Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

TS. BÙI QUANG XUÂN CHUYÊN ĐỀ KỸ NĂNG Chuyên đề 4 KỸ NĂNG LÀM VIỆC TRONG MÔI TRƯỜNG ĐA VĂN HÓA

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: bùi quang xuân
Ngày gửi: 07h:01' 14-10-2022
Dung lượng: 699.8 KB
Số lượt tải: 37
Số lượt thích: 0 người
BỒI DƯỠNG ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC NGẠCH
CHUYÊN VIÊN CHÍNH
Chuyên đề 4

KỸ NĂNG LÀM VIỆC TRONG MÔI TRƯỜNG ĐA VĂN HÓA

I. TỔNG QUAN VỀ LÀM VIỆC TRONG MÔI TRƯỜNG ĐA VĂN
HÓA
1. Môi trường đa văn hóa và làm việc trong môi trường đa văn hóa
a) Khái niệm văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,
liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Có nhiều định
nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh
giá khác nhau.
Hiểu theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là tất cả những gì gắn liền với con người,
với sự phát triển của con người. Văn hóa là mọi giá trị vật chất, tinh thần do con
1

người sáng tạo ra trong lịch sử. 199 UNESCO định nghĩa văn hóa là tập hợp các đặc
trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm
người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả
phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm
tin.200 Khi hiểu như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất
của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa,
quần áo, các phương tiệnv.v…
Hồ Chí Minh xem văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do
loài người sáng tạo ra với phương thức sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn,
đồng thời đó cũng là mục đích của cuộc sống loài người. Người viết: “Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
199

200

Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998): Từ điển tiếng Việt. NXB. Văn hóa thông tin, H. , tr.1796.
UNESCO (2001). UNESCO

Universal Declaration on Cultural Diversity. Paris: UNESCO.

2

Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của
mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. 201 Như vậy,
văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người
với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.202
Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người và nó là sản phẩm
của người thông minh (Homo sapiens). Trong quá trình phát triển, tác động sinh
học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí thông minh để định
dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, bản tính con người không
không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng sáng tạo của con người
trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có con
người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của
chủng loài mình. Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành
viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó đồng thời lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác.
Văn hóa phản ánh trình độ phát triển lịch sử của xã hội và của con người biểu
hiện trong các kiểu, trong các cách thức tổ chức đời sống và hành động của con
người, cũng như trong tổ hợp các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần cùng các
chuẩn mực hành vi do con người sáng tạo ra để điều chỉnh hành vi con người và
được tích lũy lại, được làm phong phú thêm trong quá trình con người tương tác
với thiên nhiên và trong quan hệ với nhau trong xã hội.203 Mỗi cộng đồng người
đều xuất phát từ những nền văn hóa nhất định và theo đuổi những giá trị văn hóa
nhất định. Những giá trị văn hóa này có nội hàm khác nhau ở các cộng đồng khác

Hồ Chí Minh Toàn Tập, in lần 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr. 431.
Trần Ngọc Thêm (1997): Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.8.
203
Nguyễn Trọng Chuẩn: Văn hóa ứng xử ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra, Tạp chí Triết
201
202

3

học số 7/2020, tr.19-28.

4

nhau, thậm chí có tính cá nhân, tức là mỗi cá nhân theo đuổi những giá trị văn hóa
khác nhau.
Văn hóa nhóm là hệ thống các giá trị, niềm tin, thói quen,... được hình thành
trong một nhóm người nhất định khi các thành viên trong nhóm chấp nhận, tôn
trọng và tuân thủ các giá trị đó. Văn hóa nhóm được hình thành từ khi các mối quan
hệ trong nhóm được thiết lập và cùng với thời gian các quy chế được hình thành,
các thông tin được trao đổi và các thành viên cùng trải qua các sự kiện. Tất cả các
nhóm nhỏ đều có văn hóa của mình, nhưng đồng thời văn hóa nhóm cũng là một
phần của nền văn hóa toàn xã hội. Trong văn hóa nhóm ngoài những nét văn hóa
chung của xã hội còn có thể có những nét riêng biệt của nhóm. Bên cạnh những giá
trị chung được chia sẻ trong các thành viên của nhóm, mỗi cá nhân đều có thể có
những giá trị văn hóa riêng, không nhất thiết phải đồng nhất với các thành viên
khác. Khi một cộng đồng (một tổ chức, một doanh nghiệp...) có những người đến
từ các nền văn hóa khác nhau thì thường xuất hiện sự giao thoa về văn hóa.
b) Môi trường làm việc đa văn hóa
Môi trường làm việc đa văn hóa là môi trường làm việc gồm nhiều cá nhân
đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau với những giá trị văn hóa khác nhau. Đó là môi
trường làm việc trong đó có các cá nhân với phong tục, tập quán, chủng tộc, ngôn
ngữ, giới tính, quốc tịch… khác nhau cùng làm việc trọng một tập thể.
Thông thường, mỗi cá nhân đều có những đặc điểm văn hoá mang đặc trưng
của cộng đồng nơi người đó sinh ra và lớn lên. Những đặc điểm này tác động lớn
đến hành vi của cá nhân khi giao tiếp với cộng đồng tại nơi sống và làm việc. Sự
khác biệt về văn hoá thể hiện rõ nét nhất ở sự khác biệt về hệ thống các tiêu chuẩn
và giá trị mà con người thừa nhận, ở sự ưu tiên khác nhau ở các vùng miền khác
nhau cho những giá trị giống nhau và sự khác biệt về hành vi và cách ứng xử trong
sinh hoạt và giao tiếp giữa con người với nhau. Khi hiểu như vậy, sự đa dạng văn
hóa trong môi trường làm việc có thể nhận thức từ hai khía cạnh: sự đa dạng của
5

môi trường văn hóa nội bộ (các thành viên đền từ một quốc gia nhưng ở những

6

vùng miền có tiêu chuẩn, giá trị văn hóa khác nhau) và sự đa dạng văn hóa quốc tế
(gồm các thành viên đến từ các quốc gia khác nhau):204
- Môi trường làm việc gồm các cá nhân đến từ một quốc gia nhưng có các giá
trị văn hóa khác nhau: Ngay trong một quốc gia cũng có thể tồn tại những lối sống,
những giá trị khác biệt giữa các vùng miền. Điều này thể hiện rõ nét trong sự khác
biệt của các biểu tượng văn hoá (cách ăn mặc, sinh hoạt…), hệ giá trị, tiêu chuẩn
được thừa nhận, cách thức giao tiếp, ứng xử… của những nhóm người đến từ các
vùng khác nhau hay của các dân tộc khác nhau trong một quốc gia. Ngay trong một
tổ chức đã có thể thấy sự pha trộn đa dạng văn hoá giữa những cá thể đến từ các
vùng miền khác nhau, đặc biệt ở những quốc gia rộng lớn và đa dân tộc. Tính đa
dạng về văn hóa dân tộc, vùng miền này đôi khi gây ra sự mâu thuẫn ngay trong
nội tại và nếu không giải quyết tốt sẽ có khả năng dẫn tới những xung đột.
- Môi trường làm việc đa văn hoá quốc tế: Tính chất đa văn hoá thể hiện rõ nét
nhất ở việc cùng chung sống và cùng làm việc với nhau của những người đến từ
các quốc gia khác nhau. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế cùng với quá trình phân
công lao động diễn ra trên phạm vi toàn cầu thúc đẩy quá trình giao lưu mạnh mẽ
không chỉ về hàng hoá mà còn giao lưu con người giữa các quốc gia. Hệ quả là
trong một tập thể (một tổ chức, một vùng, miền,...) ngày càng có nhiều người đến
từ các quốc gia khác nhau cùng chung sống và lao động, mang lại cho tập thể đó
những sắc thái văn hoá đa dạng, không đồng nhất. Các mối quan hệ công việc cũng
được mở rộng và giao tiếp liên quốc gia (giữa các bên tham gia giao tiếp đến từ các
quốc gia khác nhau) đã ngày càng trở nên phổ biến.
2. Tác động của môi trường đa văn hóa đến con người và hiệu quả làm
việc Con người là một thực thể tồn tại mang tính văn hóa và không sống được theo
đúng nghĩa nếu như không có giao tiếp xã hội. Một người thường chỉ có thể cảm
thấy thoải mái trong một môi trường văn hoá quen thuộc. Người ta thường dùng
204

Đặng Khắc Ánh (2016): Quản lý đa văn hoá - nhu cầu kiến thức cần thiết đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong

7

thời kỳ Hội nhập quốc tế. Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 167 (tháng 12/2009), tr.15-16.

8

khái niệm “sốc văn hoá” để chỉ sự lo lắng và những cảm xúc (như ngạc nhiên, mất
phương hướng, bối rối, v.v...) mà một người cảm thấy khi phải hoạt động trong một
nền văn hóa hay một môi trường xã hội hoàn toàn khác, ví dụ như ở nước ngoài.
Sốc văn hóa nảy sinh từ những khó khăn trong việc hòa nhập với nền văn hoá mới,
là nguyên nhân của việc khó nhận thức được cái gì là thích hợp và cái gì không.
Tình trạng này thường đi đôi với sự căm ghét (vì lý do đạo đức hay cảm tính) đối
với một số khía cạnh nhất định của nền văn hoá mới lạ hoặc khác biệt. Chính sự
căm ghét hay cảm thấy xa lạ với các giá trị văn hoá mới này khiến cho một cá nhân
khó hoà nhập được vào một cộng đồng mới.205
Trong thời đại quốc tế hóa như hiện nay, những giao tiếp ứng xử đa văn hóa
giữa các cá nhân và tổ chức có những giá trị văn hóa khác nhau là tất yếu. Do đó,
để giao tiếp ứng xử một cách chuẩn mực với những người có các giá trị văn hóa
khác mà không phát sinh mâu thuẫn thì chúng ta phải có sự hiểu biết, tôn trọng các
giá trị văn hóa khác biệt và nắm được các kỹ năng giao tiếp đa văn hóa.
Văn hóa thường được ví như tảng băng trôi: phần nổi mà chúng ta có thể quan
sát trực tiếp được chỉ là phần rất nhỏ của tảng băng và phần chìm của tảng băng,
phần chúng ta không nhìn thấy mới là phần lớn. Do đó, khi xem xét một nền văn
hóa, nếu chỉ nhìn thấy những biểu hiện bề ngoài như ngôn ngữ, diện mạo của cuộc
sống, lối ăn mặc, ở, lịch sử, biểu trưng… là chưa đủ mà điều quan trọng là phải
hiểu được về những giá trị bên trong như niềm tin, sự tự hào…
Khi con người phải sống và làm việc trong một môi trường có văn hóa khác
biệt so với môi trường mà họ đã quen thuộc, họ thường bị sốc về văn hóa hay gặp
phải các xung đột văn hóa. Xung đột văn hóa có tác động vừa tích cực, vừa tiêu cực
tới hiệu quả làm việc.
Từ khía cạnh tích cực, sự khác biệt trong văn hóa là yếu tố kích thích sự sáng
tạo. Những giá trị văn hóa mới trong tổ chức thường mang lại những kích thích,
205

Đặng Khắc Ánh (2016): Quản lý đa văn hoá - nhu cầu kiến thức cần thiết đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong

9

thời kỳ Hội nhập quốc tế. Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 167 (tháng 12/2009), tr.13.

10

thúc đẩy sự sáng tạo, hình thành những cách tiếp cận vấn đề mới, qua đó đưa tổ
chức phát triển theo những hướng mới, tránh những lối mòn cũ.
Tác động tiêu cực xảy ra khi các thành viên trong một tổ chức theo đuổi
những giá trị văn hóa khác nhau thì có thể dẫn tới các xung đột văn hóa và làm cho
môi trường làm việc trở nên khó khăn hơn. Xung đột xảy ra trong sự va chạm của
các giá trị văn hóa, khi một cá nhân này bảo vệ giá trị văn hóa này còn cá nhân
khác lại bảo vệ giá trị văn hóa khác. Xét về bản chất, có thể nói, mọi xung đột xã
hội đều bắt nguồn từ sự khác biệt và không dung hợp về quyền lợi giữa các chủ thể
có mặt trong tương tác.206 Xung đột gây ra bởi sự khác biệt về giá trị văn
hóa và niềm tin khiến mọi người bất hòa với nhau. Xung đột văn hóa rất khó giải
quyết vì các bên tham gia cuộc xung đột có niềm tin khác nhau, tạo nên áp lực cho
công việc.
Quản lý liên văn hoá (cross-cultural management) có thể được hiểu là cách
thức làm việc với những người có các nền tảng và giá trị văn hoá khác nhau, thậm
chí trái ngược nhau, biết cách chấp nhận những khác biệt về văn hoá trong khi đề
cao các giá trị có thể chia sẻ.
Hoạt động chung sống của con người trong xã hội nói chung và ngay cả trong
„một xã hội thu nhỏ“ tức là một tổ chức, đòi hỏi phải thừa nhận những giá trị văn
hoá của những người khác, không thể áp đặt các giá trị của một người cho những
đối tượng đến từ các nền văn hoá khác. Chính vì vậy, khả năng thấu hiểu, cảm nhận
và từ đó có cách thức ứng xử thích hợp với những đối tượng có giá trị văn hoá khác
nhau là rất cần thiết cho cuộc sống cộng đồng.207
3. Môi trường đa văn hóa đối với hoạt động công vụ ở Việt Nam
Nền công vụ là nơi làm việc của nhiều người với các giá trị văn hóa khác
nhau. Môi trường làm việc là một phần trong môi trường sống của con người. Bởi
Phạm Thái Việt (2010): Xung đột văn hóa. http://philosophy.vass.gov.vn/triet-hoc-van-hoa/Xung-dot-van-hoa99.0
207
Đặng Khắc Ánh (2021): Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quản lý liên văn hóa cho cán bộ, công chức, viên chức
206

11

ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Quản lý đa dạng
văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. NXB. Bách khoa Hà Nội, tr.463-480

12

vậy con người thường mang theo văn hóa, lối sống của riêng mình vào môi trường
làm việc. Làm việc trong môi trường đa văn hóa là làm việc trong môi trường có sự
đa dạng, phong phú các sắc thái văn hóa, đa dạng truyền thống, phong tục tập quán,
tín ngưỡng tôn giáo… với các cá nhân theo đuổi các giá trị văn hóa khác nhau.
Tính đa văn hóa trong một tổ chức có thể đến từ những cá nhân thành viên
trong cùng một quốc gia nhưng thể hiện rõ ràng nhất là trong các tổ chức có các
thành viên đến từ các quốc gia khác nhau. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế trên mọi
lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội đã và đang đặt ra đối với mỗi cá
nhân phải làm việc trong môi trường đa văn hóa. Đa dạng văn hóa trong môi
trường làm việc vừa là thách thức, vừa là cơ hội để thành công hơn cả về mặt quản
trị, giá trị của tổ chức, doanh nghiệp và người lao động nói chung, cán bộ, công
chức nói riêng.
Ở Việt Nam, trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu về quản lý liên văn hóa diễn ra
mạnh mẽ trước hết ở các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp trong khu vực
kinh tế tư nhân. Các công ty sản xuất và bán hàng không phải chỉ trên phạm vi một
quốc gia hay một khu vực, mà luôn có xu hướng mở rộng các hoạt động của mình
ra phạm vi toàn cầu. Điều đó đòi hỏi các nhà quản lý phải có một năng lực giao tiếp
liên văn hoá cao. Nhu cầu về các kiến thức và kỹ năng giao tiếp liên văn hoá dành
cho các nhà quản lý doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp đa quốc gia đã được
thừa nhận từ lâu và giành được sự quan tâm lớn của các trường đào tạo quản trị
kinh doanh. Các khoá học về kỹ năng giao tiếp liên văn hoá hiện nay đã trở nên khá
phổ biến. Bên cạnh đó, nhiều loại hình tổ chức khác (như đội bóng đá) cũng bắt
đầu phải đối mặt với thách thức của quản lý đa văn hoá.
Quá trình hội nhập quốc tế không chỉ dừng lại ở phạm vi các hoạt động kinh tế
mà còn khiến cho các lĩnh vực hoạt động khác của con người cũng phải hội nhập,
trong đó có hoạt động quản lý nhà nước. Đối với cán bộ, công chức, nhất là cán bộ,
công chức lãnh đạo, việc giao tiếp với những người đến từ các nền văn hoá khác
13

đang ngày càng tăng lên do nhu cầu mở rộng quan hệ quốc tế và do sự di chuyển dễ

14

dàng hơn của con người. Điều đó có nghĩa là các cán bộ, công chức nhà nước
không chỉ làm việc trong môi trường văn hoá quốc gia, mà ngày càng phải làm việc
nhiều hơn trong môi trường đa văn hoá.
Tại phần lớn các nước phát triển, do ảnh hưởng của quá trình nhập cư (nhập
khẩu lao động, du học, di dân…) nền hành chính đã phải đối mặt với vấn đề giao
tiếp với những người có yếu tố nước ngoài. Những cộng đồng người nhập cư vẫn
mang theo họ các nét văn hoá dân tộc trong cách thức nhìn nhận, đánh giá và cả
cách ứng xử, quan hệ. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả giao tiếp công vụ
giữa các công chức hành chính với việc phục vụ các công dân có nguồn gốc văn
hoá khác.
Ở các nước đang phát triển, trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của quá
trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ nên cũng đang phải đối mặt
với vấn đề này. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Chẳng hạn, các công chức
làm nhiệm vụ kiểm soát xuất nhập cảnh hiện nay hàng ngày phải giao tiếp trực diện
với hàng ngàn người nước ngoài xuất nhập cảnh Việt Nam qua cửa khẩu; các công
chức hộ tịch, tư pháp cấp tỉnh phải làm việc nhiều hơn với những hồ sơ kết hôn có
yếu tố nước ngoài; các nhà lãnh đạo hành chính phải tham dự nhiều hơn các cuộc
họp, hội đàm quốc tế… Điều đó cũng có nghĩa là họ cần phải được cung cấp các
kiến thức và kỹ năng cần thiết để có thể giao tiếp hiệu quả hơn với những người có
nền tảng và giá trị văn hoá khác với họ.208
Khách hàng của nền công vụ cũng ngày càng trở nên đa dạng hơn đòi hỏi cán
bộ, công chức phải biết chấp nhận các giá trị văn hóa khác biệt, biết cách hòa đồng
và chấp nhận các giá trị văn hóa khác mình, tránh sự kỳ thị dẫn tới sự xa cách về
văn hóa, làm giảm hiệu quả của hoạt động của tổ chức.

208

Đặng Khắc Ánh (2009): Quản lý đa văn hoá - nhu cầu kiến thức cần thiết đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong

15

thời kỳ Hội nhập quốc tế. Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 167 (tháng 12/2009), tr.15.

16

II. MỘT SỐ KỸ NĂNG LÀM VIỆC TRONG MÔI TRƯỜNG ĐA VĂN
HÓA
1. Kỹ năng tổ chức, xử lý công việc trong môi trường đa văn hóa
Tổ chức, xử lý công việc ở khu vực công trong môi trường đa văn hóa đòi hỏi
mỗi cán bộ, công chức không những ngày càng tăng cường năng lực chuyên môn
mà còn chú trọng học tập, rèn luyện các kỹ năng cần thiết khác. Để vừa thực hiện
hiệu quả các nhiệm vụ được giao đồng thời tạo dựng được mối quan hệ, gắn kết với
đồng nghiệp, đối tác trong môi trường đa văn hóa là điều không dễ dàng, đặc biệt là
các khía cạnh văn hóa rất nhạy cảm, nhiều khác biệt và luôn tiềm ẩn nguy cơ xung
đột trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Bởi vậy, để tổ chức, xử lý tốt công việc trong
môi trường đa văn hóa, cần chú trọng những vấn đề sau:
a) Đối với mỗi cá nhân khi thực thi nhiệm vụ
Thứ nhất, nghiên cứu, tìm hiểu căn bản về lịch sử, văn hóa, truyền thống của
đất nước, dân tộc của những người làm việc với mình để nhận diện và thấu hiểu sự
khác biệt về văn hóa của họ; sẵn sàng học cách đón nhận những ý tưởng mới; nhận
diện được các thách thức trong môi trường đa văn hóa để sẵn sàng thay đổi và tìm
cách thích nghi với những nền văn hóa khác nhau; luôn chân thành, cởi mở, thể
hiện sự thân thiện để tạo dựng mối quan hệ và thực thi công vụ hiệu quả.
Thứ hai, do sự khác biệt về văn hóa cũng như quan điểm, nhận thức của mỗi
cá nhân nên để dung hòa trong môi trường làm việc đa văn hóa đòi hỏi mỗi cán bộ,
công chức trong giao tiếp, ứng xử phải đảm bảo nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, thể
hiện sự văn minh, lịch sự; coi trọng cách tiếp cận bình đẳng, mang tính tương tác,
vừa làm giàu tri thức văn hóa cho bản thân vừa hạn chế, loại bỏ mâu thuẫn, xung
đột trong thực thi các nhiệm vụ. Quan niệm không giống nhau về sự kịp thời, đúng
hạn khi giải quyết công việc, việc không hiểu và không biết cách quản lý hiệu quả
khiến cho các bên dễ xảy ra xung đột trong quá trình tổ chức, xử lý công việc. Ví

17

dụ, làm việc với người Thụy Sỹ, Nhật Bản, Đức với tác phong công nghiệp họ rất
đúng giờ do đó mình cũng cần tuân thủ thể hiện sự tôn trọng họ.
Thứ ba, thông qua giao tiếp, ứng xử trong quá trình tổ chức và xử lý công việc
một mặt mỗi cán bộ, công chức cần thiết phải chia sẻ cho đối tác hiểu được các giá
trị văn hóa truyền thống dân tộc mình, của cơ quan, tổ chức mình đồng thời mình
cũng tiếp thu các giá trị văn hóa tốt đẹp của họ để cùng thay đổi và thích nghi, vừa
tăng cường sự liên kết để thực thi nhiệm vụ hiệu quả vừa đảm bảo được tính thống
nhất và đa dạng trong môi trường làm việc đa văn hóa. Tuy nhiên, người ta thường
nói "nhập gia tùy tục" và một số tác giả cho rằng "trong không gian của nhà nước dân tộc thì tính thống nhất được đề cao hơn tính đa dạng; còn ở phạm vi toàn thế
giới, tính đa dạng lại được coi trọng. Thống nhất văn hóa của nhà nước - dân tộc
đảm bảo cho sự ổn định và phát triển, còn khẳng định tính đa dạng văn hóa trên
phạm vi toàn thế giới tạo ra môi trường bình đẳng giữa các dân tộc" 209. Cho nên
trong một phạm vi của quốc gia có sự thống nhất các giá trị văn hóa của quốc gia
trên cơ sở đa dạng văn hóa của từng nhóm "tộc người"; trong phạm vi một tổ chức
có văn hóa của tổ chức và văn hóa đa dạng của cá nhân làm trong tổ chức đó, nên
đòi hỏi các bên liên quan khi tổ chức và giải quyết công việc cần thích nghi để đảm
bảo tính đa dạng nhưng trong thống nhất một cách tương đối để duy trì trật tự, ổn
định và phát triển tạo tiền đề để tổ chức thực hiện công việc hiệu quả trong môi
trường đa văn hóa.
Thứ tư, luôn có tinh thần trách nhiệm cao, chủ động, sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ
nhau trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ; kịp thời giải quyết, khắc phục những
khó khăn của đồng nghiệp, đối tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt văn
hóa. Mỗi cá nhân có quan điểm, nhận thức, năng lực, trình độ khác nhau để thực thi
công vụ, tuy nhiêu không phải cá nhân nào cũng một mình thực hiện được tốt các
nhiệm vụ, công việc được giao mà cần thiết phải có sự hỗ trợ của đồng nghiệp, đối
209

Bùi Thị Minh Phượng/Nguyễn Thi Phương (2019): Các phương án giải quyết xung đột văn hóa của chủ nghĩa đa

18

văn hóa, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 11.

19

tác. Đặc biệt trong môi trường đa văn hóa, có không ít cá nhân gặp khó khăn trong
công việc như rào cản ngôn ngữ, văn hóa khác biệt, khả năng tạo dựng quan hệ…
đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức cần chủ động, linh hoạt hơn, nâng cao khả năng
ngôn ngữ và có thể giao tiếp bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.
b) Đối với mỗi cơ quan, đơn vị trong khu vực công
Xác định quan điểm, nguyên tắc tổ chức, xử lý công việc của tổ chức mình:
Trong bối cảnh hiện nay, đa dạng văn hóa trong môi trường làm việc đã trở
thành mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà quản lý nói chung, nhà quản lý nguồn
nhân lực của các tổ chức nói riêng. Trong các tổ chức công, việc xác định quan
điểm, nguyên tắc tổ chức, xử lý công việc ở Việt Nam phải dựa trên nền tảng quan
điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước, tuân thủ các quy định pháp luật, quy chế,
nội quy của cơ quan, tổ chức. Khi làm việc trong môi trường đa văn hóa, chúng ta
được trải nghiệm các cách tiếp cận khác nhau về thời gian, thông tin, lập kế hoạch,
ra quyết định, phong cách giao tiếp ứng xử từ các mối quan hệ, cách thức giải quyết
xung đột, phát triển khả năng lãnh đạo. Văn hóa được xem là tấm gương phản ánh
môi trường làm việc của một tổ chức và văn hóa của tổ chức sẽ định hình thái độ,
niềm tin và các giá trị được chia sẻ của các cá nhân tại môi trường làm việc đó.
Trong môi trường làm việc đa văn hóa, mỗi tổ chức cũng cần xác định quan điểm,
nguyên tắc riêng để hình thành các giá trị, chuẩn mực riêng cho tổ chức mình.
Ở Việt Nam, nhân sự trong nền công vụ đều là công dân Việt Nam, đều nằm
trong sự thống nhất và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên để thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình cần phải làm việc và có quan hệ với
các đối tác khác nhau, có nền văn hóa khác nhau. Nên mỗi tổ chức cũng cần xây
dựng những quan điểm, nguyên tắc làm việc phù hợp với môi trường đa văn hóa
trong bối cảnh mới này.
Quan điểm, nguyên tắc làm việc trước hết phải tuân thủ những quy định pháp
luật Việt Nam, tôn trọng nền văn hóa Việt Nam, tôn trọng sự khác biệt trong giao
20

tiếp, ứng xử của mỗi cá nhân tuy nhiên vẫn phải đảm bảo thuần phong mỹ tục,

21

thẩm mỹ hành vi phù hợp với các giá trị văn hóa của tổ chức đề ra. Đảm bảo hài
hòa lợi ích các bên trên cơ sở trao đổi, thỏa thuận để thực hiện các nhiệm vụ phù
hợp với khả năng, điều kiện thực tế và bối cảnh vì mục tiêu chung của tổ chức.
Trong phân công và phối hợp thực hiện các nhiệm vụ:
Sự hiện diện của môi trường đa dạng về văn hóa trong một tổ chức mang lại
một nền tảng rõ ràng cho các nhà quản lý nguồn nhân lực của tổ chức để nâng cao
kỹ năng của họ trong việc quản lý lực lượng lao động. Đối với nhà quản lý, khi
phân công công việc trong tổ chức, những nhiệm vụ cần làm việc với các đối tác có
sự khác biệt về văn hóa cần chú trọng lựa chọn người có am hiểu về văn hóa, đất
nước, con người họ; đặc biệt người có khả năng giao tiếp ứng xử và sử dụng tốt
ngôn ngữ của đối tác.
Thiết lập các nhóm làm việc chung, cần cố gắng tìm kiếm sự tương đồng về
văn hóa ví dụ như nhóm nói tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha; nhóm theo giới tính,
tôn giáo, tín ngưỡng; nhóm theo châu lục, quốc gia, vùng, miền... lưu tâm đến thói
quan văn hóa trong ăn ở, sinh hoạt, sức khỏe, giới tính, thậm chí quan điểm chính
trị. Nếu vẫn có sự khác biệt thì ưu tiên tránh sự xung đột về văn hóa, bởi vì văn hóa
là hồn cốt của mỗi con người, mỗi quốc gia, dân tộc. Một nhóm người làm việc có
sự khác biệt về văn hóa sẽ đưa ra cách xử lý vấn đề độc đáo và khác biệt nhằm
nâng cao khả năng giải quyết vấn đề của nhân viên và từ đó tạo điều kiện thuận lợi
cho việc ra quyết định nhanh chóng và suôn sẻ. Trong môi trường làm việc có nền
văn hóa đa dạng sẽ có được nhiều cơ hội để đổi mới và sáng tạo của lực lượng lao
động và từ đó tạo ra những con người kiến tạo sẽ giải quyết kịp thời, nhanh chóng
trong tổ chức, xử lý các công việc.
Tổ chức sắp xếp công việc theo sở trường và chuyên môn của các nhóm công
tác phù hợp trình độ năng lực, kinh nghiệm, mối quan hệ…có thể bổ sung, trợ giúp
nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ mới hiệu quả, khuyến khích tối đa các lợi
thế về văn hóa, tập quán, sở thích cá nhân của các thành viên trong phân công xử lý
22

công việc, khơi dậy niềm đam mê, yêu thích công việc của các thành viên, tạo sự

23

gắn kết, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng các nguyên tắc làm việc chung, cởi mở, thoải
mái trong khuôn khổ kỷ luật; Cố gắng hạn chế tối đa những rủi ro đến từ các yếu tố
xung đột văn hóa, Tôn giáo, chính trị ảnh hưởng đến kết quả công việc.
Trong quá trình thực hiện công việc cần trao đổi, thảo luận, đối thoại tránh đối
đầu, cạnh tranh, tôn trọng các khác biệt về quan điểm, nhận thức trên tinh thần
khiêm nhường, lắng nghe, thấu hiểu lẫn nhau để đi đến kết luận thống nhất; sự khác
biệt đôi khi là yếu tố thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo thông qua nhiều cách tiếp
cận, các quan điểm độc đáo để đi đến hướng giải quyết vấn đề tốt nhất.
Trong quá trình thực thi công vụ trong bối cảnh đa văn hóa tuyệt đối không
chỉ trích, bài xích lẫn nhau khi có nhiều khác biệt về văn hóa, phong tục, tập quán,
tôn giáo, tín ngưỡng; nhà quản lý cần theo dõi để quản lý, xử lý thấu đáo, hài hòa
các xung đột văn hóa nếu có.
Giải quyết các xung đột khi thực hiện các nhiệm vụ trong môi trường đa văn
hóa.
Quá trình làm việc trong môi trường đa văn hóa khó tránh khỏi những xung
đột, mâu thuẫn, nhà quản lý cần nghiên cứu, tìm hiểu để xác định được các đặc
điểm giống và khác nhau giữa các nền văn hóa trong môi trường công vụ. Có thể
thông qua các sự kiện, các buổi giao lưu nhóm nhỏ để chủ động giới thiệu về đặc
thù văn hóa của nhau, chia sẻ và thấu hiểu. Ở đó tất cả mọi người đều cảm thấy
mình được bình đẳng, tôn trọng. Tổ chức, xử lý công việc trong môi trường đa văn
hóa thường dễ nảy sinh xung đột và không phải dễ dàng giải quyết được bởi có
những giá trị cộng đồng văn hóa này thừa nhận nhưng lại phi chuẩn mực với cộng
đồng văn hóa khác. Do đó các bên liên quan làm việc trong môi trường đa văn hóa
cần phải phát hiện, chấp nhận và điều chỉnh sự khác biệt về văn hóa để tạo được sự
đồng thuận, thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu chung, hay nói cách khác mỗi cá
nhân cũng như tổ chức cần phải "khoan dung văn hóa" trong quá trình giải quyết
các xung đột trong môi trường đa văn hóa. Thực tiễn cho thấy khoan dung văn hóa
24

đã và đang được cộng đồng thế giới thừa nhận là một trong những nguyên tắc cơ

25

bản ứng xử giữa các cộng đồng văn hóa trên phạm vi toàn cầu, với người Việt
Nam, khoan dung không chỉ là sự chấp nhận sự khác biệt, tôn trọng và đề cao sự đa
dạng, phong phú của các nền văn hóa khác nhau trên thế giới, hay độ lượng tha thứ
cho kẻ lỗi lầm, mà khoan dung còn trở thành một cảm hứng sống bền vững trong
chiều sâu tâm thức của con người Việt Nam trong lao động, sản xuất cùng với các
nền văn hóa khác nhau.
Khi xung đột cần tìm hiểu rõ nguyên nhân thông qua việc tạo sự gần gũi, giao
lưu, trò chuyện cởi mở để các bên chia sẻ, tôn trọng văn hóa sống, văn hóa làm
việc, ứng xử của nhau. Khi có bất đồng, căng thẳng với sự khác biệt văn hóa cần
bình tĩnh, kiềm chế cảm xúc, nhẫn nại phân tích với thái độ ôn hòa, tôn trọng và
bình đẳng. Mọi cuộc đối thoại đều khuyến khích sự khoan dung và sự tôn trọng đối
với người khác, đồng thời thừa nhận và tuân thủ sự đa dạng văn hóa.
Đánh giá kết quả thực hiện công việc trong môi trường đa văn hóa
Kết quả thực hiện công việc trong môi trường đa văn hóa là thành quả của sự
nỗ lực của tất cả mọi thành viên ở các nền văn hóa khác nhau, việc coi trọng, tôn
trọng giá trị đánh giá cũng được nhìn nhận ở khía cạnh khác nhau, tuy nhiên tâm lý
thông thường đều mong muốn được ghi nhận, thừa nhận những nỗ lực của bản thân
nên trong tổ chức nhà quản lý đánh giá công việc dựa trên tình hình thực tế, với
những tiêu chí cụ thể, rõ ràng, công khai minh bạch.
Đánh giá hiệu quả việc tổ chức, xử lý công việc thường xuyên để có sự điều
chỉnh phù hợp, hiệu quả hơn là việc làm cần thiết của nhà quản lý trong môi trường
đa văn hóa. Cách thức đánh giá kết quả thực hiện công việc trong môi trường đa
văn hóa phải đảm bảo dân chủ, không thiên vị, đảm bảo công bằng sẽ tạo động lực
cho người lao động. Thông qua đánh giá nhà quản lý có cơ sở để khen thưởng
những cá nhân một cách công bằng, họ sẽ có động lực nỗ lực hơn nữa và tạo ra một
môi trường văn hóa làm việc tích cực. Thái độ và hành vi tích cực của mọi người
làm việc trong môi trường đa văn hóa là kết quả của kỹ năng quản lý hiệu quả và
26

tích cực của bộ máy lãnh đạo, quản lý. Kiến tạo nền văn hóa tích cực trong môi

27

trường đa văn hóa là điều cần thiết để nuôi dưỡng niềm tự hào và tinh thần cống
hiến của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày càng cao.
Tóm lại, cốt lõi trong việc tổ chức làm việc trong môi trường đa văn hóa: tìm
điểm chung tương đồng văn hóa lớn nhất, tạo sự đồng thuận, thống nhất bằng quy
tắc ứng xử hài hòa, tôn trọng của các bên trong môi trường làm việc chung, tất cả
hướng tới kết quả công việc tốt đẹp, quan hệ tin cậy, thân thiện; xử lý thông minh,
mềm dẻo khi có sự xung đột về văn hóa của các thành viên bằng thái độ ôn hòa, tôn
trọng, kiềm chế cảm xúc và nhượng bộ đúng mực để thỏa mãn tối đa các dặc thù
văn hóa khác nhau mà không phương ...
 
Gửi ý kiến