TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO TƯ GÓC NHÌN VĂN HÓA

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:01' 30-12-2024
Dung lượng: 4.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:01' 30-12-2024
Dung lượng: 4.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TRUYÖN Cæ
D¢N TéC DAO
Tõ GãC NH×N V¡N HãA
TRẦN THỊ NGỌC ANH
NGÔ PHƢƠNG THẢO
TRUYÖN Cæ
D¢N TéC DAO
Tõ GãC NH×N V¡N HãA
TRẦN THỊ NGỌC ANH
NGÔ PHƢƠNG THẢO
TRẦN THỊ NGỌC ANH - NGÔ PHƢƠNG THẢO
TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NĂM 2019
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
02 - 177
MÃ SỐ:
ĐHTN - 2019
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
Trần Thị Ngọc Anh
Truyện cổ dân tộc Dao từ góc nhìn văn hóa / Trần Thị Ngọc
Anh, Ngô Phƣơng Thảo. - H. : Đại học Thái Nguyên, 2019. - 300tr.;
21cm
ISBN 9786049158919
1. Nghiên cứu văn học 2. Văn học dân gian 3. Truyện cổ
4. Dân tộc Dao 5. Việt Nam
398.209597 - dc23
NGM0006p-CIP
4
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................. 9
CHƢƠNG 1. TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO TRONG
KHÔNG GIAN VĂN HÓA DAO ................................................. 15
1.1. Vài nét về dân tộc Dao ................................................. 15
1.1.1. Nguồn gốc lịch sử .............................................................. 15
1.1.2. Trang phục truyền thống ................................................... 18
1.1.3. Phƣơng thức sinh hoạt ....................................................... 24
1.2. Truyện cổ dân tộc Dao trong không gian
văn hóa Dao. ....................................................................... 27
1.2.1. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học ............................. 28
1.2.2. Khái niệm truyện cổ........................................................... 45
1.2.3. Truyện cổ Dao - “Gƣơng mặt” của văn hóa Dao............49
CHƢƠNG 2. TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO VỚI
NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC SẮC.................................... 73
2.1. Bức tranh phong tục độc đáo trong văn hóa
của ngƣời Dao..................................................................... 74
2.2. Văn hóa tâm linh của ngƣời Dao ............................... 105
2.3. Khát vọng lí giải và làm chủ tự nhiên của
ngƣời Dao ......................................................................... 140
5
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
CHƢƠNG 3. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA DÂN TỘC DAO QUA TRUYỆN CỔ
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN ................ 161
3.1. Một số vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy
giá trị văn học các dân tộc thiểu số trong bối cảnh
hội nhập và phát triển ....................................................... 161
3.1.1. Bối cảnh hội nhập - phát triển và cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0 ................................................................161
3.1.2. Một số vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy
giá trị văn học các dân tộc thiểu số ...........................................173
3.2. Thực trạng bảo tồn và phát huy truyện cổ dân
tộc Dao ............................................................................. 194
3.3. Định hƣớng giải pháp bảo tồn và phát huy giá
trị truyện cổ dân tộc Dao trong bối cảnh hội nhập
và phát triển ...................................................................... 230
3.3.1. Cơ sở xây dựng giải pháp ................................................230
3.3.2. Đề xuất một số giải pháp .................................................238
3.4. Một số kiến nghị về công tác bảo tồn và phát
huy giá trị văn hóa Dao qua truyện cổ .............................. 244
THAY LỜI KẾT .......................................................................... 249
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 255
6
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
PHỤ LỤC: TÓM TẮT MỘT SỐ TRUYỆN CỔ
DÂN TỘC DAO .......................................................................... 259
1. Truyện “Ông Bành Tổ và cụ Dắc Lão”................................259
2. Truyện “Nối số”......................................................................260
3. Truyện “Gia đình nghèo”.......................................................261
4. Truyện “Nông dân và Nhà vua” ...........................................262
5. Truyện “Đàn lợn còi” .............................................................263
6. Truyện “Chuyện tình Txiều Hầu và Lò Xử Ní”..................264
7. Truyện “Vợ chồng tiều phu” .................................................266
8. Truyện “Sự tích vết nứt trên mai cua”.................................267
9. Truyện “Sự tích củ mài” ........................................................268
10. Truyện “Cây thài lài và thần Mặt Trời” .............................270
11. Truyện “Chang Lọ Có và thần Sét”....................................271
12. Truyện“Fụ Hây Chấy Mụi và nạn hồng thủy” ..................272
13. Truyện “Sự tích loài chim Tham Cang - Púng táng”........276
14. Truyện “Chàng tiều phu trong hang đá” ............................278
15. Truyện “Cô gái lƣời” ...........................................................280
16. Truyện “Chàng bọ hung” ....................................................281
17. Truyện “Nàng ve cô đơn”....................................................283
7
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
18. Truyện “Chiếc sừng nai” .....................................................285
19. Truyện “Tráng sĩ Nhân Quý”..............................................288
20. Truyện “Con cáo mèo” ........................................................290
21. Truyện “Cha nuôi” ...............................................................293
22. Truyện “Cây vàng cây bạc” ................................................295
23. Truyện “Mồ côi và nàng tiên”.............................................297
24. Truyện “Quả dƣa thối” ........................................................298
8
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
LỜI NÓI ĐẦU
Văn học cổ truyền là sáng tác của tập thể nhân dân, là nơi
hội tụ tinh hoa mọi mặt của quần chúng lao động qua trƣờng kì
lịch sử. Mỗi dân tộc trên mảnh đất Việt Nam đều có một nền
văn học cổ truyền của riêng mình, sản phẩm tinh thần ấy hình
thành và phát triển từ xa xƣa, đƣợc lƣu truyền cho đến ngày
nay. Chúng tạo thành một nền văn học truyền thống của các
dân tộc thiểu số Việt Nam phong phú và sinh động.
Dân tộc Dao thuộc nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Họ
thƣờng tập trung sinh sống ở những tỉnh miền núi nhƣ Cao
Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà
Giang, Sơn La,... Tìm hiểu về văn hóa dân tộc Dao, có rất
nhiều chuyên luận, công trình, sách báo đã nghiên cứu về vấn
đề này, nhƣng hầu hết các công trình nghiên cứu mới dừng lại
ở mức độ giới thiệu khái lƣợc. Có thể điểm qua một số công
trình sau: Thế kỉ XVIII nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784)
có tác phẩm “Kiến văn tiểu lục”; Tiến sĩ Hoàng Bình Chính có
9
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
tác phẩm “Hưng Hóa xứ - Phong thổ lục” (1778); và nhà sử
học Phạm Thận Duật có tác phẩm “Hưng Hóa ký lược” (1856).
Các học giả này chỉ đề cập rất khái lƣợc về dân tộc Dao và một
số phong tục tập quán của ngƣời Dao, chƣa nghiên cứu sâu về
các tập tục trong văn hóa Dao.
Vào đầu thế kỉ XX, đã có một số nhà nghiên cứu ngƣời
Pháp tìm hiểu về ngƣời Dao, tiêu biểu là nhà nghiên cứu
A.Bofinacy, vốn là một sĩ quan quân đội Pháp đóng ở vùng
thƣợng du Bắc Kỳ. Ông sống trong khu vực cƣ trú của ngƣời
Dao nên đã nghiên cứu và xuất bản chuyên khảo “Một chuyến
điền dã vùng đất người Mán” năm 1901. Tuy nhiên chuyên
khảo này cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu mang tính sơ lƣợc
về dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc Dao.
Từ những năm 1970 trở lại đây có khá nhiều các nhà khoa
học nghiên cứu về ngƣời Dao ở Việt Nam. Tiêu biểu trong đó
có Triệu Hữu Lý với các tác phẩm về truyện thơ của ngƣời Dao
nhƣ: “Tín ca”, “Bàn Vương ca”, “Truyện Đặng Hành và Bàn
Đại Hộ”, “Bình Hoàng Khoán Điệp”; các nhà nghiên cứu Bế
Viết Đẳng - Nguyễn Khắc Tụng - Nông Trung - Nguyễn Nam
Tiến với công trình “Người Dao ở Việt Nam”; Trần Quốc
Vƣợng với tác phẩm “Quá Sơn Bảng văn”, nghiên cứu về
10
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
nguồn gốc ngƣời Dao ở Việt Nam với các đợt di cƣ từ Trung
Quốc đến Việt Nam. Gần đây nhất có các công trình nghiên
cứu của Tiến sĩ Trần Hữu Sơn với các tác phẩm “Lễ cưới người
Dao tuyển” (2002), “Tục ngữ câu đố Dao” (2001), “Thơ ca
dân gian người Dao Tuyển” (2005). Cùng với đó, các chuyên
khảo của nữ Tiến sĩ ngƣời dân tộc Dao Bàn Thị Quỳnh Dao (và
một số tác giả) nhƣ Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển (2017),
Thơ Bàn Tài Đoàn - Tiếng nói tâm hồn đích thực người Dao
(2012), Dấu ấn văn hóa Tày trong tiểu thuyết Vi Hồng (2016),
Tín ngưỡng của người Dao tuyển trong dân ca nghi lễ vòng
đời (2018)… cũng đã góp phần vào việc phục dựng bức tranh
văn hóa độc đáo của ngƣời Dao.
Nhà thơ dân tộc Dao tiêu biểu Bàn Tài Đoàn (Bài Tài
Tuyên) sinh ra và lớn lên tại tỉnh Cao Bằng đã sáng tác 13 tập
thơ, với một số tập nổi bật nhƣ Một giấc mơ (1964), Kể chuyện
đời (1968), Tháng Tám đổi mới (1971), Rừng xanh (1973),
Sáng cả hai miền (1975), Gửi đồng bào Dao (1979), Nơi ta ở
(1979). Thơ của ông mang đậm hơi thở vùng sơn cƣớc. Bản sắc
văn hóa dân tộc Dao đƣợc phản ánh rất rõ trong thơ ca của ông
qua hình ảnh thiên nhiên và các phong tục tập quán nhƣ cƣới
hỏi, lễ tết, tang ma,... Bàn Tài Đoàn là ngƣời có công lớn trong
11
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
việc đặt nền móng cho thơ ca dân tộc Dao thời kỳ hiện đại nói
riêng và văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại
nói chung.
Từ các công trình đã đọc, chúng tôi nhận thấy: Cho đến
nay chƣa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về truyện
cổ dân tộc Dao từ góc nhìn văn hóa. Dân tộc Dao mặc dù
đƣợc tìm hiểu nhiều qua các công trình nghiên cứu, sách
chuyên khảo nhƣng các tác giả chủ yếu tập trung khai thác ở
mảng thơ ca dân tộc Dao. Truyện cổ dân tộc Dao đƣợc các
tác giả khai thác nhƣng chỉ ở mức sƣu tầm và dịch thuật các
câu chuyện mà chƣa nghiên cứu đặc điểm cụ thể của từng
truyện cổ để làm nổi bật đặc điểm tiêu biểu của văn hóa dân
tộc Dao.
Có thể nói, văn hóa, văn học dân tộc Dao đã trở thành
một bộ phận quan trọng trong sự phát triển đa dạng của văn hóa
Việt Nam. Nghiên cứu văn hóa truyền thống của ngƣời Dao sẽ
cung cấp một cách nhìn toàn diện, tổng thể về văn hóa truyền
thống của ngƣời Dao, từ đó đánh giá đúng giá trị văn hóa tiêu
biểu đã và đang tồn tại trong không gian và thời gian. Đặc biệt,
truyện cổ dân tộc Dao là nơi lƣu giữ tƣơng đối nhiều giá trị tinh
12
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
thần cốt lõi và bản sắc độc đáo của dân tộc. Nghiên cứu về
truyện cổ dân tộc Dao nói riêng và văn hóa tinh thần của dân
tộc Dao nói chung là việc làm hết sức cần thiết. Hoạt động này
không chỉ khám phá cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số
mà còn góp phần quảng bá hình ảnh con ngƣời, phong tục tập
quán của ngƣời dân tộc thiểu số đến với du khách trong và
ngoài nƣớc. Vì vậy, nghiên cứu truyện cổ dân tộc Dao là một
trong những hoạt động quan trọng góp phần lƣu giữ và phát
huy những giá trị tốt đẹp của đồng bào dân tộc Dao. Chuyên
khảo “Truyện cổ dân tộc Dao từ góc nhìn văn hóa” sẽ giúp
ngƣời đọc hiểu thêm về nguồn gốc, nếp sống và những phong
tục tập quán độc đáo... của ngƣời Dao. Tuy chƣa thật đầy đủ
song, chúng tôi mong rằng cuốn sách sẽ là nguồn tƣ liệu quý,
có ý nghĩa thực lý luận và thực tiễn phục vụ cho công tác
nghiên cứu khoa học và đặc biệt là nghiên cứu bảo tồn, phát
triển giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Dao trong đời sống
các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay.
Cuốn sách này là một phần sản phẩm khoa học của đề tài
nghiên cứu “Những giải pháp cấp bách về bảo tồn và phát huy
các giá trị văn học cổ truyền của dân tộc thiểu số Việt Nam
13
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
trong bối cảnh hội nhập và phát triển” (CTDT.30.17/16-20).
Chúng tôi trân trọng cảm ơn Ủy ban Dân tộc, Văn phòng
chƣơng trình dân tộc CTDT 16 - 20, Nhà xuất bản Đại học Thái
Nguyên đã đồng hành cùng chúng tôi để hoàn thành nội dung
cuốn sách này. Chúng tôi mong tiếp tục nhận đƣợc những ý
kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách đƣợc hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn!
NHÓM TÁC GIẢ
14
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
CHƯƠNG 1
TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO
TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA DAO
1.1. Vài nét về dân tộc Dao
1.1.1. Nguồn gốc lịch sử
Đất nƣớc Việt Nam là nơi hội tụ của 54 dân tộc anh em.
Trải qua hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, cộng đồng
các dân tộc Việt Nam đã gắn bó ruột thịt với nhau, đoàn kết
vƣợt qua mọi khó khăn, thử thách để sinh tồn và phát triển.
Trên hành trình lịch sử, mỗi dân tộc lại tạo ra những yếu tố văn
hóa, văn học có bản sắc riêng, có giá trị riêng đƣợc thể hiện
trong các mặt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Sự chi
chút những giá trị tinh thần của lớp lớp thế hệ đã tạo nên kho
tàng tri thức rộng lớn, có trữ lƣợng dồi dào, có ảnh hƣởng
mạnh mẽ đến cuộc sống của mọi thế hệ con ngƣời trên mảnh
đất Việt Nam.
15
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Ngƣời Dao di cƣ từ các tỉnh miền Nam Trung Quốc nhƣ
Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam sang cƣ trú ở
Việt Nam từ nhiều thời kỳ khác nhau, đi bằng đƣờng thủy hoặc
đƣờng bộ. Theo truyền thuyết của ngƣời Dao kể lại rằng: Một
năm hạn hán đói rét, ngƣời Dao phải đốt lửa sƣởi, khi đi soi cá,
do vô ý làm cháy cái Cầu Vàng của nhà vua, nhà vua định chu
di tam tộc, nhƣng may thay nhờ có quan đại thần xin tha từ tội
chết xuống mức đuổi cả bộ tộc đi biệt xứ. Đặng Thị Hành, Bàn
Vân Hội và Triệu Thông là ba ngƣời dẫn đầu đoàn ngƣời Dao
sang Việt Nam tìm đất cƣ trú. Vì ngôn ngữ bất đồng, binh lính
Việt Nam tƣởng họ là giặc nên đã bắt giam một thời gian, về
sau do đọc đƣợc “Giấy thông hành” của họ, biết họ là dân
lành, vua Lê đã hạ chỉ chăm sóc cho họ khỏe mạnh và cử 300
binh lính dẫn họ ngƣợc theo sông Hồng đi tìm miền đất sống.
Đến cửa Ba Hạc, thấy có ba con suối lớn, với kinh nghiệm du
canh du cƣ, biết trƣớc từ đây đổ ngƣợc là miền sơn cƣớc, đất
rừng màu mỡ thích hợp với cuộc sống đốt nƣơng làm rẫy, họ
trở về Trung Quốc đóng bảy chiếc thuyền, quyết định tổ chức
cho các họ tộc ngƣời Dao vƣợt biển Móng Cái - Quảng Ninh
vào cửa sông Hồng rồi ngƣợc sông lên vùng đất đã chọn. Tuy
nhiên, khi vƣợt biển họ gặp sóng to gió lớn, bốn chiếc thuyền
16
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
của họ bị gió đánh bật ra khơi xa. Họ hoảng sợ nhảy lên xin
khất với trời phật, thánh thần để cho đƣợc sống sau này sẽ làm
lễ để tạ ơn cứu mạng. Riêng thuyền họ Triệu bị gió đánh mạnh
ra khơi xa hơn nên dạt vào bờ biển Thanh Hóa, còn các họ khác
dạt vào cửa sông Hồng. Từ đó, họ bỏ thuyền lên bờ sinh sống
và làm lễ thề nguyện sẽ cƣu mang, đùm bọc lẫn nhau.
Dân tộc Dao là dân tộc có số dân đứng hàng thứ chín
trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, với gần một triệu ngƣời.
Ngƣời Dao cƣ trú tại các bản làng miền rừng núi trải rộng từ
phía Bắc nhƣ Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai
Châu, Tuyên Quang,... đến một số tỉnh trung du nhƣ: Thái
Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và gần đây mới có một
số nhỏ chuyển vào sinh sống ở khu vực Tây Nguyên. Ngƣời
Dao có nhiều nhóm khác nhau phân biệt theo vùng. Tên gọi các
nhóm Dao dựa vào nhiều yếu tố không chỉ là phong tục, tập
quán mà còn dựa trên trang phục và những đặc điểm truyền
thống bên ngoài,
Ngƣời Dao hình thành và du nhập vào Việt Nam trên cơ
sở thực tiễn lịch sử. Đó là quá trình thiên di từ Trung Hoa sang
nƣớc ta. Vì vậy nhiều câu chuyện tái hiện lại cuộc hành trình
của ngƣời Dao từ thuở đi khai hoang, lập địa. Thực chất ngƣời
17
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Dao sống theo lối du canh du cƣ, di chuyển qua nhiều miền đất.
Phần lớn họ sống trên núi cao và phân thành các nhóm nhỏ lẻ.
Tuy nhiên theo lối sống linh hoạt nên ngƣời Dao chịu ảnh
hƣởng văn hóa của nhiều vùng miền. Điều này góp phần hình
thành nền văn hóa Dao phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc.
1.1.2. Trang phục truyền thống
Trang phục truyền thống thể hiện nét đẹp cao quý của mỗi
dân tộc. Đó là sản phẩm đƣợc tạo ra từ đôi bàn tay khéo léo và
sáng tạo của bà con dân tộc thiểu số. Đối với ngƣời Dao trang
phục truyền thống làm nổi bật những đặc trƣng của dân tộc, là
minh chứng cho sự hình thành và phát triển từ bao đời của dân
tộc Dao. Vì vậy, dân tộc Dao là một trong số các dân tộc mà
trang phục của đồng bào đƣợc đánh giá cao về chất liệu và hình
thức thẩm mỹ.
Trang phục của ngƣời phụ nữ Dao mang nhiều nét đẹp cổ
truyền với áo dài, áo con, khăn đội đầu, dây lƣng, xà cạp và
trang sức bằng bạc. Mỗi trang phục có năm màu cơ bản: Đỏ,
xanh, trắng, vàng, đen, trong đó chủ yếu là màu đỏ. Theo quan
niệm của ngƣời Dao, màu đỏ mang lại hạnh phúc, may mắn,
đầy đủ và tạo ra năng lƣợng tích cực cho con ngƣời.
18
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
Váy của phụ nữ Dao thƣờng may bằng vải bông chàm
trang trí nhiều hoa văn kín cả thân váy. Váy gồm sáu mảnh,
khâu thành hai mảnh lớn hở, không khép mĩ. Cạp váy đƣợc
viền bằng vải màu trắng. Vòng cạp rộng tùy vòng bụng. Nền
chàm in nhiều hoa văn xanh lơ, có hoa văn chính. Hoa văn là
các vòng tròn có vạch chéo qua tâm giống nhƣ bánh xe, hình
dích dắc. Hoa văn gồm hai loại: Là các đƣờng thẳng song song
và là các đƣờng gấp khúc song song.
Khi mặc, ngƣời Dao choàng váy từ trƣớc ra sau rồi thít
chặt cạp váy, hai rìa váy giáp nhau lệch một bên. Ngƣời phụ
nữ Dao thƣờng tự vẽ các hoa văn trên váy. Bút vẽ là một đoạn
tre bánh tẻ vót nhọn hay một lƣỡi sắt gắn chặt vào cán, mực
vẽ bằng sáp ong. Mỗi buổi tối sau bữa ăn ngƣời phụ nữ
thƣờng ngồi cạnh bếp hơ cho sáp ong nóng chảy, lấy ngòi bút
chấm vẽ lên mặt vải.
Chiếc áo là điểm nhấn và là phần quan trọng nhất của bộ
trang phục. Ngƣời Dao thƣờng dùng vải lanh nhuộm chàm để
may trang phục. Công đoạn nhuộm chàm khá cầu kỳ đòi hỏi sự
kiên trì và kinh nghiệm. Để đƣợc một tấm vải ƣng ý, bền và
không bị phai màu thì vải sau khi dệt xong sẽ ngâm trong nƣớc
lá chàm khoảng 30 phút. Sau đó, đem phơi khô rồi lại tiếp tục
19
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
đƣa vào nhuộm nƣớc lá chàm một lần nữa. Công đoạn này kéo
dài khoảng một tháng.
Phụ nữ ngƣời Dao thƣờng chỉ mặc áo dài có màu đen
hoặc màu chàm. Họ thêu kín các họa tiết trang trí bằng chỉ màu
đỏ để nẹp cổ liền với ngực thân áo. Đặc biệt, hai đầu của nẹp
ngực đƣợc đính nhiều chuỗi hạt cƣờm và tua đỏ sặc sỡ.
Áo có hai loại: Áo đơn và áo kép. Áo đơn là áo dùng hàng
ngày, áo kép dùng trong các dịp lễ hội. Về hình thức và hoa
văn trang trí giống nhau. Gắn liền với những chiếc áo dài, phụ
nữ Dao mặc những áo con bên trong. Những chiếc áo con này
giống nhƣ những cái yếm để che kín phần ngực và bụng, yếm
có những đƣờng thêu bằng chỉ trắng hoặc vàng. Mỗi thân áo
đƣợc đính một dải vải nhỏ để làm dây buộc phía sau lƣng.
Xà cạp là một trong những chi tiết đƣợc trang trí nhiều
nhất trong trang phục của ngƣời Dao. Đây là một khổ vải trắng
dài từ 100 - 120cm, rộng 1cm. Hai đầu xà cạp buộc hai sợi dây
dùng để buộc khi sử dụng. Một đầu xà cạp chừa ra một đoạn
vải trắng, phần giữa trang trí hoa văn bằng chỉ màu đen. Phần
còn lại dài suốt từ đầu này đến đầu kia đƣợc thêu hình xƣơng
cá. Xung quanh mép đƣợc viền bằng vải trắng. Xà cạp đƣợc
20
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
cuốn từ bọng đầu gối xuống gần cổ chân rồi lại cuốn lên đến
gần đầu gối. Nếu chân bên này cuốn theo chiều kim đồng hồ thì
chân bên kia cuốn ngƣợc lại.
Ảnh 1. Trang phục của đồng bào dân tộc Dao
Nét đặc sắc trong trang phục ngƣời Dao là những họa tiết hoa
văn trang trí. Với mô típ là những hình ảnh quen thuộc, gần gũi
đời sống nhƣ: Hoa lá, cỏ cây, rừng núi, loài động vật... Do đó,
mỗi bộ trang phục khác nhau ở hoa văn, ngƣời thêu luôn sử
dụng các gam màu phù hợp và sắp xếp bố cục hài hòa.
Để biết đƣợc độ tinh xảo, kỹ thuật thêu cầu kỳ phải kể đến
chiếc quần. Phía trên quần màu đen tuyền, không có hoa văn,
21
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
nhƣng ở phía dƣới, họa tiết đƣợc thêu rất tỷ mỷ. Những hoa
văn trang trí ở hai ống quần thƣờng là hình vuông, hình chữ
nhật màu đỏ, vàng, trắng hay hình cây thông, hình quả trám...
tạo nên sự cân đối hài hòa cho toàn bộ trang phục.
Khăn đội đầu là một trong những điểm không thể thiếu
trong trang phục của phụ nữ ngƣời Dao. Khăn đƣợc trang trí
bằng nhiều họa tiết nhƣ: Cây vạn hoa, hình cách đoạn, hình vết
hổ... Khi đội khăn, ngƣời ta búi tóc trên đỉnh đầu hơi lệch về
phía trƣớc trán, khăn đƣợc chia đôi, phần chính giữa chùm lên
búi tóc, còn hai đầu khăn vắt chéo sau gáy rồi buộc ngƣợc ra
đằng trƣớc, hai đầu khăn lại vắt chéo nhau và mỗi đầu khăn
đƣợc gấp làm đôi vắt ngƣợc sang tai bên kia. Các hoa văn họa
tiết sẽ phô ra ngoài, làm tăng thêm vẻ đẹp của chiếc khăn.
Trang phục ngƣời Dao ở mỗi địa phƣơng cơ bản đều giống
nhau, tuy nhiên cũng có những điểm khác biệt tạo nên sự
phong phú, đa dạng trong sắc màu văn hóa Dao. Khác biệt
nhiều nhất thƣờng tập trung trong cách mặc, vấn khăn, xà cạp
và thêm bớt các chi tiết... Điển hình nhƣ: Trang phục ngƣời
Dao đỏ ở một số nơi thƣờng có chuỗi quả bông len hình tròn
màu đỏ treo trƣớc ngực. Số lƣợng và kích cỡ tùy quan niệm
mỗi vùng. Phụ nữ Dao thƣờng tự tay làm trang phục với các
22
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
công đoạn rất tỉ mỉ, đòi hỏi sự kiên trì và khéo léo. Trƣớc khi
về nhà chồng, các cô gái Dao thƣờng ở nhà tập trung cho việc
thêu thùa, khâu vá, hoàn thành bộ trang phục của riêng mình.
Đối với nam giới, trang phục gồm khăn đội đầu, áo và
quần. Khăn đội đầu của nam giới gồm hai loại khăn đội bên
trong và khăn đội bên ngoài.
Khăn đội bên trong là khăn dài giống nhƣ khăn của nữ
giới. Khi đội, khăn đƣợc gấp đôi buộc lên đầu theo kiểu “đầu
rìu” để dùng thƣờng ngày. Còn khăn đội bên ngoài là khăn
dùng trong đám cƣới. Trong lễ cƣới chú rể phải phủ bên ngoài
một chiếc khăn hình chữ nhật dài khoảng 38 - 40cm rộng 20 30cm, có nhiều hoa văn trang trí phân bố trên toàn mặt khăn.
Khăn làm bằng vải màu chàm. Viền xung quanh bằng vải trắng,
toàn bộ phần trang trí trên mặt khăn nằm trong khung hình chữ
nhật. Hoa văn thêu trên mặt khăn là các hình hoa 8 cánh, hình
chữ thập, hình quả trám. Các hoa văn đƣợc thêu bằng các gam
màu: đỏ, trắng, vàng.
Áo nam giới cũng nhƣ áo nữ giới gồm hai loại áo đơn và
áo kép, hoa văn trang trí giống nhau. Quần của nam giới ngƣời
Dao làm bằng vải tự dệt, nhuộm chàm. Dây lƣng to và ngắn
hơn so với nữ giới.
23
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Có thể nói, trang phục của đồng bào dân tộc Dao về màu
sắc và chất liệu đều bắt nguồn từ tự nhiên. Đây là sản phẩm thủ
công đƣợc thêu dệt bởi đôi bàn tay duyên dáng của những
ngƣời phụ nữ Dao. Trang phục chính là điểm nhấn tạo nên bản
sắc riêng của từng đồng bào các dân tộc ở Việt Nam.
1.1.3. Phương thức sinh hoạt
Ngƣời Dao thƣờng sống ở nhà sàn hoặc nhà đất và thƣờng
dùng lịch âm để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt. Nguyên
liệu chính làm nhà thƣờng kiếm tại chỗ, chủ yếu là cây rừng.
Khi đi tìm đất ở mới các chủ nhà đều phải cúng xin gia tiên,
thần linh phù hộ tìm đƣợc nền nhà và vùng đất màu mỡ canh
tác. Đất canh tác sẽ quyết định nơi ở mới. Đất làm nhà thƣờng
ở khe núi, chân núi, ở những bãi đất rộng tƣơng đối bằng
phẳng. Khi di chuyển đến nơi ở mới ngƣời Dao phải mời thầy
cúng cúng thần linh và phải trả lễ cho thầy bằng một bát gạo và
vài hào bạc trắng. Cũng nhƣ ngƣời Kinh, đồng bào ngƣời Dao
rất chú trọng việc chọn tuổi và hƣớng làm nhà. Bởi họ quan
niệm hợp tuổi hợp hƣớng sẽ giúp gia đình làm ăn thuận lợi, nhà
cửa yên ấm. Chủ nhà các tuổi Dần, Mão, Thìn sẽ kiêng ở nhà
hƣớng Đông. Chủ nhà các tuổi Tỵ, Ngọ, Mùi sẽ kiêng ở nhà
hƣớng Nam. Chủ nhà các tuổi Thân, Dậu, Tuất kiêng ở nhà
24
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
hƣớng Tây. Chủ nhà các tuổi Hợi, Tý, Sửu kiêng ở nhà hƣớng
Bắc. Khi tìm đƣợc đất ƣng ý để làm nhà ngƣời Dao sẽ dọn sạch
cây cỏ xung quanh, bổ đoạn nứa thành bốn mảnh cắm bốn góc
mảnh đất tƣợng trƣng cho hàng rào giữ lấy mảnh đất này. Mái
nhà đƣợc lợp bằng lá cọ hoặc phên nứa. Bên ngoài là nền đất,
cối giã gạo đƣợc đặt cạnh cửa ra vào. Từ cửa chính bƣớc vào
gian giữa là bàn thờ gia tiên, gian bên phải là buồng ngủ của
chủ nhà và khách. Gian bên trái là bếp và một khoảng rộng để
cúng bái và nhảy lửa. Đặc biệt sau nhà có một cửa nách cho
phụ nữ đi lại tránh đi qua bàn thờ gia tiên.
Ngày nay, ngƣời Dao sống định cƣ ổn định thành làng bản,
họ phát triển kinh tế nông nghiệp với trồng trọt chăn nuôi là chủ
yếu, ngoài ra còn phát triển nghề thủ công truyền thống nhƣ thêu
dệt thổ cẩm, rèn đúc, làm nghề mộc rất đa dạng để phục vụ cho
cuộc sống gia đình mình. Hiện nay, tỉ lệ nghèo đói ở các gia đình
ngƣời Dao đã giảm đáng kể. Họ đã tiếp cận đƣợc với các dịch vụ
xã hội, khoa học kĩ thuật để áp dụng vào lao động sản xuất
chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng nhƣ lúa, ngô. Con em ngƣời
dân tộc Dao ở các tỉnh miền núi ngày nay đã đƣợc đến trƣờng
nhiều hơn so với trƣớc đây, do vậy trình độ dân trí của ngƣời
Dao ở đây đƣợc nâng cao hơn trƣớc rất nhiều.
25
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Có thể nói, dân tộc Dao với nhiểu bản sắc văn hóa độc đáo
đã trở thành một mảng màu quan trọng trong bức tranh muôn
màu của văn hóa các dân tộc Việt Nam hiện nay. Trong ý nghĩa
đó, việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp
của dân tộc Dao càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Đặc
biệt, trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay, việc nâng
cao ý thức văn hóa dân tộc, trân trọng và quảng bá trên diện rộng
sẽ dự phần tích cực hơn nữa vào công cuộc xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng tinh thần Nghị
quyết của các kì Đại hội từ 1986 đến nay.
Ảnh 2. Nhà ở của người Dao
26
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
1.2. Truyện cổ dân tộc Dao trong không gian văn hóa Dao
Con ngƣời là chủ thể sáng tạo ra văn hoá. Trong suốt lịch
sử hình thành và phát triển của mình, con ngƣời luôn sáng tạo
không ngừng để tạo ra cũng nhƣ khẳng định các giá trị văn
hoá. Điều này đòi hỏi mọi dân tộc, mọi cá nhân, tập thể phải
chung tay xây dựng những không gian văn hóa đặc thù, đặc sắc
để nuôi dƣỡng và lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp của từng
dân tộc và cả dân tộc Việt Nam.
Không gian văn hóa là chiều đồng đại của văn hóa. Nó
dùng để chỉ phạm vi không gian mà ở đó, các chủ thể xây dựng
cũng như có thể trình diễn nền văn hóa của mình. Không gian
văn hóa gần nhƣ tƣơng đƣơng với ý nghĩa là một khu vực, một
lãnh thổ. Nói cách khác, không gian văn hóa chính là hình thức
tồn tại những nét đẹp văn hóa của cộng đồng các dân tộc. Nó
chứa đựng sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể. Mỗi vùng
miền và mỗi dân tộc luôn tạo dựng đƣợc cho mình những không
gian văn hóa riêng, sinh động và độc đáo. Có thể kể đến một số
nét văn hóa đặc sắc nhƣ lễ hội cồng chiêng trong không gian văn
hóa Tây Nguyên, hát quan họ trong không gian văn hóa Kinh
Bắc, hát then trong không gian văn hóa Tày... Không gian văn
27
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
hóa không những là nơi hội tụ tinh hoa dân tộc mà còn trở thành
“miền đất hứa” để những giá trị văn hóa độc đáo tiếp tục sinh
sôi, nảy nở.
Cũng nhƣ cộng đồng các dân tộc thiểu số khác, đồng bào
dân tộc Dao luôn ý thức phục dựng những nét đẹp văn hóa dân
tộc mình qua nhiều phong tục tập quán. Đó là những yếu tố tô
đậm đặc trƣng văn hóa Dao. Nói cách khác không gian văn hóa
Dao đƣợc dệt nên bởi những giá trị truyền thống từ phong cách
sinh hoạt đến những hoạt động tín ngƣỡng lâu đời. Không gian
văn hóa Dao đã trở thành một bảo tàng thu nhỏ với chức năng
bảo tồn đi cùng với phát huy để khẳng định những nét văn hóa
tiêu biểu của đồng bào dân tộc Dao trong cộng đồng các dân tộc
anh em.
1.2.1. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Trong tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa để chỉ học
thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), theo nghĩa
chuyên biệt, văn hóa chỉ trình độ văn minh của loài ngƣời trong
một giai đoạn lịch sử (văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh…).
Sự đa dạng, phức tạp và xu hƣớng hiểu về khái niệm văn hóa
đƣợc thể hiện phần nào qua ý kiến của Federico Mayor, Tổng
28
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
giám đốc UNESCO: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao
gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối
với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm
cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh
vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối
sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng
quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính
sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” [18, tr.5].
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng: “VĂN HÓA
là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình.” [4, tr.25].
Văn hóa dân tộc là một vấn đề rộng lớn rất phong phú và
phức tạp có tác động to lớn đến sự phát triển của dân tộc. Cùng
với nền kinh tế thị trƣờng sẽ là sự tác động của nền văn hóa bên
ngoài vào nền văn hóa dân tộc. Điều này vừa tạo ra thời cơ
những cũng hình thành những thách thức mới, những khó khăn
không nhỏ trong hành trình phát triển và hội nhập thế giới của
đát nƣớc.
29
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và
tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong
quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc. Văn hóa là đời sống tinh thần
của xã hội, là tổng hòa của tất cả các khía cạnh của cuộc sống.
Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt của cuộc sống cũng mang
những dấu hiệu của văn hóa. Văn hóa không phải giá trị cố
định, bất biến mà văn hóa luôn phát triển, biến động cùng chiều
với sự phát triển chung của đất nƣớc. Văn hóa đƣợc coi là mục
tiêu, là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa
đƣợc tồn tại dƣới nhiều hình thức nhƣ: các công trình kiến trúc,
vật dụng, ẩm thực, ngôn ngữ, tập quán, âm nhạc, tôn giáo…
Trong ý nghĩa đó, bản sắc văn hóa dân tộc là sắc thái gốc, là
những đƣờng nét, màu sắc riêng biệt không thể trộn lẫn của
một nền văn hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc tạo nên giá trị cốt lõi
cho mọi sự phát triển. Mỗi cá nhân với tƣ cách là một chủ thể
sáng tạo văn hóa cần ý thức đƣợc việc thống nhất cái riêng của
bản thân mình và cái chung của dân tộc, ý thức đƣợc vài trò và
trách nhiệm của mình đối với dân tộc, quốc gia. Vì vậy, bản sắc
văn hóa dân tộc luôn chứa đựng cả tính nhân loại, cả tính khu
30
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
vực và tính dân tộc và cả những dấu ấn độc đáo của mỗi cá
nhân - mỗi ngƣời con đất Việt.
Về văn hóa cổ truyền, theo các nhà nghiên cứu, từ cổ
truyền...
D¢N TéC DAO
Tõ GãC NH×N V¡N HãA
TRẦN THỊ NGỌC ANH
NGÔ PHƢƠNG THẢO
TRUYÖN Cæ
D¢N TéC DAO
Tõ GãC NH×N V¡N HãA
TRẦN THỊ NGỌC ANH
NGÔ PHƢƠNG THẢO
TRẦN THỊ NGỌC ANH - NGÔ PHƢƠNG THẢO
TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NĂM 2019
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
02 - 177
MÃ SỐ:
ĐHTN - 2019
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
Trần Thị Ngọc Anh
Truyện cổ dân tộc Dao từ góc nhìn văn hóa / Trần Thị Ngọc
Anh, Ngô Phƣơng Thảo. - H. : Đại học Thái Nguyên, 2019. - 300tr.;
21cm
ISBN 9786049158919
1. Nghiên cứu văn học 2. Văn học dân gian 3. Truyện cổ
4. Dân tộc Dao 5. Việt Nam
398.209597 - dc23
NGM0006p-CIP
4
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................. 9
CHƢƠNG 1. TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO TRONG
KHÔNG GIAN VĂN HÓA DAO ................................................. 15
1.1. Vài nét về dân tộc Dao ................................................. 15
1.1.1. Nguồn gốc lịch sử .............................................................. 15
1.1.2. Trang phục truyền thống ................................................... 18
1.1.3. Phƣơng thức sinh hoạt ....................................................... 24
1.2. Truyện cổ dân tộc Dao trong không gian
văn hóa Dao. ....................................................................... 27
1.2.1. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học ............................. 28
1.2.2. Khái niệm truyện cổ........................................................... 45
1.2.3. Truyện cổ Dao - “Gƣơng mặt” của văn hóa Dao............49
CHƢƠNG 2. TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO VỚI
NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC SẮC.................................... 73
2.1. Bức tranh phong tục độc đáo trong văn hóa
của ngƣời Dao..................................................................... 74
2.2. Văn hóa tâm linh của ngƣời Dao ............................... 105
2.3. Khát vọng lí giải và làm chủ tự nhiên của
ngƣời Dao ......................................................................... 140
5
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
CHƢƠNG 3. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA DÂN TỘC DAO QUA TRUYỆN CỔ
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN ................ 161
3.1. Một số vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy
giá trị văn học các dân tộc thiểu số trong bối cảnh
hội nhập và phát triển ....................................................... 161
3.1.1. Bối cảnh hội nhập - phát triển và cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0 ................................................................161
3.1.2. Một số vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy
giá trị văn học các dân tộc thiểu số ...........................................173
3.2. Thực trạng bảo tồn và phát huy truyện cổ dân
tộc Dao ............................................................................. 194
3.3. Định hƣớng giải pháp bảo tồn và phát huy giá
trị truyện cổ dân tộc Dao trong bối cảnh hội nhập
và phát triển ...................................................................... 230
3.3.1. Cơ sở xây dựng giải pháp ................................................230
3.3.2. Đề xuất một số giải pháp .................................................238
3.4. Một số kiến nghị về công tác bảo tồn và phát
huy giá trị văn hóa Dao qua truyện cổ .............................. 244
THAY LỜI KẾT .......................................................................... 249
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 255
6
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
PHỤ LỤC: TÓM TẮT MỘT SỐ TRUYỆN CỔ
DÂN TỘC DAO .......................................................................... 259
1. Truyện “Ông Bành Tổ và cụ Dắc Lão”................................259
2. Truyện “Nối số”......................................................................260
3. Truyện “Gia đình nghèo”.......................................................261
4. Truyện “Nông dân và Nhà vua” ...........................................262
5. Truyện “Đàn lợn còi” .............................................................263
6. Truyện “Chuyện tình Txiều Hầu và Lò Xử Ní”..................264
7. Truyện “Vợ chồng tiều phu” .................................................266
8. Truyện “Sự tích vết nứt trên mai cua”.................................267
9. Truyện “Sự tích củ mài” ........................................................268
10. Truyện “Cây thài lài và thần Mặt Trời” .............................270
11. Truyện “Chang Lọ Có và thần Sét”....................................271
12. Truyện“Fụ Hây Chấy Mụi và nạn hồng thủy” ..................272
13. Truyện “Sự tích loài chim Tham Cang - Púng táng”........276
14. Truyện “Chàng tiều phu trong hang đá” ............................278
15. Truyện “Cô gái lƣời” ...........................................................280
16. Truyện “Chàng bọ hung” ....................................................281
17. Truyện “Nàng ve cô đơn”....................................................283
7
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
18. Truyện “Chiếc sừng nai” .....................................................285
19. Truyện “Tráng sĩ Nhân Quý”..............................................288
20. Truyện “Con cáo mèo” ........................................................290
21. Truyện “Cha nuôi” ...............................................................293
22. Truyện “Cây vàng cây bạc” ................................................295
23. Truyện “Mồ côi và nàng tiên”.............................................297
24. Truyện “Quả dƣa thối” ........................................................298
8
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
LỜI NÓI ĐẦU
Văn học cổ truyền là sáng tác của tập thể nhân dân, là nơi
hội tụ tinh hoa mọi mặt của quần chúng lao động qua trƣờng kì
lịch sử. Mỗi dân tộc trên mảnh đất Việt Nam đều có một nền
văn học cổ truyền của riêng mình, sản phẩm tinh thần ấy hình
thành và phát triển từ xa xƣa, đƣợc lƣu truyền cho đến ngày
nay. Chúng tạo thành một nền văn học truyền thống của các
dân tộc thiểu số Việt Nam phong phú và sinh động.
Dân tộc Dao thuộc nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Họ
thƣờng tập trung sinh sống ở những tỉnh miền núi nhƣ Cao
Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà
Giang, Sơn La,... Tìm hiểu về văn hóa dân tộc Dao, có rất
nhiều chuyên luận, công trình, sách báo đã nghiên cứu về vấn
đề này, nhƣng hầu hết các công trình nghiên cứu mới dừng lại
ở mức độ giới thiệu khái lƣợc. Có thể điểm qua một số công
trình sau: Thế kỉ XVIII nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784)
có tác phẩm “Kiến văn tiểu lục”; Tiến sĩ Hoàng Bình Chính có
9
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
tác phẩm “Hưng Hóa xứ - Phong thổ lục” (1778); và nhà sử
học Phạm Thận Duật có tác phẩm “Hưng Hóa ký lược” (1856).
Các học giả này chỉ đề cập rất khái lƣợc về dân tộc Dao và một
số phong tục tập quán của ngƣời Dao, chƣa nghiên cứu sâu về
các tập tục trong văn hóa Dao.
Vào đầu thế kỉ XX, đã có một số nhà nghiên cứu ngƣời
Pháp tìm hiểu về ngƣời Dao, tiêu biểu là nhà nghiên cứu
A.Bofinacy, vốn là một sĩ quan quân đội Pháp đóng ở vùng
thƣợng du Bắc Kỳ. Ông sống trong khu vực cƣ trú của ngƣời
Dao nên đã nghiên cứu và xuất bản chuyên khảo “Một chuyến
điền dã vùng đất người Mán” năm 1901. Tuy nhiên chuyên
khảo này cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu mang tính sơ lƣợc
về dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc Dao.
Từ những năm 1970 trở lại đây có khá nhiều các nhà khoa
học nghiên cứu về ngƣời Dao ở Việt Nam. Tiêu biểu trong đó
có Triệu Hữu Lý với các tác phẩm về truyện thơ của ngƣời Dao
nhƣ: “Tín ca”, “Bàn Vương ca”, “Truyện Đặng Hành và Bàn
Đại Hộ”, “Bình Hoàng Khoán Điệp”; các nhà nghiên cứu Bế
Viết Đẳng - Nguyễn Khắc Tụng - Nông Trung - Nguyễn Nam
Tiến với công trình “Người Dao ở Việt Nam”; Trần Quốc
Vƣợng với tác phẩm “Quá Sơn Bảng văn”, nghiên cứu về
10
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
nguồn gốc ngƣời Dao ở Việt Nam với các đợt di cƣ từ Trung
Quốc đến Việt Nam. Gần đây nhất có các công trình nghiên
cứu của Tiến sĩ Trần Hữu Sơn với các tác phẩm “Lễ cưới người
Dao tuyển” (2002), “Tục ngữ câu đố Dao” (2001), “Thơ ca
dân gian người Dao Tuyển” (2005). Cùng với đó, các chuyên
khảo của nữ Tiến sĩ ngƣời dân tộc Dao Bàn Thị Quỳnh Dao (và
một số tác giả) nhƣ Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển (2017),
Thơ Bàn Tài Đoàn - Tiếng nói tâm hồn đích thực người Dao
(2012), Dấu ấn văn hóa Tày trong tiểu thuyết Vi Hồng (2016),
Tín ngưỡng của người Dao tuyển trong dân ca nghi lễ vòng
đời (2018)… cũng đã góp phần vào việc phục dựng bức tranh
văn hóa độc đáo của ngƣời Dao.
Nhà thơ dân tộc Dao tiêu biểu Bàn Tài Đoàn (Bài Tài
Tuyên) sinh ra và lớn lên tại tỉnh Cao Bằng đã sáng tác 13 tập
thơ, với một số tập nổi bật nhƣ Một giấc mơ (1964), Kể chuyện
đời (1968), Tháng Tám đổi mới (1971), Rừng xanh (1973),
Sáng cả hai miền (1975), Gửi đồng bào Dao (1979), Nơi ta ở
(1979). Thơ của ông mang đậm hơi thở vùng sơn cƣớc. Bản sắc
văn hóa dân tộc Dao đƣợc phản ánh rất rõ trong thơ ca của ông
qua hình ảnh thiên nhiên và các phong tục tập quán nhƣ cƣới
hỏi, lễ tết, tang ma,... Bàn Tài Đoàn là ngƣời có công lớn trong
11
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
việc đặt nền móng cho thơ ca dân tộc Dao thời kỳ hiện đại nói
riêng và văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại
nói chung.
Từ các công trình đã đọc, chúng tôi nhận thấy: Cho đến
nay chƣa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về truyện
cổ dân tộc Dao từ góc nhìn văn hóa. Dân tộc Dao mặc dù
đƣợc tìm hiểu nhiều qua các công trình nghiên cứu, sách
chuyên khảo nhƣng các tác giả chủ yếu tập trung khai thác ở
mảng thơ ca dân tộc Dao. Truyện cổ dân tộc Dao đƣợc các
tác giả khai thác nhƣng chỉ ở mức sƣu tầm và dịch thuật các
câu chuyện mà chƣa nghiên cứu đặc điểm cụ thể của từng
truyện cổ để làm nổi bật đặc điểm tiêu biểu của văn hóa dân
tộc Dao.
Có thể nói, văn hóa, văn học dân tộc Dao đã trở thành
một bộ phận quan trọng trong sự phát triển đa dạng của văn hóa
Việt Nam. Nghiên cứu văn hóa truyền thống của ngƣời Dao sẽ
cung cấp một cách nhìn toàn diện, tổng thể về văn hóa truyền
thống của ngƣời Dao, từ đó đánh giá đúng giá trị văn hóa tiêu
biểu đã và đang tồn tại trong không gian và thời gian. Đặc biệt,
truyện cổ dân tộc Dao là nơi lƣu giữ tƣơng đối nhiều giá trị tinh
12
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
thần cốt lõi và bản sắc độc đáo của dân tộc. Nghiên cứu về
truyện cổ dân tộc Dao nói riêng và văn hóa tinh thần của dân
tộc Dao nói chung là việc làm hết sức cần thiết. Hoạt động này
không chỉ khám phá cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số
mà còn góp phần quảng bá hình ảnh con ngƣời, phong tục tập
quán của ngƣời dân tộc thiểu số đến với du khách trong và
ngoài nƣớc. Vì vậy, nghiên cứu truyện cổ dân tộc Dao là một
trong những hoạt động quan trọng góp phần lƣu giữ và phát
huy những giá trị tốt đẹp của đồng bào dân tộc Dao. Chuyên
khảo “Truyện cổ dân tộc Dao từ góc nhìn văn hóa” sẽ giúp
ngƣời đọc hiểu thêm về nguồn gốc, nếp sống và những phong
tục tập quán độc đáo... của ngƣời Dao. Tuy chƣa thật đầy đủ
song, chúng tôi mong rằng cuốn sách sẽ là nguồn tƣ liệu quý,
có ý nghĩa thực lý luận và thực tiễn phục vụ cho công tác
nghiên cứu khoa học và đặc biệt là nghiên cứu bảo tồn, phát
triển giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Dao trong đời sống
các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay.
Cuốn sách này là một phần sản phẩm khoa học của đề tài
nghiên cứu “Những giải pháp cấp bách về bảo tồn và phát huy
các giá trị văn học cổ truyền của dân tộc thiểu số Việt Nam
13
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
trong bối cảnh hội nhập và phát triển” (CTDT.30.17/16-20).
Chúng tôi trân trọng cảm ơn Ủy ban Dân tộc, Văn phòng
chƣơng trình dân tộc CTDT 16 - 20, Nhà xuất bản Đại học Thái
Nguyên đã đồng hành cùng chúng tôi để hoàn thành nội dung
cuốn sách này. Chúng tôi mong tiếp tục nhận đƣợc những ý
kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách đƣợc hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn!
NHÓM TÁC GIẢ
14
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
CHƯƠNG 1
TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO
TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA DAO
1.1. Vài nét về dân tộc Dao
1.1.1. Nguồn gốc lịch sử
Đất nƣớc Việt Nam là nơi hội tụ của 54 dân tộc anh em.
Trải qua hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, cộng đồng
các dân tộc Việt Nam đã gắn bó ruột thịt với nhau, đoàn kết
vƣợt qua mọi khó khăn, thử thách để sinh tồn và phát triển.
Trên hành trình lịch sử, mỗi dân tộc lại tạo ra những yếu tố văn
hóa, văn học có bản sắc riêng, có giá trị riêng đƣợc thể hiện
trong các mặt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Sự chi
chút những giá trị tinh thần của lớp lớp thế hệ đã tạo nên kho
tàng tri thức rộng lớn, có trữ lƣợng dồi dào, có ảnh hƣởng
mạnh mẽ đến cuộc sống của mọi thế hệ con ngƣời trên mảnh
đất Việt Nam.
15
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Ngƣời Dao di cƣ từ các tỉnh miền Nam Trung Quốc nhƣ
Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam sang cƣ trú ở
Việt Nam từ nhiều thời kỳ khác nhau, đi bằng đƣờng thủy hoặc
đƣờng bộ. Theo truyền thuyết của ngƣời Dao kể lại rằng: Một
năm hạn hán đói rét, ngƣời Dao phải đốt lửa sƣởi, khi đi soi cá,
do vô ý làm cháy cái Cầu Vàng của nhà vua, nhà vua định chu
di tam tộc, nhƣng may thay nhờ có quan đại thần xin tha từ tội
chết xuống mức đuổi cả bộ tộc đi biệt xứ. Đặng Thị Hành, Bàn
Vân Hội và Triệu Thông là ba ngƣời dẫn đầu đoàn ngƣời Dao
sang Việt Nam tìm đất cƣ trú. Vì ngôn ngữ bất đồng, binh lính
Việt Nam tƣởng họ là giặc nên đã bắt giam một thời gian, về
sau do đọc đƣợc “Giấy thông hành” của họ, biết họ là dân
lành, vua Lê đã hạ chỉ chăm sóc cho họ khỏe mạnh và cử 300
binh lính dẫn họ ngƣợc theo sông Hồng đi tìm miền đất sống.
Đến cửa Ba Hạc, thấy có ba con suối lớn, với kinh nghiệm du
canh du cƣ, biết trƣớc từ đây đổ ngƣợc là miền sơn cƣớc, đất
rừng màu mỡ thích hợp với cuộc sống đốt nƣơng làm rẫy, họ
trở về Trung Quốc đóng bảy chiếc thuyền, quyết định tổ chức
cho các họ tộc ngƣời Dao vƣợt biển Móng Cái - Quảng Ninh
vào cửa sông Hồng rồi ngƣợc sông lên vùng đất đã chọn. Tuy
nhiên, khi vƣợt biển họ gặp sóng to gió lớn, bốn chiếc thuyền
16
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
của họ bị gió đánh bật ra khơi xa. Họ hoảng sợ nhảy lên xin
khất với trời phật, thánh thần để cho đƣợc sống sau này sẽ làm
lễ để tạ ơn cứu mạng. Riêng thuyền họ Triệu bị gió đánh mạnh
ra khơi xa hơn nên dạt vào bờ biển Thanh Hóa, còn các họ khác
dạt vào cửa sông Hồng. Từ đó, họ bỏ thuyền lên bờ sinh sống
và làm lễ thề nguyện sẽ cƣu mang, đùm bọc lẫn nhau.
Dân tộc Dao là dân tộc có số dân đứng hàng thứ chín
trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, với gần một triệu ngƣời.
Ngƣời Dao cƣ trú tại các bản làng miền rừng núi trải rộng từ
phía Bắc nhƣ Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai
Châu, Tuyên Quang,... đến một số tỉnh trung du nhƣ: Thái
Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và gần đây mới có một
số nhỏ chuyển vào sinh sống ở khu vực Tây Nguyên. Ngƣời
Dao có nhiều nhóm khác nhau phân biệt theo vùng. Tên gọi các
nhóm Dao dựa vào nhiều yếu tố không chỉ là phong tục, tập
quán mà còn dựa trên trang phục và những đặc điểm truyền
thống bên ngoài,
Ngƣời Dao hình thành và du nhập vào Việt Nam trên cơ
sở thực tiễn lịch sử. Đó là quá trình thiên di từ Trung Hoa sang
nƣớc ta. Vì vậy nhiều câu chuyện tái hiện lại cuộc hành trình
của ngƣời Dao từ thuở đi khai hoang, lập địa. Thực chất ngƣời
17
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Dao sống theo lối du canh du cƣ, di chuyển qua nhiều miền đất.
Phần lớn họ sống trên núi cao và phân thành các nhóm nhỏ lẻ.
Tuy nhiên theo lối sống linh hoạt nên ngƣời Dao chịu ảnh
hƣởng văn hóa của nhiều vùng miền. Điều này góp phần hình
thành nền văn hóa Dao phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc.
1.1.2. Trang phục truyền thống
Trang phục truyền thống thể hiện nét đẹp cao quý của mỗi
dân tộc. Đó là sản phẩm đƣợc tạo ra từ đôi bàn tay khéo léo và
sáng tạo của bà con dân tộc thiểu số. Đối với ngƣời Dao trang
phục truyền thống làm nổi bật những đặc trƣng của dân tộc, là
minh chứng cho sự hình thành và phát triển từ bao đời của dân
tộc Dao. Vì vậy, dân tộc Dao là một trong số các dân tộc mà
trang phục của đồng bào đƣợc đánh giá cao về chất liệu và hình
thức thẩm mỹ.
Trang phục của ngƣời phụ nữ Dao mang nhiều nét đẹp cổ
truyền với áo dài, áo con, khăn đội đầu, dây lƣng, xà cạp và
trang sức bằng bạc. Mỗi trang phục có năm màu cơ bản: Đỏ,
xanh, trắng, vàng, đen, trong đó chủ yếu là màu đỏ. Theo quan
niệm của ngƣời Dao, màu đỏ mang lại hạnh phúc, may mắn,
đầy đủ và tạo ra năng lƣợng tích cực cho con ngƣời.
18
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
Váy của phụ nữ Dao thƣờng may bằng vải bông chàm
trang trí nhiều hoa văn kín cả thân váy. Váy gồm sáu mảnh,
khâu thành hai mảnh lớn hở, không khép mĩ. Cạp váy đƣợc
viền bằng vải màu trắng. Vòng cạp rộng tùy vòng bụng. Nền
chàm in nhiều hoa văn xanh lơ, có hoa văn chính. Hoa văn là
các vòng tròn có vạch chéo qua tâm giống nhƣ bánh xe, hình
dích dắc. Hoa văn gồm hai loại: Là các đƣờng thẳng song song
và là các đƣờng gấp khúc song song.
Khi mặc, ngƣời Dao choàng váy từ trƣớc ra sau rồi thít
chặt cạp váy, hai rìa váy giáp nhau lệch một bên. Ngƣời phụ
nữ Dao thƣờng tự vẽ các hoa văn trên váy. Bút vẽ là một đoạn
tre bánh tẻ vót nhọn hay một lƣỡi sắt gắn chặt vào cán, mực
vẽ bằng sáp ong. Mỗi buổi tối sau bữa ăn ngƣời phụ nữ
thƣờng ngồi cạnh bếp hơ cho sáp ong nóng chảy, lấy ngòi bút
chấm vẽ lên mặt vải.
Chiếc áo là điểm nhấn và là phần quan trọng nhất của bộ
trang phục. Ngƣời Dao thƣờng dùng vải lanh nhuộm chàm để
may trang phục. Công đoạn nhuộm chàm khá cầu kỳ đòi hỏi sự
kiên trì và kinh nghiệm. Để đƣợc một tấm vải ƣng ý, bền và
không bị phai màu thì vải sau khi dệt xong sẽ ngâm trong nƣớc
lá chàm khoảng 30 phút. Sau đó, đem phơi khô rồi lại tiếp tục
19
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
đƣa vào nhuộm nƣớc lá chàm một lần nữa. Công đoạn này kéo
dài khoảng một tháng.
Phụ nữ ngƣời Dao thƣờng chỉ mặc áo dài có màu đen
hoặc màu chàm. Họ thêu kín các họa tiết trang trí bằng chỉ màu
đỏ để nẹp cổ liền với ngực thân áo. Đặc biệt, hai đầu của nẹp
ngực đƣợc đính nhiều chuỗi hạt cƣờm và tua đỏ sặc sỡ.
Áo có hai loại: Áo đơn và áo kép. Áo đơn là áo dùng hàng
ngày, áo kép dùng trong các dịp lễ hội. Về hình thức và hoa
văn trang trí giống nhau. Gắn liền với những chiếc áo dài, phụ
nữ Dao mặc những áo con bên trong. Những chiếc áo con này
giống nhƣ những cái yếm để che kín phần ngực và bụng, yếm
có những đƣờng thêu bằng chỉ trắng hoặc vàng. Mỗi thân áo
đƣợc đính một dải vải nhỏ để làm dây buộc phía sau lƣng.
Xà cạp là một trong những chi tiết đƣợc trang trí nhiều
nhất trong trang phục của ngƣời Dao. Đây là một khổ vải trắng
dài từ 100 - 120cm, rộng 1cm. Hai đầu xà cạp buộc hai sợi dây
dùng để buộc khi sử dụng. Một đầu xà cạp chừa ra một đoạn
vải trắng, phần giữa trang trí hoa văn bằng chỉ màu đen. Phần
còn lại dài suốt từ đầu này đến đầu kia đƣợc thêu hình xƣơng
cá. Xung quanh mép đƣợc viền bằng vải trắng. Xà cạp đƣợc
20
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
cuốn từ bọng đầu gối xuống gần cổ chân rồi lại cuốn lên đến
gần đầu gối. Nếu chân bên này cuốn theo chiều kim đồng hồ thì
chân bên kia cuốn ngƣợc lại.
Ảnh 1. Trang phục của đồng bào dân tộc Dao
Nét đặc sắc trong trang phục ngƣời Dao là những họa tiết hoa
văn trang trí. Với mô típ là những hình ảnh quen thuộc, gần gũi
đời sống nhƣ: Hoa lá, cỏ cây, rừng núi, loài động vật... Do đó,
mỗi bộ trang phục khác nhau ở hoa văn, ngƣời thêu luôn sử
dụng các gam màu phù hợp và sắp xếp bố cục hài hòa.
Để biết đƣợc độ tinh xảo, kỹ thuật thêu cầu kỳ phải kể đến
chiếc quần. Phía trên quần màu đen tuyền, không có hoa văn,
21
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
nhƣng ở phía dƣới, họa tiết đƣợc thêu rất tỷ mỷ. Những hoa
văn trang trí ở hai ống quần thƣờng là hình vuông, hình chữ
nhật màu đỏ, vàng, trắng hay hình cây thông, hình quả trám...
tạo nên sự cân đối hài hòa cho toàn bộ trang phục.
Khăn đội đầu là một trong những điểm không thể thiếu
trong trang phục của phụ nữ ngƣời Dao. Khăn đƣợc trang trí
bằng nhiều họa tiết nhƣ: Cây vạn hoa, hình cách đoạn, hình vết
hổ... Khi đội khăn, ngƣời ta búi tóc trên đỉnh đầu hơi lệch về
phía trƣớc trán, khăn đƣợc chia đôi, phần chính giữa chùm lên
búi tóc, còn hai đầu khăn vắt chéo sau gáy rồi buộc ngƣợc ra
đằng trƣớc, hai đầu khăn lại vắt chéo nhau và mỗi đầu khăn
đƣợc gấp làm đôi vắt ngƣợc sang tai bên kia. Các hoa văn họa
tiết sẽ phô ra ngoài, làm tăng thêm vẻ đẹp của chiếc khăn.
Trang phục ngƣời Dao ở mỗi địa phƣơng cơ bản đều giống
nhau, tuy nhiên cũng có những điểm khác biệt tạo nên sự
phong phú, đa dạng trong sắc màu văn hóa Dao. Khác biệt
nhiều nhất thƣờng tập trung trong cách mặc, vấn khăn, xà cạp
và thêm bớt các chi tiết... Điển hình nhƣ: Trang phục ngƣời
Dao đỏ ở một số nơi thƣờng có chuỗi quả bông len hình tròn
màu đỏ treo trƣớc ngực. Số lƣợng và kích cỡ tùy quan niệm
mỗi vùng. Phụ nữ Dao thƣờng tự tay làm trang phục với các
22
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
công đoạn rất tỉ mỉ, đòi hỏi sự kiên trì và khéo léo. Trƣớc khi
về nhà chồng, các cô gái Dao thƣờng ở nhà tập trung cho việc
thêu thùa, khâu vá, hoàn thành bộ trang phục của riêng mình.
Đối với nam giới, trang phục gồm khăn đội đầu, áo và
quần. Khăn đội đầu của nam giới gồm hai loại khăn đội bên
trong và khăn đội bên ngoài.
Khăn đội bên trong là khăn dài giống nhƣ khăn của nữ
giới. Khi đội, khăn đƣợc gấp đôi buộc lên đầu theo kiểu “đầu
rìu” để dùng thƣờng ngày. Còn khăn đội bên ngoài là khăn
dùng trong đám cƣới. Trong lễ cƣới chú rể phải phủ bên ngoài
một chiếc khăn hình chữ nhật dài khoảng 38 - 40cm rộng 20 30cm, có nhiều hoa văn trang trí phân bố trên toàn mặt khăn.
Khăn làm bằng vải màu chàm. Viền xung quanh bằng vải trắng,
toàn bộ phần trang trí trên mặt khăn nằm trong khung hình chữ
nhật. Hoa văn thêu trên mặt khăn là các hình hoa 8 cánh, hình
chữ thập, hình quả trám. Các hoa văn đƣợc thêu bằng các gam
màu: đỏ, trắng, vàng.
Áo nam giới cũng nhƣ áo nữ giới gồm hai loại áo đơn và
áo kép, hoa văn trang trí giống nhau. Quần của nam giới ngƣời
Dao làm bằng vải tự dệt, nhuộm chàm. Dây lƣng to và ngắn
hơn so với nữ giới.
23
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Có thể nói, trang phục của đồng bào dân tộc Dao về màu
sắc và chất liệu đều bắt nguồn từ tự nhiên. Đây là sản phẩm thủ
công đƣợc thêu dệt bởi đôi bàn tay duyên dáng của những
ngƣời phụ nữ Dao. Trang phục chính là điểm nhấn tạo nên bản
sắc riêng của từng đồng bào các dân tộc ở Việt Nam.
1.1.3. Phương thức sinh hoạt
Ngƣời Dao thƣờng sống ở nhà sàn hoặc nhà đất và thƣờng
dùng lịch âm để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt. Nguyên
liệu chính làm nhà thƣờng kiếm tại chỗ, chủ yếu là cây rừng.
Khi đi tìm đất ở mới các chủ nhà đều phải cúng xin gia tiên,
thần linh phù hộ tìm đƣợc nền nhà và vùng đất màu mỡ canh
tác. Đất canh tác sẽ quyết định nơi ở mới. Đất làm nhà thƣờng
ở khe núi, chân núi, ở những bãi đất rộng tƣơng đối bằng
phẳng. Khi di chuyển đến nơi ở mới ngƣời Dao phải mời thầy
cúng cúng thần linh và phải trả lễ cho thầy bằng một bát gạo và
vài hào bạc trắng. Cũng nhƣ ngƣời Kinh, đồng bào ngƣời Dao
rất chú trọng việc chọn tuổi và hƣớng làm nhà. Bởi họ quan
niệm hợp tuổi hợp hƣớng sẽ giúp gia đình làm ăn thuận lợi, nhà
cửa yên ấm. Chủ nhà các tuổi Dần, Mão, Thìn sẽ kiêng ở nhà
hƣớng Đông. Chủ nhà các tuổi Tỵ, Ngọ, Mùi sẽ kiêng ở nhà
hƣớng Nam. Chủ nhà các tuổi Thân, Dậu, Tuất kiêng ở nhà
24
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
hƣớng Tây. Chủ nhà các tuổi Hợi, Tý, Sửu kiêng ở nhà hƣớng
Bắc. Khi tìm đƣợc đất ƣng ý để làm nhà ngƣời Dao sẽ dọn sạch
cây cỏ xung quanh, bổ đoạn nứa thành bốn mảnh cắm bốn góc
mảnh đất tƣợng trƣng cho hàng rào giữ lấy mảnh đất này. Mái
nhà đƣợc lợp bằng lá cọ hoặc phên nứa. Bên ngoài là nền đất,
cối giã gạo đƣợc đặt cạnh cửa ra vào. Từ cửa chính bƣớc vào
gian giữa là bàn thờ gia tiên, gian bên phải là buồng ngủ của
chủ nhà và khách. Gian bên trái là bếp và một khoảng rộng để
cúng bái và nhảy lửa. Đặc biệt sau nhà có một cửa nách cho
phụ nữ đi lại tránh đi qua bàn thờ gia tiên.
Ngày nay, ngƣời Dao sống định cƣ ổn định thành làng bản,
họ phát triển kinh tế nông nghiệp với trồng trọt chăn nuôi là chủ
yếu, ngoài ra còn phát triển nghề thủ công truyền thống nhƣ thêu
dệt thổ cẩm, rèn đúc, làm nghề mộc rất đa dạng để phục vụ cho
cuộc sống gia đình mình. Hiện nay, tỉ lệ nghèo đói ở các gia đình
ngƣời Dao đã giảm đáng kể. Họ đã tiếp cận đƣợc với các dịch vụ
xã hội, khoa học kĩ thuật để áp dụng vào lao động sản xuất
chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng nhƣ lúa, ngô. Con em ngƣời
dân tộc Dao ở các tỉnh miền núi ngày nay đã đƣợc đến trƣờng
nhiều hơn so với trƣớc đây, do vậy trình độ dân trí của ngƣời
Dao ở đây đƣợc nâng cao hơn trƣớc rất nhiều.
25
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Có thể nói, dân tộc Dao với nhiểu bản sắc văn hóa độc đáo
đã trở thành một mảng màu quan trọng trong bức tranh muôn
màu của văn hóa các dân tộc Việt Nam hiện nay. Trong ý nghĩa
đó, việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp
của dân tộc Dao càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Đặc
biệt, trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay, việc nâng
cao ý thức văn hóa dân tộc, trân trọng và quảng bá trên diện rộng
sẽ dự phần tích cực hơn nữa vào công cuộc xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng tinh thần Nghị
quyết của các kì Đại hội từ 1986 đến nay.
Ảnh 2. Nhà ở của người Dao
26
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
1.2. Truyện cổ dân tộc Dao trong không gian văn hóa Dao
Con ngƣời là chủ thể sáng tạo ra văn hoá. Trong suốt lịch
sử hình thành và phát triển của mình, con ngƣời luôn sáng tạo
không ngừng để tạo ra cũng nhƣ khẳng định các giá trị văn
hoá. Điều này đòi hỏi mọi dân tộc, mọi cá nhân, tập thể phải
chung tay xây dựng những không gian văn hóa đặc thù, đặc sắc
để nuôi dƣỡng và lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp của từng
dân tộc và cả dân tộc Việt Nam.
Không gian văn hóa là chiều đồng đại của văn hóa. Nó
dùng để chỉ phạm vi không gian mà ở đó, các chủ thể xây dựng
cũng như có thể trình diễn nền văn hóa của mình. Không gian
văn hóa gần nhƣ tƣơng đƣơng với ý nghĩa là một khu vực, một
lãnh thổ. Nói cách khác, không gian văn hóa chính là hình thức
tồn tại những nét đẹp văn hóa của cộng đồng các dân tộc. Nó
chứa đựng sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể. Mỗi vùng
miền và mỗi dân tộc luôn tạo dựng đƣợc cho mình những không
gian văn hóa riêng, sinh động và độc đáo. Có thể kể đến một số
nét văn hóa đặc sắc nhƣ lễ hội cồng chiêng trong không gian văn
hóa Tây Nguyên, hát quan họ trong không gian văn hóa Kinh
Bắc, hát then trong không gian văn hóa Tày... Không gian văn
27
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
hóa không những là nơi hội tụ tinh hoa dân tộc mà còn trở thành
“miền đất hứa” để những giá trị văn hóa độc đáo tiếp tục sinh
sôi, nảy nở.
Cũng nhƣ cộng đồng các dân tộc thiểu số khác, đồng bào
dân tộc Dao luôn ý thức phục dựng những nét đẹp văn hóa dân
tộc mình qua nhiều phong tục tập quán. Đó là những yếu tố tô
đậm đặc trƣng văn hóa Dao. Nói cách khác không gian văn hóa
Dao đƣợc dệt nên bởi những giá trị truyền thống từ phong cách
sinh hoạt đến những hoạt động tín ngƣỡng lâu đời. Không gian
văn hóa Dao đã trở thành một bảo tàng thu nhỏ với chức năng
bảo tồn đi cùng với phát huy để khẳng định những nét văn hóa
tiêu biểu của đồng bào dân tộc Dao trong cộng đồng các dân tộc
anh em.
1.2.1. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Trong tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa để chỉ học
thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), theo nghĩa
chuyên biệt, văn hóa chỉ trình độ văn minh của loài ngƣời trong
một giai đoạn lịch sử (văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh…).
Sự đa dạng, phức tạp và xu hƣớng hiểu về khái niệm văn hóa
đƣợc thể hiện phần nào qua ý kiến của Federico Mayor, Tổng
28
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
giám đốc UNESCO: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao
gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối
với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm
cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh
vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối
sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng
quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính
sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” [18, tr.5].
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng: “VĂN HÓA
là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình.” [4, tr.25].
Văn hóa dân tộc là một vấn đề rộng lớn rất phong phú và
phức tạp có tác động to lớn đến sự phát triển của dân tộc. Cùng
với nền kinh tế thị trƣờng sẽ là sự tác động của nền văn hóa bên
ngoài vào nền văn hóa dân tộc. Điều này vừa tạo ra thời cơ
những cũng hình thành những thách thức mới, những khó khăn
không nhỏ trong hành trình phát triển và hội nhập thế giới của
đát nƣớc.
29
TrÇn ThÞ Ngäc Anh, Ng« Ph-¬ng Th¶o
Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và
tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong
quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc. Văn hóa là đời sống tinh thần
của xã hội, là tổng hòa của tất cả các khía cạnh của cuộc sống.
Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt của cuộc sống cũng mang
những dấu hiệu của văn hóa. Văn hóa không phải giá trị cố
định, bất biến mà văn hóa luôn phát triển, biến động cùng chiều
với sự phát triển chung của đất nƣớc. Văn hóa đƣợc coi là mục
tiêu, là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa
đƣợc tồn tại dƣới nhiều hình thức nhƣ: các công trình kiến trúc,
vật dụng, ẩm thực, ngôn ngữ, tập quán, âm nhạc, tôn giáo…
Trong ý nghĩa đó, bản sắc văn hóa dân tộc là sắc thái gốc, là
những đƣờng nét, màu sắc riêng biệt không thể trộn lẫn của
một nền văn hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc tạo nên giá trị cốt lõi
cho mọi sự phát triển. Mỗi cá nhân với tƣ cách là một chủ thể
sáng tạo văn hóa cần ý thức đƣợc việc thống nhất cái riêng của
bản thân mình và cái chung của dân tộc, ý thức đƣợc vài trò và
trách nhiệm của mình đối với dân tộc, quốc gia. Vì vậy, bản sắc
văn hóa dân tộc luôn chứa đựng cả tính nhân loại, cả tính khu
30
TruyÖn cæ d©n téc Dao tõ gãc nh×n v¨n hãa
vực và tính dân tộc và cả những dấu ấn độc đáo của mỗi cá
nhân - mỗi ngƣời con đất Việt.
Về văn hóa cổ truyền, theo các nhà nghiên cứu, từ cổ
truyền...
 








Các ý kiến mới nhất