Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Thế giới như tôi thấy

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Trà
Ngày gửi: 08h:51' 21-08-2025
Dung lượng: 486.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Tác giả:
Người dịch:
Số trang:
Trọng lượng:
Ngày xuất bản:
Khổ:
Nhà xuất bản :
Giá bìa:
Tổng hợp
Ebook Tại

Albert Einstein
Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ Hảo, Trần Tiễn Cao Đăng
214
200g
Quí I/2006
12x20cm
Tri thức
33.000 VNĐ
ngvietduc (TVE)
www.SachMoi.net

Mục lục
Phần I : Thế giới như tôi thấy
Tiểu sử EINSTEIN
Chúng ta - Những người thừa kế di sản
Hướng đến an ninh của nhân loại
Bàn về sự chung sống hòa bình giữa các dân tộc
Một số ghi chú về tình hình Châu Âu hiện nay
Sản xuất và lao động
Sản xuất và sức mua
Vài suy nghĩ về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
Các triệu chứng bệnh hoạn của đời sống văn hóa
Văn hóa và phồn thịnh
Việc hợp tác trí tuệ
Đức và Pháp
Bàn về các nhóm thiểu số
Quốc tế khoa học
Bàn về tòa án trọng tài
Nước Mỹ và hội nghị giải trừ quân bị năm 1932
Bàn về hội nghị giải trừ quân bị năm 1932
Bàn về vấn đề giải trừ quân bị
Một lời chia tay
Chủ nghĩa hòa bình tích cực

Thư gửi Sigmund Freud
Bàn về nghĩa vụ quân sự
Diễn văn tại hội nghị sinh viên về giải trừ quân bị
Vấn đề của chủ nghĩa hòa bình
Hướng đến việc loại bỏ nguy cơ chiến tranh

Phần II: Chính trị và chủ nghĩa hòa bình
Hòa bình
Trả lời phụ nữ Mỹ
Lời chúc mừng gửi nhà phê bình
Đám nhà báo
Bertrand Russell và tư duy triết học
Chào mừng nhà văn George Bernard Shaw Bài phát biểu nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của Arnold Berliner
Josef popper-lynkeus
H. A. Lorentz: Nhà bác học - nhân cách lớn
Hoạt động của H.A.Lorentz trong công vụ hợp tác quốc tế
Các khóa đào tạo ở Davos
Thầy và trò
Gửi các em học sinh Nhật Bản
Giáo dục và nhà giáo
Giáo dục tư duy độc lập
Những biện pháp của tòa án dị giáo tân thời
Về tự do học thuật
Chủ nghĩa Phát xít và khoa học
Sự cần thiết của văn hóa đạo đức
Thiên đường đánh mất
Đạo nghiên cứu
Tôn giáo và khoa học
Tốt và xấu
Nhà nước và lương tâm cá nhân
Về ý nghĩa cuộc sống
Phụ nữ và chiến tranh

Lới giới thiệu - Thế giới như tôi thấy
Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là tập hợp những bài viết, bài nói
chuyện, thư từ và tiểu luận khoa học của một trong những con người vĩ đại nhất
của thế kỷ hai mươi: Albert Einstein.
Ông là một trong những thiên tài hiếm hoi, người không chỉ vô cùng xuất sắc
trong lĩnh vực nghiên cứu của mình mà còn có ảnh hưởng sâu rộng tới các lĩnh vực
khác: tư tưởng, tôn giáo và chính trị.
Cuốn sách này được Einstein công bố lần đầu năm 1931 ở Đức. Năm 1955, sách
được tái bản ở Mỹ, có bổ sung thêm nhiều bài viết mới. Từ đó đến nay, nó đã được
dịch ra nhiều thứ tiếng và trở thành một trong những cuốn sách "kinh điển" để người
đọc qua đó có thể tìm hiểu về con người và cội nguồn tư tưởng của nhà khoa học.
Ấn bản mà chúng tôi chọn dịch là thuộc tủ sách Ullstein Taschenbuch của nhà
Carl Seelig (Đức), 2005. Cuốn sách gồm có năm phần. Bốn phần đầu gồm các bài
được sắp xếp theo bố cục gần giống với ấn bản năm 1955 ở Mỹ, song thứ tự các bài có
đôi chỗ thay đổi và cũng có một số bài được bổ sung mới. Riêng phần năm, "Các tiểu
luận khoa học", là phần được bổ sung mới hoàn toàn. Trong lần ra mắt bản tiếng Việt
lần này, tiếc rằng chúng tôi chưa kịp hoàn tất phần năm mà chỉ có thế giới thiệu bốn

phần đầu mà thôi. Chúng tôi sẽ bổ sung phần thiếu này vào lần xuất bản sau.
Tất cả những bài viết trong sách này đều là nguyên bản của Einstein: tiểu luận, thư
từ, phát biểu, bài trả lời phỏng vấn... ở nhiều dịp khác nhau, trong đó có những bài
được viết rất công phu, dày dặn, nhưng cũng có những phát biểu rất ngắn hoặc đôi
khi chỉ là những lời bông đùa ngẫu hứng. Nhưng dù là ngắn hay dài, công phu hay
ngẫu hứng, tất cả các bài đó đều thống nhất với nhau ở một văn phong không thể
nhầm lẫn, văn phong của một cây bút bậc thầy: sâu sắc nhưng luôn sáng sủa và kiệm
lời, quyết liệt nhưng không bao giờ đánh mất vẻ duyên dáng và hài hước.
Vì các bài được tác giả thực hiện ở những khoảng thời gian khác nhau nên rất khó
sắp xếp chúng vào chung một chủ đề. Cách lựa chọn của nhà Carl Seelig trong ấn bản
mà chúng tôi chọn dịch cũng chỉ là tương đối. Tuy vậy, khi đã đọc tất cả các bài ở các
phần khác nhau, chúng tôi tin rằng độc giả hoàn toàn có khả năng nhận ra được các
quan điểm chính yếu của Einstein trong các lĩnh vực mà ông quan tâm, từ khoa học,
tôn giáo cho tới giáo dục và chính trị. Và, dù các quan điểm đó đã được xác nhận là
đúng đắn hay vẫn còn gây nghi vấn, dù chúng vẫn còn giữ nguyên tính thời sự hay đã
trở nên lỗi thời, chúng ta hoàn toàn có thể tin rằng, chúng đã được viết ra bởi một con
người đã dành cả đời mình để cống hiến cho chân lý trong khoa học, cho cái thiện và
cái đẹp trong cuộc sống.
Để tỏ lòng trân trọng với một nhân vật lịch sử lỗi lạc như Albert Einstein, chúng
tôi đã chuyển tải nguyên văn các quan điểm riêng của ông. Về một số vấn đề cụ thể
như: các thể chế dân chủ, nghĩa vụ quân sự, tòa án trọng tài quốc tế... mong độc giả
hãy đọc với tinh thần phê phán khách quan và khoa học.
Ở Việt Nam đã có nhiều cuốn sách viết về Einstein, nhưng một cuốn sách do
chính tay nhà khoa học viết ra thì vẫn còn thiếu. Nhân kỷ niệm 100 năm Thuyết tương
đối và 50 năm ngày mất của Albert Einstein, chúng tôi xin giới thiệu bản dịch này như
một sự bù đắp vào chỗ thiếu hụt ấy.
Phần I : Thế giới như tôi thấy
Thế giới như tôi thấy
Tiểu luận này được Einstein viết tại Berlin năm 1930 khi ông 51 tuổi. Năm
1931, nó được dịch ra tiếng Anh và in trong tập thứ 13 của bộ sách "Living
Philosophies", Nhà xuất bản New York, Mỹ.
Tình cảnh của những đứa con trái đất chúng ta mới kỳ lạ làm sao! Mỗi chúng ta
đến đây như một chuyến viếng thăm ngắn ngủi. Ta không biết để làm gì, nhưng đôi
khi ta tin rằng ta cảm nhận được điều đó. Song, nhìn từ cuộc sống thường nhật mà
không đi sâu hơn, ta biết rằng: ta đến đây vì người khác - trước hết vì những người mà
hạnh phúc của riêng ta phụ thuộc hoàn toàn vào nụ cười và sự yên ấm của họ, kế đến
là vì bao người không quen mà số phận của họ nối với ta bằng sợi dây của lòng cảm
thông.

Mỗi ngày tôi nghĩ không biết bao nhiêu lần, rằng cuộc sống bên ngoài và cuộc
sống nội tâm của tôi là dựa trên lao động của những người hiện tại và cả những người
đã chết, rằng tôi phải nỗ lực để trao lại tương xứng với những gì tôi đã nhận được và
còn nhận được. Tôi có nhu cầu sống giản tiện và thường cảm thấy dằn vặt, rằng mình
đòi hỏi nhiều hơn mức cần thiết từ lao động của đồng loại. Tôi thấy sự khác biệt về
giai cấp xã hội là không thể biện minh được và rốt cuộc là do dựa trên bạo lực. Tôi
cũng tin rằng, một đời sống bên ngoài giản dị và không cầu kỳ là tốt cho mọi người,
tốt cho cả thể xác lẫn tâm hồn.
Tôi tuyệt không tin vào tự do của con người theo nghĩa triết học. Mỗi người
không chỉ hành động vì sự thúc ép ngoại cảnh mà còn theo đòi hỏi nội tâm. Câu nói
của Schopenhauer : "Con người tuy có thể làm những gì mình muốn nhưng không thể
cứ muốn [chạy theo] những gì mình muốn." đã hằng sống theo tôi từ thời trẻ và luôn
là nguồn an ủi với tôi trong những lúc đối mặt và chịu đựng sự khắc nghiệt của cuộc
đời và là nguồn suối vô tận của lòng khoan dung. Cảm nhận đó đã làm vơi đi biết bao
gánh nặng trách nhiệm vốn dễ khiến ta suy sụp; nó giúp ta không quá khắt khe với
chính mình và người khác; nó dẫn đến một cách nhìn cuộc sống mà ở đó, nhất là sự
hài hước cũng có chỗ đứng của nó.
Từ góc nhìn khách quan, câu hỏi về ý nghĩa hoặc mục đích tồn tại của mình cũng
như của các sinh thể nói chung luôn có vẻ vô nghĩa đối với tôi. Nhưng mặt khác, mỗi
người đều có những lý tưởng nhất định làm kim chỉ nam cho nỗ lực và sự phán xét
của mình. Theo nghĩa này, sự thỏa mãn và yên ấm chưa bao giờ là mục đích tự thân
của tôi (tôi gọi nền tảng luân lý này là lý tưởng của bầy lợn). Lý tưởng của tôi, lý
tưởng soi đường và luôn làm dâng đầy trong tôi niềm cảm khái yêu đời, là Thiện, Mỹ
và Chân. Không có cảm nhận về sự đồng điệu với những người cùng chí hướng,
không có sự đau đáu với cái khách quan, với cái mãi mãi không vươn tới được trong
lĩnh vực nghệ thuật và nghiên cứu khoa học, thì cuộc sống với tôi thật trống rỗng.
Những mục đích tầm thường mà người đời theo đuổi như của cải, thành đạt bề ngoài,
sự xa xỉ, với tôi từ thời trẻ đã luôn đáng khinh.
Ý thức nhiệt thành của tôi về công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội luôn đối
nghịch một cách cố hữu với việc tôi không có nhu cầu trực tiếp gắn kết với những cá
nhân và tập thể. Tôi đích thực là một kẻ "thu mình", kẻ chưa bao giờ hoàn toàn thuộc
về nhà nước, quê hương, bạn bè, vâng, ngay cả gia đình thân thiết của mình cũng vậy;
đối với tất cả những mối quan hệ ấy, tôi luôn có cảm giác xa lạ khôn dứt và nhu cầu
được cô đơn; cảm giác đó càng tăng theo tuổi tác. Người ta cảm nhận được, một cách
rõ nét nhưng không ân hận, về ranh giới của sự đồng cảm và hòa hợp với người khác.
Có thể một người như thế sẽ đánh mất phần nào sự hồn nhiên và vô tư, nhưng bù vào
đó, anh ta lại luôn độc lập trước những quan điểm, thói quen và sự phán xét của người
khác, và không để mình dễ bị chao đảo trên cái nền tảng không lấy gì làm vững chắc

đó.
Lý tưởng chính trị của tôi là lý tưởng dân chủ. Mỗi người cần được tôn trọng như
một nhân cách và không ai được thần thánh hóa. Thật trớ trêu cho số phận, chính tôi
lại nhận được quá nhiều sự ngưỡng mộ và trọng thị từ người khác - mà tôi chẳng làm
gì xứng đáng hay làm gì nên tội. Điều này có lẽ có nguyên cớ từ mong muốn không
được thỏa mãn của nhiều người trong việc muốn hiểu vài ba ý tưởng của tôi, những ý
tưởng mà tôi đã tìm được bằng chút sức lực yếu ớt trong cuộc vật lộn không ngừng
nghỉ. Thực ra tôi cũng biết rằng, để đạt được một mục đích tập thể, nhất thiết phải có
ai đó đứng ra nghĩ, sắp xếp và chịu trách nhiệm chung. Nhưng không được ép buộc
những người đi theo, mà phải để họ có quyền chọn cho mình người cầm lái. Một hệ
thống độc đoán dựa trên sự cưỡng bức sẽ sớm bị thoái hóa trong một thời gian ngắn,
tôi tin chắc như vậy. Bởi bạo lực luôn hấp dẫn những kẻ thấp kém về đạo đức, và tôi
tin rằng đã thành quy luật: nối nghiệp những tên bạo chúa thiên tài luôn là những tên
khốn kiếp. Vì lý do đó, tôi luôn là người quyết liệt chống lại những hệ thống như vậy,
những hệ thống mà chúng ta đang thấy ở Ý và Nga hiện nay. Cái làm cho nền dân chủ
ở châu Âu hôm nay rơi vào bê bối không phải là bản thân lý tưởng dân chủ, mà là sự
thiếu ổn định của một bộ phận lãnh đạo các chính phủ và tính phi nhân cách của thể
thức bầu cử. Về mặt này, tôi cho rằng nước Mỹ đã có lựa chọn đúng: họ có một Tổng
thống có trách nhiệm, được bầu cho một thời gian đủ dài và có đủ quyền lực để thực
sự đảm nhận được trọng trách. Mặt khác, tôi lại đánh giá cao hoạt động nhà nước của
chúng ta về mặt phúc lợi rộng rãi cho cá nhân trong trường hợp đau ốm hay khó
khăn. Cái mà tôi cho là có giá trị đích thực trong các hoạt động của con người không
phải là nhà nước, mà là cá thể sáng tạo và cá thể cảm nhận, là cá nhân: Chỉ cá nhân
mới [vượt lên] tạo dựng được những giá trị chân quý và cao cả, trong khi bầy đàn, xét
như bầy đàn, cứ mãi vẫn là trì độn trong tư duy và trì độn trong cảm xúc.
Nhân đây tôi muốn đề cập đến cái quái thai kinh tởm nhất của bản tính bầy đàn:
hệ thống quân đội mà tôi căm ghét. Chỉ cần kẻ nào cảm thấy thích thú khi đứng vào
đoàn duyệt binh trong tiếng quân nhạc, tôi đã coi thường rồi; anh ta được trời phú
nhầm cho bộ não lớn, bởi với anh ta, chỉ cần cột xương sống thôi là đã quá đủ. Vết
nhục này của nền văn minh cần bị loại trừ càng sớm càng tốt. Chủ nghĩa anh hùng
phục tùng mệnh lệnh, bạo lực mù quáng, trò hề ái quốc tởm lợm, tôi căm ghét chúng
làm sao. Với tôi, chiến tranh thật đê tiện và đáng khinh làm sao. Tôi thà bị băm vằm
làm muôn mảnh còn hơn là dự phần vào cái trò khốn nạn đó! Dù sao tôi vẫn luôn
nghĩ tốt về nhân loại, và tôi tin rằng, lẽ ra bóng ma này đã có thể biến đi từ lâu nếu lý
trí lành mạnh của dân chúng không bị những tham vọng về kinh tế và chính trị, thông
qua trường học và báo chí, làm cho bại hoại.
Cái đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm được là cái bí ẩn. Đó là cảm thức
nền tảng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Kẻ nào không biết đến

nó, không còn khả năng thảng thốt hay kinh ngạc, kẻ đó có thể coi như đã chết, đã tắt
rụi lửa sống trong mắt mình. Trải nghiệm cái bí ẩn - dù có pha trộn cảm giác sợ hãi cũng chính là trải nghiệm mà tôn giáo đã tạo ra. Hiểu biết về sự hiện hữu của cái mà ta
không thể nhìn thấu, của những biểu hiện của lý trí sâu thẳm nhất và cái đẹp rực rỡ
nhất, [tức về] những cái chỉ có thể đến với trí não của ta trong những hình thức sơ
khai nhất; chính cái biết và cái cảm này làm nên tính tín ngưỡng đích thực; theo nghĩa
đó và chỉ theo nghĩa đó, tôi thuộc về những người có tín ngưỡng sâu xa. Còn một
Thượng đế theo nghĩa là kẻ ban phát phần thưởng và trừng phạt những tạo vật do
chính mình tạo ra, kẻ gần như có một ý chí như người trần thế chúng ta, thì tôi không
thể nào hình dung ra được. Tôi không muốn và cũng không thể tưởng tượng ra những
cá nhân sống lâu hơn cái chết thể xác; mặc cho những tâm hồn yếu đuối, vì sợ hãi hay
ích kỷ đáng cười, tìm đến những suy nghĩ như vậy. Với tôi, sự huyền nhiệm về tính
vĩnh cửu của sự sống cùng với sự thức nhận và tiên cảm về cấu tạo kỳ diệu của tạo vật
cũng như nỗ lực nhẫn nại để nắm bắt lấy một phần dù rất nhỏ bé của cái lý tính tỏa
rạng trong cõi tạo hóa này, đã là quá đủ.
ALBERT EINSTEIN
Tiểu sử EINSTEIN
Ghi chú: số trong ngoặc là tuổi của Einstein
1879 (0) Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 ở Ulm, một thành phố
trung bình ở miền Tây Nam nước Đức. Cha là Hermann Einstein (1847-1902),
mẹ là Pauline Einstein (1858-1920), cả hai đều gốc Do Thái.
1880 (1) Gia đình Einstein chuyển tới sống ở München.
1884 (4) Bố Einstein giải thích cho cậu bé Albert cách hoạt động của la bàn.
1885 (6) Einstein học chơi violon.
1888 (9) Nhập học ở Trường tiểu học Luitpold, München.
1889 (10) Gặp Max Talmud, người tặng Einstein cuốn sách hình học đầu tiên và
thường xuyên dành thời gian trao đổi với Einstein tới năm 1894.
1890 (11) Einstein trải qua "một năm tôn giáo", bởi cậu sinh hoạt theo các điều
luật nghiêm ngặt của đạo Do Thái.
1891 (12) Einstein đọc một cuốn sách về hình học Euclid. Sau này, Einstein nói:
"Sự sáng sủa và chắn chắn đó đã mang lại cho tôi một ấn tượng khó tả."
1894 (15) Gia đình di chuyển tới Milan, Italia. Riêng Einstein ở lại München để kết
thúc việc học.
1896 (17) Vào học Đại học Bách khoa Zürich, Thụy Sĩ. Einstein làm quen với
Mileva Mariç (1875-1948), người trở thành vợ ông sau này. Ông bỏ quốc tịch Đức và
năm năm liền, ông là người không có quốc tịch.
1900 (21) Einstein gửi bài viết khoa học đầu tiên tới tạp chí "Annalen der Physik"
(Niên giám vật lý).

1902 (23) Bố qua đời ở Milan; Einstein trở thành nhân viên Cục cấp bằng sáng chế
tại Bern. Con gái Liesert chào đời trước hôn nhân.
1903 (24) Kết hôn với Mileva Mariç.
1904 (25) Con trai Hans Albert chào đời.
1905 (26) Năm thần kỳ của Einstein: xuất bản 5 tiểu luận khoa học, một trong đó
có công thức E = mc2.
1907 (28) Einstein cộng tác với các nhà vật lý lớn nhất của thời đại, trong đó có
Max Planck (1858-1947) và Hermann Minkowski (1864-1909).
1908 (29) Bảo vệ luận án sau tiến sĩ (tiến sĩ habil) tại Đại học Bern; Giảng bài đầu
tiên tại học kỳ mùa đông về "lý thuyết bức xạ". Chỉ có 3 sinh viên đến nghe.
1910 (31) Con trai thứ Eduard chào đời.
1913 (34)
Einstein viết "Phác thảo về một lý thuyết tương đối tổng quát và một lý
thuyết về hấp dẫn".
1914 (35) Chuyển tới sống ở Berlin; ly dị với Mileva Mariç.
1916 (37) Einstein hoàn tất Thuyết tương đối rộng.
1917 (38) Xuất bản cuốn sách "Về Thuyết tương đối hẹp và Thuyết tương đối
rộng". Sau Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng.
1919 (40) Einstein nổi tiếng thế giới: Đoàn thiên văn của Hoàng gia London tới
Brazil quan sát nhật thực đã chứng minh tính đúng đắn của Thuyết tương đối.
1922 (43) Einstein nhận giải Nobel Vật lý (Giải được trao năm 1921).
1924 (45) Phát minh khoa học lớn cuối cùng: trạng thái đông đặc Bose-Einstein.
1930 (51) Giảng viên được mời tại Đại học Princeton cho học kỳ mùa đông.
1931 (52) Tuyển tập "Mein Weltbild" (Thế giới như tôi thấy) xuất bản.
1933 (54) Nghỉ ở bãi biển La Coq, miền Ostende, Bỉ. Đây là lần cuối cùng Einstein
đặt chân ở châu Âu. Ông quyết định di cư sang Mỹ. Ông trở thành Giáo sư tại Viện
nghiên cứu phát triển Princeton.
1934 (55) Einstein biểu diễn một buổi hòa nhạc violon tại New York để ủng hộ
các nhà khoa học chạy trốn Đức Quốc xã.
1936 (57) Vợ thứ hai Elsa qua đời.
1939 (60) Einstein viết hai bức thư gửi Tổng thống Franklin D. Roosevelt.
1944 (65) Bản viết tay bài viết "Điện động lực học của các vật chuyển động"
(1905) được bán đấu giá tại Kansas City với giá 6 triệu đôla.
1946 (67) Nhận chức Chủ tịch Hội đồng chống chiến tranh nguyên tử.
1948 (69) Vợ thứ nhất Maleva Mariç qua đời.
1950 (71) Einstein viết di chúc.
1951 (72) Em gái Maja Winteler qua đời ở Princeton.
1952 (73) Einstein được mời làm Tổng thống Israel. Ông từ chối.

1953 (74) Einstein tổ chức sinh nhật rộng rãi để quyên góp thành lập Đại học Y
khoa Einstein ở New York.
1954 (75) Einstein ốm nặng. Suy gan, thiếu máu và suy nhược toàn cơ thể.
1955 (76) Einstein qua đời ngày 18 tháng 4. Câu cuối cùng ông viết là "Nhiệt tình
chính trị đòi hỏi phải hi sinh."
Chúng ta - Những người thừa kế di sản
Các thế hệ trước đây đã có thể tin rằng, những tiến bộ về tinh thần và văn
minh, đối với họ, không phải là một cái gì khác hơn là những thành quả được
thừa hưởng từ lao động mà tổ tiên đã tạo ra, những thành quả đảm bảo cho họ
một cuộc sống dễ chịu hơn và tốt đẹp hơn.
Những tai họa lớn của thời đại chúng ta đã chỉ ra rằng, điều này đã chỉ là một ảo
tưởng nguy hiểm.
Chúng ta thấy rằng, phải thực hiện những nỗ lực lớn nhất để di sản này của nhân
loại không mang đến điều bất hạnh, mà mang đến điều hạnh phúc. Nếu trước đây, con
người đã từng được coi là có giá trị xã hội khi được giải phóng ở mức độ nào đó khỏi
thói ích kỷ cá nhân, thì hiện nay, con người được đòi hỏi phải vượt qua được thói ích
kỷ giai cấp và dân tộc của mình. Bởi vì chỉ khi vượt lên cao như vậy, con người mới
có thể đóng góp vào việc thay đổi số phận của cộng đồng nhân loại theo hướng tốt
hơn.
Trước đòi hỏi quan trọng này của thời đại, những người dân thuộc các quốc gia
nhỏ lại ở hoàn cảnh tương đối thuận lợi hơn so với những người dân thuộc các quốc
gia lớn, bởi vì cả về chính trị và kinh tế, những người dân này tránh được những cám
dỗ của sự bành trướng quyền lực một cách tàn bạo. Hiệp định giữa Hà Lan và Bỉ, một
hiệp định đã tạo ra điểm sáng duy nhất trong sự phát triển của châu Âu trong thời đại
hiện nay, đã cho phép hy vọng rằng, các quốc gia nhỏ có thể đảm nhận vai trò lãnh
đạo trong nỗ lực đạt được sự giải phóng khỏi ách thống trị nhục nhã của chủ nghĩa
quân phiệt, nhờ việc khước từ đối với quyền tự quyết tự do, không hạn chế.
ALBERT EINSTEIN
Hướng đến an ninh của nhân loại
Sự khám phá ra các phản ứng dây chuyền của nguyên tử không đòi hỏi con
người thực hiện việc tàn phá nhiều hơn là việc phát minh ra que diêm. Chúng ta
phải làm tất cả những gì có thể để loại trừ sự lạm dụng. Ở trình độ hiện nay của
phương tiện kỹ thuật, chỉ có một tổ chức siêu quốc gia gắn liền với một quyền
lực hành pháp đủ mạnh mới có thể bảo vệ được chúng ta.
Nếu chúng ta đã thừa nhận điều này, thì chúng ta sẽ tìm thấy lực lượng mang đến
sự hy sinh cần thiết cho an ninh của nhân loại. Mỗi người chúng ta cũng sẽ có lỗi, nếu
mục tiêu này không được thực hiện kịp thời. Điều đáng sợ là ở chỗ, mỗi người không
làm gì cả mà chỉ chờ đợi người khác làm cho mình.

Sự tôn trọng đối với những tiến bộ khoa học đã đạt được trong thế kỷ này, đều
được thể hiện ở mỗi người, từ người có đôi chút trình độ cho đến người quan sát nông
nổi, chỉ nhìn thấy những áp dụng về mặt kỹ thuật. Nhưng người ta sẽ không đánh giá
quá mức những thành tựu của thời đại vừa qua, khi người ta nhớ đến những vấn đề
của khoa học ở quy mô lớn. Điều này cũng giống như trong chuyến đi bằng xe lửa:
Nếu người ta chỉ chú ý đến vùng lân cận tiếp theo, thì người ta dường như sẽ đạt được
trong nháy mắt. Còn nếu người ta chú ý đến những hình thù lớn như những dãy núi
cao, thì tình hình sẽ chỉ thay đổi dần dần. Điều này cũng tương tự, nếu người ta gặp
phải những vấn đề lớn của khoa học.
Theo ý kiến của tôi, thật không có lý, khi nói một cách chung chung về “lối sống
của chúng ta” hay lối sống của người Nga. Trong cả hai trường hợp, người ta nói đến
sự tập hợp của các truyền thống và thói quen. Tập hợp này không tạo ra một chỉnh thể
hữu cơ. Tốt hơn hết là tự hỏi mình xem, những cơ cấu nào, những truyền thống nào là
có hại hoặc có lợi cho con người, những cơ cấu nào, những truyền thống nào làm cho
cuộc sống hạnh phúc hơn hoặc đau khổ hơn. Khi đó, người ta phải cố gắng thực thi
cái đã được nhận thấy là tốt hơn, không phụ thuộc vào câu hỏi, liệu hiện nay, nó có
thực hiện được hay không ở chúng ta hoặc ở một nơi nào đó khác.
Bàn về sự chung sống hòa bình giữa các dân tộc
Bài viết cho chương trình truyền hình của Bà phu nhân tổng thống Roosevelt
Thưa Bà Roosevelt! Tôi xin cảm ơn Bà, vì Bà đã cho tôi cơ hội trình bày
quan điểm của tôi về vấn đề chính trị quan trọng nhất này:
Trong tình trạng hiện nay của kỹ thuật quân sự, sự tin tưởng rằng, người ta có thể
có được an ninh nhờ vũ trang cho đất nước mình, hoàn toàn chỉ là ảo tưởng. Về phía
nước Mỹ, ảo tưởng này còn được khuyến khích đặc biệt bởi một ảo tưởng thứ hai là
trước tiên thành công trong việc chế tạo bom nguyên tử ở nước này. Người ta có xu
hướng tin rằng, về lâu dài có thể đạt được ưu thế tuyệt đối về quân sự. Theo cách này,
người ta tin là có thể làm cho bất cứ kẻ thù tiềm năng nào phải khiếp sợ, qua đó mang
lại cho chính chúng ta và toàn thể nhân loại an ninh mà tất cả mọi người mong muốn
tha thiết. Câu châm ngôn được chúng ta tin cậy trong suốt năm năm qua là: An ninh
bằng sức mạnh vượt trội, dù phải trả bằng bất cứ giá nào.
Hậu quả của thái độ máy móc, kỹ thuật-quân sự và tâm lý này là không thể tránh
được. Mọi hành động đối ngoại đều bị khống chế bởi quan điểm duy nhất: Chúng ta
phải hành động như thế nào để trong trường hợp chiến tranh, có được ưu thế hơn hẳn
so với kẻ thù? Đó là việc thiết lập các căn cứ quân sự tại tất cả các vị trí quan trọng về
chiến lược trên trái đất, vũ trang và gia tăng sức mạnh về kinh tế cho các nước đồng
minh tiềm tàng; ở trong nước, tập trung quyền lực tài chính khổng lồ vào trong tay
quân đội, quân phiệt hóa giới trẻ, giám sát lòng trung thành của các công dân và đặc
biệt của các quan chức thông qua hệ thống cảnh sát ngày càng trở nên hùng mạnh, đe

dọa những người có tư duy chính trị độc lập, gây ảnh hưởng đến tâm trạng của dân
chúng thông qua đài phát thanh, báo chí và trường học, cấm các khu vực thông tin
đang phát triển viện cớ liên quan đến bí mật quân sự.
Những hậu quả tiếp theo: Cuộc chạy đua vũ trang vốn được xem là sự phòng ngừa
giữa Liên Xô và Mỹ nay mang tính chất điên rồ. Ở cả hai phía, phương tiện giết người
hàng loạt được sản xuất trong tình trạng dồn dập sôi động đằng sau những bức tường
bí mật.
Trong triển vọng, bom H được xem như một mục tiêu có thể đạt được. Tổng
thống long trọng công bố về sự phát triển nhanh chóng của nó. Nếu thành công, thì về
mặt kỹ thuật, bom H có thể gây ra hiện tượng nhiễm phóng xạ cho bầu khí quyển và
sự huỷ hoại toàn bộ sự sống trên trái đất. Điều khủng khiếp của diễn biến này chính là
ở tính có vẻ tất yếu của nó. Mỗi bước tiến dường như là hậu quả không thể tránh được
của người đi bước trước. Có thể thấy ngày càng rõ rằng, rút cuộc sẽ là sự hủy diệt tất
cả.
Liệu có thể có giải pháp gì nói chung để cứu vãn tình hình do chính con người tự
tạo ra này được hay không? Tất cả chúng ta và đặc biệt là những người có trách nhiệm
về hành động của Mỹ và Liên Xô, cần phải học cách thừa nhận rằng, tuy họ đã kìm
chế được kẻ thù bên ngoài, nhưng lại không có khả năng tự giải phóng mình khỏi tâm
trạng do chiến tranh tạo ra. Không thể đạt được hòa bình thực sự, nếu người ta định
hướng phương thức hành động của mình dựa vào khả năng có thể xảy ra một cuộc
xung đột trong tương lai, đặc biệt khi người ta ngày càng biết rõ rằng, một cuộc xung
đột chiến tranh như thế có nghĩa là sự hủy diệt tất cả. Vì vậy, tư tưởng chỉ đạo của tất
cả các hành động chính trị phải là: Chúng ta có thể làm được gì để tạo ra được một sự
chung sống hòa bình, thỏa đáng trong khuôn khổ có thể giữa các quốc gia? Vấn đề
đầu tiên là loại bỏ nỗi sợ hãi và thiếu tin tưởng lẫn nhau. Sự khước từ một cách long
trọng đối với việc sử dụng bạo lực chống lại nhau (không chỉ là sự khước từ đối với
việc sử dụng các phương tiện giết người hàng loạt) dĩ nhiên là cần thiết. Sự khước từ
đó chỉ trở nên có hiệu quả, nếu nó gắn liền với việc áp dụng một cấp thẩm quyền
hành pháp và tư pháp siêu quốc gia. Quyền quyết định về các vấn đề liên quan trực
tiếp đến an ninh của các quốc gia, được chuyển giao cho cấp thẩm quyền này. Ngay
một lời tuyên bố của các quốc gia về sự cộng tác trung thành để thực hiện một “Chính
phủ thế giới hạn chế” như vậy, cũng sẽ làm giảm một cách đáng kể nguy cơ chiến
tranh.
Rút cuộc, mọi sự chung sống hòa bình của con người, thứ nhất, dựa vào sự tin cậy
lẫn nhau, thứ hai, dựa vào các thiết chế như tòa án và cảnh sát. Điều này có giá trị cả
cho các quốc gia lẫn cho các cá nhân riêng lẻ. Nhưng, sự tin cậy chỉ dựa vào một mối
quan hệ trung thực của “give and take” tức là của “cho và nhận”.
Nhưng sự tin cậy ấy có quan hệ ra sao với sự kiểm soát quốc tế? Giờ đây [so với

lòng tin cậy lẫn nhau] sự kiểm soát quốc tế chỉ có thể có vai trò hữu ích thứ yếu với tư
cách là một biện pháp cảnh sát. Người ta có thể thực hiện tốt vai trò này ở đây, mà vẫn
không đề cao quá mức tầm quan trọng của nó. So với giải pháp “cấm rượu” [ở Mỹ],
thì đây là việc đáng suy ngẫm.
Một số ghi chú về tình hình Châu Âu hiện nay
Tình hình chính trị hiện nay của thế giới và đặc biệt là của châu Âu, theo tôi,
dường như có đặc điểm là sự phát triển về chính trị lại bị tụt hậu cả về vật chất
lẫn tinh thần so với quá trình phát triển kinh tế vốn đã biến đổi trong thời gian
tương đối ngắn ngủi; Các lợi ích của các quốc gia riêng rẽ phải đặt dưới những
lợi ích của các cộng đồng lớn hơn.
Cuộc đấu tranh cho quan điểm mới này của tư duy và cảm nhận chính trị là một
cuộc đấu tranh đầy khó khăn, bởi vì nó trái ngược với truyền thống từ hàng trăm năm
nay. Nhưng khả năng tồn tại của châu Âu lại phụ thuộc vào lối thoát may mắn ấy. Tôi
tin tưởng vững chắc rằng, sau khi vượt qua các trở ngại về mặt tâm lý, việc giải quyết
các vấn đề hiện thực sẽ không còn quá khó khăn nữa. Để tạo ra bầu không khí tích
cực, trước hết cần phải có sự liên kết về con người giữa những người có cùng mục tiêu
chung. Mong sao những nỗ lực hợp nhất này sẽ thành công để bắt được một nhịp cầu
tin cậy giữa các dân tộc!
Sản xuất và lao động
Trả lời một bức thư gửi đến
Tôi nhìn thấy sự bất cập chủ yếu ở trong tự do gần như vô hạn của thị
trường lao động gắn liền với những tiến bộ phi thường của các phương pháp sản
xuất. Để sản xuất những gì cần thiết cho các nhu cầu hiện nay, người ta không
cần đến tất cả lực lượng lao động hiện có. Từ đây xuất hiện nạn thất nghiệp và
cuộc cạnh tranh không lành mạnh giữa những người lao động. Ngoài ra, từ cả
hai nguyên nhân trên, xuất hiện sự suy giảm sức mua và đồng thời là sự bóp
nghẹt quá mức của toàn bộ chu trình kinh tế.
Tôi cũng được biết rằng, theo các nhà kinh tế tự do, việc gia tăng các nhu cầu sẽ
cân đối lại mọi sự tiết kiệm về sức lao động. Tuy nhiên, tôi không tin điều này, và kể
cả khi nó là có thật, thì các yếu tố kể trên luôn dẫn tới kết quả là mức sống của phần
lớn dân chúng bị giảm sút một cách hoàn toàn giả tạo.
Cùng với quý vị, tôi cũng tin rằng, nhất thiết phải quan tâm để làm sao cho những
người trẻ hơn có thể và cần phải tham gia vào quá trình sản xuất. Tôi cũng cho rằng,
người ta nên đưa những người nhiều tuổi hơn khỏi những công việc nhất định mà tôi
coi là không đòi hỏi trình độ. Bù lại, họ sẽ nhận được một khoản lương hưu, vì trước
đây, trong một thời gian dài, họ đã thực hiện công việc một cách có hiệu quả, được xã
hội thừa nhận.
Tôi cũng ủng hộ chủ trương dẹp bỏ các thành phố lớn. Tôi không ủng hộ việc

định cư những người thuộc nhóm đặc biệt, chẳng hạn những người già vào trong các
thành phố đặc biệt. Tôi phải nói rằng, đối với tôi, tư tưởng này là đáng ghê tởm.
Tôi cũng cho rằng, cần phải tránh sự chao đảo về giá trị đồng tiền, cụ thể bằng
cách thay thế tiền vàng bằng đơn vị tiền tệ tương ứng với một lượng hàng hóa đa
dạng, được ấn định theo tương quan sử dụng. Đó là một lượng hàng hóa như đã được
Keynes đề nghị từ lâu, nếu tôi không nhầm. Khi vận dụng biện pháp này, người ta có
thể chấp nhận một sự “lạm phát” nào đó đối với giá trị đồng tiền hiện nay, một khi
người ta tin rằng, nhà nước thực sự sẽ biết sử dụng hợp lý món quà tặng được dành
cho mình.
Theo quan niệm của tôi, các điểm yếu trong bản kế hoạch của ông chính là ở yếu
tố tâm lý hoặc ở sự coi thường yếu tố này. Chủ nghĩa tư bản mang đến những tiến bộ
không chỉ cho sản xuất, mà còn cho nhận thức. Đó không phải ngẫu nhiên. Thói ích
kỷ và ganh đua (thật đáng tiếc) là những thế lực mạnh mẽ hơn là tinh thần cộng đồng
hay ý thức trách nhiệm. Ở nước Nga, người ta thậm chí không có được một chiếc bánh
mỳ đàng hoàng… Có lẽ tôi quá bi quan về những gì liên quan đến các doanh nghiệp
của nhà nước và của các “tập thể” khác, nhưng tôi vẫn không trông đợi một cái gì tốt
đẹp từ đó cả. Nạn quan liêu là Tử thần của mọi năng suất. Bản thân tôi đã nhìn thấy và
nếm trải quá nhiều điều khủng khiếp, kể cả ở nước tương đối mẫu mực như là Thụy
Sĩ.
Tôi có xu hướng cho rằng, nhà nước có thể thực sự có vai trò đối với quá trình
sản xuất chỉ với tư cách là nhân tố hạn chế và điều tiết. Nhà nước phải quan tâm sao
cho sự cạnh tranh của các lực lượng lao động được vận động trong các giới hạn lành
mạnh, sao cho một sự phát triển bền vững được đảm bảo cho tất cả trẻ em và sao cho
đồng lương lao động có đủ, để các hàng hóa được sản xuất ra cũng được sử dụng.
Qua chức năng điều tiết của mình, nhà nước có thể có ảnh hưởng quyết định, nếu các
biện pháp của nó được các chuyên gia độc lập chuẩn bị tốt về mặt chuyên môn nghiệp
vụ.
Sản xuất và sức mua
Tôi không nghĩ rằng, biện pháp chống lại các khó khăn hiện nay lại nằm
chính ở nhận thức về năng lực sản xuất và tiêu thụ, bởi vì sự hiểu biết nói chung
về điều này thường đến sau đó. Hơn nữa, đối với tôi, dường như điều bất cập ở
nước Đức không phải ở sự ph...
 
Gửi ý kiến