ nghĩ hòa bình rồi, anh sẽ về quê… Anh Nhu
cũng nhận ngay ra tôi. Anh reo lên:
- Thiện đấy à? Em lên đây bao giờ? Ai đưa em lên?
- Tôi chứ ai! - Thầy Tín cười khà khà, nheo mắt hỏi cả tôi và anh Nhu. - Thế ra hai
anh em đã biết nhau từ trước rồi à?

4

Anh Nhu cũng cười:
- Vâng ạ. Thằng Thiện thì em còn lạ gì. Chị Trọng, chị Ngà, anh Hiệu có khỏe không
em? Sao các anh chị em không lên chơi luôn thể?
Thầy Tín nói thay tôi:
- Vừa mới đầu năm học, ai mà bỏ đi chơi được? Tiện tôi về Hà Nội, kéo cậu này đi
theo luôn. Nhu à, Thiện ở đây với bọn em, được không?
- Được quá đi chứ ạ. Thầy cứ để Thiện ở với chúng em. Thằng này nó hiền và ngoan
lắm. Từ lâu em đã rất quý nó.
Thầy Tín bảo tôi chạy vào nhà lấy ba lô quần áo rồi thầy dẫn tôi sang bên anh Nhu.
Giọng thầy vui vẻ:
- Thầy trò mình phải vòng ra phía cổng chính em ạ. Thật đúng là gần nhà xa ngõ.
Ngôi nhà bọn anh Nhu ở trọ nhỏ xíu, chỉ có một gian hai chái, vách đất, mái rạ. Anh
Nhu ra tận ngoài đầu ngõ đón hai thầy trò tôi. Anh vồn vã nắm vai tôi, xách chiếc ba
lô giùm tôi. Anh cười khôi hài:
- Gớm! Người thì mảnh dẻ còn chiếc ba lô sao mà nặng thế! Về đây, về đây ở với bọn
anh.
Bước vào trong nhà, hầu như chẳng có đồ đạc gì đáng kể. Anh Nhu chỉ về phía góc
trái ngôi nhà, giới thiệu:
- Đây là giường của bà Muộn, chủ nhà. Bà cụ chỉ sống có một mình, ngày ngày chăm
sóc mấy sào ruộng. Bà cụ cho bốn đứa chúng em ở nhờ. Chúng em ăn ngủ gian bên
này. Chiếc chõng giữa nhà, vừa để tiếp khách, vừa là bàn học. Tối nào nóng quá, bọn
em dựng chõng lên, trải chiếu nằm ngủ luôn. Bà cụ tốt tính lắm, coi chúng em như
con. Để chiều bà cụ về, em sẽ thưa qua bà một tiếng, xin phép cho Thiện ở cùng với
chúng em, chắc bà cụ cũng vui lòng thôi.
Thầy Tín hơi sững lại:
- Ờ, tôi cũng sơ suất thật. Đáng lý ra mình nên xin phép bà cụ trước, sau đó dẫn Thiện
đến, như vậy thuận hơn.
Anh Nhu cười xuề xòa, trấn an thầy giáo:
- Không lo, thầy ạ. Bà cụ dễ tính lắm. Mộc mạc, chất phác, em thuyết phục được ngay
mà! - Chợt anh hốt hoảng kêu lên. - Ấy chết! Em vô ý quá. Từ nãy đến giờ cứ để thầy
và em Thiện phải đứng. Mời thầy ngồi uống nước ạ.
Anh chạy xuống bếp, mang ra mấy chiếc bát ăn cơm và chiếc ấm đất. Mặt đỏ bừng,
vừa rót nước, anh vừa phân bua:

5

- Mong thầy thông cảm. Bọn em chẳng có ấm chén gì… Nhưng nước vối thì uống
lành lắm thầy ạ.
Vừa uống nước, tôi vừa quan sát xung quanh. Bà chủ nhà chắc cũng nghèo. Đồ đạc
ngoài chăn màn xếp ở đầu giường, chỉ còn một chiếc hòm gian nhỏ kê bên góc, kế đó
là bồ thóc, mấy thúng mủng và một chạn để thức ăn nhỏ. Gian của mấy anh còn sơ sài
hơn: Quần áo, chăn màn để ở góc giường; sát mái nhà, gác mấy thanh tre làm thành
một cái kệ để sách vở. Ở một góc nhà có giăng một sợi dây mây, trên vắt tạm bợ mấy
bộ quần áo.
Thầy Tín lắc đầu:
- Đừng để quần áo thế này, Nhu ạ. Muỗi nhiều lắm.
- Vâng, em đã nói mấy lần, các cậu ấy chứng nào vẫn tật nấy.
Vừa nói, anh Nhu vừa rút quần áo trên dây xuống. Anh vừa động tay vào, mấy con
muỗi đã vo ve bay lên.
Có tiếng léo xéo ngoài ngõ. Anh Nhu cười bảo tôi:
- Thiện có bạn chơi rồi đấy. Thằng Bảo đã đi học về. À, quên khuấy đi mất. Em học
lớp mấy rồi nhỉ? Lớp năm à? Vậy là vừa khéo. Thằng Bảo cũng lớp năm; lớp cô Kim
làm chủ nhiệm đấy.
- Ai nói vụng trộm gì về “lão mỗ” đấy?
Tiếng thằng Bảo xoe xóe ở ngoài sân. Nó chợt đứng sững lại, mồm há hốc khi nhận ra
thầy Tín ngồi trong nhà. Nó lè lưỡi, rụt cổ vẻ lo sợ, lủi ngay ra sau nhà.
Anh Nhu gọi với theo:
- Vào đây, Bảo! Có bạn mới cho chú mày đây!
Thằng Bảo khép nép đứng áp người vào phên cửa. Người nó đậm chắc, mắt hơi híp,
mặt rỗ hoa.
- Làm gì mà bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng thế hở “lão mỗ”? - Thầy Tín cười
sảng khoái, nói đùa. - Làm quen với nhau đi. Đây là bạn Thiện…
Anh Nhu cười phá lên:
- Thầy khỏi phải lo. Chỉ thoáng một cái là chúng nó thân nhau ngay ấy mà! Bảo rủ
bạn ra ngoài chơi cho thoáng đi.
Hình như chỉ chờ có thế, thằng Bảo nháy mắt, ngoắc tay ra hiệu cho tôi. Tôi còn ngần
ngừ chưa dám ra thì thầy Tín đã nắm vai tôi đẩy nhẹ về phía cửa:
- Đi chơi với bạn cho vui, em! Phải mạnh dạn lên…

6

Vừa ra khỏi cửa, thằng Bảo đã kéo tay tôi lôi xềnh xệch ra ngõ, leo lên triền đê cao.
Tôi hơi ngạc nhiên đây không có sông sao bỗng dưng lại có một con đê cao như thế
này. Đúng là một con đê chứ không phải đường cái quan. Toàn thân đê phủ kín cỏ, chỉ
ngoằn ngoèo một lối mòn thoắt ẩn thoắt hiện cho người đi bộ. Sau này tôi mới biết đó
là con đê quai, phòng xa khi lũ lớn nước khỏi tràn vào thị xã. Sở dĩ tôi phải dừng lại
nói hơi kỹ về con đê quai này vì nó rất đẹp. Các triền thoai thoải phủ đầy cỏ mịn của
nó sau này sẽ là nơi chiều chiều mấy anh em tôi thường ra ngồi chơi, có lúc cùng nằm
sóng soài trên đó mà tán gẫu hoặc gối đầu trên hai cánh tay, vắt chân chữ ngũ, nằm
ngửa mặt ngước nhìn lên bầu trời có những đám mây bông xốp trôi chầm chậm…
Thằng Bảo hớn hở rủ tôi:
- Ra sân vận động chơi đá bóng đi. Còn sớm chán!
- Để hôm khác có được không? Thầy Tín đang chờ ở nhà…
- Thế thì chơi tạm quanh quẩn ở đây vậy. Mày dân Hà Nội, thường chơi những trò gì?
Tôi lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì thằng Bảo đã tía lia:
- Để rồi hôm nào tao sẽ dẫn mày đi câu, đi tát cá, đi bắt ếch, thôi thì đủ thứ trò. À, mà
mày có biết bơi không? Chúng mình sẽ ra sông Thương bơi thỏa thích, tiện lượm củi
luôn thể.
Thấy một đám cỏ mềm thích mắt, thằng Bảo nằm lăn ra, trồng cây chuối rồi rủ tôi làm
theo. Tôi chưa mạnh dạn được như nó nên chỉ ngồi nhìn nó biểu diễn các trò nhào lộn
một cách hào hứng. Nhào lộn chán, nó nằm dang chân dang tay ra hết cỡ, mắt lim dim
nhìn trời, giọng trở nên xa xôi:
- Để hôm nào tao sẽ dẫn mày về quê tao chơi. Đẹp không chê được mày ạ. Cũng gần
thôi, chừng mười bốn, mười lăm cây số. Hai thằng vừa đi vừa chạy đuổi nhau chỉ mất
ba tiếng đồng hồ là cùng. Thế nhé! Về quê tao chơi, mày sẽ mê liền à!
Nằm nghĩ ngợi một lát, nó ngồi nhỏm dậy:
- Sao mày không học ở Hà Nội lại lên đây?
- Mình thích học xa nhà…
- Lạ nhỉ! Tao lại chẳng thích xa nhà một tý nào. Ở nhà, sướng như vua. Mẹ tao chiều
tao hết mực. Quê tao chưa có trường cấp hai nên tao mới phải lên đây học. Cực lắm
mày ạ.
Đăm chiêu một thoáng, nó chép miệng:
- Nhưng kể ra đi xa cũng có nhiều cái khoái. Tha hồ bay nhảy tự do. Mấy anh ở đây
cũng tốt lắm. Mày mới chỉ gặp anh Nhu thôi nhỉ. Còn anh Hoàng, thằng Nam nữa. Họ
cũng sắp về cả rồi đấy.

7

Chiều đang dần xuống. Đã tắt nắng nhưng những xóm làng ở xa tít tắp vẫn còn nhìn
rõ mồn một. Không khí trong trẻo lạ thường. Ngồi trên triền đê thoáng đãng nghe gió
ù ù thổi, nhìn ra xung quanh, mọi cảnh vật thật êm đềm, lòng tôi thanh thản vô cùng.
Đúng là đi xa cũng có những điều thú vị thật. Ở Hà Nội, làm sao có được những cảm
xúc như thế này? Những ngày sắp tới, chắc tôi sẽ còn gặp nhiều điều bỡ ngỡ, lạ lẫm,
không tránh khỏi những khó khăn, vấp váp nhưng tôi mơ hồ cảm thấy có lẽ nhiều điều
thú vị sẽ đến với tôi. Ngày đầu tiên xa nhà như thế này kể ra cũng đã để lại trong tôi
nhiều ấn tượng tốt đẹp. Giả thử, nếu tôi vẫn ở nhà, thì ngày hôm nay chắc cũng sẽ chỉ
là một ngày mờ nhạt giống như bao ngày khác… Nghĩ vậy, tôi thấy vui lên và yên
lòng. Tôi nói với Bảo:
- Thôi, mình về đi kẻo anh Nhu mong.
Thằng Bảo vùng dậy, đấm vào lưng tôi mấy cái khá đau rồi ù té chạy. Nó cười phá
lên, vừa chạy vừa quay lại nhăn nhó trêu tôi. Bất giác, tôi quên hết mọi ưu tư, cũng
bật cười, chạy đuổi theo thằng Bảo.

3.
Khi chúng tôi về đến nhà thì tất cả đã có mặt đông đủ. Anh Nhu dẫn tôi đến chào bà
cụ Muộn. Anh vui vẻ nói:
- Đây, em nó đây bà ạ. Nó hiền lành chứ không nghịch phá như thằng Bảo.
- Có gì đâu mà chú cứ phải lo! - Bà cụ Muộn cười móm mém trả lời anh Nhu, rồi xuề
xòa bảo tôi. - Cháu cứ ở đây với mấy anh cho vui. Ăn mất nhiều chứ ở mất bao nhiêu!
Nói rồi bà cụ quày quả bưng rổ rau và chiếc niêu nhỏ đi xuống bếp. Dáng bà hơi
còng, tóc đã bạc gần hết, da mặt nhăn nheo, khắc khổ. Nhưng khi bà cụ cười thì rõ ra
một con người phúc hậu.
Anh Nhu lần lượt giới thiệu cho tôi làm quen với anh Hoàng, thằng Nam. Hai người
đều mỉm cười nhìn tôi đầy thiện cảm. Anh Hoàng ít nói, hiền lành. Thằng Nam nhỏ
người, nhanh thoăn thoắt.
- Thôi, dọn cơm ăn đi. Tôi đã nấu xong xuôi cả rồi đấy. Bữa nay chỉ có rau láo nháo
nấu canh với ít lạc rang, các vị ăn tạm nhé. Mai đi chợ mua mấy lạng thịt về liên hoan,
gọi là để mừng chú Thiện gia nhập hội. - Anh Nhu vừa bưng nồi cơm ra giữa sân vừa
tươi cười nói.
Thằng Bảo, thằng Nam nhanh nhảu bưng mâm, bưng nồi canh cùng một chồng bát
đũa ra, đặt trên chõng tre đã được anh Hoàng mang đặt giữa sân. Mấy anh em người
đứng, người ngồi xì xụp ăn. Anh Nhu lấy thìa xúc lạc cho tôi, giọng ái ngại:
- Ở với bọn anh, cực đấy em ạ. Ăn uống kham khổ chứ không được như ở nhà đâu.
Không biết rồi em có chịu được hay không?
- Em chịu được ạ. - Tôi nói nhỏ vừa đủ cho anh nghe.

8

Tối hôm ấy, bên ngọn đèn bão đặt giữa chõng, mấy anh em chụm đầu ngồi học bài.
Tôi chưa có gì để học, vả lại suốt buổi ngồi trên tàu, gặp gỡ người này người khác,
đầu óc khá mệt mỏi nên mới ngả lưng nằm trên giường một lát, tôi đã ngủ thiếp đi lúc
nào không biết. Nhưng cũng chỉ chợp mắt được ít phút, tôi bừng tỉnh. Từ đó cứ thao
thức, nghĩ lan man chuyện này chuyện khác.
Lần này xa nhà, tôi không tránh khỏi lo lắng vì phải sống giữa nhiều người xa lạ.
Nhưng thú thật, tôi cảm thấy vui nhiều hơn. Tôi tin những lạ lẫm ban đầu rồi sẽ nhanh
chóng qua đi. Khi ấy tôi sẽ được sống thoải mái, tha hồ học, tha hồ chơi. Gia đình tôi,
nói ra thì hơi buồn, nhưng quả thật không mấy lúc được vui vẻ. Sau hòa bình lập lại,
nhà tôi như khánh kiệt. Do một số điều bất ưng, bố tôi nghỉ việc, không đi làm. Mẹ kế
của tôi (mà chúng tôi thường gọi là cô) lâu nay chỉ ở nhà lo việc nội trợ; khó khăn quá
xoay ra buôn bán vặt, lúc nấu xôi chè, lúc bán bún thang, bún riêu nhưng cũng chỉ
được dăm bữa nửa tháng lại phải đóng cửa vì ế ẩm, vì không quen với cách làm ăn xô
bồ, chộp giật. Chị cả của tôi đi thanh niên xung phong, sau đó được đi học trường Sư
phạm. Chị thứ hai của tôi cũng bỏ học dở dang. Do xinh xắn và có năng khiếu múa
hát, giữa lúc mấy anh chị em tôi sống quá khó khăn, nhân một lần đoàn văn công
quân đội tuyển diễn viên, chị tôi trúng tuyển và vào bộ đội từ lúc mới mười lăm tuổi.
Hai chị tôi chỉ hưởng phụ cấp, không có lương bổng nên cũng không giúp gì cho gia
đình. Ba anh em tôi cùng với bốn em con của cô tôi, tất cả đều đang tuổi đi học. Bố
tôi, cô tôi cùng bảy đứa con sống bấp bênh, không có một nguồn thu nhập nào ổn
định. Tôi nhớ có một Tết Trung Thu, mỗi sổ hộ khẩu gia đình được mua một chiếc
bánh dẻo, một chiếc bánh nướng. Vậy mà bố tôi cũng không có tiền mua, phải cho gia
đình hàng xóm mua kẻo phí mất tiêu chuẩn. Nhiều hôm đi học về, đói mờ cả mắt, vậy
mà chờ mãi, chờ mãi cũng chẳng thấy ai nói gì đến cơm nước. Cô tôi mệt mỏi nằm
quay mặt vào tường. Chúng tôi lẳng lặng nhìn nhau, tự biết là hôm ấy nhà hết gạo, bố
tôi không có đồng nào để đưa tiền chợ cho cô tôi. Chúng tôi phải sống không ít ngày
trong cái không khí nặng nề như thế. Không có cảnh đánh chửi nhau. Không có
chuyện quăng bát quăng đĩa. Rất ít khi to tiếng. Nhưng sao mà trầm uất… Ngay từ khi
mười một, mười hai tuổi tôi đã luôn có mặc cảm là mình có tội, mình là gánh nặng
của gia đình, không tự kiếm sống được mà phải sống dựa vào bố mẹ, ăn nhờ vào
chính những người thân của mình. Suốt cả những ngày niên thiếu của tôi, tôi luôn
nung nấu một ao ước là mong sao lớn thật mau để được đi làm, để khỏi phải sống dựa
vào gia đình. Nhà tôi ở đầu phố Khâm Thiên. Đường chim bay đến ga Hàng Cỏ rất
gần. Đêm đêm tôi trằn trọc không ngủ được vì tiếng còi tàu giục giã. Hàng chục đoàn
tàu vào ga rồi rời ga, hú lên những hồi còi đầy nôn nóng và náo nức. Tôi phân biệt rất
rõ tiếng lảnh lói cao vút của những con tàu cũ từ thời Pháp và tiếng trầm trầm đùng
đục điềm tĩnh của những con tàu Trung Quốc mới. Chúng gọi nhau, chúng chào đón
nhau, chúng thôi thúc nhau đi đến những miền đất xa xôi. Lòng tôi cũng bồn chồn,
cũng náo nức theo chúng. Tôi cũng ao ước được bứt phá khỏi cuộc sống buồn tẻ này.
Nhưng tôi còn nhỏ quá. Tôi mới chỉ mười ba tuổi. Biết đến bao giờ tôi mới đủ mười
sáu, mười bảy tuổi để được đi làm, để khỏi phải ngong ngóng chờ đến bữa cơm mà
nhiều hôm chờ đến ngang chiều cũng không thấy có… Trong đêm thanh vắng, nghe
tiếng còi tàu hú gọi nhau, lắm khi tôi thầm ứa nước mắt.
Chính vì thế, khi được lên Bắc Giang trọ học, tôi thích thú vô cùng. Bố tôi lo tôi còn
nhỏ đã phải xa nhà sống một mình, nhưng rồi vẫn bằng lòng để tôi đi, có lẽ một phần
cũng vì bố tôi gặp quá nhiều khó khăn, có muốn giữ tôi ở lại cũng không có điều kiện.
Thầy Tín hứa hẹn sẽ đề nghị nhà trường cấp cho tôi một suất học bổng.

9

Bố tôi vay ở đâu đó được hai mươi đồng bạc đưa cho tôi, bảo đó là tiền ăn của tháng
tới và tiền sách vở đầu năm học. Hàng tháng bố tôi sẽ cố gửi đều lên cho tôi mỗi
tháng mười đồng. Thầy Tín nói vậy cũng tạm đủ.
4.
Sáng nào anh Nhu, anh Hoàng cũng dậy sớm để đi làm. Các anh học buổi chiều. Bài
vở cho ngày hôm sau, các anh dồn hết vào buổi tối. Sáng sáng các anh đi làm phụ thợ
hồ để lấy tiền ăn học. Hầu như gia đình hoàn toàn không phải chu cấp gì cho các anh.
Trong một bữa cơm tối, anh Nhu bảo mấy anh cũng chỉ gắng làm thêm trong năm học
lớp chín này, cốt sao có đủ tiền ăn và dư ra một ít dành cho năm sau, còn sang năm
lớp mười thì phải toàn tâm toàn ý vào việc học để cuối năm còn thi tốt nghiệp phổ
thông và thi đại học.
Thằng Nam học lớp sáu. Tôi và Bảo học lớp năm. Cả ba đứa tôi đều học buổi sáng.
Nhờ học so le như vậy nên việc phân công nấu nướng, quét dọn… rất thuận tiện. Các
anh dậy từ khi chúng tôi còn đang ngủ lăn ngủ lóc. Các anh nấu nướng xong, ăn vội
ăn vàng rồi đi làm, cơm canh để phần lại cho chúng tôi ăn sau. Gọi là “để phần” cho
sang chứ thực ra bữa cơm của chúng tôi rất đạm bạc, thường chỉ có rau muống hoặc
rau cải luộc, đĩa muối riềng hoặc hôm nào sang hơn là muối vừng trộn loáng thoáng ít
mảnh lạc. Buổi chiều đến lượt mấy thằng nhóc chúng tôi nấu. Thường buổi chiều bao
giờ bữa cơm cũng thú vị hơn vì có mặt đông đủ mấy anh em chứ thức ăn thì cũng
không có gì hơn buổi sáng.
Ăn uống kham khổ, ở chật chội, đèn đóm tù mù, nói chung mọi thứ đều kém xa Hà
Nội nhưng tôi thấy thanh thản vô cùng. Lớp tôi là lớp năm A, do cô Kim làm chủ
nhiệm. Cô biết khá rõ hoàn cảnh gia đình tôi. Các anh chị tôi trước đây cũng đều là
những học sinh có một số mặt nổi bật trong nhà trường. Tôi thường nghe mọi người,
cả các anh chị học sinh những lớp lớn và một số thầy giáo ca ngợi chị Trọng, chị cả
của tôi là một cán bộ hiệu đoàn học sinh rất năng nổ, dễ chan hòa, có sức cuốn hút lớn
đối với mọi người, được cả trường yêu quý. Uy tín của các anh chị tôi rất thuận lợi
cho tôi. Thêm nữa, tôi học vào loại giỏi, mặt mũi lại sáng sủa, dáng thư sinh hiền lành
nên được các thầy cô và bạn bè có cảm tình. Đặc biệt, thầy Luyến dạy môn văn rất
yêu quý tôi. Những bài luận tôi làm, hầu như bài nào thầy cũng cho 5 điểm, điểm cao
nhất, và thầy đem ra đọc cho cả lớp nghe. Chính tôi nhiều khi cũng tự thấy thầy khen
tôi quá mức, thầy quá yêu tôi nên hơi thiên vị, nhưng tôi vô cùng biết ơn thầy. Có lẽ
thầy là người đầu tiên khuyến khích tôi, cổ vũ tôi một cách nhiệt thành để tôi mạnh
dạn bước những bước đầu tiên đi vào con đường văn học.
Chính những tình cảm yêu thương của các thầy cô giáo và bạn bè đã làm cho tôi mỗi
ngày một gắn bó hơn với cái tập thể nhỏ bé của mấy anh em tôi.
Đặc biệt, tôi rất thích thằng Bảo. Nó là một thằng sống đầy tình cảm. Nhà nó ở nông
thôn. Mẹ và mấy anh chị đều làm ruộng. Bố nó làm cán bộ ở Ty giáo dục nên cho nó
lên đây trọ học. Nó lớn hơn tôi một tuổi nhưng to con, da ngăm đen, tay chân săn
chắc. Nó luôn tự nhận nó là anh tôi. Hễ có đứa nào va chạm với tôi chút xíu, nó liền
nhảy bổ đến sừng sộ: “Có chuyện gì đấy? Đứa nào động đến em tao đấy?”. Đi đâu nó
cũng đi cùng tôi. Tôi thì mảnh dẻ, trắng trẻo, có phần nhút nhát. Còn nó thì đậm chắc,
da bánh mật, bước đi huỳnh huỵch, ăn nói bặm trợn. Có người nói đùa nó là vệ sĩ của

10

tôi, nó không bực tức, trái lại còn hoa chân múa tay, đi mấy đường quyền, tỏ ra rất đắc
ý.
Bảo thường hay kể chuyện về quê nó. Cứ theo lời nó kể thì quê nó phải đẹp vào loại
nhất nhì thế giới. Đầu làng có hồ sen rộng đến hàng mấy mẫu. Mùa sen nở, suốt đêm
dân làng đắm mình trong hương sen thơm. Trước khi vào làng phải qua một bãi
hoang, có nhiều gò đống và những bụi dứa dại. Đó là giang sơn riêng biệt của lũ trẻ
chăn trâu. Đặc biệt, trên một gò cao có một mỏm đá bị chém làm đôi, hai nửa vẫn còn
nằm cạnh nhau, mảnh lớn có một lỗ sâu hun hút, đổ bao nhiêu nước xuống cũng
không đầy. Tục truyền rằng từ xa xưa, đấy là nơi trú ngụ của một đàn gà mẹ con bằng
vàng ròng. Đêm đêm, vào những giờ khắc yên tĩnh, vắng lặng nhất, từ trong hang, gà
mẹ dẫn bầy con vàng óng, lung linh kỳ ảo túc tục túc tục vây quanh. Hào quang bao
phủ quanh chúng sáng rực cả xung quanh. Vào những lúc như thế, bọn trẻ trong làng
rủ nhau chạy ra xem. Phải tuyệt đối im lặng, không được cười nói, không được gây ra
tiếng động. Phải đứng nấp từ xa, nín thở ngắm nhìn đàn gà nhởn nhơ dạo chơi. Đang
yên đang lành, dân làng đang tự hào vì quê mình có một diễm phúc như thế, chợt một
lão phù thuỷ ở đâu xuất hiện. Lão muốn bắt đàn gà vàng. Một đêm kia, lão phục sẵn
gần mỏm đá. Chờ cho đàn gà mẹ con dẫn nhau ra thật xa, lão mới một tay cầm chiếc
túi lớn, miệng túi mở toang hoác sẵn, tay kia cầm thanh kiếm sắc, rượt đuổi đàn gà.
Đàn gà chạy tán loạn, lão cố hết sức mà không lùa bắt được con nào. Cuối cùng, gà
mẹ dẫn bầy gà con quay vòng trở lại, chạy tuốt vào hang. Cả một luồng ánh sáng vàng
rực hun hút hun hút tuồn vào hang tối. Lão phù thuỷ tức điên, lồng lộn vung kiếm
chém theo nhưng không kịp. Lưỡi kiếm tóe lửa. Mỏm đá bị xẻ làm đôi, dấu tích còn
mãi đến tận bây giờ…
Thằng Bảo còn kể nhiều chuyện thú vị khác làm tôi mê mẩn. Nó rủ tôi hôm nào được
nghỉ học hai, ba ngày, hai đứa sẽ về quê nó chơi. Tôi cũng náo nức muốn tận mắt nhìn
thấy làng quê của nó. Và biết đâu duyên may lại đến với tôi, tôi được gặp lại đàn gà
vàng kỳ lạ.
Thấy tôi có vẻ thích thú lắng nghe những chuyện làng quê của nó, thằng Bảo càng
phổng mũi, hăng hái kể cho tôi nghe nhiều chuyện hơn. Có thể nói nó có cả một kho
những chuyện về quê nó, về sự tích ngọn núi này, chiếc đầm nọ, cánh đồng kia. Đặc
biệt chuyện về ma thì vô thiên lủng. Nhiều chuyện làm cho tôi sợ nhưng vẫn thấy hiếu
kỳ muốn nghe. Nó bảo thời bây giờ tân tiến, ma bỏ đi đâu hết chứ thời trước ma nhan
nhản. Mẹ nó đã gặp ma nhiều lần. Ma hay nhát mẹ nó, trêu chọc mẹ nó cho vui. Có
lần mẹ nó đi bắt cua, gần hết buổi chẳng được con nào. Trời chiều, đến quãng đồng
gần bãi tha ma, bỗng nhiên cua ở đâu bò ra lổm ngổm khắp bờ ruộng. Mẹ nó chỉ việc
nhanh tay chộp lấy. Nhoáng cái đã được đầy một giỏ. Về nhà, hớn hở đổ cua ra chiếc
ang thì trời ơi, toàn sỏi là sỏi. Ông ngoại nó bực lắm, biết là ma nhát mẹ nó, liền cho
đống sỏi đó lên chảo rang. Thế là tiếng kêu oai oái vang khắp nhà. Ma không chịu
được lửa nóng, cuống quýt lạy như tế sao, van xin tha tội chết… Lại một lần khác,
giữa đêm mưa gió đùng đùng, cả nhà nó nằm yên trên giường, mấy người lớn lầm rầm
cầu khấn mong sao mưa bão nhanh chóng qua đi. Bỗng thấy hàng loạt sỏi đá ném tới
tấp vào cánh cửa. Cửa vẫn đóng kín mà chẳng hiểu sao sỏi đá vẫn lọt được vào trong
nhà. Ông ngoại thằng Bảo mới đốt lửa lên, vứt hết sỏi đá vào lửa. Tiếng van xin thảm
thiết đến rợn người. Thì ra bọn ma thấy mưa gió lớn, muốn rủ nhau vào nhà tránh rét.
Sáng hôm sau lại tuyệt nhiên chẳng thấy đám sỏi đá ấy đâu nữa. Những chuyện nó kể
chẳng biết thực hư thế nào. Tôi nghi là nó nghe kể lại những chuyện xửa chuyện xưa,
nhưng để tăng tính thuyết phục, làm cho tôi phải tin hoàn toàn, nó đã gán cho mẹ nó,

11

ông ngoại nó từng tham dự vào các sự việc đó. Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn không cưỡng
nổi lòng ham muốn nghe nó kể. Càng nghe, tôi càng thèm có được một vùng quê như
nó quá. Bảo đã được sống ở quê suốt cả thời thơ ấu nên nó có nhiều kỷ niệm về quê
mình. Còn tôi, xa quê từ lúc lên bốn, lên năm tuổi, tôi nhớ rất ít hình ảnh về quê gốc
của mình. Quê tôi ở thị xã Hải Dương. Giờ nhớ lại chỉ thấy thấp thoáng những kỷ
niệm rời rạc, không rõ nét, lúc hư, lúc thực, tất cả như ẩn hiện qua một lớp sương mù
lúc đậm ...
 
Gửi ý kiến