Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Đạo đức 5

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: SUU TÂM
Người gửi: TRÂN THỊ YẾN PHƯỢNG
Ngày gửi: 21h:43' 19-07-2024
Dung lượng: 981.0 KB
Số lượt tải: 152
Số lượt thích: 0 người
HUỲNH VĂN SƠN – MAI MỸ HẠNH (đồng Chủ biên)
TRẦN THANH DƯ – NGUYỄN THANH HUÂN
LÂM THỊ KIM LIÊN – GIANG THIÊN VŨ

KẾ HOẠCH BÀI DẠY
môn

ĐẠO ĐỨC
(Hỗ trợ giáo viên thiết kế kế hoạch bài dạy
theo sách giáo khoa ĐẠO ĐỨC 5 – Bộ sách Chân trời sáng
tạo)

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc NGUYỄN TIẾN THANH
Chịu trách nhiệm nội dung:

1

Tổng biên tập PHẠM VĨNH THÁI
Tổ chức và chịu trách nhiệm bản thảo:
Phó Tổng biên tập NGUYỄN VĂN TÙNG
Giám đốc Công ty CP Dịch vụ xuất bản giáo dục Gia Định TRẦN THỊ KIM NHUNG
Biên tập nội dung:
VŨ TRỌNG THANH
Trình bày bìa:
ĐẶNG NGỌC HÀ
Thiết kế sách:
TRẦN NGUYỄN ANH TÚ
Sửa bản in:
TRỌNG THANH
Chế bản:
CÔNG TY CP DỊCH VỤ XUẤT BẢN GIÁO DỤC GIA ĐỊNH

Bản quyền thuộc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
và Công ty cổ phần Dịch vụ xuất bản giáo dục Gia Định
Tất cả các phần của nội dung cuốn sách này đều không được sao chép, lưu trữ, chuyển
thể dưới bất kì hình thức nào khi chưa có sự cho phép bằng văn bản của Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam và Công ty cổ phần Dịch vụ xuất bản giáo dục Gia Định.

KẾ HOẠCH BÀI DẠY MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5
(Hỗ trợ giáo viên thiết kế bài dạy theo sách giáo khoa Đạo đức 5 –
Bộ sách Chân trời sáng tạo)
Mã số:
In ... bản (QĐ ... – NXBGDVN) khổ 19 x 26,5 cm.
Đơn vị in:
Cơ sở in:
Số ĐKXB:
Số QĐXB: .../QĐ–GD ngày ... tháng ... năm ...
In xong và nộp lưu chiểu quý ... năm 2024.
Mã số ISBN:

2

MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu..............................................................................................4

Phần một: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA KẾ HOẠCH BÀI
DẠY
MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5
I. Khái quát chung về dạy học môn Đạo đức lớp 5.................................5
II. Cơ sở xây dựng kế hoạch bài dạy môn Đạo đức lớp 5........................17

Phần hai: GỢI Ý THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI DẠY
MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5
(Theo sách giáo khoa Đạo đức 5 – bộ sách Chân trời sáng tạo)
Chủ đề: BIẾT ƠN NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI QUÊ HƯƠNG,
ĐẤT NƯỚC..................................................................24
Bài 1: Người có công với quê hương, đất nước................................24
Bài 2: Em biết ơn người có công với quê hương, đất nước..............41
Chủ đề: TÔN TRỌNG SỰ KHÁC BIỆT CỦA NGƯỜI KHÁC.................61
Bài 3: Em tôn trọng sự khác biệt của người khác............................61
Chủ đề: VƯỢT QUA KHÓ KHĂN..........................................................77
Bài 4: Em nhận biết khó khăn trong học tập và cuộc sống.............77
Bài 5: Em vượt qua khó khăn trong học tập và cuộc sống..............90
Chủ đề: BẢO VỆ CÁI ĐÚNG, CÁI TỐT.................................................103
Bài 6: Em bảo vệ cái đúng, cái tốt...................................................103
Chủ đề: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SỐNG................................................117
Bài 7: Môi trường sống quanh em...................................................117
Bài 8: Em bảo vệ môi trường...........................................................131
Chủ đề: LẬP KẾ HOẠCH CÁ NHÂN.....................................................144
Bài 9: Em lập kế hoạch cá nhân......................................................144
Chủ đề: PHÒNG, TRÁNH XÂM HẠI.....................................................160
Bài 10: Em nhận diện biểu hiện xâm hại.........................................160
Bài 11: Em chủ động phòng, tránh xâm hại....................................172
Chủ đề: SỬ DỤNG TIỀN HỢP LÍ..........................................................189
Bài 12: Em sử dụng tiền hợp lí........................................................189
3

LỜI NÓI ĐẦU
Kế hoạch bài dạy môn Đạo đức lớp 5 được biên soạn để hỗ trợ các nhà trường
và giáo viên trong việc tổ chức hoạt động dạy học môn Đạo đức cho học sinh lớp 5,
đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đồng thời giúp giáo viên
thực hiện tốt Chương trình môn Giáo dục công dân. Cuốn sách gồm hai phần:
Phần một: Những vấn đề chung của kế hoạch bài dạy môn Đạo đức lớp 5 giúp
giáo viên, các nhà quản lí giáo dục hiểu rõ hơn về môn Đạo đức lớp 5 trong
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 về mục tiêu, nội dung, phương pháp,
phương tiện dạy học, kiểm tra, đánh giá môn Đạo đức. Đồng thời phần này còn
giới thiệu cơ sở pháp lí và cơ sở khoa học của việc thiết kế kế hoạch bài dạy và
cấu trúc của kế hoạch bài dạy môn Đạo đức lớp 5.
Phần hai: Gợi ý thiết kế kế hoạch bài dạy môn Đạo đức 5 (theo sách giáo khoa
Đạo đức 5 – bộ sách Chân trời sáng tạo). Trong phần này, chúng tôi làm rõ hơn
mục tiêu của từng bài học, vai trò tổ chức hướng dẫn của giáo viên và nhiệm vụ
học tập của học sinh để đạt được yêu cầu cần đạt trong từng pha hoạt động:
Khởi động, Kiến tạo tri thức mới, Luyện tập, Vận dụng. Mỗi kế hoạch bài dạy đều
gợi ý việc kết hợp đa dạng các phương pháp và kĩ thuật dạy học nhằm phát huy
tính tích cực học tập của học sinh, hướng đến việc tăng cường hoạt động rèn luyện
cho học sinh thông qua nhiều hình thức. Mỗi kế hoạch bài dạy đều đi kèm gợi ý về
nội dung dạy học chi tiết, phương pháp kiểm tra, đánh giá để giáo viên tham khảo.
Xin lưu ý, nội dung của Phần hai chỉ mang tính chất gợi ý. Các thầy cô giáo
hoàn toàn có thể sáng tạo, điều chỉnh lại kế hoạch bài dạy sao cho phù hợp với
tình hình thực tế và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh. Chúng tôi mong đợi
tinh thần sáng tạo của thầy cô để tổ chức hoạt động dạy học trên cơ sở đảm bảo
đạt được những yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục đề ra.
Chúc các thầy cô dạy tốt, dạy hay!
CÁC TÁC GIẢ

4

Phần một
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA KẾ HOẠCH BÀI DẠY
MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5
1. Mục tiêu của môn Đạo đức lớp 5
1.1. Mục tiêu chung
Môn Đạo đức ở lớp 5 góp phần hình thành, phát triển ở học sinh (HS) những hiểu biết
ban đầu về chuẩn mực hành vi đạo đức, pháp luật và sự cần thiết thực hiện theo các
chuẩn mực đó trong quan hệ với bản thân và người khác, với công việc, cộng đồng, đất nước,
nhân loại và môi trường tự nhiên; thái độ tự trọng, tự tin; những tình cảm và hành vi tích cực:
yêu gia đình, quê hương, đất nước; yêu thương, tôn trọng con người; đồng tình với cái thiện,
cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu; chăm học, chăm làm; trung thực;
có trách nhiệm với thái độ, hành vi của bản thân.
Môn Đạo đức ở lớp 5 đồng thời giúp HS bước đầu nhận biết và điều chỉnh được
cảm xúc, thái độ, hành vi của bản thân; biết quan sát, tìm hiểu về gia đình, quê hương,
đất nước và về các hành vi ứng xử; biết lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch cá nhân,
hình thành thói quen, nền nếp cơ bản, cần thiết trong học tập, sinh hoạt.
1.2. Yêu cầu cần đạt của môn Đạo đức lớp 5

5

Nội dung

Yêu cầu cần đạt

Biết ơn những người có – Kể được tên và đóng góp của những người có công với quê
công với quê hương, hương, đất nước.
đất nước
– Biết vì sao phải biết ơn những người có công với quê hương,
đất nước.
– Thể hiện được lòng biết ơn bằng lời nói, việc làm cụ thể phù
hợp với lứa tuổi.
– Nhắc nhở bạn bè có thái độ, hành vi biết ơn những người có
công với quê hương, đất nước.
Tôn trọng sự khác biệt – Kể được một số biểu hiện tôn trọng sự khác biệt (về đặc điểm
của người khác
cá nhân, giới tính, hoàn cảnh, dân tộc,…) của người khác.
– Biết vì sao phải tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người.
– Thể hiện được bằng lời nói và hành động thái độ tôn trọng sự
khác biệt của người khác.
– Không đồng tình với những hành vi phân biệt đối xử vì sự khác
biệt về đặc điểm cá nhân, giới tính, hoàn cảnh, dân tộc,…
Vượt qua khó khăn

– Nhận biết được những khó khăn cần phải vượt qua trong học
tập và trong cuộc sống.
– Kể được một số biểu hiện của vượt qua khó khăn.
– Biết vì sao phải vượt qua khó khăn.
– Biết vượt qua một số khó khăn của bản thân trong học tập và
sinh hoạt.
– Quý trọng gương vượt khó trong học tập và cuộc sống.

Bảo vệ cái đúng, cái tốt

– Nhận biết được cái đúng, cái tốt cần bảo vệ.
– Biết vì sao phải bảo vệ cái đúng, cái tốt.
– Biết một số cách đơn giản để bảo vệ cái đúng, cái tốt.
– Mạnh dạn bảo vệ cái đúng, cái tốt.

Bảo vệ môi trường sống – Nêu được các loại môi trường sống.
– Biết vì sao phải bảo vệ môi trường sống.
– Biết bảo vệ môi trường sống ở nhà, ở trường, ở nơi công cộng
bằng những việc làm cụ thể phù hợp với khả năng.
– Không đồng tình với những hành vi gây ô nhiễm môi trường;
nhắc nhở người thân, bạn bè bảo vệ môi trường sống.
Lập kế hoạch cá nhân

6

– Nêu được các loại kế hoạch cá nhân.
– Biết vì sao phải lập kế hoạch cá nhân.
– Biết cách lập kế hoạch cá nhân và lập được kế hoạch cá nhân để

thực hiện các công việc của bản thân trong học tập và cuộc sống.
Phòng, tránh xâm hại

– Nêu được một số biểu hiện xâm hại.
– Biết vì sao phải phòng, tránh xâm hại.
– Nêu được một số quy định cơ bản của pháp luật về phòng,
tránh xâm hại trẻ em.
– Thực hiện được một số kĩ năng để phòng, tránh xâm hại.

Sử dụng tiền hợp lí

– Nêu được biểu hiện của việc sử dụng tiền hợp lí.
– Biết vì sao phải sử dụng tiền hợp lí.
– Nêu được cách sử dụng tiền hợp lí.
– Thực hiện được việc sử dụng tiền hợp lí.
– Góp ý với bạn bè để sử dụng tiền hợp lí.

7

2. Nội dung môn Đạo đức lớp 5
Nội dung Chương trình môn Đạo đức lớp 5 được xây dựng cho 35 tuần, tương đương 35
tiết (1 tiết/tuần). Trong 35 tuần sẽ thực hiện 8 chủ đề giáo dục cơ bản; hoạt động trải nghiệm
môn học và các hoạt động kiểm tra, đánh giá sự phát triển về phẩm chất, năng lực chung và
năng lực đặc thù của môn Đạo đức.
Các nội dung được xây dựng dựa vào 3 mạch giáo dục cơ bản (giáo dục đạo đức, giáo
dục kĩ năng sống, giáo dục kinh tế) với 8 chủ đề. Nhằm tạo điều kiện cho việc tổ chức và
hướng dẫn HS học tập và rèn luyện đạo đức, cũng như phát triển phẩm chất và năng lực cho
HS trên quan điểm “dễ đọc, dễ học, dễ dạy, dễ hiểu”, nhóm tác giả sách giáo khoa (SGK)
Đạo đức 5 – bộ sách Chân trời sáng tạo phân tích các yêu cầu cần đạt trong từng chủ đề để
phát triển thành các bài học cụ thể. Từ 8 chủ đề phát triển thành 12 bài học như sau:

8

Giáo dục kĩ năng
sống (25%)

Giáo dục đạo đức (55%)

Yêu nước

Nhân ái

Biết ơn
những
người có
công với
quê
hương,
đất nước

Tôn
trọng sự
khác biệt
của
người
khác

– Người
có công
với quê
hương, đất
nước
– Em biết
ơn người
có công
với quê
hương, đất
nước

Em tôn
trọng sự
khác biệt
của
người
khác

Chăm chỉ

Vượt qua
khó khăn

– Em
nhận biết
khó khăn
trong học
tập và
cuộc sống
– Em vượt
qua khó
khăn
trong học
tập và
cuộc sống

Trung
thực

Bảo vệ
cái
đúng,
cái tốt

Em bảo
vệ cái
đúng,
cái tốt

Giáo dục
kinh tế
(10%)

Trách
nhiệm

Kĩ năng
nhận
thức,
quản lí
bản
thân

Kĩ năng
tự
bảo vệ

Hoạt
động
tiêu dùng

Bảo vệ
môi
trường
sống

Lập kế
hoạch
cá nhân

Phòng,
tránh
xâm hại

Sử dụng
tiền hợp lí

– Môi
trường
sống
quanh
em
– Em
bảo vệ
môi
trường

– Em
nhận
diện biểu
Em lập
hiện xâm
Em sử
kế hoạch hại
cá nhân – Em chủ dụng tiền
hợp lí
động
phòng,
tránh
xâm hại

9

3. Phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học
Theo định hướng về phương pháp giáo dục của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018,
các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường áp dụng các phương pháp tích cực hoá
hoạt động của người học, trong đó giáo viên (GV) có vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động
cho HS, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích
HS tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản
thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng
đã tích luỹ được để phát triển.
Các hoạt động học tập của HS bao gồm Khởi động, Kiến tạo tri thức mới, Luyện tập và
Vận dụng (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong
đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của thiết bị dạy học tối thiểu, đồ dùng học tập và công
cụ khác, đặc biệt là công cụ công nghệ thông tin và các hệ thống tự động hoá của kĩ thuật số.
Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua
một số hình thức chủ yếu: học lí thuyết; thực hiện bài tập, trò chơi, sắm vai, dự án nghiên cứu;
tham gia thảo luận nhóm, tham quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ
cộng đồng. Tuỳ theo mục tiêu cụ thể và tính chất của hoạt động, HS được tổ chức làm việc
độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp. Tuy nhiên, dù làm việc độc lập, theo
nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi HS đều phải được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ
học tập và trải nghiệm thực tế.
Trong dạy học môn Đạo đức lớp 5, có thể vận dụng nhiều phương pháp, phương tiện, kĩ
thuật dạy học.
3.1. Phương pháp dạy học
3.1.1. Kể chuyện
Kể chuyện là phương pháp dùng lời để thuật lại một câu chuyện nhằm giúp HS rút ra bài
học đạo đức từ nội dung câu chuyện. Phương pháp này thường được dùng nhằm giới thiệu
cho HS một trường hợp, tình huống cụ thể về chuẩn mực hành vi đạo đức theo bài học. Thông
qua lời đọc của GV hoặc HS tự kể, HS sẽ nhận ra được hành vi, cách ứng xử, giải quyết vấn
đề của các nhân vật trong câu chuyện. HS sẽ tự rút ra được bài học cho bản thân nên làm theo,
hay nên tránh hành vi của nhân vật trong câu chuyện.
Ví dụ: Câu chuyện Một nhà thơ chân chính trong bài 6: Em bảo vệ cái đúng, cái tốt góp
phần hình thành và phát triển phẩm chất trung thực cho HS. Các câu hỏi giúp HS nhận ra
được hành vi, cách ứng xử của một nhà thơ – gương người biết bảo vệ cái đúng, cái tốt trong
câu chuyện này, từ đó rút ra ý nghĩa của việc bảo vệ cái đúng, cái tốt trong cuộc sống và thái
độ quý trọng, học tập gương người biết bảo vệ cái đúng, cái tốt.
3.1.2. Thảo luận nhóm

10

Thảo luận nhóm là phương pháp tổ chức cho HS trao đổi với nhau theo nhóm nhỏ về
những vấn đề liên quan đến bài học đạo đức, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự
lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập/giáo dục trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết
quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.
Phương pháp thảo luận nhóm tạo cơ hội cho HS có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý
kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội cho các em được
giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung.
Ví dụ: GV có thể tổ chức thảo luận nhóm ở các hoạt động Kiến tạo tri thức mới hoặc
Luyện tập. Điều này góp phần hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS.
3.1.3. Trò chơi
Trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS thực hiện những thao tác, hành động phù hợp
với bài học đạo đức thông qua trò chơi nào đó. Trò chơi có nhiều mục đích như chơi để khởi
động, chơi để lĩnh hội tri thức mới thông qua trò chơi (trò chơi học tập), chơi để phát hiện tình
huống có vấn đề trong quá trình chơi và khám phá được cách thức giải quyết vấn đề (trò chơi
nhận thức). Tham gia trò chơi, HS thực hiện được những thao tác, hành động đạo đức một
cách nhẹ nhàng, thoải mái.
Ví dụ: Sử dụng phương pháp trò chơi Người bí ẩn để tạo tâm thế thoải mái, kết nối vào
bài 3: Em tôn trọng sự khác biệt của người khác.
Trò chơi không chỉ có giá trị hình thức tạo tâm thế vui vẻ, thoải mái mà quan trọng là làm
não bộ HS được tập trung, tạo ra năng lượng tích cực để cải thiện động cơ học tập đạo đức
của HS. Các trò chơi tốt tạo được cảm xúc tích cực và quan trọng là góp phần vào việc hình
thành và phát triển các năng lực chung như năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết
vấn đề và sáng tạo cho HS cùng các năng lực đặc thù của môn Đạo đức lớp 5.
3.1.4. Giải quyết vấn đề
Giải quyết vấn đề là phương pháp tạo ra tình huống có vấn đề và kích thích, điều khiển
HS huy động những kiến thức, kĩ năng đã biết có liên quan để giải quyết tình huống đó. Tình
huống có vấn đề là loại tình huống tồn tại mâu thuẫn giữa một bên là nhiệm vụ đặt ra và một
bên là trình độ hiện tại còn hạn chế. Vì vậy, với vốn kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm sẵn có,
HS chưa thể ngay lập tức giải quyết được mà cần phải vận dụng hệ thống kiến thức, kĩ năng,
kinh nghiệm sẵn có dưới sự hướng dẫn của GV và sự nỗ lực của bản thân mới có thể giải
quyết được tình huống (tìm ra tri thức mới, cách thức hành động mới). Để tạo cơ hội cho HS
rèn luyện các năng lực như giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo, trong dạy học
môn Đạo đức, GV có thể thiết kế các tình huống có vấn đề để HS xử lí tình huống.

11

Trong SGK Đạo đức 5 – bộ sách Chân trời sáng tạo có nhiều tình huống đặt ra để HS
giải quyết. Ví dụ: Tình huống ở hoạt động 3 phần Kiến tạo tri thức mới, bài 12: Em sử dụng
tiền hợp lí khá quen thuộc với HS lớp 5, tuy nhiên thách thức mà các em cần nỗ lực để hình
thành năng lực cho bản thân là cách ứng xử, đưa ra lí do thuyết phục khi chia tỉ lệ phần trăm
cho kế hoạch chi tiêu hợp lí. Đây là sự kết nối những kinh nghiệm đã có trong chương trình
Đạo đức lớp 4 (chủ đề Quý trọng đồng tiền), các em dựa trên đó khám phá ra thêm tri thức
mới và hành động mới ở bài học này.
3.1.5. Sắm vai
Sắm vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một
tình huống giả định. Phương pháp sắm vai có những ưu điểm như: gây hứng thú và chú ý cho
HS; tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của HS,... Có thể tiến hành sắm vai theo hình thức
nhóm nhỏ để vừa phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, vừa phát triển được năng
lực giao tiếp và hợp tác cho HS.
Ví dụ: Với các tình huống ở hoạt động Luyện tập 4, bài 11: Em chủ động phòng, tránh
xâm hại, GV có thể tổ chức lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm thảo luận để sắm vai, xử lí một tình
huống. Nếu thời lượng không đủ, GV có thể linh hoạt chọn 2 trong 4 tình huống, không nhất
thiết phải sử dụng hết 4 tình huống trong SGK vì SGK tuân thủ tính mở được xác định trong
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. GV hoàn toàn có thể linh hoạt trong việc sử dụng
ngữ liệu cũng như lựa chọn phương pháp dạy học, nhưng vẫn giải quyết được hết các yêu cầu
cần đạt.
3.1.6. Rèn luyện
Rèn luyện là phương pháp tổ chức cho HS vận dụng kiến thức, kĩ năng đã biết vào việc
thực hiện những hành vi, việc làm trong cuộc sống hằng ngày theo bài học đạo đức nhằm
củng cố kiến thức, kĩ năng và hình thành thói quen đạo đức cho HS.
Ví dụ: Rèn luyện lập và thực hiện kế hoạch cá nhân trong hoạt động Vận dụng, bài 9: Em
lập kế hoạch cá nhân.
3.2. Kĩ thuật dạy học
Bên cạnh phương pháp dạy học, việc sử dụng kĩ thuật dạy học trong môn Đạo đức có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động dạy và học vì giúp phát huy sự tham gia hoạt động
tích cực, chủ động của HS vào quá trình dạy học. Các kĩ thuật dạy học còn kích thích tư duy,
sự sáng tạo của HS một cách tốt nhất. Bên cạnh đó, các kĩ thuật dạy học còn là động lực thúc
đẩy sự cộng tác làm việc của HS, rèn luyện năng lực giao tiếp, hợp tác cho người học một
cách đầy đủ hơn.
3.2.1. Kĩ thuật Khăn trải bàn
Kĩ thuật Khăn trải bàn là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác, kết hợp giữa
hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:
– Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực;
12

– Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS;
– Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS.
Cách tiến hành:
– HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm có một tờ giấy A0 đặt
trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn.
– Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung
quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm (4 hoặc 6 người).
– Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình (về một vấn đề nào đó mà GV
yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình. Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra những
ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”.
3.2.2. Kĩ thuật Phòng tranh
Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm. Tranh ảnh giúp
con người ghi nhớ tốt hơn và nhớ lâu hơn nên kĩ thuật Phòng tranh được áp dụng cũng với
mục đích đó. Khi ý tưởng được thể hiện qua tranh vẽ sẽ tạo được hứng thú học tập, kích thích
sự sáng tạo, đồng thời giúp HS ghi nhớ nội dung bài học lâu hơn.
Cách tiến hành:
– GV nêu câu hỏi/vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.
– Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ ý
tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một
triển lãm tranh.
– HS cả lớp đi xem “triển lãm''và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung.
– Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu.
3.2.3. Kĩ thuật Trình bày một phút
Kĩ thuật này tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt câu hỏi về những điều
còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp.
Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em
và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào.
Cách tiến hành:
– Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi:
Điều quan trọng nhất các em học được hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan trọng
nhất mà chưa được giải đáp?,...
– HS suy nghĩ và viết ra giấy. HS có thể trả lời dưới nhiều hình thức khác nhau.

13

– Mỗi HS trình bày trước lớp trong 1 phút về những điều các em đã học được và những
câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu
thêm.
3.2.4. Kĩ thuật Chúng em biết 3
Chúng em biết 3 là kĩ thuật dạy học nhằm lấy ý kiến từ HS thông qua hoạt động nhóm,
mỗi nhóm gồm 3 HS trao đổi ý kiến với nhau về chủ để thảo luận và thống nhất 3 điểm
quan trọng nhất để trình bày.
Cách tiến hành:
– GV nêu chủ đề cần thảo luận.
– Chia HS thành các nhóm 3 người và thảo luận trong vòng 5 phút (tuỳ nhiệm vụ mà GV
thay đổi thời gian thảo luận cho phù hợp) về những gì các em biết xoay quanh chủ đề.
– Sau khi thảo luận, nhóm chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với cả lớp.
– Mỗi nhóm cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.
3.2.5. Kĩ thuật Hoàn tất một nhiệm vụ
Kĩ thuật Hoàn tất một nhiệm vụ nói một cách đơn giản là làm cho vấn đề được giải quyết
một cách triệt để, không tồn đọng. Giải quyết triệt để như vậy giúp cho HS dễ nắm bài học
hơn, kích thích sự nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ của các em.
Cách tiến hành:
– GV đưa ra một câu chuyện/một vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/,... mới chỉ được
giải quyết một phần và yêu cầu HS/nhóm HS hoàn tất phần còn lại.
– HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao.
– HS/nhóm HS trình bày sản phẩm.
– GV hướng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh giá.
Lưu ý: GV cần hướng dẫn HS cẩn thận và cụ thể để các em hiểu được nhiệm vụ của
mình. Đây là một hoạt động giúp các em đọc lại những tài liệu đã học hoặc đọc các tài liệu
mới theo yêu cầu của GV.
3.2.6. Công não (Động não)
Kĩ thuật Công não có tên tiếng Anh là Brainstorming. Dù kĩ thuật này có nhiều tên gọi
khác nhau (Công não/Tấn công não/Tập kích não/Động não) nhưng vẫn cùng bản chất là
nhằm tìm ra nhiều giải pháp sáng tạo cho một vấn đề. Kĩ thuật này được thực hiện bằng cách
tập trung suy nghĩ dựa trên vấn đề và rút ra nhiều ý kiến xoay quanh nó.
Cách tiến hành:

14

– Bước 1: Trong nhóm chọn một người đứng đầu và một người làm thư kí; nhiệm vụ của
người đứng đầu là điều khiển quá trình động não và thư kí ghi lại tất cả các ý kiến. Cả hai việc
này cũng có thể do một người thực hiện.
– Bước 2: Xác định vấn đề cần tìm hiểu.
– Bước 3: Quy định “luật chơi” cho buổi động não:
+ Nhóm trưởng có quyền điều khiển buổi làm việc;
+ Không một thành viên nào có quyền cản trở, đánh giá hay phê bình ý kiến/giải đáp
của thành viên khác;
+ Trong quá trình động não, các thành viên không được làm việc riêng;
+ Tất cả các ý kiến đều được thu nhận, ngoại trừ ý kiến giống nhau (lặp lại);
+ Định thời gian cho buổi làm việc và ngưng khi hết giờ.
– Bước 4: Bắt đầu động não, tất cả các thành viên bắt buộc lần lượt đưa ra ý kiến.
– Bước 5: Sau khi kết thúc động não, tập hợp các ý kiến và bắt đầu đánh giá.
Những điều cần lưu ý khi thực hiện:
– Vấn đề được công não phải được xác định một cách rõ ràng, chuẩn mực để thu hút sự
tập trung. Trước buổi công não, các thành viên trong nhóm cần có thời gian để làm quen và
suy nghĩ kĩ về vấn đề.
– Khi não bị “kích hoạt”, các thành viên của nhóm đều tập trung vào vấn đề, tránh các ý
kiến hay các điều kiện bên ngoài có thể làm lạc hướng buổi làm việc.
– Tất cả các ý kiến, quan niệm, phát biểu (kể cả những ý phức tạp nhất và tầm thường
nhất – theo suy nghĩ của cá nhân) đều được thu nhận và tôn trọng.
– Không được phê bình, phủ nhận hay khen ngợi một cách vội vàng cho bất kì ý kiến
nào. Bởi vì khi ý kiến của thành viên nào bị phủ nhận, thành viên đó sẽ sợ sai và có thể không
dám đưa ra ý kiến tiếp theo; hoặc khi vội vàng khen ngợi ý kiến của một thành viên có thể
làm cho họ cảm thấy thoả mãn và không còn tập trung đưa ra ý kiến nữa.
– Luôn luôn động viên, khích lệ tất cả các thành viên tham gia công não cố gắng đưa ra ý
kiến và không lo lắng hay căng thẳng về tính khả thi của nó. Có thể đặt câu hỏi gợi ý hoặc
làm cho rõ để tránh thời gian chết.
– Đưa ra càng nhiều ý tưởng càng tốt vì tất cả ý tưởng đều có một giá trị nhất định dưới
góc nhìn sáng tạo.
Công não viết là một hình thức biến đổi của Công não. Trong Công não viết, các ý tưởng
được từng thành viên tham gia viết trên giấy. Sản phẩm có thể có dạng một lược đồ tư duy.
Cách tiến hành:

15

– Đặt trên bàn 1 – 2 tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của các thành viên;
– Mỗi thành viên viết ý kiến của mình trên các tờ giấy đó;
– Có thể tham khảo các ý kiến đã ghi trên giấy của các thành viên khác để tiếp tục phát
triển suy nghĩ;
– Sau khi thu thập xong ý kiến, bắt đầu đánh giá các ý tưởng trong nhóm.
Ngoài các kĩ thuật trên, tuỳ vào năng lực của HS, GV có thể tự nghiên cứu và lựa chọn
thêm một số kĩ thuật khác như kĩ thuật Công đoạn, kĩ thuật Mảnh ghép, kĩ thuật Tia chớp, kĩ
thuật Bể cá, kĩ thuật Ổ bi,… để việc tổ chức hoạt động dạy học đa dạng và hấp dẫn, phát huy
được tính tích cực cho HS.
Cần phối hợp đa dạng các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học cùng việc hài hoà giữa
hoạt động cá nhân, nhóm và tập thể để mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất trong dạy học
đạo đức là hình thành cho HS thói quen đạo đức. Điều đó chỉ có được khi HS vận dụng một
cách thường xuyên những kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống thường ngày.
4. Phương tiện dạy học môn Đạo đức lớp 5
Phương tiện dạy học được coi là công cụ để thực hiện phương pháp dạy học. Phương tiện
dạy học môn Đạo đức là tập hợp các đối tượng vật chất và tinh thần được GV và HS sử dụng
để tổ chức, thực hiện các hoạt động trong quá trình dạy học môn học này.
Phương tiện dạy học vừa chứa đựng nội dung dạy học, vừa hỗ trợ GV vận dụng phương
pháp đạt hiệu quả cao hơn. Phương tiện còn giúp HS học tập môn Đạo đức thuận lợi, dễ dàng hơn.
Phương tiện dạy học môn Đạo đức lớp 5 rất đa dạng, phong phú, có thể chia thành hai
nhóm: nhóm phương tiện vật chất và nhóm phương tiện phi vật chất.
4.1. Nhóm phương tiện vật chất
Nhóm phương tiện này rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loại hình: tranh; ảnh;
băng hình; phim về các hành vi, việc làm, về các tình huống đạo đức hoặc minh hoạ cho các
câu chuyện đạo đức; các bảng viết; phiếu học tập; máy chiếu đa năng; máy tính; mô hình; vật
mẫu,... Trong dạy học môn Đạo đức lớp 5, có thể sử dụng và khai thác các loại phương tiện
vật chất sau:
a. Các phương tiện in, vẽ
SGK, sách giáo viên (SGV), vở bài tập (VBT) Đạo đức và các sách tham khảo khác dành
cho GV và HS. Các loại tranh ảnh minh hoạ truyện đạo đức, minh hoạ tình huống đạo đức,
minh hoạ các hành vi, việc làm phù hợp hoặc không phù hợp với chuẩn mực xã hội (được
cung cấp hoặc do GV và HS sưu tầm phục vụ quá trình dạy – học).
Các loại phiếu học tập (phiếu giao việc, phiếu rèn luyện): phiếu học tập có thể sử dụng để
tìm hiểu tri thức mới, các tình huống học tập, các bài tập cần thực hiện, các chỉ dẫn HS cách
làm sản phẩm, hoặc dùng để ghi chép lại những quan sát, những công việc đã làm được.
16

b. Các phương tiện là đồ vật, mô hình, vật mô phỏng
Mẫu vật, mô hình, đồ vật thường được sử dụng trong dạy học môn Đạo đức lớp 5 thông
qua trò chơi sắm vai, qua các hoạt động quan sát để HS có biểu tượng thực tế. Các loại dụng
cụ này được dùng chủ yếu trong quá trình thực hành, rèn luyện của HS.
c. Các phương tiện nghe nhìn
Bao gồm phần mềm dạy học; phim đèn chiếu; băng đĩa, video clip minh hoạ truyện kể
đạo đức, mô tả tình huống đạo đức và các cách hành động, ứng xử; bài giảng điện tử; máy
tính (nối mạng Internet); máy chiếu; ti vi; máy chiếu vật thể;... Trong dạy học môn Đạo đức
lớp 5, các phương tiện nghe nhìn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để GV và HS có thể
khai thác, tìm kiếm thông tin, phát triển năng lực sáng tạo của HS và tạo hứng thú cho HS
trong quá trình hoạt động.
4.2. Nhóm phương tiện phi vật chất
Nhóm phương tiện này bao gồm ngôn ngữ sư phạm, cảm xúc – tình cảm, hành vi, lối
sống,... của GV được sử dụng trong quá trình dạy học môn Đạo đức. Hai nhóm phương tiện
này cần được sử dụng kết hợp trong quá trình dạy học mới mang lại hiệu quả. Sự động viên,
khích lệ, khen ngợi, tuyên dương tiến bộ của HS từ nhà trường, từ phía GV, từ tập thể lớp
cũng là động lực thúc đẩy HS phấn đấu hoàn thiện bản thân.
Trong các phương tiện phi vật chất này, cần nhấn mạnh vai trò nêu gương của người lớn
trong việc giáo dục đạo đức cho HS. Bởi với HS nhỏ tuổi, cơ chế bắt chước hành vi người lớn
vẫn chi phối suy nghĩ, hành động của các em. Chính vì vậy, để giáo dục đạo đức cho HS
thành công, cần sự phối hợp thống nhất giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội.
5. Hướng dẫn kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Đạo đức
5.1. Định hướng về kiểm tra, đánh giá môn Đạo đức
Ngày 4/9/2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT
về Quy định đánh giá HS tiểu học, theo đó: “Đánh giá HS tiểu học là quá trình thu thập, xử lí
thông tin thông qua các hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học
tập, rèn luyện của HS; tư vấn, hướng dẫn, động viên HS; diễn giải thông tin định tính hoặc
định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng
lực của HS tiểu học”.
Đánh giá kết quả giáo dục là đánh giá mức độ đạt được của HS về phẩm chất và năng lực
so với các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp học, cấp học nhằm xác định vị trí và ghi nhận sự tiến
bộ của mỗi HS tại thời điểm nhất định trong quá trình phát triển của bản thân; đồng thời cung
cấp thông tin để GV điều chỉnh việc dạy học và cơ quan quản lí giáo dục thực hiện phát triển
ch...
 
Gửi ý kiến