Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ĐUỐC LÁ DỪA

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:58' 19-02-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
ĐUỐC LÁ DỪA
Tác giả: Hoài Anh
Thể loại: Tiểu thuyết
Nhà xuất bản: Trẻ

I

Trời tờ mờ sáng. Trong màn sương trắng đục hiện rõ dần một đoàn tàu

chiến Lang-Sa1*tiến dần vào sông Bến Nghé. Những thiết giáp hạm lớn
với nhiều lớp buồm chằng chịt dây neo, cột buồm đầu tàu treo cờ ba sắc,
thân tàu sơn nhiều màu đề những chữ Phlê-giê-tông, A-lác-mơ, Pri- môghê và A-va-lăng-xơ, tiếp đến những tàu hơi chân vịt La Đra-gon-nơ, En
Ca-nô, Prê-giăng… Hơi sương lờ mờ quyện với làn khói đen đặc nhả từ
đầu ống khói thấp lè tè làm nhòa một góc trời.
Tới trước bến Thành, cả đoàn tàu dừng lại. Bỗng trên chiến hạm Phlêgiê-tông nhốn nháo, một đám đông sĩ quan mũ lưỡi trai thêu kim tuyến, áo
trắng khuy vàng đứng xúm xít quanh tên chỉ huy đội mũ ba sừng, nhung
phục xanh lá mạ, đeo ngù vai, đi ghệt, bên sườn đeo một thanh kiếm ngắn.
Đó là tên đô đốc Ri-gô đờ Giơ-nui-i. Ri-gô đưa ống nhòm lên. Qua lớp
kính, thành Gia Định hiện ra, chỉ cách bờ sông khoảng tám trăm thước, bốn
mặt đều đặt trọng pháo. Thành xây đá ong, vuông vức, nhưng khuất sau
một dốc đất lớn nên từ ngoài sông nhìn vào chỉ thấy cửa thành và cột cờ
nhô ra cao vượt rặng cây và những dãy nhà cửa, vườn tược chạy dọc bờ
sông. Ri-gô hạ ống nhòm quay lại thì thầm với một người đội mũ ba cạnh,
áo dài đen, đó là viên thừa sai Lơ-phép-vrơ thông thạo địa dư, chữ Nho và
tiếng Việt làm hướng đạo cho hắn.
Bỗng hiệu cờ Đô đốc được kéo lên đỉnh cột buồm tàu Plê-giê-tông. Một
hồi kèn vang lên the thé. Chiếc A-lác-mơ dẫn đầu hai chiến hạm Pri-môghê và A-va-lăng-xơ, vượt qua chiếc Phlê-giê-tông. Những lính thủy đội
mũ vải có dải, áo cổ bẻ trắng sọc xanh biển lùi cả xuống, rồi những pháo
thủ áo dạ lính dài chấm gối, vai đeo cuộn chăn, quần nẹp đỏ, giày xăng đá
hùng hổ chạy lên. Tàu chiến dàn hai hàng, hàng trăm khẩu đại bác đều chĩa
nòng vào thành.
Nghe tin cấp báo, quan hộ đốc Gia Định Võ Duy Ninh lật đật trèo lên
vọng lầu nhìn xuống đã thấy từ các tàu giặc, đại bác tập trung bắn vào

thành, mỗi lúc một dữ dội. Võ Duy Ninh vội truyền lệnh cho quân sĩ bắn
trả.
Được tin mấy bữa trước Lang-Sa đem một số quân hùng hậu đánh phá
Vũng Tàu và cửa Cần Giờ, Võ Duy Ninh một mặt báo về Huế việc đó, một
mặt thông tư đi các tỉnh lấy thêm quân tăng cường cho Gia Định. Nhưng
quân các tỉnh chưa về kịp thì giặc đã nổ súng. Vì thiếu chuẩn bị, nên quân
ta đối phó rất lúng túng. Đại bác ta bắn phần nhiều rớt ra ngoài đích, chỉ
trúng cột buồm, không bắn chìm được tàu địch. Trái lại địch đóng vai chủ
động, tha hồ ngắm kỹ các mục tiêu, đạn của chúng phá hủy được rất nhiều
cơ sở quan trọng của ta trong thành.
Hỏa lực của giặc mỗi lúc mạnh thêm thì bên ta mỗi lúc yếu dần. Chẳng
bao lâu, súng trong thành im bặt, riêng pháo đài phía Nam còn tiếp tục. Tuy
vậy trọn một ngày đầu giao chiến, giặc vẫn chưa hiểu lực lượng ta ra sao
nên chưa dám hãm thành. Nhưng hôm sau, nhờ sự do thám của tên Giô-rêghi-be-ry và sự chỉ dẫn của tên Lơ-phép-vrơ, Ri-gô nắm vững được tình
thế Gia Định.
Rạng ngày hôm sau, Ri-gô để một số quân giữ tàu còn bao nhiêu cho đổ
bộ hết. Cánh bên trái gồm hai đạo thủy quân lục chiến và những đại đội
của tàu Phlê-giê-tông, Pri-mô-ghê và En-ca- nô đánh vào mặt Nam là nơi
bên ta bố trí nhiều đại bác vì gần bến tàu nhất. Tên đại úy Ga-li-ma và toán
công binh đi theo cánh quân này để nổ mìn các cửa thành, mở lối tiến quân.
Một đội lính Y Pha Nho do tên trung tá Pa-lăng-ca chỉ huy cũng được cử
làm lực lượng dự bị cho cánh quân này.
Cánh bên phải do tên đại tá Lăng-da-rốt-tơ chỉ huy gồm đơn vị còn lại
lính Y Pha Nho và nửa tiểu đoàn lính thủy phải xuống bộ tiến vào chân
thành cửa Bắc, phía rạch Thị Nghè.
Một tiểu đoàn còn lại để dự bị ở bờ sông do tên trung tá Rây-bô chỉ huy.
Cùng một lúc, súng đồng từ trên tàu và ô-buy của các toán đổ bộ bắn rất
rát. Thành Gia Định mù mịt dưới làn mưa đạn, nhiều chỗ bị sụp đổ.

Một tiểu đội cảm tử do tên thiếu tá Đờ Pa-li-rơ chỉ huy liền kéo đến
pháo đài và bắn vào đó dữ dội. Giặc nhân những chỗ thành bị phá, cố đặt
thang leo lên. Chúng vượt được mặt thành, hò reo ầm ĩ: Hoàng đế vạn
tuế2*.
Võ Duy Ninh đứng trên mặt thành đích thân chỉ huy cuộc kháng cự, hò
hét ba quân một cách tuyệt vọng.
Quân ta phản công mạnh vào cánh phải của địch tiến dọc theo rạch Thị
Nghè. Nhờ có lực lượng tiếp viện đông, giặc đã đẩy quân ta về phía bên
kia rạch.
Thủy quân lục chiến Lang-Sa mở được cửa thành, theo lệnh của tên
thiếu tá Bờ-rét-xanh, đoàn này liên lạc với đội quân tiên phong tiến vào
hồi mười giờ sáng. Thấy tình hình nguy ngập, Võ Duy Ninh ra lệnh rút
quân, bỏ lại trong thành hai trăm súng đại bác bằng đồng, bằng gang, hai
mươi ngàn súng tay, giáo, gươm, tám mươi lăm tấn thuốc súng và một số
lúa gạo đủ nuôi hàng vạn quân trong cả năm, chín chiến thuyền đã và
đương đóng ở ụ đóng tàu trên rạch Thị nghè. Tính tất cả theo thời giá là
hai mươi triệu quan.
Bước vào xưởng thủy quân trong thành là nơi đặt tổng hành dinh, Ri-gô
thầm nghĩ: chủ trương đem quân đánh úp Gia Định trong lúc người Việt
không phòng bị là rất đúng. Lần trước Ri-gô đem tàu chiến đánh cửa Đà
Nẵng đã từng bị Nguyễn Tri Phương đem quân bao vây đánh tỉa, tiêu diệt
được khá nhiều lính Lang-Sa, đến nỗi suốt năm tháng giao tranh, Ri-gô
không dám kéo quân lên đánh kinh đô Huế và đành lủi thủi rút tàn quân về.
Trong bản tường trình gởi về chính quốc, Ri-gô đã bắt buộc phải nói lên
một phần sự thật: “Chính phủ bị lừa về bản chất của cuộc đi lấy nước Nam
Kỳ, người ta trình bày rằng cuộc viễn chinh này chỉ là một việc dễ dàng
thôi, nhỏ bé thôi! Thật ra nó không dễ, cũng không nhỏ… Người ta mật báo
rằng quân đội Việt Nam không có gì, sự thật thì quân chính quy rất đông,
còn dân quân thì gồm tất cả những người dân nào không đau ốm và không
tàn tật”.

Nhìn lá cờ ba sắc bay phấp phới trên nóc cột cờ, Ri-gô xoa tay đắc ý.
Phải chăng ngôi sao chiếu mệnh của y đã bắt đầu sáng tỏ từ trên bầu trời
thành Gia Định này?
Nghe tiếng súng Tây nổ dữ dội phía thành, bà Tú Chiểu hớt hải từ chợ
Cầu Kho chạy về, nói với ông Tú:
- Ông ơi, chợ đang đông thì có tin Tây nó đánh thành, thế là ở chợ,
người ta dẫm lên nhau mà chạy, quang gánh thúng mủng đổ tung toé cả.
Bây giờ già trẻ lớn bé đang bồng bế, dắt dìu nhau chạy loạn, còn nhà ta thì
ông tính thế nào?
Ông Tú Chiểu ngẫm nghĩ một hồi:
- Nhà hãy cho sắp nhỏ chạy về quê ngoại bên Cần Giuộc để tạm tránh
tên bay đạn lạc đi đã…
- Thế còn ông?
Đôi mắt đục lờ của ông Tú như nhìn về xa xăm:
- Còn tôi thì phải ở lại cùng trai tráng chặn giặc. Lúc đất nước nguy
vong mà trốn tránh nghĩa vụ, bỏ đi nơi khác yên thân, sao cho phải!
Bà Tú nằn nì:
- Giá như người ta mắt sáng thì không nói làm gì, đằng này ông…
Lời ông Tú vang lên rắn rỏi như át cả tiếng súng vẫn nổ rền từng chặp:
- Tôi mắt kém thật nhưng sức vẫn còn mạnh, có ở lại cũng không sao.
Hỏng mắt nhưng còn miệng, vẫn có thể dóng dả bà con đứng lên chống
giặc. Nhà cứ yên tâm mà đi không phải lo chi hết. Đã có bọn học trò lớn
tuổi chăm nom săn sóc tôi là đủ rồi. nhà và sắp nhỏ mới cần tạm lánh chớ!
Bà Tú kiên quyết:
- Nếu ông không đi thì tôi cũng nhất quyết ở lại đây, có chết thì cũng
chết chớ không đi đâu hết!
Ông Tú ôn tồn:

- Nhà nên nhớ là nhà đang mang bầu, ở lại rủi tiếng súng đạn làm kinh
động đến thai nhi! Ý tôi đã quyết rồi! Nhà phải nghe tôi một chút chớ!
Bà Tú ngồi xệp xuống ván, không chịu đi. Ông Tú khuyên.
- Nhà còn có tránh nhiệm lớn trong việc nuôi dạy các con nên người,
không phải vì một lúc vụng suy mà tính chuyện liều lĩnh được. Cứ thu xếp
cho các con đi trước, tôi ở lại ít bữa coi tình thế ra sao rồi sẽ sang bên ấy
với nhà và các con.
Bà Tú gạt nước mắt:
- Nếu vậy tôi đi trước, sang tới bển tôi sẽ cậy anh Hai tới rước ông cùng
sang luôn.
Bà Tú đưa các con đi rồi, ông Tú sai học trò dẫn đi thăm những người
tai mắt trong vùng hỏi thăm tin tức. Ông được biết khi chiến thuyền nhỏ
của giặc vào con rạch từ Xóm Chiếu đi Xóm Củi, chúng nhổ cọc, phá cản
rồi đem quân vào chiếm đóng chùa Cây Mai, tại Gia Định, chúng lập đồn
ở gần sông. Chiếm xong Trường Thi,, chúng lập một phòng tuyến ngoại vi
từ chùa Khải Tường gần Trường Thi vào tới chùa Cây Mai, đền Hiển
Trung ở Chợ Đũi và chùa Chợ Rẫy. Giặc vừa chiếm chùa Chợ Rẫy thì một
ngàn quân ta do Đinh Bình Tâm cầm đầu xung phong đánh địch suốt đêm
mồng ba rạng mùng bốn tháng bảy. Những người chí sĩ như Trần Thiện
Chính trước là tri huyện bị triều đình cách chức và Lê Huy trước là quan
võ bị thải hồi, tụ họp dân cũng được ngót sáu ngàn người, vận động bà con
góp tiền, góp gạo cương quyết dánh giặc. Nhờ đạo nghĩa quân này yểm hộ
mà Đề đốc Trần Trí đã an toàn rút quân về ụ Tây Thái. Dân chúng đã tự
động đứng lên chống giặc, trong khi đó thì các quan lớn như Bố chánh Vũ
Thục, Lãnh binh Tôn Thất Năng bỏ thành chạy dài. Hộ đốc Võ Duy Ninh
chạy vào huyện Phước Lộc thắt cổ ở thôn Phước Lý, An sát Lê Từ cũng tự
vẫn ở đó…
Chứng kiến một chuỗi tự sát của những bầy tôi bất lực của triều đình
bất lực, Tú Chiểu ngậm ngùi:

- Thiệt là mỉa mai! Bầy tôi chỉ biết lấy cái chết để chuộc tội với vua, mà
không thấy trách nhiệm với dân với nước. Trong khi đó những người dân
thường không được hưởng lộc vua, thì lại biết đem thân ra giữ nước! Nghe
nói trong triều lúc này chỉ có quan kinh lược Nguyễn Tri Phương là người
khá, không hiểu ngài có phương cách gì cứu nguy cho đất nước không?
*
Tiếng pháo giao thừa nổ lẹt đẹt như chiếu lệ rồi đứt quãng, thỉnh thoảng
lại dội lên vài tiếng lạch tạch lạc lõng. Năm nay vì quân Lang-Sa đang đóng
trong thành Gia Định, nên mùa xuân chừng như cũng ngại ngùng không
muốn bước sang.
Ánh bạch lạp lấp lánh trên những đồ lộ bộ3* rọi leo lét trên mặt án, trải
rộng tờ sắc chỉ màu vàng lợt nổi hàng chữ son phê của vua Tự Đức:
“Khanh cứ cố thủ, chờ giặc mệt mỏi tất phải giảng hòa. Đừng nên khinh
động e sinh nhiều chuyện”.
Những dòng chữ bỗng như nhạt nhòa rồi chập chờn nhảy múa trước đôi
mắt già của quan Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương. Cố thủ! Thì lúc
nào ông chẳng lo thủ, nhưng thủ là để chờ cơ hội chiến, chứ không phải là
hòa.
Được cử vào Gia Định, việc đầu tiên của ông là củng cố lại đồn lũy cũ
của Tham tán quân vụ Tôn Thất Hiệp dựng lên sau khi thành mất. Ngoài
đồn Tiền, đồn Tả, đồn Hữu do Tôn Thất Hiệp lập ở phần đất làng Phú
Thọ, ông Nguyễn còn xây dựng cả một hệ thống Đại đồn, đắp lũy đất dày
cỡ bảy thước rưỡi ta, cao cỡ bảy thước ta, ngang hơn hai trăm trượng, dài
bảy trăm năm mươi trượng từ Chí Hòa xuống Bình Thới, từ Chí Hòa
xuống khỏi Phú Nhuận, án ngữ phía tây thành Gia Định. Đồn tiền duyên
cách các đồn mới Lang-Sa từ hai trăm năm mươi đến bốn trăm năm mươi
trượng, để tránh nỗi nguy hiểm của đại bác từ tàu giặc bắn vào. Doanh trại
lớn, nơi ông Nguyễn trú đóng, gọi là đồn Trung, lại có xây thêm đồn Tả
Hậu, Hữu Hậu. Trong đồn chia làm năm khu, khu này ngăn cách với khu
kia bằng đường đất, vách đá có cửa, phòng địch vào tới nơi này thì nơi kia

vẫn giao chiến được. Mặt Đông Bắc tức mặt tiền cách đồn giặc tám dặm,
thì chắc hơn là mặt hậu, phía Tây Nam.
Từ Đại đồn xuống, hướng về vị trí đồn Cây Mai của địch, ông cho đào
đắp một dải chiến hào, chiến lũy và xây đồn trại làm chỗ dựa. Lại một dải
chiến hào, chiến lũy khác đi từ Đại đồn hướng về phía sông Thị Nghè, nơi
tàu chiến giặc đậu.
Cách Đại đồn gần tám trăm trượng về phía đằng sau thì có đồn Thuận
Kiều là nơi chứa quân lương, quân dụng trên con đường đi Hốc Môn, Tây
Ninh.
Bên cạnh những pháo đài kiên cố ấy còn có những đường hầm dài hơn
hai mươi dặm, pháo đài nào, hầm lũy ấy, đủ binh lính canh phòng, đủ chỗ
ẩn nấp cho họ. Thành lũy của Nguyễn Tri Phương dựng mau như nấm
mọc, hễ chỗ nào có một lối đi là có ngay một chiến lũy ngăn cản. Chỗ nào
quân ông đến thì thành lũy liền sẵn sàng để quân ông núp bắn. Muốn cắt
đứt đường giao thông của Lang-Sa, ông không quên những điểm then chốt
trên các đường đi Cao Miên, về Huế, sang Định Tường và dọc theo sông
Đồng Nai,
Mới chiều nay, Nguyễn Tri Phương cùng viên tùy tướng Trần Nhượng
cưỡi ngựa đi thị sát chung quanh khu vực trung tâm của Đại đồn trên phần
đất làng Chí Hòa. Dọc theo lũy, rải rác nhiều chòi trông xa cất cheo leo
trên ngọn cây cổ thụ giống như những tổ chim đại bàng. Vách thành làm
bằng đất sét và đá ong, cao chín thước ta, dày năm thước ta, có lỗ châu mai
nằm khít nhau để nã súng đại bác, ném đá hoặc phóng các chất dẫn hỏa.
Đại bác nhiều cỡ lớn nhỏ, súng bắn đá, súng trường lớn được đặt ở đây.
Ngoài vách thành có rào tre nhọn, chướng ngại vật treo ngang dọc, từng bụi
gai bao trùm tất cả bề dài các bức tường, những cây tre được gài khéo léo
để khi cần có thể bật thẳng vào quân địch. Nào hố chữ phẩm cắm chông tre,
nào ụ đất, nào hào đầy nước, những cạm bẫy đó rải hàng mấy trăm thước
từ chân thành trở ra. Nhìn cảnh tượng hùng vĩ trước mắt, Nguyễn Tri
Phương hứng khởi nói với Trần Nhượng:

- Ngươi nhìn coi, hình thế Đại đồn có phải giống như cái thân của một
lực sĩ mà hai dải chiến hào như hai cánh tay dang ra ôm lấy Sài Gòn hay
không? Với cái thế này, thừa sức hất giặc đổ xuống sông Bến Nghé.
Lúc này, ông đang tính toán một nước cờ quyết định. Vì biết quân
Lang-Sa phải chia một số binh lực sang hợp sức với quân Hồng mao4*
đánh nhau với nhà Thanh, ông Nguyễn đã dâng sớ xin vua cho đánh dốc
một trận, quét sạch quân Lang-Sa trong các đồn Cây Mai, chùa Kiến
Khương, đền Hiển Trung. Nhưng Tự Đức chần chừ không chịu quyết, cuối
cùng ban lệnh cho ông không được đánh, phải cố thủ để chờ dịp điều đình.
Nguyễn Tri Phương thở dài. Lang-Sa đang phân tán quân sang Tàu, cơ
hội nghìn năm có một, không thừa dịp nắm lấy, thật uổng. Ông buồn rầu,
khi thấy trong số những kẻ chủ hòa lại có cả người bạn thân nhất của ông:
Phan Thanh Giản. Không ai chối cãi được rằng Phan là một người ngay
thẳng và trong sạch. Ông Nguyễn còn mến Phan ở chỗ trung hậu, chí tình
với bạn, nhất là thơ rất hay. Nhiều bài thơ của Phan, ông Nguyễn thuộc
lòng, thỉnh thoảng lại ngâm nga và nhiều lúc phải buột miệng khen vì lời
thơ tự nhiên thanh thoát mà đầy tình cảm chân thành. Người làm sao thì
thơ làm vậy. Phan lên bảy tuổi thì mất mẹ. Cha Phan – Phan Văn Ngạn, tức
ông thầy ở Gảnh Mù U – cưới vợ khác. Phan đối xử với bà mẹ mẹ ghẻ rất
hiếu thuận, khiến mẹ ghẻ cũng phải động lòng thương. Khi Phan tới học
với ông thầy chùa ở làng Phú Ngãi, một tháng bà mẹ ghẻ phát cho Phan ba
chục tô gạo và ba chục con mắm, thì Phan cũng giữ để ăn cho đủ mà học.
Vì có tính cương cường, ngay thẳng, không tham lam của dân, lại chẳng
hay bợ đỡ quan trên nên cha Phan khi làm thủ hạp tại nhà tơ tỉnh Vĩnh
Long, bị quan trên kiếm chuyện nói là để dân thiếu thuế mà không thâu, bị
bắt giam tới ba năm, rồi bị cách chức và bị phạt tù một năm. Khi cha Phan
bị tù ở Vĩnh Long, thì Phan được hai mươi tuổi, nhà nghèo lắm, song một
mình Phan ngoài lo nuôi cha- mỗi ngày vào nhà giam làm thế công việc
cho cha – xong lại coi sóc việc gia đình. Lúc cha Phan đau yếu thì ngày
đêm Phan lại ở trong khám hầu hạ cơm thuốc, quên sự đói lạnh. Lòng hiếu

của Phan đã khiến quan Hiệp trấn Lương phải cảm thương, can thiệp cho
cha Phan được sớm mãn hạn tù, lại cho Phan vào trường tỉnh học và cho
sách vở, dạy Phan học thêm. Khoa Ất Dậu, Minh Mạng thứ sáu, Phan đậu
cử nhân ở trường thi Gia Định, rồi cưới vợ họ Lê ở làng Long Hồ, Vĩnh
Long để ở nhà hầu hạ cha, cho mình yên lòng ra Huế thi Hội. Không phải
chỉ khi chưa đậu nhà mới nghèo khó, mà sau khi đậu tiến sĩ, làm quan đến
tột phẩm, nhà Phan vẫn thanh bạch như lúc hàn vi. Một người tài năng, đạo
đức như vậy, kể trên đời cũng hiếm. Vậy mà đứng trước những giờ khắc
gay go nhất của lịch sử, Phan lại có những nhận định mơ hồ, lầm lẫn.
Trong bản điều trần dâng vua, Phan viết:
“Súng đạn và chiến hạm của Tây rất tinh xảo. Họ lại thạo về môn thủy
chiến. Vì vậy, ta không mong thắng được họ lúc này. Ta phải dốc toàn lực
vào công cuộc phòng thủ bờ cõi. Bao giờ ta đầy đủ về mọi mặt, chừng ấy
ta hãy bàn nên chiến hay nên hòa. Nếu ta không đủ lực lượng phòng bị thì
đừng mong khai chiến hay nghị hòa với họ”.
Ngay buổi chầu hôm đó, ông Nguyễn đã công kích kịch liệt chủ trương
của bạn nói là phải chờ đợi chuẩn bị lực lượng, nhưng kỳ thực là để che
giấu ý định cầu hòa, lùi bước trước lũ giặc. Bị mất mặt trước vua và các
đình thần, Phan sinh ra bất hòa với Nguyễn Tri Phương, dù sao trong thâm
tâm ông Nguyễn vẫn lấy làm tiếc về chuyện đó.
Tiếng trống cầm canh ở vọng lâu khiến Nguyễn Tri Phương giật mình
ngước nhìn lên. Chiếc độc bình lớn giữa nhà vẫn trống trơn. Mọi năm
trước, mỗi lần đón xuân, ông lại sai chặt một cành bạch mai ở trong chùa
Cây Mai đem về cắm bình. Ông không thích hoàng mai vì hoàng mai sắc
đẹp nhưng không có hương thơm như bạch mai.
Ở Gia Định, bạch mai chỉ chùa Cây Mai và chùa Gò mới có, mà hai nơi
ấy đều nằm trong vùng giặc đóng, thì lấy đâu ra bạch mai thưởng xuân
này. Thật đau lòng khi thấy không những dân lành bị hãm trong lưới giặc
mà cả bạch mai cũng bị giam cầm, xuân này lại phải nở hoa trong tầm súng
giặc.

Nhớ lại lần cùng Phan Thanh Giản tới thăm chùa Cây Mai, thấy bảy cây
bạch mai đẹp quá, ông Nguyễn đã truyền dựng một tòa lương đình có gác
cao, để ngồi trên đó thưởng mai. Tòa lương đình, mái ngói ống xanh, hai
đầu cong như đuôi én, dưới có lan can chạm vẽ, cửa sổ chấn song con tiện,
có thể nhìn ra ngoài. Trên bức hoành trước mặt, có đề hai chữ Mai đình, nét
chữ xương kính, do chính tay Phan Thanh Giản đề.
Khi khánh thành lương đài, cũng vào dịp đầu xuân Đinh Tỵ5* Nguyễn
Tri Phương mời Phan Thanh Giản tới thưởng mai. Chưa vội bước lên đài,
ông Nguyễn tới bên gò đất cao ngắm kỹ từng gốc mai. Mấy cội bạch mai
cành lá sum suê, đâm những bông trắng muốt, cạnh đó là những nụ hoa vừa
hé, đầy vẻ e ấp. Ông cười, nói với bạn:
- Tôi suốt một đời long đong lật đật, không có lúc nào thanh nhàn mà
thưởng hoa, nên sáu chục tuổi đầu mới có thì giờ ngắm kỹ một gốc mai.
Cứ nhìn qua, ngoài màu sắc ra, khó mà phân biệt được bạch mai khác
hoàng mai chỗ nào.
Phan Thanh Giản lắc đầu:
- Khác nhau nhiều chớ. Hoàng mai có từ mười cánh hoa, bạch mai chỉ
có bốn cánh và hai tai hoa. Bạch mai hoa không lớn bằng hoàng mai, chỉ
nhỏ bằng hột nút áo, nụ hoa tròn như hạt tiêu. Hoàng mai đâm bông phần
nhiều ở ngọn và cuối cành, còn bạch mai thì đâm bông ngay thân cây, ở
nách cây hoặc ở những u. Lá hoàng mai mỏng, lá bạch mai dày, trơn láng
và xanh hơn…
Nguyễn Tri Phương gật gù:
- Bác hiểu về mai, hẳn là yêu mai lắm, hèn chi bác lấy hiệu là Mai Khê
cũng phải.
Phan Thanh Giản cười:
- Ấy nhiều người cứ quen với chữ: cúc, trúc, lan, mai nên ngỡ hiệu Mai
Khê của tôi lấy chữ mai trong mai hoa. Nhưng Mai Khê đây lại có nghĩa là

Gảnh Mù U. cây mù u vì thân sần sùi giống cây mai nên người ta kêu là
nam mai. Quê tôi ở Gảnh Mù U nên mới lấy hiệu Mai Khê, có vậy thôi.
Nguyễn Tri Phương chợt nhớ:
- Hèn nào hồi tôi ở Kinh tới thăm Tùng Thiện Vương, Vương có đọc
cho tôi nghe câu thơ của viên hành tẩu Cao Bá Quát: “Ngoảnh lại Hải Vân
không với tới, ròng ròng nhỏ lệ nhớ nam mai” và khen người làm thơ là
từng trải, biết cả tên cây mù u trong Nam. Còn tôi thú thực không phân biệt
được các giống mai khác nhau thế nào…
Phan Thanh Giản khẽ vuốt chòm râu bạc, từ tốn:
- Bác nửa đời ở Kinh lại ra Bắc, mà ngoài Bắc chỉ có giống Bắc mai,
hoa cũng trắng nhưng nhỏ lại nở thành trái mơ, không giống bạch mai ở
trong này, nên ít khi được ngắm bạch mai cũng phải. Ngay ở trong Nam
cũng chỉ mấy nơi có bạch mai, như Bình San Hà Tiên, núi Điện Bà Tây
Ninh, đình Phú Tự Bến Tre, còn ở Gia Định thì chỉ riêng chùa Gò và chùa
Cây Mai. Cũng may quê tôi ở Bến Tre, nên từ nhỏ đã được ngắm bạch mai
ở đình Phú Tự. Còn mai ở chùa Cây Mai tôi đã nhiều dịp thưởng thức cùng
các danh sĩ trong Bạch mai thi xã…
- Bạch mai thi xã… Họp mặt các thi nhân uống rượu thưởng mai rồi
vịnh thơ cũng là cái thú tao nhã. Chỉ tiếc tôi không lúc nào nhàn rỗi để tiêu
khiển, di dưỡng tính tình…Trong Thi xã có những ai vậy bác?
- Trong số quan thì có ông Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, ông Án sát Huỳnh
Mẫn Đạt, ông Hàn lâm Nguyễn Thông… còn những người trẻ tuổi thì có
cử nhân Phan Văn Trị, Ấm sinh Tôn Thọ Tường…
Nguyễn Tri Phương hơi cau mày:
- Tôn Thọ Tường nào? Có phải con trai ông Tuần phủ Thuận Khánh Tôn
Thọ Đức không?
- Chính đó. Hồi nhỏ Tường mới xuất thân, đã bị triều đình bắt tội vì
làm bài mướn cho học trò đi thi. Tường bị giải vô kinh, khi đó tôi đang
ngồi Bộ Lại, Tường cậy người chuyển tới dinh một bài thơ trần tình, trong

có câu: “Vì nhà túng rối nên quyền biến. Phép nước răn he há dám khinh.
Gió bụi đất từng quen với mặt, Nắng mưa trời có thấu cho mình”. Thấy
Tường thơ hay, tôi thương tình xin Ngài Ngự tha cho y.
- Quyền biến… Làm chuyện phi pháp mà cũng là quyền biến à? Thơ
hay nhưng khí cục tầm thường… Trong Thi xã còn có ai nữa?
- Có lần tôi thấy một ông thầy ở Bình Dương, tên Nguyễn Đình Chiểu
thì phải, sở dĩ tôi chú ý bởi ông đui mà làm thơ rất hay, tuy so với người
khác thì ổng ở bậc thấp bởi đậu có tú tài. Có điều ông chỉ chuyên làm thơ
nôm mà tôi thì ưa nôm nên có cảm tình ngay khi mới gặp. Mấy câu lục bát
vịnh mai của Tú Chiểu có cái khí rất mạnh, tôi còn nhớ tới bây giờ:
Hữu tình thay ngọn gió đông.
Cành mai nở nhụy, lá tòng reo vang.
Nguyễn Tri Phương gật gù:
- Nghe được cả tiếng lá tòng reo vang, đúng là người sức nhìn kém thì
sức nghe càng mạnh. Đành rằng nếu thầy Chiểu không bị đui thì không
phải chỉ đậu có tú tài mà bảng nhỡn thám hoa cũng nên. Nhưng khoa bảng
mà làm gì nếu con người không có kiến thức sâu rộng cũng như từng trải
sự đời. Gia thế thầy Tú Chiểu thế nào, bác?
- Thân sinh thầy Chiểu là ông Nguyễn Đình Huy, gốc ở huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa Thiên…
- Ủa, vậy ra cũng đồng hương với tôi…
- Vâng, ông Huy được bổ làm thơ lại ở văn hàn ty, theo Lê Tả quân6* vô
Sài Gòn, lấy bà thứ ở làng Tân Thới sinh thầy Chiểu. Tới khi Ngụy Khôi
nổi lên đánh chiếm Gia Định, thầy Chiểu theo cha về Thừa Thiên và được
gửi trọ học với người bạn của cha làm chức Thái phó suốt tám năm. Năm
hăm hai tuổi, thầy Chiểu trở về quê mẹ và thi đậu tú tài tại trường Gia
Định. Năm sau, thầy lên Kinh chờ khoa thi hội, gần tới kỳ thi thì được tin
mẹ chết từ tháng chạp năm trước. Thầy vội rời kinh trở về Gia Định. Lúc
ấy mới cuối tháng giêng mà tới tháng tư mới có chuyến ghe bầu về Nam

nên thầy đành phải đi bộ. Đường trường vất vả lại nhân nỗi đau thương,
thầy tự nhiên nhuốm bịnh. Bịnh mỗi ngày một trầm trọng nên thầy phải ở
đậu tại Quảng Nam để kiếm thầy chạy thuốc. Bị buộc chân ở đó, không trở
về thủ hiếu được mà tiền lương cạn dần, thầy đâm ra buồn bực, càng động
đến mối thương tâm, nên đêm ngày than khóc vì cớ đó sinh ra đau mắt
nặng rồi đui. May sao khi đó gặp được ông thầy Trung vốn dòng ngự y,
thương tình nuôi nấng và dạy cho nghề thuốc. Học xong, thầy Chiểu được
người nhà đưa về Gia Định cư tang rồi sống trong cảnh trơ vơ thiếu thốn.
Mãn tang, thầy mở trường dạy học để khuây khỏa tháng ngày, cũng để
kiếm kế nuôi thân…
- Cảnh ngộ thầy Chiểu éo le thiệt! Mà sao bác biết rành về thầy Chiểu
như vậy?
- Tôi bình sinh trót mắc cái tật mê thơ, nên bất kỳ ai dầu quan hay dân
mà thơ hay là tôi đều làm quen hết! Thơ thầy Chiểu có cái lạ là đã khí
phách mà viết cái chi cũng ngụ ý đui mù ở trong. Ngoài những câu đôn hậu
như: “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt. Lòng đạo xin tròn một tấm gương”
có cả những câu ngược ngạo: “Xe ngựa lao xao giữa cõi trần. Biết ai thiên
tử biết ai thần”.
Nguyễn Tri Phương hơi nhăn mặt vì lời lẽ phạm thượng của Tú Chiểu
nhưng rồi lại cúi đầu ngẫm nghĩ. Ông nhớ lại bữa ông duyệt binh qua
Đồng Tập Trận, còn nhìn thấy đất chỗ Mả ngụy sau mấy chục năm vẫn
còn sình lên sụp xuống. Đó là nơi vua Minh Mạng sai chặt đầu ném thây
chôn chung một huyệt cả thảy một ngàn một trăm ba mươi bảy người già
trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà lộn lạo, khép vào tội theo giặc Khôi làm phản
chống lại triều đình. Một người như thầy Chiểu đã từng chứng kiến việc
Lê Văn Khôi nổi dậy giết Tổng đốc Nguyễn Văn Quế, bắt Bố chánh Bạch
Xuân Nguyên đốt làm đuốc sống tế tả quân Duyệt, chiếm giữ thành Phiên
An trong ba năm…hẳn có ý nghĩ khác ông về vua quan nhà Nguyễn, điều
đó không lấy gì làm lạ. Nhưng dầu sao đi nữa những lời lẽ xẵng bạo ấy
vẫn khó thể lọt tai một vị đại thần vốn rất mực trung quân.

Bỗng một luồng gió ấm phảng phất. Một làn hương nhẹ thoảng qua,
mơ hồ như có như không. Phan Thanh Giản hít một hơi dài như muốn thu
lấy hương mai vào trong lòng, rồi đưa mắt nhìn xa như theo dõi áng hương
tan loãng vào trong không gian:
- Bác có cảm thấy hết mùi hương của bạch mai không? Mùi hương mai
mơ hồ phảng phất nên người ta gọi là ám hương. Cũng vì trời càng lạnh
thì càng thơm, nên còn gọi là lãnh hương. Tôi rất thích hai câu thơ của
Lâm Bô đời Tống vịnh mai:
Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển,
Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn7*
Thật không ai sướng hơn Lâm Bô, ông ấy về ẩn dật ở núi Cô Sơn tại
Tây Hồ, thường tự cười mình cưới mai làm vợ, nuôi hạc làm con. Tôi chỉ
ước sao sớm được hưu quan, lui về ẩn dật “Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ, hạc là người quen” như câu thơ của quan Cần chánh
Nguyễn Du, đề vào cái đĩa sứ “mai hạc” cho lò gốm Hàng Châu, năm ngài
đi sứ…
Nguyễn Tri Phương cười:
- Cái ông Lâm Bô nhà bác yêu mai dễ đã bằng cụ Lục Du chưa. Cụ ấy
còn muốn hóa thân ra làm ngàn vạn để mỗi cây mai có một Phóng Ông kia
mà…
Hai người cùng cười. Phan Thanh Giản cất tiếng ngâm nga hai câu thơ
Lục Du: “Hà phương khả hóa thân thiên vạn. Nhất thụ mai hoa nhất Phóng
Ông”. Giữa lúc đó nhà chùa cũng dâng lên hai ly trà nấu bằng gỗ mai.
Nguyễn Tri Phương nhấp một ngụm. Hương sắc của hoa, vị thanh đạm của
trà, quyện với tiếng ngâm thơ trong trẻo của người bạn, khiến ông thấy
tâm trí lâng lâng.
Ông tưởng như sống ngược lại với thời xưa, khi ấy trời đất mênh mông
hơn bây giờ, những kẻ sĩ đi ngàn dặm chỉ cốt ghé thăm bạn trong một túp

lều tranh, uống với nhau một tuần trà, hưởng cái thú “đối diện đàm tâm”8*
để rồi sớm mai lại phất áo ra đi không hẹn ngày trở lại.
Ly trà hồng mai đã thấm đượm một mùi vị triết lý, lại thêm tiếng kinh
mõ đều đều từ Phật điện vẳng lên, càng gợi một không khí thoát tục. Tất cả
như nhắc nhủ người ta không gì quý bằng chữ nhàn, tội gì lăn lộn trong
đám hồng trần cho mệt. Ở đời đã mấy khi có dịp họp bạn thưởng hoa,
không biết tận hưởng cái thú thanh cao này thật uổng. Dường như không
chịu nổi cái không khí thanh tĩnh vô vi ấy, Nguyễn Tri Phương vụt cất
tiếng nói to lên như là nói với chính mình:
- Nhưng cụ Lục Du yêu mai đâu phải chỉ vì mùi hương mơ hồ phảng
phất, mà yêu mai chính là khí tiết cương cường của nó. Tôi rất thích bài
thơ mai của Lục Du:
Tuyết ngược phong hào dũ lẫm nhiên,
Hoa trung khí tiết tối cao kiên.
Quá thì tự hợp phiêu linh khứ,
Sỉ hướng Đông quân cánh khất liên.
Túy chiết tàn mai nhất lưỡng chi,
Bất phương đào lý tự phùng thì.
Hướng lai băng tuyết ngưng nghiêm địa,
Liệu cán xuân hồi cánh thị thùy,9*
Giữa mùa đông khi trăm hoa đều tàn lụi thì chỉ có mai dám ngạo cùng
gió tuyết, ra sức kéo mùa xuân sang, đến khi xuân sang, mặc cho đào lý
gặp thời, mai thà rơi rụng chứ không chịu đến van nài chúa Xuân rủ lòng
thuơng. Mai tượng trưng cho khí phách của người anh hùng, đúng như câu
thơ của cụ Ức Trai Nguyễn Trãi đã vịnh: “ Càng thuở già càng cốt cách.
Một phen giá một tinh thần”. Cái chí của tôi là muốn noi gương Ức Trai,
mưu sự yên vui cho trăm họ, dân chưa yên thì không lòng nào lui về ẩn dật
cho được.
Phan Thanh Giản cười:

- Hôm nay, chúng ta không uống rượu thanh mai, hà tất phải bắt chước
Lưu Bị, Tào Tháo luận anh hùng. Nhưng bác nghĩ coi, nhiều khi cương
cường quá chỉ tổ bị người đời ghét ghen, hãm hại. Như bác có công mộ
dân khai khẩn đồn điền, cho phép các phạm nhân được ra thú tội, để đưa
họ về con đường làm ăn lương thiện, vậy mà viên An sát Định Tường
Vương Sĩ Kiệt còn mật tấu về kinh, nói tha tù nhân, mở mang hoang địa là
sanh trộm cướp, giúp chúng có cơ hội trốn lánh, chờ dịp làm loạn sau nầy.
Bác suýt mất đầu vì vụ đó, chưa tỉnh ngộ hay sao mà còn hăm hở ganh đua
trong trường vật lộn như vậy?
Nguyễn Tri Phương lắc đầu:
- Không phải tôi chỉ nghĩ vì Nam Kỳ còn nhiều đất hoang, mà dân còn
nghèo nên phải tính kế khai khẩn đồn điền, còn một ý khác là muốn dùng
chánh sách ngụ binh ư nông, đưa cả binh lính tại ngũ về cùng dân làm
ruộng, để khi tĩnh là dân, khi động là binh. Khai khẩn đồn điền cũng nhằm
có lương thực nuôi quân sau nầy. Bác hẳn chẳng lạ gì, mùa thu vừa rồi,
chiến hạm Tây đã cập bến Đà Nẵng và cửa Thuận An, ném lên bãi cát một
bó thư, đòi cho chúng được tự do thông thương và truyền đạo.
Đó chẳng qua là cái cớ để xâm chiếm nước ta mà thôi. Tôi chắc là cuộc
giao tranh sắp sửa châm ngòi rồi. Sớm muộn thế nào những chiến hạm của
chúng cũng còn kéo tới cửa biển nước ta lần nữa…
Nguyễn Tri Phương như nóng ruột, đứng thẳng lên. Nhìn những chiếc
ghe ngo đua thoăn thoắt từ đường nước quanh chùa ra kinh Vòng Thành
rồi đổ ra Chợ Lớn, Nguyễn Tri Phương cảm khái:
- Rồi đây đến cả những chiếc ghe kia cũng phải được huy động ra chặn
tàu sắt vỏ đồng của giặc.
Tầm mắt chiến lược cửa một vị tướng đã giúp Nguyễn Tri Phương nhìn
thấy trước, từ đường nước này có thể thông ra rạch Bến Nghé và sông Thị
Nghè bằng kinh Ruột Ngựa và rạch Lò Gốm. Chiến hạm Tây có thể từ cửa
sông vào đến sát chùa Cây Mai nơi ông đang ngồi thưởng mai hôm nay.

Từ trên đài cao, ông đưa mắt nhìn bốn chung quanh. Trên con đường rẽ vào
cổng chùa, đàn ông áo the thâm, khăn nhiễu, dép da trâu, đàn bà áo tứ thân
xẻ vạt, thắt lưng xanh, dép cong, tấp nập đi lễ chùa. Dưới dòng kinh, trên
chiếc ghe, đoàn thủy trạo mình trần, vận khố, đồng loạt bỏ dầm xuống bơi
xốc lên, cho ghe lướt bay trên mặt nước, trong những tiếng hô “ Hè”, “
bon”, tiếng phèng la cầm nhịp. Các mái dầm cùng lúc bổ xuống, móc nước
lên trắng xóa, chói lòa dưới ánh mặt trời. Trên bờ, dân chúng đầu bới tóc,
vấn khăn mỏ rìu, mình mặc áo vải ngắn tả nhiệm10*, cổ bâu cao, vận quần
xô, thắt lưng xanh lớn bản, dùng để cuốn giữ trầu cau, thuốc rê, giấy bản
bọc theo, chân trần, đứng chen chúc reo hò cổ vũ mỗi khi trông thấy ghe
vượt mặt nhau. Nét mặt họ đầy vẻ hồn nhiên vô tư, chưa biết rằng một tai
họa lớn lao sắp giáng xuống đầu họ, giặc Phú sớm muộn cũng kéo tới. Ở
cương vị một đại tướng, Nguyễn Tri Phương phải nhìn thấy trước điều ấy,
cũng như phải chịu trách nhiệm về sự yên nguy của trăm họ. Cũng như
đứng trên đài cao có thể nhìn xa trông rộng, từ làn khói nhẹ bốc lên ở lò
gốm bên rạch, lớp bụi đường cuốn theo bánh xe trâu, hình những người
đánh đu ở chợ Tân Kiểng in trên nền trời xanh, ngọn cờ vàng lợt thêu rồng
xanh trên nóc cột cờ thành Gia Định uốn éo trong gió xuân, cho tới đường
nước trắng xóa n...
 
Gửi ý kiến