Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Chính trị trung cấp

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tứ Hải
Ngày gửi: 11h:13' 11-01-2026
Dung lượng: 941.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TỔNG CỤC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

TÀI LIỆU DẠY HỌC

MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP
(Kèm theo Công văn số 147/TCGDNN-ĐTCQ ngày 22 tháng 01 năm 2020

của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp)

MỤC LỤC
Bài mở đầu ..........................................................................................................................3
I. Vị trí, tính chất môn học ............................................................................................3
II. Mục tiêu của môn học ..............................................................................................3
III. Nội dung chính ........................................................................................................4
IV. Phương pháp dạy học và đánh giá môn học .........................................................4
Bài 1: Khái quát về chủ nghĩa Mác-Lênin .....................................................................4
I. Khái niệm chủ nghĩa Mác-Lênin .............................................................................5
II. Các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin .................................................6
III. Vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của chủ nghĩa MácLênin .......................................................................................................................18
Bài 2: Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh ...................................................................21
I. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh ............................................................................21
II. Một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh ....................................... 24
III. Vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam..............................28
IV. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai
đoạn hiện nay ..........................................................................................................29
Bài 3: Những thành tựu của cách mạng việt nam dưới sự lãnh đạo của Đảng .......36
I. Sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt
Nam .........................................................................................................................36
II. Những thành tựu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng .............50
Bài 4: Phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, con người ở Việt Nam ..............................54
I. Nội dung của chủ trương phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, con người ở Việt
Nam hiện nay .........................................................................................................54
II. Giải pháp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, con người ở Việt Nam hiện nay ...60
Bài 5: Tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân tốt, người lao động tốt ..74
I. Quan niệm về người công dân tốt, người lao động tốt ............................................74
II. Nội dung tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân tốt, người lao
động tốt ...................................................................................................................76
Tài liệu tham khảo .............................................................................................................82

2

BÀI MỞ ĐẦU
I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT MÔN HỌC
1. Vị trí
Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chính trị trước hết là bảo đảm
vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, hiệu lực quản lý của nhà nước, quyền làm chủ
của nhân dân lao động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Chính trị có vai trò to lớn. Chính trị đúng đắn giúp cho một giai cấp, mỗi
con người thực hiện được mục tiêu của mình.
Môn học Giáo dục chính trị là môn học bắt buộc thuộc khối các môn học
chung trong chương trình đào tạo trình độ trung cấp.
2. Tính chất môn học
Giáo dục chính trị là bộ phận của khoa học chính trị, của công tác tư tưởng,
có nội dung chủ yếu là giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
Cương lĩnh, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm xây dựng bản lĩnh
chính trị, niềm tin và năng lực hoạt động thực tiễn cho mỗi người, đáp ứng yêu cầu
xây dựng đất nước.
Môn học Giáo dục chính trị gắn bó chặt chẽ với đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, gắn với thực tiễn đất nước, gắn với sự tu dưỡng, rèn
luyện của người học, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa.
II. MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC
Sau khi học xong môn học, người học cần đạt được:
Về kiến thức: Trình bày được một số nội dung khái quát về chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước; yêu cầu và nội dung học tập, rèn luyện để trở thành người công
dân tốt, người lao động tốt.
Về kỹ năng: Vận dụng được các kiến thức chung được học về quan điểm,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào việc học tập, rèn
luyện, xây dựng đạo đức, lối sống để trở thành người công dân tốt, người lao động
tốt và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

3

Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có năng lực vận dụng các nội dung đã
học để rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; thực hiện tốt quan điểm,
đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.
III. NỘI DUNG CHÍNH
Môn học Giáo dục chính trị trình độ trung cấp có nội dung gồm: Khái quát
về chủ nghĩa Mác-Lênin; Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh; Những thành tựu
của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; Phát triển kinh tế, xã hội, văn
hóa, con người ở Việt Nam; Tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân tốt,
người lao động tốt.
IV. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC
1. Phương pháp dạy học
Môn học Giáo dục chính trị lấy phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở dạy học; sử dụng các phương pháp dạy học
tích cực. Người học chú trọng tự nghiên cứu tài liệu, kết hợp với thảo luận trên lớp,
liên hệ với thực tiễn nghề nghiệp đào tạo; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại,
tham khảo nhiều tài liệu của Đảng, Nhà nước để củng cố kiến thức.
Giáo dục chính trị là môn học gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống.
Trong dạy và học cần liên hệ với thực tiễn hiện nay; gắn dạy lý thuyết với học
ngoại khoá, tham quan bảo tàng, thực tiễn sản xuất, các doanh nghiệp; các di tích
lịch sử, văn hoá cách mạng...
2. Đánh giá môn học
Việc đánh giá kết quả học tập của người học được thực hiện theo quy định
tại Thông tư số 09/2017/TT-BLĐTBXH ngày 13 tháng 3 năm 2017 của Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định việc tổ chức thực hiện chương
trình đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng theo niên chế hoặc theo phương
thức tích lũy mô đun hoặc tín chỉ; quy chế kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp.
CÂU HỎI
1. Làm rõ vị trí và tính chất của môn Giáo dục chính trị?
2. Cần phải làm những gì để học tập tốt môn Giáo dục chính trị?

4

Bài 1
KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
I. KHÁI NIỆM CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết do C.Mác, Ph. Ăngghen sáng lập từ
những năm giữa thế kỷ XIX, được V.I.Lênin bổ sung, phát triển vào đầu thế kỷ
XX. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận thống nhất được cấu thành từ ba bộ
phận lý luận cơ bản là triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị học Mác-Lênin và chủ
nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận khoa học thống
nhất về mục tiêu, con đường, biện pháp, lực lượng thực hiện sự nghiệp giải phóng
giai cấp công nhân, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Ba bộ phận cấu thành của Mác- Lênin có vị trí, vai trò khác nhau nhưng là
một thể thống nhất nêu rõ mục tiêu, con đường, lực lượng, phương thức giải phóng
xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Triết học Mác-Lênin là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên,
xã hội và tư duy; có vai trò trang bị cho con người cách nhìn khoa học và phương
pháp đúng đắn để nhận thức, cải tạo và phát triển thế giới.
Kinh tế chính trị học Mác-Lênin là khoa học nghiên cứu các quan hệ xã hội
của sản xuất và trao đổi trong quan hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất nhất
định.
Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật chính trị-xã hội, những
nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, những con đường và hình thức, phương pháp
đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm thực hiện
sự chuyển hóa từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
- Nguồn gốc hình thành chủ nghĩa Mác
Về kinh tế-xã hội: Nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa giữa thế kỷ XIX phát
triển mạnh ở nhiều nước Tây Âu. Sự ra đời và phát triển của giai cấp vô sản với tính
cách là lực lượng chính trị độc lập là nhân tố quan trọng ra đời chủ nghĩa Mác.
Về tư tưởng lý luận là những đỉnh cao về triết học cổ điển Đức, kinh tế chính
trị học cổ điển ở Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán ở Pháp.
Về khoa học là những phát minh về khoa học tự nhiên như thuyết tiến hóa
giống loài của Đác-uyn, thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Lô-mô-nô5

xốp; học thuyết về tế bào của các nhà khoa học Đức. Các học thuyết này là cơ sở
củng cố chủ nghĩa duy vật biện chứng - cơ sở phương pháp luận của học thuyết
Mác.
- Nhân tố chủ quan: C.Mác (1818-1883), Ph.Ăng-ghen (1820-1895) là
những thiên tài trên nhiều lĩnh vực. Hai ông đã nghiên cứu kỹ xã hội tư bản, kế
thừa, tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tiền đề tư tưởng lý luận, khoa học,
phát hiện ra sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân và sáng lập ra
học thuyết mang tên mình.
- Ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa Mác- Lênin
Giai đoạn C.Mác, Ph.Ăng-ghen (1848-1895). Tháng 2-1848, tác phẩm
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản do hai ông dự thảo được Đồng minh những người
cộng sản thông qua, mở đầu sự ra đời chủ nghĩa Mác. Sau đó hai ông đã viết nhiều
tác phẩm, xây dựng nên học thuyết khoa học với ba bộ phận triết học, kinh tế chính
trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.
V.I.Lênin phát triển chủ nghĩa Mác (1895-1924): V.I.Lênin (1870-1924) đã
đấu tranh, bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác trong giai đoạn chủ nghĩa
đế quốc. Người đã lãnh đạo thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, phát
triển nhiều vấn đề lý luận mới về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau khi V.I.Lênin
mất, Quốc tế Cộng sản đã bổ sung, gọi chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa Mác-Lênin.
Từ năm 1924 đến nay, các Đảng cộng sản và công nhân trên thế giới coi chủ
nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng để vận dụng, bổ sung, phát triển, xây dựng
đường lối cách mạng phù hợp với thực tiễn đất nước.
II. CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
1. Triết học Mác-Lênin
a) Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập quan niệm
mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới rất đa dạng nhưng bản chất là sự tồn tại của
vật chất thông qua các sự vật cụ thể. Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau,
vật chất quyết định ý thức, còn ý thức chỉ là sự phản ánh một phần thế giới vật chất
vào đầu óc con người.
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất nên vận động của vật chất là
vĩnh viễn vì đó là sự vận động tự thân, do mâu thuẫn bên trong quyết định. Có 5
hình thức cơ bản của vận động là vận động cơ học, lý học, hoá học, sinh học và

6

vận động xã hội. Vận động xã hội là hình thức vận động cao nhất vì nó là sự vận
động các chế độ xã hội thông qua con người.
Ý thức là sự phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người,
gồm ba yếu tố cơ bản nhất là tri thức, tình cảm và ý chí của con người. Do tâm,
sinh lý, mục đích, yêu cầu, động cơ và điều kiện mỗi người khác nhau nên cùng
hiện thực khách quan nhưng ý thức con người có thể khác nhau.
Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định
nguồn gốc, nội dung, bản chất và sự vận động của ý thức. Ý thức có tính độc lập
tương đối và tác động tích cực trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của
con người.
- Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là:
+ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khẳng định thế giới có vô vàn các sự
vật, hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ tương hỗ, ảnh hưởng trực tiếp hay gián
tiếp với nhau. Có mối liên hệ bên trong, bên ngoài, mối liên hệ chung, liên hệ
riêng; có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp, thông qua trung gian. Vì
vậy phải có quan điểm toàn diện để xem xét các mối liên hệ bản chất, bên trong sự
vật, hiện tượng.
+ Nguyên lý về sự phát triển khẳng định mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn
vận động và phát triển không ngừng. Có những vận động diễn ra theo khuynh
hướng đi lên, đi xuống, vòng tròn, lặp lại hoặc xoáy ốc đi lên. Phát triển là khuynh
hướng vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến
hoàn thiện theo chiều hướng đi lên. Vì vậy cần nhận thức sự vật, hiện tượng theo
xu hướng vận động, đổi mới phát triển.
- Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
+ Quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và
ngược lại
Quy luật này chỉ ra về cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mọi sự vật, hiện tượng đều gồm hai mặt đối
lập chất và lượng. Chất là các thuộc tính khách quan, vốn có của các sự vật, hiện
tượng; còn lượng là chỉ số các yếu tố cấu thành, quy mô tồn tại và nhịp điệu biến
đổi của chúng. Tương ứng với một lượng thì cũng có một chất nhất định và ngược
lại. Lượng biến đổi sẽ dẫn đến mâu thuẫn, phá vỡ chất cũ, chất mới ra đời với
lượng mới. Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chất cũ.
Sự thay đổi về lượng đều có thể dẫn tới những sự thay đổi về chất và ngược lại tạo
ra sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
7

+ Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển và là hạt nhân
của phép biện chứng duy vật. Theo quy luật này, mọi sự vật, hiện tượng đều là thể
thống nhất của các mặt đối lập có liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau, tác động
qua lại lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau. Sự thống nhất các mặt đối lập là
tương đối; đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối. Các mặt đối lập vận động
trái chiều nhau, không ngừng tác động, ảnh hưởng đến nhau, làm sự vật, hiện
tượng biến đổi, phát triển.
+ Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật này vạch ra khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật . Thế
giới vật chất tồn tại, vận động phát triển không ngừng. Sự vật, hiện tượng nào đó
xuất hiện, mất đi, thay thế bằng sự vật, hiện tượng khác. Sự thay thế đó gọi là phủ
định.
Phủ định biện chứng là sự tự phủ định do mâu thuẫn bên trong sự vật, Cái
mới phủ định cái cũ, nhưng cái mới sẽ không phải là mới mãi, nó sẽ cũ đi và bị cái
mới khác phủ định; không có lần phủ định cuối cùng. Cái cũ tuy bị thay thế nhưng
vẫn còn lại những yếu tố, đôi khi mạnh hơn cái mới. Cái mới còn non yếu chưa có
khả năng thắng ngay cái cũ. Vận động phát triển đi lên, là xu hướng chung của thế
giới, nhưng không diễn ra theo đường thẳng tắp, mà diễn ra theo đường xoáy ốc,
quanh co phức tạp.
- Lý luận nhận thức
Nhận thức là một hoạt động của con người, là quá trình phản ánh chủ động,
tích cực, sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc người. Hoạt động nhận
thức được thực hiện thông qua thực tiễn, lấy thực tiễn làm cơ sở, là mục đích, động
lực và là tiêu chuẩn xác định tính đúng đắn của nhận thức.
Chủ thể nhận thức là con người nhưng thường bị chi phối bởi điều kiện lịch
sử, về kinh tế, chính trị -xã hội, truyền thống văn hoá; đặc điểm tâm sinh lý, đặc
biệt là năng lực nhận thức, tư duy của chủ thể.
Nhận thức của con người không phải là thụ động mà là chủ động, tích cực,
sáng tạo, đi từ biết ít đến biết nhiều, từ biết hiện tượng đến hiểu bản chất sự vật, từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của một quá trình
nhận thức có liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Giai đoạn nhận thức cảm
tính, nhận thức hiện thực trực tiếp thế giới khách quan, nhưng đó chỉ là nhận thức
8

những hiện tượng bề ngoài, giản đơn. Nhận thức lý tính chỉ ra những mối liên hệ
bản chất, tất yếu bên trong, vạch ra quy luật vận động phát triển của sự vật, hiện
tượng. Nhận thức cảm tính là tiền đề, điều kiện của nhận thức lý tính. Nhận thức lý
tính khi đã hình thành sẽ tác động trở lại làm cho nhận thức cảm tính nhạy bén
hơn, chính xác hơn. Tư duy trừu tượng phản ánh gián tiếp hiện thực nên phải kiểm
nghiệm trong thực tiễn để phân biệt đúng, sai.
- Thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất của con người nhằm cải tạo thế giới
khách quan để phục vụ nhu cầu của con người. Hoạt động thực tiễn thể hiện qua ba
hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị-xã hội và hoạt
động thực nghiệm khoa học. Trong đó, hoạt động sản xuất ra của cải vật chất là
hoạt động cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội.
Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức,cung cấp những tài liệu hiện
thực, khách quan, làm cơ sở để con người nhận thức. Thực tiễn là động lực và mục
đích của nhận thức; là tiêu chuẩn của chân lý.
b) Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Chủ nghĩa duy vật lịch sử bao gồm những quy luật vận động, phát triển của
xã hội.
- Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất
Con người hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần và sản xuất ra
chính con người. Để tồn tại và phát triển, trước tiên con người phải ăn, uống, ở và
mặc trước khi có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, sinh sản... Muốn
vậy, họ phải lao động sản xuất ra của cải vật chất.
Phương thức sản xuất là cách thức tiến hành sản xuất vật chất trong một giai
đoạn nhất định của lịch sử. Mỗi phương thức sản xuất gồm hai mặt cấu thành là lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, là trình
độ chinh phục tự nhiên của con người. Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản
xuất và người lao động. Tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và công cụ lao
động, trong đó công cụ lao động là yếu tố động nhất, luôn đổi mới theo sự phát
triển của sản xuất.
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất, bao gồm quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, tổ chức, quản lý và phân
9

phối sản phẩm lao động; trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vai
trò quyết định nhất.
Trong mỗi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
gắn bó hữu cơ với nhau. Lực lượng sản xuất như thế nào về trình độ phát triển thì
quan hệ sản xuất phù hợp như thế ấy. Khi trình độ lực lượng sản xuất phát triển,
thay đổi thì quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo. Đến mức độ nào đó, quan hệ sản
xuất cũ không còn phù hợp nữa, nó sẽ mâu thuẫn và cản trở lực lượng sản xuất. Để
tiếp tục phát triển, lực lượng sản xuất phải phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập
quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.
- Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu bao gồm
quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất còn lại của hình thái kinh tế-xã hội
trước đó và quan hệ sản xuất của hình thái kinh tế-xã hội tương lai. Trong đó quan
hệ sản xuất thống trị giữ vai trò chủ đạo và chi phối các quan hệ sản xuất khác.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm tư tưởng chính trị, pháp
quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học... và những thiết chế tương ứng như
nhà nước, đảng phái, giáo hội, các tổ chức quần chúng..., được hình thành trên cơ
sở hạ tầng nhất định và phản ánh cơ sở hạ tầng đó. Cơ sở hạ tầng thế nào thì kiến
trúc thượng tầng được xây dựng tương ứng. Quan hệ sản xuất nào thống trị thì tạo
ra kiến trúc thượng tầng chính trị phù hợp với nó. Khi cơ sở hạ tầng biến đổi, kiến
trúc thượng tầng biến đổi theo. Biến đổi cơ sở hạ tầng, sớm hay muộn cũng dẫn tới
biến đổi kiến trúc thượng tầng. Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại, bảo vệ cơ sở
hạ tầng đã sinh ra nó. Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, Nhà nước có
vai trò quan trọng và có hiệu lực mạnh nhất vì Nhà nước là công cụ quản lý hiệu
quả của giai cấp thống trị đối với xã hội
Cách mạng xã hội là bước nhảy vọt về chất trong sự phát triển xã hội, là sự
thay thế hình thái kinh tế-xã hội này bằng hình thái kinh tế-xã hội khác, tiến bộ
hơn. Trong cách mạng xã hội, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản. Quần
chúng nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần cho xã hội,
tạo điều kiện cho sự phát triển xã hội,...là lực lượng quyết định sự phát triển của
lịch sử xã hội.

10

2. Kinh tế chính trị Mác-Lênin
a) Học thuyết giá trị và giá trị thặng dư
- Học thuyết giá trị là xuất phát điểm trong toàn bộ lý luận kinh tế của
C.Mác. Bằng việc phân tích hàng hoá, C.Mác đã vạch ra quan hệ giữa người với
người thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá, đó chính là lao động, cơ sở của giá trị
hàng hoá.
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, dùng để thoả mãn nhu cầu của con
người thông qua trao đổi mua bán. Hàng hoá có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử
dụng và giá trị trao đổi. Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của hàng hoá để
thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Giá trị trao đổi là một tỷ lệ, theo đó những
giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác.
Giá trị của hàng hoá là lượng lao động xã hội được đo bằng thời gian lao
động xã hội cần thiết của người sản xuất hàng hoá. Để trao đổi hàng hoá đó với
nhau phải căn cứ vào giá trị xã hội của hàng hoá đó.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một
hàng hoá trong điều kiện bình thường của xã hội, với một trình độ kỹ thuật trung
bình và cường độ lao động trung bình trong điều kiện xã hội nhất định.
Năng suất lao động xã hội là năng lực sản xuất của lao động được tính bằng
số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời
gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Lao động giản đơn là lao động
của bất kỳ một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện
được. Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được huấn luyện đào tạo thành
lao động lành nghề.
Việc sản xuất và trao đổi hàng hoá tất yếu sẽ dẫn đến sự xuất hiện của tiền.
Tiền, về bản chất, là một loại hàng hóa đặc biệt, là vật ngang giá chung, thước đo
giá trị trong trao đổi hàng hóa; là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và
trao đổi hàng hóa. Tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung, là hình thái biểu hiện
giá trị của hàng hóa.
Giá trị của hàng hóa biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thức tiền là giá cả của
hàng hóa đó. Giá trị là cơ sở của giá cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá
trị, phụ thuộc vào giá trị. Hàng hoá nào nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và
ngược lại. Tu
 
Gửi ý kiến