HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC CHỮA BỆNH LÀM MẤT DÂN CHỦ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:57' 25-12-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:57' 25-12-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
TS. VÕ VĂN LỘC
HỒ CHÍ MINH
VỚI
VIỆC CHỮA BỆNH LÀM MẤT DÂN CHỦ
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HÀ NỘI - 2008
LỜI NÓI ĐẦU
Dân chủ trước hết là vấn đề chính trị, gắn liền với độc lập dân tộc, tự do và hạnh
phúc của nhân dân. Vì vậy, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc cũng là đấu tranh
mang lại nền dân chủ cho nhân dân, làm cho nhân dân trở thành người chủ và làm
chủ, thụ hưởng các quyền và lợi ích chính đáng do dân chủ mang lại.
Khi đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 2 tháng 9 năm 1945, khai sinh nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời cũng đã đặt nền móng xây
dựng một nền dân chủ mới cho nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Nước ta phải đi đến dân chủ thật sự. Dân chủ thật sự là chống phong kiến địa chủ
và chống đế quốc”1). Hoàn thành nhiệm vụ chống phong kiến và chống đế quốc,
nhân dân ta vừa bảo vệ độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ, vừa từng bước xây
dựng nền dân chủ mới, thông qua việc phát huy vai trò của Quốc hội. Trong tác
phẩm Sửa đổi lối làm việc, khi phân biệt “Làm việc theo cách quan liêu” với “Làm
theo cách quần chúng”, Hồ Chí Minh cho rằng “Làm việc theo cách quan liêu” là
“Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch,
viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo”. Đây là
cách làm việc sai lầm và “Đảng ta và Chính phủ ta làm việc là làm cho dân chúng.
Việc gì, cũng vì lợi ích của dân mà làm. Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán.
Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất
bại”2). Khi đưa ra năm nguyên tắc chống quan liêu mệnh lệnh, Chủ tịch Hồ Chí
Minh lưu ý rằng: “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ
“trên dội xuống”. Từ nay, việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên” 3). Đưa chính trị vào
giữa dân gian, chính là đưa dân chủ vào đời sống xã hội. “Làm sao cho nhân dân
biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám
làm”4) như Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh.
Dân chủ cũng chính là đạo đức, là văn minh của một dân tộc biết quý trọng độc
lập tự do của dân tộc mình, đồng thời biết tôn trọng độc lập, tự do của dân tộc
khác; biết đấu tranh và sẵn sàng hy sinh vì giá trị của dân chủ, cho dân tộc mình
cũng như dân tộc khác. Hồ Chí Minh đã phấn đấu suốt đời để giúp chúng ta nhận
ra cái chân lý quý giá đó.
Khía cạnh đạo đức, văn minh của dân chủ còn được thể hiện trong mối quan hệ
giữa các cá nhân trong đời sống hằng ngày. Đó là sự tôn trọng nhân cách của mọi
người, biết lắng nghe, thấu hiểu và quan tâm vì hạnh phúc của mọi người, vì ý
nghĩa cao cả của cuộc sống. Về điều này, chúng ta có thể học tập ở Hồ Chí Minh
nhiều bài học quý giá.
Dân chủ còn thể hiện ở phương pháp, tác phong và lề lối làm việc của cán bộ đảng
viên và công chức hiện nay. Trong di sản dân chủ Hổ Chí Minh, rất nhiều bài nói,
bài viết có giá trị về những vấn đề này.
Đối với Hồ Chí Minh, “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”5) mà “trong bầu
trời không gì quý bằng nhân dân” 6). Vì thế, Người luôn đề cao, thực hành và phát
huy dân chủ trong Đảng, từng bước củng cố và hoàn thiện Nhà nước dân chủ nhân
dân, thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên thực hành dân chủ để đem lại tiến
bộ xã hội, công bằng, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân.
Quá trình thực thi dân chủ là quá trình vận động, đấu tranh liên tục giữa cái mới
với cái cũ, cái tiến bộ và hiện đại với cái bảo thủ và trì trệ ở trong từng cá nhân
cũng như trên bình diện tổ chức quản lý xã hội. Quá trình đó luôn bộc lộ hai mặt
tích cực và tiêu cực đối lập nhau: về mặt tổ chức quản lý xã hội, hai mặt đó là dân
chủ với phi dân chủ, dân chủ với mất ổn định, mất kỷ cương. Về mặt cá nhân đó là
sự đối lập giữa đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư với chủ
nghĩa cá nhân, quan liêu, tham ô, hủ hóa. Những mặt đối lập tiêu cực của dân chủ
trên phạm vi xã hội cũng như trên bình diện cá nhân thường được Hồ Chí Minh gọi
là “bệnh” chẳng hạn, Hồ Chí Minh viết: ở các cơ quan lãnh đạo các cấp, về lề lối
làm việc, về chủ trương là cách lãnh đạo còn có những khuyết điểm khá phổ thông
và nghiêm trọng. Ấy là những bệnh “chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi và
bệnh công thần”7). Về phương diện cá nhân, Hồ Chí Minh chỉ ra các căn bệnh ở
cán bộ đảng viên như bệnh tự kiêu tự ái, bệnh máy móc, bệnh cấp bậc, bệnh thành
kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ …Các bệnh ấy làm tổn hại uy tín của cán bộ đảng
viên, ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng, và gây tác hại nghiêm trọng đối với sự
phát triển của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không nêu ra khái niệm “Bệnh làm mất dân chủ”, vì vậy chỉ
có thể hiểu khái niệm này thông qua nhiều bài nói và viết của Người.
Trong Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh khẳng định quan liêu là một bệnh và
bệnh này đi liền với bệnh bàn giấy. Ngày 30-5-1957, khi nói chuyện với cán bộ
đảng viên và thanh niên lao động Hải Phòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt câu hỏi:
“Quan liêu là gì?” và Người trả lời: “Quan liêu là không dân chủ”8). Liên kết ý
tưởng từ các câu trên, ta sẽ thấy:
1) Quan liêu là một bệnh;
2) Quan liêu là không dân chủ.
Có thể hiểu: Quan liêu là một bệnh không dân chủ. Hay có thể nói: Quan liêu là
một bệnh làm mất dân chủ.
Căn cứ vào những bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh về các loại bệnh, triệu chứng
và cách chữa trị, có thể hiểu khái niệm bệnh làm mất dân chủ như sau:
Bệnh làm mất dân chủ là bệnh do cán bộ đảng viên gây ra, đi ngược lại quan
điểm, đường lối của Đảng; chẳng những làm hư hỏng cán bộ đảng viên mà còn
gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước; cần
phải được chữa trị kịp thời và phòng chống tích cực.
Khái niệm này nói lên được một số điểm cần thiết:
Một là, khẳng định chủ thể gây ra bệnh làm mất dân chủ là cán bộ đảng viên chứ
không phải là quần chúng. Hai là, khẳng định nguồn gốc của bệnh là do đi ngược
lại quan điểm, đường lối của Đảng. Ba là, khẳng định căn bệnh chẳng những gây
tác hại đối với cá nhân người bệnh mà còn ảnh hưởng đến tổ chức Đảng. Bốn là,
chỉ ra thái độ, trách nhiệm của người bệnh và của cộng đồng đối với người bệnh là
cần phòng chống tích cực và chữa trị kịp thời.
Bệnh làm mất dân chủ là một khái niệm chung và bao hàm nhiều căn bệnh cụ thể,
như bệnh quan liêu mệnh lệnh, bệnh tự kiêu tự ái…
Nghiên cứu về bệnh làm mất dân chủ sẽ gặp một số từ như: Chẩn bệnh, triệu
chứng, chữa bệnh, chữa trị, thang thuốc, đơn thuốc, vị thuốc. Hồ Chí Minh dùng
những từ thang thuốc hay đơn thuốc để chỉ một liều lượng thuốc bao gồm các vị
thuốc có cùng công dụng chữa trị một bệnh hay một nhóm bệnh nào đó. Như đối
với bệnh quan liêu, sau khi nêu triệu chứng bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi:
“Thang thuốc chữa bệnh quan liêu”'. Đối với bệnh máy móc, sau khi nêu nguồn
gốc bệnh, Người viết: “Đây là đơn thuốc chữa bệnh máy móc…”.
Hoặc đối với từ “vị”, Hồ Chí Minh dùng từ này khi chỉ ra cách chữa trị bệnh tự
kiêu tự ái. Người viết: “Thang thuốc thánh để chữa bệnh này gồm có 4 vị”9).
Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng, xây dựng nền dân chủ mới, Chủ
tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn chiến lược để thấu hiểu và đưa ra những quyết sách
cần thiết cho việc điều hành đất nước, giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên.
Người sớm thấy rõ những tác hại của bệnh làm mất dân chủ và đưa ra những
“thang thuốc” chữa trị cho cán bộ đảng viên mắc bệnh, như một bác sĩ chăm lo
chữa trị cho bệnh nhân của mình. Đặc biệt, Người không hề dùng dấu ngoặc kép
khi nói đến các “bệnh” và các “thang thuốc” để chữa trị các “bệnh” đó. Người thể
hiện rõ sự thẳng thắn, công khai, vạch trần sự thật đế sửa chữa.
Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận
thấy quan điểm Hồ Chí Minh về dân chủ, đặc biệt là quan điểm về việc chữa trị
bệnh làm mất dân chủ thật sự là một vấn đề có ý nghĩa sâu xa về văn hoá chính trị.
Bằng sự hiểu biết và phân tích cặn kẽ những yếu tố tâm lý luôn tiềm ẩn trong động
cơ, hành vi của con người, kết hợp với những yếu tố xã hội học, chính trị học và
giáo dục học, Hồ Chí Minh đã chẩn đoán và ra toa chữa trị cho người bệnh một
cách tận tâm và cần kíp, vừa điều trị trước mắt, vừa có tác dụng dự phòng.
Trong bối cảnh cả nước ta đang từng ngày từng giờ đấu tranh chống quan liêu,
tham nhũng và lãng phí, một trong những căn bệnh nghiêm trọng của bệnh làm mất
dân chủ, việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng
chống và chữa trị bệnh làm mất dân chủ đã trở nên vô cùng cần thiết.
Từ những vấn đề vừa trình bày trên đây, hy vọng việc tìm hiểu nội dung Chủ tịch
Hồ Chí Minh với việc chữa bệnh làm mất dân chủ sẽ mang lại nhiều điều bổ ích,
thiết thực.
Xin trân trọng cảm ơn GS.TS. Hoàng Chí Bảo, GS.TS. Phan Ngọc Liên, GS.TS.
Đặng Quốc Bảo, TS. Đỗ Văn Chấn (Hà Nội), PGS.TS. Phan Xuân Biên, PGS.TS
Nguyễn Xuân Tế, PGS.TS Nguyễn Thanh (Thành phố Hồ Chí Minh) đã góp nhiều
ý kiến quý báu cho tác giả. Cảm ơn TS. Nguyễn Viết Ngoạn, Hiệu trưởng trường
Đại học Sài Gòn và Hội đồng Khoa học trường Đại học Sài Gòn đã tổ chức nghiệm
thu công trình nghiên cứu này. Cảm ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã tạo điều
kiện để xuất bản cuốn sách này.
Tác giả
VÕ VĂN LỘC
Chú thích
1)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, t.7, tr.25
2)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.293
3)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.298
4)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.223
5)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.279
6)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.276
7)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.176
8)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.386
9)
Nội dung của các đơn thuốc, thang thuốc được nghiên cứu cụ thể ở Chương
III
CHƯƠNG I
TÊN GỌI CÁC BỆNH LÀM MẤT DÂN CHỦ
Từ Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản, chúng tôi
tổng hợp số lần Hồ Chí Minh gọi tên của các khuyết điểm và các căn bệnh làm mất
dân chủ 1) trình bày theo thứ tự thời gian như sau:
1. Ngày 17-9-1945, tức 15 ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”. Trong thư, Người “chỉ lấy danh nghĩa
của một đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí”. Sau
khi nêu ý nghĩa to lớn và nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cùng
với những nhiệm vụ mới mẻ và khó khăn trong việc “dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn,
kiến thiết” đất nước trong giai đoạn mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra”'những
khuyết điểm to nhất” ở các địa phương, là:
1. Khuynh hướng chật hẹp và bao biện.
2. Lạm dụng hình phạt.
3. Kỷ luật không đủ nghiêm.
4. Đề phòng hủ hóa.
Người nhấn mạnh:
“Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho
nền đoàn kết lay động”2).
2. Ngày 4-10-1945, báo Cứu Quốc đăng bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”. Bài báo có
đoạn viết:
“Ta có thể nói: một khuyết điểm lớn, chung cho phần đông các Ủy ban nhân dân
là bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức. Về cán bộ hành chính, ta phải thú nhận là thiếu rất
nhiều. Người đi tuyên truyền, người chiến đấu thì có. Người ngồi bàn giấy làm
việc cai trị rất hiếm”3).
5. Bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức.
3. Ngày 17-l0-1945, trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và
làng” trên báo Cứu Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những nhiệm vụ của chính
quyền cách mạng vào thời điểm còn trứng nước muôn vàn khó khăn. Người ghi
nhận những cố gắng bước đầu của các Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và
làng, là “làm theo đúng chương trình của Chính phủ, và rất được lòng nhân
dân”. Tuy nhiên, bên cạnh đó, “cũng có nhiều người phạm những lầm lỗi rất nặng
nề”. Những lầm lỗi chính là:
6. Trái phép.
7. Cậy thế.
8. Hủ hoá
9. Tư túng.
10. Chia rẽ.
11. Kiêu ngạo4).
4. Ngày 1-3-1947, trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhấn mạnh: “Trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có
quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc
to; sai một ly đi một dặm”. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải kiên quyết
tẩy sạch những khuyết điểm sau đây:
12. Địa phương chủ nghĩa.
13. Óc bè phái.
14. Óc quân phiệt quan liêu.
15. Óc hẹp hòi.
16. Ham chuộng hình thức.
17. Làm việc lối bàn giấy.
18. Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm.
19. Ích kỷ, hủ hoá5).
- Trong “Thư gửi các đồng chí Trung Bộ” (viết trong năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng yêu cầu phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm:
20. Địa phương chủ nghĩa.
21. Óc bè phái.
22. Cô độc hẹp hòi.
23. Ham chuộng hình thức.
24. Ích kỷ, kiêu ngạo…6)
Trong cả hai thư trên, khi nói đến khuyết điểm về “Óc bè phái” Chủ tịch Hồ Chí
Minh đều cho đó là “một chứng bệnh rất nguy hiểm”.
5. Trong Sửa đổi lối làm việc viết xong tháng 10-1947, xuất bản đầu năm 1948,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến rất nhiều tật bệnh của cán bộ đảng viên.
Sau đây, chúng tôi trích giới thiệu theo thứ tự các bệnh được nêu trong Sửa đổi lối
làm việc.
Ở phần I, (Phê bình và sửa chữa), mục “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”, Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ ra “ba chứng bệnh rất nguy hiểm”,là:
25. Bệnh chủ quan.
26. Bệnh hẹp hòi.
27. Thói ba hoa7).
Ở phần II, (Mấy điều kinh nghiệm), tiểu mục “Sát quần chúng, hợp
quần chúng”, Người chỉ ra hai chứng bệnh do không sát quần chúng, không hợp
quần chúng gây ra:
28. Bệnh khai hội.
29. Bệnh nể nang8).
Ở phần III, (Tư cách và đạo đức cách mạng), tiểu mục “Những khuyết điểm sai
lầm”, Người chỉ ra “các thứ bệnh rất nguy hiểm”do chủ nghĩa cá nhân gây ra:
30. Bệnh tham lam.
31. Bệnh lười biếng.
32. Bệnh kiêu ngạo.
33 Bệnh hiếu danh.
34. Thiếu kỷ luật.
35. Óc hẹp hòi.
36. Óc địa phương.
37. Óc lãnh tụ9).
Ở tiểu mục “Những bệnh khác” (thuộc phần III trên đây), Người còn chỉ rõ các
bệnh cũng do chủ nghĩa cá nhân gây ra:
38. Bệnh hữu danh, vô thực.
39. Kéo bè kéo cánh.
40. Bệnh cận thị.
41. Bệnh “cá nhân”.
42. Bệnh lười biếng.
43. Bệnh tị nạnh.
44. Bệnh xu nịnh, a dua10).
Cuối tiểu mục trên, Người còn nhắc đến các bệnh:
45. Bệnh quan liêu.
46. Bệnh bàn giấy.
47. Bệnh nóng tính.
48. Bệnh lụp chụp11).
Trong các bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra, một căn bệnh được Chủ tịch Hồ Chí
Minh quan tâm và nhắc đến nhiều nhất là bệnh quan liêu.
Ở mục “Phải rèn luyện tính Đảng” (thuộc phần III, Tư cách và đạo đức cách
mạng), Hồ Chí Minh chỉ ra 12 bệnh do kém tính Đảng gây ra:
49. Bệnh ba hoa,
50. Bệnh chủ quan,
51. Bệnh địa phương,
52. Bệnh hình thức,
53. Bệnh ham danh vị,
54. Bệnh ích kỷ,
55. Bệnh thiếu kỷ luật,
56. Bệnh hủ hoá,
57. Bệnh cẩu thả (gặp sao hay vậy),
58. Bệnh thiếu ngăn nắp,
59. Bệnh xa quần chúng,
60. Bệnh lười biếng12).
Ở phần IV (Vấn đề cán bộ), tiểu mục “Cách đối với cán bộ”, Hồ Chí Minh cho
rằng, do cách đối với cán bộ của ta chưa đúng, chưa tốt, nên phạm vào các bệnh
cần phải “tẩy sạch” là:
61. Bệnh kiêu ngạo,
62. Bệnh hẹp hòi,
63. Bệnh bao biện13).
Trong tiểu mục “Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ” thuộc phần IV (Vấn đề
cán bộ), dưới tiêu đề: “Hiểu biết cán bộ”, Hồ Chí Minh cho rằng do thiếu hiểu biết
cán bộ nên: “người ta thường phạm những chứng bệnh” trong công tác các bộ:
64. Tự cao tự đại,
65. Ưa người ta nịnh mình,
66. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người,
67. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác
nhau.
Người cho rằng “Phạm một trong bốn bệnh đó thì cũng như mắt đã mang kính có
màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông”14).
Cũng trong tiểu mục trên, dưới tiêu đề “Khéo dùng cán bộ”, Hồ Chí Minh cho
rằng do không khéo dùng cán bộ nên nhiều người phạm vào những chứng bệnh:
68. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn
người ngoài.
69. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính
trực.
70. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình
không hợp với mình.15)
71. Những người cậy mình là “công thần cách mạng”.
72. Hạng người nói suông.16)
6. Ngày 15-9-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các Ủy viên Ủy ban
kháng chiến hành chính Nam Bộ, các tỉnh, quận và xã ở Nam Bộ”. Trong thư,
Người lưu ý các ủy viên cần sửa chữa những khuyết điểm:
73. Địa phương chủ nghĩa,
74. Óc anh hùng cá nhân ….17).
7. Cùng ngày 15-9-1948, Người còn viết “Thư gửi các Tướng sĩ vệ quốc quân và
dân quân du kích Nam Bộ”. Trong thư, Người chỉ ra những khuyết điểm phải sửa
chữa là:
75. Địa phương chủ nghĩa,
76. Anh hùng cá nhân,
77. Bản vị chủ nghĩa.18)
8. Ngày 15-l1-1948, báo Sự Thật đăng bài “Bệnh tự kiêu, tự ái” của Chủ tịch Hồ
Chí Minh19). Trong bài viết, Người đã chỉ ra những nguyên nhân, triệu chứng và
cách chữa trị căn bệnh này.
78. Bệnh tự kiêu, tự ái.
9. Ngày 6-1-1950, báo Sự Thật đăng bài “Bệnh máy móc” của Chủ tịch Hồ Chí
Minh20). Đến ngày 10- 4-1956, Người có nhắc lại căn bệnh này trong Bài nói
chuyện tại Hội nghị cán bộ cải cách miền biển21).
79. Bệnh máy móc.
10. Ngày 15-7-1950, báo Sự Thật đăng bài: “Phải chữa cái bệnh cấp bậc”của Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
80. Bệnh cấp bậc.22)
11. Ngày 11-2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Ở phần I (Tình hình thế giới trong 50 năm
qua), mục nói về thời kỳ 1936-1939 của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi
đánh giá về những ưu điểm và khuyết điểm của Đảng, đã cho rằng: “Nhiều nơi cán
bộ phạm phải bệnh hẹp hòi, bệnh công khai, say sưa vì thắng lợi bộ phận mà xao
lãng việc củng cố tổ chức bí mật của Đảng”23).
81. Bệnh hẹp hòi,
82. Bệnh công khai.
Ở đoạn kế tiếp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý “phải hết sức tránh những bệnh chủ
quan, hẹp hòi, v.v.”.
Cũng trong Báo cáo trên, ở mục “Sửa chữa những khuyết điểm sai lầm”, Chủ tịch
Hồ Chí Minh chỉ ra một nhóm bệnh ở các cơ quan lãnh đạo các cấp. Người viết:
“Ngoài ra, ở các cơ quan lãnh đạo các cấp, về lề lối làm việc, về chủ trương và
cách lãnh đạo còn có những khuyết điểm khá phổ thông và nghiêm trọng. Ấy là
những bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi và bệnh công thần”24).
83. Bệnh chủ quan,
84. Bệnh quan liêu,
85. Bệnh mệnh lệnh,,
86. Bệnh hẹp hòi,
87. Bệnh công thần.
12. Ngày 6-2-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện trong buổi khai mạc lớp
chỉnh huấn cán bộ Đảng, Dân, Chính ở cơ quan Trung ương. Bài nói có đoạn đề
cập đến vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam lúc bấy giờ. Sau khi nêu những ưu
điểm của đội ngũ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một số khuyết điểm nhằm
giúp giới trí thức khắc phục. Những khuyết điểm - mà cũng là những bệnh - đó là:
88. Cá nhân chủ nghĩa.
89. Tính không kiên quyết.
90. Thái độ chờ đợi bàng quan.
91. Tính bảo thủ
92. Óc làm thuê.
93. Địa vị.25)
13. Từ ngày 26 đến 30-11-1953, báo Nhân Dân đăng bài viết của Chủ tịch Hồ Chí
Minh “Tích cực và nóng nảy”. Bài viết phân tích những biểu hiện của tính tích cực
và nóng nảy, sau đó khẳng định: “Nóng nảy là một thứ bệnh “tiểu tư sản”” 26).
94. Bệnh “tiểu tư sản”.
14. Từ ngày 13 đến 15-6-1954, trong bài “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn” đăng
trên báo Nhân Dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Bệnh cá nhân chủ nghĩa đẻ ra bệnh
kiêu ngạo”.27)
95. Bệnh kiêu ngạo.
15. Ngày 5-9-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, chỉ rõ: “Cán bộ và đảng viên
ta nói chung đều có phẩm chất cách mạng tốt đẹp. Nhưng chúng ta còn nhiều
khuyết điểm như: bệnh chủ quan, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm,
tác phong quan liêu, chủ nghĩa cá nhân (...). Những khuyết điểm ấy ngăn trừ sự
tiến bộ của các đồng chí chúng ta”.
96. Bệnh chủ quan,
97. Chủ nghĩa giáo điều,
98. Chủ nghĩa kinh nghiệm,
99. Tác phong quan liêu,
100. Chủ nghĩa cá nhân.
16. Ngày 17-10-1963, trong bài nói chuyện tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc, Chủ
tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngày nay, hai tỉnh mới nhập thành một. Đảng viên và
cán bộ hai tỉnh cũ phải tuyệt đối tránh địa phương chủ nghĩa. Không nên nghĩ rằng
tỉnh này bị nhập vào tỉnh kia|”.
Sau đó, Người yêu cầu: “Phải khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, bệnh công thần,
óc địa vị. Nó đẻ ra nhiều cái xấu như xích mích, kèn cựa giữa cán bộ và giữa đảng
viên, không ai phục ai, không giúp đỡ nhau, không cộng tác chặt chẽ với nhau”.28)
101. Địa phương chủ nghĩa,
102. Bệnh cá nhân chủ nghĩa,
103. Bệnh công thần,
104. Óc địa vị.
17. Ngày 14-5-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài nói chuyện ở lớp huấn luyện
đảng viên mới do Thành ủy Hà Nội tổ chức, đã nhắc nhở: “Các cô, các chú còn
phải nắm được phương pháp công tác cách mạng của Đảng, ví dụ như cách vận
động quần chúng. Không đi theo đường lối quần chúng của Đảng thì sẽ mắc bệnh
quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng”.29)
105. Bệnh quan liêu,
106. Bệnh mệnh lệnh,
107. Xa rời quần chúng.
18. Ngày 18-1-1967, nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện, Chủ
tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh
thành kiến hẹp hòi đối với phụ nữ. Các cô, nhất là các cô ở huyện, phải đấu tranh
mạnh. Vì các cô mà không đấu tranh thì những đồng chí nam có thành kiến với
phụ nữ sẽ không tích cực sửa chữa”30).
108. Bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ.
19. Ngày 30-12-1968, khi nói chuyện với đoàn cán bộ Tỉnh ủy Thanh Hoá, Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Từ trước tới nay, cán bộ vì quan liêu mà sinh ra mệnh
lệnh. Ta đã cầm quyền trên 23 năm, mà bây giờ Thanh Hoá mới bắt đầu sửa
chữa bệnh quan liêu, mệnh lệnh là chậm. Sắp tới phải tích cực hơn trong việc này
để phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân”.31)
109. Bệnh quan liêu, mệnh lệnh.
20. Ngày 3-2-1969, trong bài viết đăng trên báo Nhân Dân: “Nâng cao đạo đức
cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra biểu hiện
của chủ nghĩa cá nhân như: “Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần
chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh
quan liêu, mệnh lệnh”.32)
110. Bệnh quan liêu, mệnh lệnh.
Sau khi thống kê, phân tích 110 lần Hồ Chí Minh gọi tên các căn bệnh làm mất dân
chủ, chúng tôi nhận thấy các bệnh làm mất dân chủ được hình thành theo các nhóm
bệnh và các căn bệnh căn bản và phổ biến. Nhóm bệnh bao gồm nhiều căn bệnh
liên quan nhau, được chỉ ra cùng một thời điểm nhất định, có cùng triệu chứng,
nguồn gốc và do đó, cùng cách chữa trị. Còn bệnh hay căn bệnh chỉ những bệnh
riêng lẻ, có thể được lặp lại ở nhiều thời điểm khác nhau, có triệu chứng rõ ràng,
nguồn gốc cụ thể và cách chữa trị tương ứng.
Sự phân biệt các căn bệnh trong một nhóm bệnh với từng căn bệnh riêng lẻ cũng
chỉ có tính tương đối, vì có những căn bệnh vừa nằm trong một nhóm bệnh lại vừa
là căn bệnh lẻ, hay có những căn bệnh ban đầu nằm trong một nhóm bệnh, về sau,
do sự tiến triển của chúng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến một cách độc
lập, chẳng hạn Bệnh tự kiêu, tự ái. Bệnh kiêu ngạo, Bệnh thành kiến hẹp hòi đối
với phụ nữ … Vì vậy, chúng tôi sắp xếp chúng thành 11 nhóm bệnh và 13 bệnh
căn bản và phổ biến theo trình tự thời gian và tóm tắt ở bảng danh mục sau:
DANH MỤC CÁC NHÓM BỆNH VÀ CĂN BỆNH LÀM MẤT DÂN CHỦ
Nhóm bệnh
Bệnh
1. Những khuyết điểm to nhất:
1.1. Khuynh hướng chật hẹp và bao biện
1.2. Lạm dụng hình phạt
1.3. Kỷ luật không đủ nghiêm
1.4. Đề phòng hủ hóa
1. Bệnh lộn xộn, thiếu tổ
chức
2. Những lầm lỗi rất nặng nề:
2.1. Trái phép
2.2. Cậy thế
2.3. Hủ hóa
2.4. Tư túng
2.5. Chia rẽ
2.6. Kiêu ngạo
3. Những bệnh rất nguy hiểm:
3.1. Địa phương chủ nghĩa
3.2. Óc bè phái
3.3. Óc quân phiệt quan liêu
3.4. Óc hẹp hòi
3.5. Ham chuộng hình thức
3.6. Làm việc lối bàn giấy
3.7. Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm
3.8. Ích kỷ, hủ hóa
3.9. Ích kỷ, kiêu ngạo
2. Bệnh chủ quan
3. Bệnh hẹp hòi
4. Bệnh ba hoa
4. Nhóm bệnh do không sát quần chúng gây ra:
4.1. Bệnh khai hội
4.2. Bệnh nể nang
5. Nhóm bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra:
5.1. Bệnh tham lam
5.2. Bệnh lười biếng
5.3. Bệnh kiêu ngạo
5.4. Bệnh hiếu danh
5.5. Thiếu kỷ luật
5.6. Óc hẹp hòi
5.7. Óc địa phương
5.8. Óc lãnh tụ
5.9. Bệnh “hữu danh vô thực”
5.10. Kéo bè kéo cánh
5.11. Bệnh cận thị
5.12. Bệnh “cá nhân”
5.13. Bệnh tị nạnh
5.14. Bệnh xu nịnh, a dua
5.15. Bệnh quan liêu
5.16. Bệnh bàn giấy
5.17. Bệnh nóng tính
5.18. Bệnh lụp chụp
5. Bệnh quan liêu
6. Nhóm bệnh do kém tính Đảng:
6.1. Bệnh ba hoa
6.2. Bệnh chủ quan
6.3. Bệnh địa phương
6.4. Bệnh hình thức
6.5. Bệnh ham danh vị
6.6. Bệnh ích kỷ
6.7. Bệnh thiếu kỷ luật
6.8. Bệnh hủ hóa
6.9. Bệnh cẩu thả (gặp sao hay vậy)
6.10. Bệnh thiếu ngăn nắp
6.11. Bệnh xa quần chúng
6.12. Bệnh lười biếng
7. Nhóm bệnh do cách đối xử với cán bộ chưa
đúng, chưa tốt:
7.1. Bệnh kiêu ngạo
7.2. Bệnh hẹp hòi
7.3. Bệnh bao biện
8. Nhóm bệnh do thiếu hiểu biết cán bộ gây ra:
8.1. Tự cao tự đại
8.2. Ưa người ta nịnh mình
8.3. Do lòng yêu ghét của mình mà đối với người
8.4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp
mang lắp vào tất cả mọi người khác nhau
9. Nhóm bệnh do không khéo dùng cán bộ gây ra:
9.1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết,
bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài
9.2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà
chán ghét những người chính trực
9.3. Ham dùng những người tính tình hợp với
mình, mà tránh những người tính tình không hợp
với mình
6. Bệnh công thần cách mạng
7. Hạng người nói suông
8. Bệnh tự kiêu tự ái
9. Bệnh máy móc
10. Bệnh cấp bậc
10. Nhóm bệnh ở các cơ quan lãnh đạo các cấp:
10.1. Bệnh chủ quan,
10.2.Bệnh quan liêu
10.3.Bệnh mệnh lệnh
10.4.Bệnh hẹp hòi
10.5.Bệnh công thần
11. Nhóm bệnh của trí thức:
11.1. Cá nhân chủ nghĩa
11.2. Tính không kiên quyết
11.3. Thái độ chờ đợi bàng quan
11.4. Tính bảo thủ
11.5. Óc làm thuê
11.6. Địa vị
11. Bệnh tiểu tư sản
12. Bệnh kiêu ngạo
13. Bệnh thành kiến hẹp hòi
đối với phụ nữ
Tổng cộng:11 nhóm bệnh
Tổng cộng:13 bệnh
Sang chương II và III, chúng tôi trình bày cụ thể nội dung của các bệnh theo thứ tự
của bảng danh mục trên đây.
Chú thích
1) Trong Chương này và một số phần của các chương khác, do tác giả sử dụng
phương pháp thống kê các bệnh theo từng tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh nên
có một số bệnh lặp lại hoặc có nội dung giống nhau. (BT)
2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.19-21
3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.38
4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.57
5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.71-74
6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.76-77
7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.247-248
8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.255-256
9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.256-261
10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.267
11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.276
12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.277
13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.279
14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.286
15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.498
16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.499
17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.514-516
18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.4
19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.150
20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.67
21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.156
22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.167
23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.34-35
24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.170
25) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.295
26) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.201
27) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.154-155
28) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.94
29) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.208
30) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.420
31) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.439
CHƯƠNG II
TRIỆU CHỨNG CỦA CÁC CĂN BỆNH LÀM MẤT DÂN CHỦ
Dưới đây là triệu chứng hay biểu hiện của các căn bệnh làm mất dân chủ do Hồ
Chí Minh chẩn đoán.
1. Đối với Những khuyết điểm to nhất
Đây là những khuyết điểm khá phổ biến ở các địa phương lúc bấy giờ. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chỉ ra biểu hiện của những khuyết điểm đó như sau:
1.1. Khuynh hướng chật hẹp và bao biện
“Việc gì cũng do người Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng
hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc”.
1.2. Lạm dụng hình phạt
“Những đứa phản quốc có chứng cớ rõ ràng phải trừng trị đã đành. Nhưng chúng ta
không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không
nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung, không nên bắt bớ
lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng”.
1.3. Kỷ luật không đủ nghiêm
“Để cho bọn giả mạo tiếng Chính phủ hoặc tên Việt Minh ức hiếp dân, xoáy tiền
dân, lấy đồ đạc của dân, làm cho dân oán”.
1.4. Đề phòng hủ hóa
“Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với
Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách
mạng, hoặc là độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo
thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”.1)
2. Đối với Bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức
“Vào trụ sở một Ủy ban nhân dân, người ta nhận ngay thấy sự lộn xộn trong việc
xếp đặt bàn giấy: đố ai biết chỗ ông chủ tịch, ông thư ký, ông tài chính ngồi đâu.
Nhiều ông chủ tịch Ủy ban thường không nhận định những công việc chính của
mình phải đem hết tâm lực vào đó, mà thường chỉ dùng thì giờ để xử những vụ
kiện vớ vẩn, tiếp những ông khách vu vơ, hay cặm cụi viết thư, viết báo cáo – việc
có thể giao cho người khác làm được. Trong một Ủy ban, nhiều khi có người rất
rỗi rãi, cả ngày chỉ chạy ra chạy vào cho có chuyện, có người lại bù đầu rối óc vì
một mình phải kiêm đến mấy việc: nào ngoại giao, nào tư pháp, nào tài chính.
Chia công việc không khéo thành ra bao biện: nhiều việc quá thì sao làm được đến
nơi đến chốn, vì thì giờ và sức lực người ta chỉ có chừng.
Có kế hoạch làm việc nhưng sắp đặt công việc không khéo, phân công không sáng
suốt thì việc cũng đến hỏng. Người nói giỏi lại cho vào việc chỉ cần khéo chân tay,
người viết giỏi lại cho làm việc về lao động thì nhất định không thể nào thành công
được”.2)
3. Đối với Những lầm lỗi rất nặng nề
Đây cũng là khuyết điểm của nhiều người trong các Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng lúc bấy giờ. Sau khi nêu tên của lầm lỗi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ những biểu hiện, triệu chứng của các lầm lỗi này như sau:
3.1. Trái phép
Là “những kẻ Việt gian phản quốc, chứng cớ rõ ràng thì phải trừng trị đã đành,
không ai trách được.
Nhưng cũng có lúc vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm cho dân oán thán”.
3.2. Cậy thế
“Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được
vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm
việc cho dân chứ không phải để cậy thế với dân”.
3.3. Hủ hóa
“Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng
lãng mạn, thử hỏi ti...
TS. VÕ VĂN LỘC
HỒ CHÍ MINH
VỚI
VIỆC CHỮA BỆNH LÀM MẤT DÂN CHỦ
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HÀ NỘI - 2008
LỜI NÓI ĐẦU
Dân chủ trước hết là vấn đề chính trị, gắn liền với độc lập dân tộc, tự do và hạnh
phúc của nhân dân. Vì vậy, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc cũng là đấu tranh
mang lại nền dân chủ cho nhân dân, làm cho nhân dân trở thành người chủ và làm
chủ, thụ hưởng các quyền và lợi ích chính đáng do dân chủ mang lại.
Khi đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 2 tháng 9 năm 1945, khai sinh nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời cũng đã đặt nền móng xây
dựng một nền dân chủ mới cho nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Nước ta phải đi đến dân chủ thật sự. Dân chủ thật sự là chống phong kiến địa chủ
và chống đế quốc”1). Hoàn thành nhiệm vụ chống phong kiến và chống đế quốc,
nhân dân ta vừa bảo vệ độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ, vừa từng bước xây
dựng nền dân chủ mới, thông qua việc phát huy vai trò của Quốc hội. Trong tác
phẩm Sửa đổi lối làm việc, khi phân biệt “Làm việc theo cách quan liêu” với “Làm
theo cách quần chúng”, Hồ Chí Minh cho rằng “Làm việc theo cách quan liêu” là
“Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch,
viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo”. Đây là
cách làm việc sai lầm và “Đảng ta và Chính phủ ta làm việc là làm cho dân chúng.
Việc gì, cũng vì lợi ích của dân mà làm. Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán.
Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất
bại”2). Khi đưa ra năm nguyên tắc chống quan liêu mệnh lệnh, Chủ tịch Hồ Chí
Minh lưu ý rằng: “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ
“trên dội xuống”. Từ nay, việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên” 3). Đưa chính trị vào
giữa dân gian, chính là đưa dân chủ vào đời sống xã hội. “Làm sao cho nhân dân
biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám
làm”4) như Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh.
Dân chủ cũng chính là đạo đức, là văn minh của một dân tộc biết quý trọng độc
lập tự do của dân tộc mình, đồng thời biết tôn trọng độc lập, tự do của dân tộc
khác; biết đấu tranh và sẵn sàng hy sinh vì giá trị của dân chủ, cho dân tộc mình
cũng như dân tộc khác. Hồ Chí Minh đã phấn đấu suốt đời để giúp chúng ta nhận
ra cái chân lý quý giá đó.
Khía cạnh đạo đức, văn minh của dân chủ còn được thể hiện trong mối quan hệ
giữa các cá nhân trong đời sống hằng ngày. Đó là sự tôn trọng nhân cách của mọi
người, biết lắng nghe, thấu hiểu và quan tâm vì hạnh phúc của mọi người, vì ý
nghĩa cao cả của cuộc sống. Về điều này, chúng ta có thể học tập ở Hồ Chí Minh
nhiều bài học quý giá.
Dân chủ còn thể hiện ở phương pháp, tác phong và lề lối làm việc của cán bộ đảng
viên và công chức hiện nay. Trong di sản dân chủ Hổ Chí Minh, rất nhiều bài nói,
bài viết có giá trị về những vấn đề này.
Đối với Hồ Chí Minh, “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”5) mà “trong bầu
trời không gì quý bằng nhân dân” 6). Vì thế, Người luôn đề cao, thực hành và phát
huy dân chủ trong Đảng, từng bước củng cố và hoàn thiện Nhà nước dân chủ nhân
dân, thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên thực hành dân chủ để đem lại tiến
bộ xã hội, công bằng, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân.
Quá trình thực thi dân chủ là quá trình vận động, đấu tranh liên tục giữa cái mới
với cái cũ, cái tiến bộ và hiện đại với cái bảo thủ và trì trệ ở trong từng cá nhân
cũng như trên bình diện tổ chức quản lý xã hội. Quá trình đó luôn bộc lộ hai mặt
tích cực và tiêu cực đối lập nhau: về mặt tổ chức quản lý xã hội, hai mặt đó là dân
chủ với phi dân chủ, dân chủ với mất ổn định, mất kỷ cương. Về mặt cá nhân đó là
sự đối lập giữa đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư với chủ
nghĩa cá nhân, quan liêu, tham ô, hủ hóa. Những mặt đối lập tiêu cực của dân chủ
trên phạm vi xã hội cũng như trên bình diện cá nhân thường được Hồ Chí Minh gọi
là “bệnh” chẳng hạn, Hồ Chí Minh viết: ở các cơ quan lãnh đạo các cấp, về lề lối
làm việc, về chủ trương là cách lãnh đạo còn có những khuyết điểm khá phổ thông
và nghiêm trọng. Ấy là những bệnh “chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi và
bệnh công thần”7). Về phương diện cá nhân, Hồ Chí Minh chỉ ra các căn bệnh ở
cán bộ đảng viên như bệnh tự kiêu tự ái, bệnh máy móc, bệnh cấp bậc, bệnh thành
kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ …Các bệnh ấy làm tổn hại uy tín của cán bộ đảng
viên, ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng, và gây tác hại nghiêm trọng đối với sự
phát triển của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không nêu ra khái niệm “Bệnh làm mất dân chủ”, vì vậy chỉ
có thể hiểu khái niệm này thông qua nhiều bài nói và viết của Người.
Trong Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh khẳng định quan liêu là một bệnh và
bệnh này đi liền với bệnh bàn giấy. Ngày 30-5-1957, khi nói chuyện với cán bộ
đảng viên và thanh niên lao động Hải Phòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt câu hỏi:
“Quan liêu là gì?” và Người trả lời: “Quan liêu là không dân chủ”8). Liên kết ý
tưởng từ các câu trên, ta sẽ thấy:
1) Quan liêu là một bệnh;
2) Quan liêu là không dân chủ.
Có thể hiểu: Quan liêu là một bệnh không dân chủ. Hay có thể nói: Quan liêu là
một bệnh làm mất dân chủ.
Căn cứ vào những bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh về các loại bệnh, triệu chứng
và cách chữa trị, có thể hiểu khái niệm bệnh làm mất dân chủ như sau:
Bệnh làm mất dân chủ là bệnh do cán bộ đảng viên gây ra, đi ngược lại quan
điểm, đường lối của Đảng; chẳng những làm hư hỏng cán bộ đảng viên mà còn
gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước; cần
phải được chữa trị kịp thời và phòng chống tích cực.
Khái niệm này nói lên được một số điểm cần thiết:
Một là, khẳng định chủ thể gây ra bệnh làm mất dân chủ là cán bộ đảng viên chứ
không phải là quần chúng. Hai là, khẳng định nguồn gốc của bệnh là do đi ngược
lại quan điểm, đường lối của Đảng. Ba là, khẳng định căn bệnh chẳng những gây
tác hại đối với cá nhân người bệnh mà còn ảnh hưởng đến tổ chức Đảng. Bốn là,
chỉ ra thái độ, trách nhiệm của người bệnh và của cộng đồng đối với người bệnh là
cần phòng chống tích cực và chữa trị kịp thời.
Bệnh làm mất dân chủ là một khái niệm chung và bao hàm nhiều căn bệnh cụ thể,
như bệnh quan liêu mệnh lệnh, bệnh tự kiêu tự ái…
Nghiên cứu về bệnh làm mất dân chủ sẽ gặp một số từ như: Chẩn bệnh, triệu
chứng, chữa bệnh, chữa trị, thang thuốc, đơn thuốc, vị thuốc. Hồ Chí Minh dùng
những từ thang thuốc hay đơn thuốc để chỉ một liều lượng thuốc bao gồm các vị
thuốc có cùng công dụng chữa trị một bệnh hay một nhóm bệnh nào đó. Như đối
với bệnh quan liêu, sau khi nêu triệu chứng bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi:
“Thang thuốc chữa bệnh quan liêu”'. Đối với bệnh máy móc, sau khi nêu nguồn
gốc bệnh, Người viết: “Đây là đơn thuốc chữa bệnh máy móc…”.
Hoặc đối với từ “vị”, Hồ Chí Minh dùng từ này khi chỉ ra cách chữa trị bệnh tự
kiêu tự ái. Người viết: “Thang thuốc thánh để chữa bệnh này gồm có 4 vị”9).
Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng, xây dựng nền dân chủ mới, Chủ
tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn chiến lược để thấu hiểu và đưa ra những quyết sách
cần thiết cho việc điều hành đất nước, giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên.
Người sớm thấy rõ những tác hại của bệnh làm mất dân chủ và đưa ra những
“thang thuốc” chữa trị cho cán bộ đảng viên mắc bệnh, như một bác sĩ chăm lo
chữa trị cho bệnh nhân của mình. Đặc biệt, Người không hề dùng dấu ngoặc kép
khi nói đến các “bệnh” và các “thang thuốc” để chữa trị các “bệnh” đó. Người thể
hiện rõ sự thẳng thắn, công khai, vạch trần sự thật đế sửa chữa.
Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận
thấy quan điểm Hồ Chí Minh về dân chủ, đặc biệt là quan điểm về việc chữa trị
bệnh làm mất dân chủ thật sự là một vấn đề có ý nghĩa sâu xa về văn hoá chính trị.
Bằng sự hiểu biết và phân tích cặn kẽ những yếu tố tâm lý luôn tiềm ẩn trong động
cơ, hành vi của con người, kết hợp với những yếu tố xã hội học, chính trị học và
giáo dục học, Hồ Chí Minh đã chẩn đoán và ra toa chữa trị cho người bệnh một
cách tận tâm và cần kíp, vừa điều trị trước mắt, vừa có tác dụng dự phòng.
Trong bối cảnh cả nước ta đang từng ngày từng giờ đấu tranh chống quan liêu,
tham nhũng và lãng phí, một trong những căn bệnh nghiêm trọng của bệnh làm mất
dân chủ, việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng
chống và chữa trị bệnh làm mất dân chủ đã trở nên vô cùng cần thiết.
Từ những vấn đề vừa trình bày trên đây, hy vọng việc tìm hiểu nội dung Chủ tịch
Hồ Chí Minh với việc chữa bệnh làm mất dân chủ sẽ mang lại nhiều điều bổ ích,
thiết thực.
Xin trân trọng cảm ơn GS.TS. Hoàng Chí Bảo, GS.TS. Phan Ngọc Liên, GS.TS.
Đặng Quốc Bảo, TS. Đỗ Văn Chấn (Hà Nội), PGS.TS. Phan Xuân Biên, PGS.TS
Nguyễn Xuân Tế, PGS.TS Nguyễn Thanh (Thành phố Hồ Chí Minh) đã góp nhiều
ý kiến quý báu cho tác giả. Cảm ơn TS. Nguyễn Viết Ngoạn, Hiệu trưởng trường
Đại học Sài Gòn và Hội đồng Khoa học trường Đại học Sài Gòn đã tổ chức nghiệm
thu công trình nghiên cứu này. Cảm ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã tạo điều
kiện để xuất bản cuốn sách này.
Tác giả
VÕ VĂN LỘC
Chú thích
1)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, t.7, tr.25
2)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.293
3)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.298
4)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.223
5)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.279
6)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.276
7)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.176
8)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.386
9)
Nội dung của các đơn thuốc, thang thuốc được nghiên cứu cụ thể ở Chương
III
CHƯƠNG I
TÊN GỌI CÁC BỆNH LÀM MẤT DÂN CHỦ
Từ Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản, chúng tôi
tổng hợp số lần Hồ Chí Minh gọi tên của các khuyết điểm và các căn bệnh làm mất
dân chủ 1) trình bày theo thứ tự thời gian như sau:
1. Ngày 17-9-1945, tức 15 ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”. Trong thư, Người “chỉ lấy danh nghĩa
của một đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí”. Sau
khi nêu ý nghĩa to lớn và nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cùng
với những nhiệm vụ mới mẻ và khó khăn trong việc “dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn,
kiến thiết” đất nước trong giai đoạn mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra”'những
khuyết điểm to nhất” ở các địa phương, là:
1. Khuynh hướng chật hẹp và bao biện.
2. Lạm dụng hình phạt.
3. Kỷ luật không đủ nghiêm.
4. Đề phòng hủ hóa.
Người nhấn mạnh:
“Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho
nền đoàn kết lay động”2).
2. Ngày 4-10-1945, báo Cứu Quốc đăng bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”. Bài báo có
đoạn viết:
“Ta có thể nói: một khuyết điểm lớn, chung cho phần đông các Ủy ban nhân dân
là bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức. Về cán bộ hành chính, ta phải thú nhận là thiếu rất
nhiều. Người đi tuyên truyền, người chiến đấu thì có. Người ngồi bàn giấy làm
việc cai trị rất hiếm”3).
5. Bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức.
3. Ngày 17-l0-1945, trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và
làng” trên báo Cứu Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những nhiệm vụ của chính
quyền cách mạng vào thời điểm còn trứng nước muôn vàn khó khăn. Người ghi
nhận những cố gắng bước đầu của các Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và
làng, là “làm theo đúng chương trình của Chính phủ, và rất được lòng nhân
dân”. Tuy nhiên, bên cạnh đó, “cũng có nhiều người phạm những lầm lỗi rất nặng
nề”. Những lầm lỗi chính là:
6. Trái phép.
7. Cậy thế.
8. Hủ hoá
9. Tư túng.
10. Chia rẽ.
11. Kiêu ngạo4).
4. Ngày 1-3-1947, trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhấn mạnh: “Trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có
quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc
to; sai một ly đi một dặm”. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải kiên quyết
tẩy sạch những khuyết điểm sau đây:
12. Địa phương chủ nghĩa.
13. Óc bè phái.
14. Óc quân phiệt quan liêu.
15. Óc hẹp hòi.
16. Ham chuộng hình thức.
17. Làm việc lối bàn giấy.
18. Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm.
19. Ích kỷ, hủ hoá5).
- Trong “Thư gửi các đồng chí Trung Bộ” (viết trong năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng yêu cầu phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm:
20. Địa phương chủ nghĩa.
21. Óc bè phái.
22. Cô độc hẹp hòi.
23. Ham chuộng hình thức.
24. Ích kỷ, kiêu ngạo…6)
Trong cả hai thư trên, khi nói đến khuyết điểm về “Óc bè phái” Chủ tịch Hồ Chí
Minh đều cho đó là “một chứng bệnh rất nguy hiểm”.
5. Trong Sửa đổi lối làm việc viết xong tháng 10-1947, xuất bản đầu năm 1948,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến rất nhiều tật bệnh của cán bộ đảng viên.
Sau đây, chúng tôi trích giới thiệu theo thứ tự các bệnh được nêu trong Sửa đổi lối
làm việc.
Ở phần I, (Phê bình và sửa chữa), mục “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”, Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ ra “ba chứng bệnh rất nguy hiểm”,là:
25. Bệnh chủ quan.
26. Bệnh hẹp hòi.
27. Thói ba hoa7).
Ở phần II, (Mấy điều kinh nghiệm), tiểu mục “Sát quần chúng, hợp
quần chúng”, Người chỉ ra hai chứng bệnh do không sát quần chúng, không hợp
quần chúng gây ra:
28. Bệnh khai hội.
29. Bệnh nể nang8).
Ở phần III, (Tư cách và đạo đức cách mạng), tiểu mục “Những khuyết điểm sai
lầm”, Người chỉ ra “các thứ bệnh rất nguy hiểm”do chủ nghĩa cá nhân gây ra:
30. Bệnh tham lam.
31. Bệnh lười biếng.
32. Bệnh kiêu ngạo.
33 Bệnh hiếu danh.
34. Thiếu kỷ luật.
35. Óc hẹp hòi.
36. Óc địa phương.
37. Óc lãnh tụ9).
Ở tiểu mục “Những bệnh khác” (thuộc phần III trên đây), Người còn chỉ rõ các
bệnh cũng do chủ nghĩa cá nhân gây ra:
38. Bệnh hữu danh, vô thực.
39. Kéo bè kéo cánh.
40. Bệnh cận thị.
41. Bệnh “cá nhân”.
42. Bệnh lười biếng.
43. Bệnh tị nạnh.
44. Bệnh xu nịnh, a dua10).
Cuối tiểu mục trên, Người còn nhắc đến các bệnh:
45. Bệnh quan liêu.
46. Bệnh bàn giấy.
47. Bệnh nóng tính.
48. Bệnh lụp chụp11).
Trong các bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra, một căn bệnh được Chủ tịch Hồ Chí
Minh quan tâm và nhắc đến nhiều nhất là bệnh quan liêu.
Ở mục “Phải rèn luyện tính Đảng” (thuộc phần III, Tư cách và đạo đức cách
mạng), Hồ Chí Minh chỉ ra 12 bệnh do kém tính Đảng gây ra:
49. Bệnh ba hoa,
50. Bệnh chủ quan,
51. Bệnh địa phương,
52. Bệnh hình thức,
53. Bệnh ham danh vị,
54. Bệnh ích kỷ,
55. Bệnh thiếu kỷ luật,
56. Bệnh hủ hoá,
57. Bệnh cẩu thả (gặp sao hay vậy),
58. Bệnh thiếu ngăn nắp,
59. Bệnh xa quần chúng,
60. Bệnh lười biếng12).
Ở phần IV (Vấn đề cán bộ), tiểu mục “Cách đối với cán bộ”, Hồ Chí Minh cho
rằng, do cách đối với cán bộ của ta chưa đúng, chưa tốt, nên phạm vào các bệnh
cần phải “tẩy sạch” là:
61. Bệnh kiêu ngạo,
62. Bệnh hẹp hòi,
63. Bệnh bao biện13).
Trong tiểu mục “Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ” thuộc phần IV (Vấn đề
cán bộ), dưới tiêu đề: “Hiểu biết cán bộ”, Hồ Chí Minh cho rằng do thiếu hiểu biết
cán bộ nên: “người ta thường phạm những chứng bệnh” trong công tác các bộ:
64. Tự cao tự đại,
65. Ưa người ta nịnh mình,
66. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người,
67. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác
nhau.
Người cho rằng “Phạm một trong bốn bệnh đó thì cũng như mắt đã mang kính có
màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông”14).
Cũng trong tiểu mục trên, dưới tiêu đề “Khéo dùng cán bộ”, Hồ Chí Minh cho
rằng do không khéo dùng cán bộ nên nhiều người phạm vào những chứng bệnh:
68. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn
người ngoài.
69. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính
trực.
70. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình
không hợp với mình.15)
71. Những người cậy mình là “công thần cách mạng”.
72. Hạng người nói suông.16)
6. Ngày 15-9-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các Ủy viên Ủy ban
kháng chiến hành chính Nam Bộ, các tỉnh, quận và xã ở Nam Bộ”. Trong thư,
Người lưu ý các ủy viên cần sửa chữa những khuyết điểm:
73. Địa phương chủ nghĩa,
74. Óc anh hùng cá nhân ….17).
7. Cùng ngày 15-9-1948, Người còn viết “Thư gửi các Tướng sĩ vệ quốc quân và
dân quân du kích Nam Bộ”. Trong thư, Người chỉ ra những khuyết điểm phải sửa
chữa là:
75. Địa phương chủ nghĩa,
76. Anh hùng cá nhân,
77. Bản vị chủ nghĩa.18)
8. Ngày 15-l1-1948, báo Sự Thật đăng bài “Bệnh tự kiêu, tự ái” của Chủ tịch Hồ
Chí Minh19). Trong bài viết, Người đã chỉ ra những nguyên nhân, triệu chứng và
cách chữa trị căn bệnh này.
78. Bệnh tự kiêu, tự ái.
9. Ngày 6-1-1950, báo Sự Thật đăng bài “Bệnh máy móc” của Chủ tịch Hồ Chí
Minh20). Đến ngày 10- 4-1956, Người có nhắc lại căn bệnh này trong Bài nói
chuyện tại Hội nghị cán bộ cải cách miền biển21).
79. Bệnh máy móc.
10. Ngày 15-7-1950, báo Sự Thật đăng bài: “Phải chữa cái bệnh cấp bậc”của Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
80. Bệnh cấp bậc.22)
11. Ngày 11-2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Ở phần I (Tình hình thế giới trong 50 năm
qua), mục nói về thời kỳ 1936-1939 của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi
đánh giá về những ưu điểm và khuyết điểm của Đảng, đã cho rằng: “Nhiều nơi cán
bộ phạm phải bệnh hẹp hòi, bệnh công khai, say sưa vì thắng lợi bộ phận mà xao
lãng việc củng cố tổ chức bí mật của Đảng”23).
81. Bệnh hẹp hòi,
82. Bệnh công khai.
Ở đoạn kế tiếp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý “phải hết sức tránh những bệnh chủ
quan, hẹp hòi, v.v.”.
Cũng trong Báo cáo trên, ở mục “Sửa chữa những khuyết điểm sai lầm”, Chủ tịch
Hồ Chí Minh chỉ ra một nhóm bệnh ở các cơ quan lãnh đạo các cấp. Người viết:
“Ngoài ra, ở các cơ quan lãnh đạo các cấp, về lề lối làm việc, về chủ trương và
cách lãnh đạo còn có những khuyết điểm khá phổ thông và nghiêm trọng. Ấy là
những bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi và bệnh công thần”24).
83. Bệnh chủ quan,
84. Bệnh quan liêu,
85. Bệnh mệnh lệnh,,
86. Bệnh hẹp hòi,
87. Bệnh công thần.
12. Ngày 6-2-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện trong buổi khai mạc lớp
chỉnh huấn cán bộ Đảng, Dân, Chính ở cơ quan Trung ương. Bài nói có đoạn đề
cập đến vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam lúc bấy giờ. Sau khi nêu những ưu
điểm của đội ngũ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một số khuyết điểm nhằm
giúp giới trí thức khắc phục. Những khuyết điểm - mà cũng là những bệnh - đó là:
88. Cá nhân chủ nghĩa.
89. Tính không kiên quyết.
90. Thái độ chờ đợi bàng quan.
91. Tính bảo thủ
92. Óc làm thuê.
93. Địa vị.25)
13. Từ ngày 26 đến 30-11-1953, báo Nhân Dân đăng bài viết của Chủ tịch Hồ Chí
Minh “Tích cực và nóng nảy”. Bài viết phân tích những biểu hiện của tính tích cực
và nóng nảy, sau đó khẳng định: “Nóng nảy là một thứ bệnh “tiểu tư sản”” 26).
94. Bệnh “tiểu tư sản”.
14. Từ ngày 13 đến 15-6-1954, trong bài “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn” đăng
trên báo Nhân Dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Bệnh cá nhân chủ nghĩa đẻ ra bệnh
kiêu ngạo”.27)
95. Bệnh kiêu ngạo.
15. Ngày 5-9-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, chỉ rõ: “Cán bộ và đảng viên
ta nói chung đều có phẩm chất cách mạng tốt đẹp. Nhưng chúng ta còn nhiều
khuyết điểm như: bệnh chủ quan, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm,
tác phong quan liêu, chủ nghĩa cá nhân (...). Những khuyết điểm ấy ngăn trừ sự
tiến bộ của các đồng chí chúng ta”.
96. Bệnh chủ quan,
97. Chủ nghĩa giáo điều,
98. Chủ nghĩa kinh nghiệm,
99. Tác phong quan liêu,
100. Chủ nghĩa cá nhân.
16. Ngày 17-10-1963, trong bài nói chuyện tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc, Chủ
tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngày nay, hai tỉnh mới nhập thành một. Đảng viên và
cán bộ hai tỉnh cũ phải tuyệt đối tránh địa phương chủ nghĩa. Không nên nghĩ rằng
tỉnh này bị nhập vào tỉnh kia|”.
Sau đó, Người yêu cầu: “Phải khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, bệnh công thần,
óc địa vị. Nó đẻ ra nhiều cái xấu như xích mích, kèn cựa giữa cán bộ và giữa đảng
viên, không ai phục ai, không giúp đỡ nhau, không cộng tác chặt chẽ với nhau”.28)
101. Địa phương chủ nghĩa,
102. Bệnh cá nhân chủ nghĩa,
103. Bệnh công thần,
104. Óc địa vị.
17. Ngày 14-5-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài nói chuyện ở lớp huấn luyện
đảng viên mới do Thành ủy Hà Nội tổ chức, đã nhắc nhở: “Các cô, các chú còn
phải nắm được phương pháp công tác cách mạng của Đảng, ví dụ như cách vận
động quần chúng. Không đi theo đường lối quần chúng của Đảng thì sẽ mắc bệnh
quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng”.29)
105. Bệnh quan liêu,
106. Bệnh mệnh lệnh,
107. Xa rời quần chúng.
18. Ngày 18-1-1967, nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện, Chủ
tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh
thành kiến hẹp hòi đối với phụ nữ. Các cô, nhất là các cô ở huyện, phải đấu tranh
mạnh. Vì các cô mà không đấu tranh thì những đồng chí nam có thành kiến với
phụ nữ sẽ không tích cực sửa chữa”30).
108. Bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ.
19. Ngày 30-12-1968, khi nói chuyện với đoàn cán bộ Tỉnh ủy Thanh Hoá, Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Từ trước tới nay, cán bộ vì quan liêu mà sinh ra mệnh
lệnh. Ta đã cầm quyền trên 23 năm, mà bây giờ Thanh Hoá mới bắt đầu sửa
chữa bệnh quan liêu, mệnh lệnh là chậm. Sắp tới phải tích cực hơn trong việc này
để phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân”.31)
109. Bệnh quan liêu, mệnh lệnh.
20. Ngày 3-2-1969, trong bài viết đăng trên báo Nhân Dân: “Nâng cao đạo đức
cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra biểu hiện
của chủ nghĩa cá nhân như: “Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần
chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh
quan liêu, mệnh lệnh”.32)
110. Bệnh quan liêu, mệnh lệnh.
Sau khi thống kê, phân tích 110 lần Hồ Chí Minh gọi tên các căn bệnh làm mất dân
chủ, chúng tôi nhận thấy các bệnh làm mất dân chủ được hình thành theo các nhóm
bệnh và các căn bệnh căn bản và phổ biến. Nhóm bệnh bao gồm nhiều căn bệnh
liên quan nhau, được chỉ ra cùng một thời điểm nhất định, có cùng triệu chứng,
nguồn gốc và do đó, cùng cách chữa trị. Còn bệnh hay căn bệnh chỉ những bệnh
riêng lẻ, có thể được lặp lại ở nhiều thời điểm khác nhau, có triệu chứng rõ ràng,
nguồn gốc cụ thể và cách chữa trị tương ứng.
Sự phân biệt các căn bệnh trong một nhóm bệnh với từng căn bệnh riêng lẻ cũng
chỉ có tính tương đối, vì có những căn bệnh vừa nằm trong một nhóm bệnh lại vừa
là căn bệnh lẻ, hay có những căn bệnh ban đầu nằm trong một nhóm bệnh, về sau,
do sự tiến triển của chúng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến một cách độc
lập, chẳng hạn Bệnh tự kiêu, tự ái. Bệnh kiêu ngạo, Bệnh thành kiến hẹp hòi đối
với phụ nữ … Vì vậy, chúng tôi sắp xếp chúng thành 11 nhóm bệnh và 13 bệnh
căn bản và phổ biến theo trình tự thời gian và tóm tắt ở bảng danh mục sau:
DANH MỤC CÁC NHÓM BỆNH VÀ CĂN BỆNH LÀM MẤT DÂN CHỦ
Nhóm bệnh
Bệnh
1. Những khuyết điểm to nhất:
1.1. Khuynh hướng chật hẹp và bao biện
1.2. Lạm dụng hình phạt
1.3. Kỷ luật không đủ nghiêm
1.4. Đề phòng hủ hóa
1. Bệnh lộn xộn, thiếu tổ
chức
2. Những lầm lỗi rất nặng nề:
2.1. Trái phép
2.2. Cậy thế
2.3. Hủ hóa
2.4. Tư túng
2.5. Chia rẽ
2.6. Kiêu ngạo
3. Những bệnh rất nguy hiểm:
3.1. Địa phương chủ nghĩa
3.2. Óc bè phái
3.3. Óc quân phiệt quan liêu
3.4. Óc hẹp hòi
3.5. Ham chuộng hình thức
3.6. Làm việc lối bàn giấy
3.7. Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm
3.8. Ích kỷ, hủ hóa
3.9. Ích kỷ, kiêu ngạo
2. Bệnh chủ quan
3. Bệnh hẹp hòi
4. Bệnh ba hoa
4. Nhóm bệnh do không sát quần chúng gây ra:
4.1. Bệnh khai hội
4.2. Bệnh nể nang
5. Nhóm bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra:
5.1. Bệnh tham lam
5.2. Bệnh lười biếng
5.3. Bệnh kiêu ngạo
5.4. Bệnh hiếu danh
5.5. Thiếu kỷ luật
5.6. Óc hẹp hòi
5.7. Óc địa phương
5.8. Óc lãnh tụ
5.9. Bệnh “hữu danh vô thực”
5.10. Kéo bè kéo cánh
5.11. Bệnh cận thị
5.12. Bệnh “cá nhân”
5.13. Bệnh tị nạnh
5.14. Bệnh xu nịnh, a dua
5.15. Bệnh quan liêu
5.16. Bệnh bàn giấy
5.17. Bệnh nóng tính
5.18. Bệnh lụp chụp
5. Bệnh quan liêu
6. Nhóm bệnh do kém tính Đảng:
6.1. Bệnh ba hoa
6.2. Bệnh chủ quan
6.3. Bệnh địa phương
6.4. Bệnh hình thức
6.5. Bệnh ham danh vị
6.6. Bệnh ích kỷ
6.7. Bệnh thiếu kỷ luật
6.8. Bệnh hủ hóa
6.9. Bệnh cẩu thả (gặp sao hay vậy)
6.10. Bệnh thiếu ngăn nắp
6.11. Bệnh xa quần chúng
6.12. Bệnh lười biếng
7. Nhóm bệnh do cách đối xử với cán bộ chưa
đúng, chưa tốt:
7.1. Bệnh kiêu ngạo
7.2. Bệnh hẹp hòi
7.3. Bệnh bao biện
8. Nhóm bệnh do thiếu hiểu biết cán bộ gây ra:
8.1. Tự cao tự đại
8.2. Ưa người ta nịnh mình
8.3. Do lòng yêu ghét của mình mà đối với người
8.4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp
mang lắp vào tất cả mọi người khác nhau
9. Nhóm bệnh do không khéo dùng cán bộ gây ra:
9.1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết,
bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài
9.2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà
chán ghét những người chính trực
9.3. Ham dùng những người tính tình hợp với
mình, mà tránh những người tính tình không hợp
với mình
6. Bệnh công thần cách mạng
7. Hạng người nói suông
8. Bệnh tự kiêu tự ái
9. Bệnh máy móc
10. Bệnh cấp bậc
10. Nhóm bệnh ở các cơ quan lãnh đạo các cấp:
10.1. Bệnh chủ quan,
10.2.Bệnh quan liêu
10.3.Bệnh mệnh lệnh
10.4.Bệnh hẹp hòi
10.5.Bệnh công thần
11. Nhóm bệnh của trí thức:
11.1. Cá nhân chủ nghĩa
11.2. Tính không kiên quyết
11.3. Thái độ chờ đợi bàng quan
11.4. Tính bảo thủ
11.5. Óc làm thuê
11.6. Địa vị
11. Bệnh tiểu tư sản
12. Bệnh kiêu ngạo
13. Bệnh thành kiến hẹp hòi
đối với phụ nữ
Tổng cộng:11 nhóm bệnh
Tổng cộng:13 bệnh
Sang chương II và III, chúng tôi trình bày cụ thể nội dung của các bệnh theo thứ tự
của bảng danh mục trên đây.
Chú thích
1) Trong Chương này và một số phần của các chương khác, do tác giả sử dụng
phương pháp thống kê các bệnh theo từng tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh nên
có một số bệnh lặp lại hoặc có nội dung giống nhau. (BT)
2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.19-21
3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.38
4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.57
5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.71-74
6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.76-77
7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.247-248
8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.255-256
9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.256-261
10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.267
11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.276
12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.277
13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.279
14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.286
15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.498
16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.499
17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.514-516
18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.4
19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.150
20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.67
21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.156
22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.167
23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.34-35
24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.170
25) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.295
26) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.201
27) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.154-155
28) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.94
29) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.208
30) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.420
31) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.439
CHƯƠNG II
TRIỆU CHỨNG CỦA CÁC CĂN BỆNH LÀM MẤT DÂN CHỦ
Dưới đây là triệu chứng hay biểu hiện của các căn bệnh làm mất dân chủ do Hồ
Chí Minh chẩn đoán.
1. Đối với Những khuyết điểm to nhất
Đây là những khuyết điểm khá phổ biến ở các địa phương lúc bấy giờ. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chỉ ra biểu hiện của những khuyết điểm đó như sau:
1.1. Khuynh hướng chật hẹp và bao biện
“Việc gì cũng do người Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng
hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc”.
1.2. Lạm dụng hình phạt
“Những đứa phản quốc có chứng cớ rõ ràng phải trừng trị đã đành. Nhưng chúng ta
không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không
nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung, không nên bắt bớ
lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng”.
1.3. Kỷ luật không đủ nghiêm
“Để cho bọn giả mạo tiếng Chính phủ hoặc tên Việt Minh ức hiếp dân, xoáy tiền
dân, lấy đồ đạc của dân, làm cho dân oán”.
1.4. Đề phòng hủ hóa
“Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với
Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách
mạng, hoặc là độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo
thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”.1)
2. Đối với Bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức
“Vào trụ sở một Ủy ban nhân dân, người ta nhận ngay thấy sự lộn xộn trong việc
xếp đặt bàn giấy: đố ai biết chỗ ông chủ tịch, ông thư ký, ông tài chính ngồi đâu.
Nhiều ông chủ tịch Ủy ban thường không nhận định những công việc chính của
mình phải đem hết tâm lực vào đó, mà thường chỉ dùng thì giờ để xử những vụ
kiện vớ vẩn, tiếp những ông khách vu vơ, hay cặm cụi viết thư, viết báo cáo – việc
có thể giao cho người khác làm được. Trong một Ủy ban, nhiều khi có người rất
rỗi rãi, cả ngày chỉ chạy ra chạy vào cho có chuyện, có người lại bù đầu rối óc vì
một mình phải kiêm đến mấy việc: nào ngoại giao, nào tư pháp, nào tài chính.
Chia công việc không khéo thành ra bao biện: nhiều việc quá thì sao làm được đến
nơi đến chốn, vì thì giờ và sức lực người ta chỉ có chừng.
Có kế hoạch làm việc nhưng sắp đặt công việc không khéo, phân công không sáng
suốt thì việc cũng đến hỏng. Người nói giỏi lại cho vào việc chỉ cần khéo chân tay,
người viết giỏi lại cho làm việc về lao động thì nhất định không thể nào thành công
được”.2)
3. Đối với Những lầm lỗi rất nặng nề
Đây cũng là khuyết điểm của nhiều người trong các Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng lúc bấy giờ. Sau khi nêu tên của lầm lỗi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ những biểu hiện, triệu chứng của các lầm lỗi này như sau:
3.1. Trái phép
Là “những kẻ Việt gian phản quốc, chứng cớ rõ ràng thì phải trừng trị đã đành,
không ai trách được.
Nhưng cũng có lúc vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm cho dân oán thán”.
3.2. Cậy thế
“Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được
vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm
việc cho dân chứ không phải để cậy thế với dân”.
3.3. Hủ hóa
“Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng
lãng mạn, thử hỏi ti...
 









Các ý kiến mới nhất