302 Nâng cao chất lượng viết chính tả cho học sinh lớp 3 sách Chân Trời Sáng Tạo.docx

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:34' 20-02-2024
Dung lượng: 449.2 KB
Số lượt tải: 32
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:34' 20-02-2024
Dung lượng: 449.2 KB
Số lượt tải: 32
Số lượt thích:
0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ….
TRƯỜNG TIỂU HỌC ….
BIỆN PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIẾT CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 3
(BỘ SÁCH CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
….., ngày …. tháng …. Năm 2022
MỤC LỤC
1. Tình trạng các giải pháp đã biết:.................................................................................................................3
2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến....................................................................................4
2.1. Mục đích của giải pháp........................................................................................................................4
2.2. Nội dung giải pháp:.............................................................................................................................5
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng viết chính tả...................................................................5
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1.
Tình trạng các giải pháp đã biết:
Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng không thể thiếu được ở
trường tiểu học. Tiếng Việt có nhiệm vụ quan trọng là trau dồi ngôn ngữ cho
học sinh, giúp học sinh học tốt những môn học khác. Môn Tiếng Việt giúp học
sinh rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và hình thành cho học sinh năng lực tư duy
và giao tiếp.
Chúng ta đều biết rằng: “Nhân cách của con người chỉ có thể được hình thành
thông qua hoạt động giao tiếp”. Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao tiếp được
thuận tiện, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ riêng. Tiếng Việt là
một ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngôn ngữ viết đóng vai
trò quan trọng của Tiếng Việt nói riêng và trong tiếng nói của các quốc gia nói
chung. Yêu cầu đầu tiên và quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng
chính tả. Có nghĩa là khi thể hiện ngôn ngữ viết cần phải tuân theo hệ thống
các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ. Hay nói cách
khác, chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được thừa nhận trong ngôn
ngữ toàn dân. Mục đích của nó là phương tiện thuận tiện cho việc giao tiếp bằng
chữ viết, bảo đảm cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất những điều đã
viết. Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị cản
trở giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước và đời
sau.
Vì vậy việc dạy chính tả đúng phải được coi trọng ngay đối với học sinh các
lớp của trường Tiểu học. Việc dạy chính tả được hiểu như rèn luyện việc thực
hiện những chuẩn mực của ngôn ngữ viết. Ở các lớp Tiểu học, chính tả sẽ tạo
điều kiện ban đầu trong hành trang ngôn ngữ cả một đời người trong các em.
Qua được học chính tả, các em nắm bắt được các quy tắc chính tả và hình thành
kỹ năng, kỹ xảo chính tả. Từ đó có thói quen viết đúng chính tả, giúp cho sự hoàn
thiện nhân cách của học sinh. Nó bắt đầu từ việc thuận tiện trong tiếp thu trí
thức qua các môn học ở Tiểu học đến việc xây dựng các văn bản trong quá trình
giao tiếp, trong học tập.
Chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học bao gồm nhiều phân môn. Phân môn
chính tả có nhiệm vụ chủ yếu rèn cho học sinh nắm các quy tắc và các thói quen
viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng Việt. Cùng với các phân môn khác, chính tả
giúp cho học sinh chiếm lĩnh văn hoá, là công cụ để giao tiếp, tư duy để học tập,
trau dồi kiến thức và nhân cách làm người. Ngay từ đầu ở bậc Tiểu học trẻ cần
phải được học môn chính tả một cách khoa học, cẩn thận để có thể sử dụng công
cụ này suốt những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng như
trong suốt cả cuộc đời. Phân môn Chính tả có tầm quan trọng như vậy nên môn
học này cần phải được coi trọng ở các trường Tiểu học.
Qua kiểm tra đánh giá chất lượng đầu năm về phân môn Chính tả với kết quả như
sau:
3
Bảng 1: KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA HỌC SINH KHỐI 3 THỜI ĐIỂM
THÁNG 9/2021
Lớp
TS
HS
3A
38
Số HS viết đúng chính
tả
Số HS viết sai chính tả
(âm đầu, vần và thanh)
SL
%
SL
%
26
68,4
12
31,6
Từ bảng phân loại đánh giá trên cho thấy hiện tượng mắc lỗi của học sinh do
nhiều nguyên nhân, nhiều yếu tố. Song, lỗi đó có 3 nguyên nhân cơ bản sau:
* Các yếu tố khách quan:
- Do tình hình dịch bệnh covid 19 học sinh bị gián đoạn học tập, nhiều em bị
bệnh phải nghỉ học, có những quãng thời gian phải học trực tuyến dài ngày giáo
viên khó quan sát trực tiếp vở của học sinh khi viết chính tả.
* Các lỗi thuộc về học sinh:
- Chủ yếu là do học sinh phát âm sai. Thường các em còn phát âm lẫn lộn giữa
âm l / n nên không phân biệt được khi viết.
- Do quên mặt chữ cái ghi âm, ghi tiếng từ.
- Một số em chưa hiểu kĩ thuật viết hoa Tiếng Việt và tiếng nước ngoài.
- Một số em nhầm lẫn giữa các âm đầu, vần, thanh điệu.
- Không nắm vững các luật chính tả.
- Chưa có ý thức rèn chữ viết để viết đúng, viết đẹp, sạch sẽ.
- Vốn từ của các em còn ít, chưa hiểu nghĩa của một số từ nên dễ viết sai.
* Các lỗi thuộc về gia đình học sinh:
- Do cách phát âm của ông bà, cha mẹ hoặc những người gần gũi với học sinh
chưa chuẩn, nói ngọng.
- Phụ huynh mặc dù quan tâm đến các con nhưng có những gia đình bố mẹ đi làm
ăn xa không ở gần con vì vậy sự quan tâm còn hạn chế.
Tóm lại: Các nguyên nhân trên có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo
dục nói chung và môn chính tả nói riêng. Để có kết quả giảng dạy cao thì chắc
chắn phải dần dần từng bước khắc phục những nguyên nhân trên
2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến.
2.1. Mục đích của giải pháp.
- Nghiên cứu thực trạng dạy - học liên quan đến nội dung sáng kiến.
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khó khăn, tồn tại và nguyên nhân của nó trong
quá trình dạy học phân môn chính tả, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp
4
phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Chính tả ở tiểu học.
2.2. Nội dung giải pháp:
Đã có nhiều những nghiên cứu về dạy chính tả cho học sinh Tiểu học song
những nghiên cứu đó chỉ là những định hướng, hướng dẫn chung ở tất cả các khối
lớp. Việc đi vào từng giải pháp cụ thể cho từng lớp, từng đối tượng học sinh thì
người giáo viên còn gặp nhiều lúng túng, không thể áp dụng các giải pháp một
cách máy móc, dập khuôn mà cần phải đúc rút, tích luỹ kinh nghiệm bằng thực tế
giảng dạy của chính mình.
Trong cuộc sống của con người, cụ thể là người Việt Nam không chỉ giao tiếp
bằng ngôn ngữ nói mà còn giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Như trong lĩnh vực học
tập nghiên cứu tài liệu cũng như việc giao tiếp giữa những người ở xa nhau, hoặc
giữa các thế hệ đời trước với đời sau. Tiếng Việt là công cụ để giao tiếp, tư duy
và học tập. Chính vì vậy yêu cầu đặt ra trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết là
làm sao phải đảm bảo được người đọc hiểu đúng hoàn toàn ý nghĩa, nội dung
trong văn bản của người viết. Viết đúng chính tả là giúp cho học sinh có điều
kiện sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các môn học khác
trong nhà trường. Để đạt được yêu cầu này trên lĩnh vực chữ viết phải được thể
hiện một cách thống nhất trên từng con chữ, từng âm tiết Tiếng Việt. Nói một
cách khác là mỗi âm vị sẽ được thể hiện bằng một hay một tổ hợp chữ cái đồng
thời mỗi từ cũng có một cách viết nhất định, thống nhất trong cộng đồng người
Việt.
Về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, mỗi âm vị được ghi bằng một
con chữ. Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết chính tả Tiếng Việt là
thống nhất với nhau. Đọc như thế nào sẽ viết như thế ấy. Trong giờ chính tả, học
sinh sẽ xác định được cách viết đúng (viết đúng chính tả) bằng việc tiếp nhận
chính xác âm thanh của lời nói (hình thức chính tả nghe - viết). Cơ chế của cách
viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết. Giữa đọc và
viết, giữa tập đọc và viết chính tả (chính tả nghe - viết: tức là nghe đọc để viết
lại) có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng lại có quy trình hoạt động trái
ngược nhau. Nếu tập đọc là sự chuyển hoá văn bản dưới dạng âm thanh thành văn
bản viết. Có như vậy, khi giao tiếp bằng ngôn ngữ, người đọc mới hiểu đúng
hoàn toàn nội dung, ý nghĩa mà người viết gửi gắm, việc viết đúng thống nhất
như thế còn gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là: chính tả. Bởi theo nghĩa gốc thì
“chính tả” tức là “phép viết đúng” hay “lối viết hợp với chuẩn”.
Qua các bài viết chính tả rèn luyện cho học sinh “có tính kỉ luật, tính cẩn
thận và óc thẩm mĩ”. Đồng thời bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt,
chữ viết, cách biểu thị tình cảm được thể hiện trong việc viết đúng chính tả.
Chữ viết và chính tả tham gia giao tiếp với tư cách là hình thức biểu hiện ngôn
ngữ văn bản. Phương pháp này đòi hỏi học sinh luyện tập, củng cố thường xuyên
có kỹ năng chính tả trong tất cả các tiết học.
Đặc biệt trong tình hình dich bệnh covid -19 mỗi giáo viên cần phải thích ứng
chuyển từ hình thức giảng dạy trực tiếp sang giảng dạy trực tuyến
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng viết chính tả
5
Phân môn Chính tả là giúp học sinh luyện viết đúng các âm, vần khó, viết đúng
các tên riêng bao gồm cả tên riêng nước ngoài. Thông qua một số bài chính
tả học sinh còn được mở rộng vốn từ, mở rộng hiểu biết về cuộc sống. Học
sinh lớp 3 các em biết viết đúng đã khó vậy dạy cho các em kĩ năng viết đẹp còn
khó hơn gấp bội. Vì vậy mỗi giáo viên khi dạy cần phải không ngừng tự học,
sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học để tìm ra các giải pháp thích hợp giúp học
sinh viết đúng chính tả.
* Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ dạy học chính
tả.
Là người giáo viên tiểu học thì cần nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nhiệm vụ, vị
trí của phân môn Chính tả trong trường .
Đối với môn Chính tả cũng như các môn học khác phải lấy học sinh làm trung
tâm trong giờ dạy học; phát huy tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh (thay
cho các phương pháp cũ, không còn phù hợp).
Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức điều khiển hướng dẫn để học sinh tự giác,
tích cực, độc lập lĩnh hội tri thức. Khả năng sư phạm phải mềm dẻo để lôi cuốn,
hấp dẫn các em vào nội dung bài học. Học sinh có cảm giác “Học mà chơi, chơi
mà học”.
Khắc phục tình trạng nói ngọng, đọc ngọng của giáo viên, nâng cao ý thức tự đào
tạo mình. Trước khi lên lớp, giáo viên phải soạn bài, chuẩn bị bài, đọc mẫu thật
chu đáo.
Việc soạn, giảng, kiểm tra - nhận xét là 3 hoạt động phải có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, quan tâm đầy đủ đến 3 đối tượng học sinh.
Khi kiểm tra vở viết của học sinh xong, giáo viên phải phân loại lỗi, chữa lỗi từng
học sinh.
Việc sửa lỗi cho học sinh được lặp đi lặp lại không những ở môn Chính tả mà còn
ở các môn học khác.
* Giải pháp 2: Khắc phục phát âm sai.
- Trong các giờ học giáo viên luôn chú ý rèn luyện cho các em đọc đúng, đưa
ra cách sửa và hướng dẫn các em sửa lỗi bởi vì phát âm sai dẫn đến viết sai.
- Đối với học sinh phát âm (nói) ngọng n/l, ch/tr, s/x, r/d/gi, nhầm lẫn vần, dấu
thanh, giáo viên có thể sửa luôn bằng cách lấy hai tiếng mà học sinh nhầm cho
phát âm lại (nghe cô phát âm để phân biệt) hoặc giải nghĩa từ, hoặc đưa vào trong
câu văn cụ thể cho học sinh nhớ và viết đúng.
Tôi rèn chủ yếu trong giờ đọc và thời gian rèn chữ viết khó trong khi đọc phân
môn Chính tả. Những em nào còn ngọng "những" đọc thành "nhứng"; "buồm"
đọc " buồng"; "lúa" đọc thành "núa" rèn cho các em có thói quen luyện đọc đúng,
nói đúng hiểu nghĩa đúng của tiếng hoặc từ, từ đó các em sẽ viết đúng. Tiếng
"nhứng" và "những" phải so sách để học sinh hiểu chữ này giống nhau ở âm và
vần, chỉ có khác ở dấu thanh.
* Giải pháp 3: Khắc phục lỗi nhầm lần giữa các âm đầu
Khắc phục lỗi các em còn nhầm lẫn khi viết các phụ âm trước các âm (e, ê, i)
6
tôi cho các em làm các dạng bài tập.
- Dựa các bài tập nhận dạng để phân biệt trong các giờ chính tả từng bài. Lựa
chọn các bài phân biệt phù hợp với đối tượng của các em để rèn luyện theo đúng
yêu cầu kiến thức và kỹ năng. Có thể tổ chức dưới dạng trò chơi:
- Dạng 1: Điền vào chỗ trống r/d/gi (bài 3 trang 84 sách chân trời sáng tạo tập 1)
Cánh đồng mới gặt
Lúa thoảng mùi thơm
Úa vàng cọng …ơm
Cùng …iều theo …ó
- Dạng 2: Điền vào chỗ trống s/x (bài 3 trang 98 sách Chân trời sáng tạo tập 1)
Cửa ..ổ - com mắt ngôi nhà
Mở ra nhìn khắp núi ..a, …ông dài
Cho em ánh …áng học bài
Đón bao gió mát, đêm cài trăng …ao
- Dạng 3: Phân biệt ch/tr
(bài 3 trang 34 sách Chân trời sáng tạo tập 1)
7
Cây bàng là …iếc nhà con
Bàng thương lũ trẻ, bóng …òn che ..,ung
Cây là cột, cành là khung
Lá xòe bên lá lợp …ời xanh.
- Cho học sinh giải nghĩa từ, học sinh tự phân biệt, đưa từ đó vào văn cảnh để
phân biệt và viết đúng.
* Giải pháp 4: Phân biệt âm l với âm n
Một là: Phân biệt âm l với âm n dựa vào từ "láy âm".
Khi ở vị trí thứ nhất trong một từ láy, l có thể láy âm với các âm đầu khác còn n
thì không có khả năng này. Do vậy khi gặp một tiếng mà không biết tiếng ấy viết
bằng phụ âm đầu l hay n, ta hãy thử tạo ra một từ láy âm (láy chính phụ âm đầu l
hoặc n) từ tiếng ấy, nếu được thì tiếng đó chính là được viết bằng phụ âm đầu l.
Ví dụ:
+ l láy với d: lò dò, lim dim....
+ l láy với h: loay hoay, lúi húi...
+ l láy với m: liên miên, lan man...
+ l láy với b: lắp bắp (có nghĩa)
+ n láy với b: nắp bắp (không có nghĩa)
+ l láy với c (k, q): la cà, lỉnh lỉnh, luẩn quẩn, ...
+ l láy với x: lao xao, lăng xăng, ...
+ l láy với t: le te, lon ton...
+ l láy với r: lào rào
+ l láy với v: lở vởn, lảng vảng, le ve...
+ l láy với kh: lom khom, lênh khênh...
+ l láy với ng: lơ ngơ, loằng ngoằng...
+ l láy với ch: loắt choắt, láng cháng...
+ l láy với nh: lăng nhăng, lem nhem, lằng nhằng, ...
8
Khi ở vị trí thứ hai của từ láy âm ta có một số quy tắc khác như sau:
+ l láy âm với các âm khác trừ âm đầu là gi hoặc không có âm đầu (trừ: khúm
núm, khệ nệ).
Ví dụ:
+ l láy với b: lóng ngóng, lòng bòng, ...
+ l láy với ch: cheo leo, chói lọi, ...
+ l láy với kh: khéo léo, khóc lóc, ...
Trong thực tế n chỉ láy với gi: giãy nảy, gian nan, ... và chỉ láy với tiếng không có
âm đầu: áy náy, ảo não, ...
* Tóm lại: l và n không láy với nhau trong cùng một từ láy. l có thể láy với nhiều
phụ âm khác (trừ n). Ngược lại n chỉ láy với chính nó mà thôi (không láy với bất
kì phụ âm nào khác).
Ví dụ: lạnh lùng, lông bông, loạng choạng, ...
- no nê, nao núng, nợ nần, ..
- Ngoài ra /n/ còn láy với những âm tiết không có âm đầu: Ví dụ: ảo não, áy
náy,...
Hai là: Phân biệt âm l với âm n dựa vào từ "điệp âm".
/l/ láy âm rất rộng rãi, trái lại /n/ không láy âm với một âm nào mà chỉ điệp
âm với chính nó. Đồng thời lại không có hiện tượng /l/ láy âm với /n/. Từ đó
suy ra quy tắc: Nếu gặp một từ láy mà hai âm đầu đọc giống nhau thì nhất định là
một điệp âm đầu và cả hai chữ phải cùng có âm đầu là /l/ hoặc /n/. Vì vậy ta
chỉ cần biết một chữ là đủ.
Ví dụ: bài 3 trang 101 sách Chân trời sáng tạo tập 2
Lấp loáng, long lanh, lanh lảnh, ....
No nê, nóng nực, ninh ních, nõn nà, ...
Trên đây là một số luật nhận diện chữ cái phân biệt l/n trong khi viết chính
tả mà tôi nắm được để hướng dẫn các em viết chính tả.
* Giải pháp 5 : Khắc phục lỗi viết hoa chưa đúng:
- Cần cho học sinh nắm chắc quy tắc viết hoa (chữ đầu câu sau dấu chấm, tên
9
người, tên địa danh: núi, sông, tên riêng, tên nước ngoài) sử dụng viết trong tất cả
các môn học.
Người viết
Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499
10
TRƯỜNG TIỂU HỌC ….
BIỆN PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIẾT CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 3
(BỘ SÁCH CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
….., ngày …. tháng …. Năm 2022
MỤC LỤC
1. Tình trạng các giải pháp đã biết:.................................................................................................................3
2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến....................................................................................4
2.1. Mục đích của giải pháp........................................................................................................................4
2.2. Nội dung giải pháp:.............................................................................................................................5
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng viết chính tả...................................................................5
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1.
Tình trạng các giải pháp đã biết:
Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng không thể thiếu được ở
trường tiểu học. Tiếng Việt có nhiệm vụ quan trọng là trau dồi ngôn ngữ cho
học sinh, giúp học sinh học tốt những môn học khác. Môn Tiếng Việt giúp học
sinh rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và hình thành cho học sinh năng lực tư duy
và giao tiếp.
Chúng ta đều biết rằng: “Nhân cách của con người chỉ có thể được hình thành
thông qua hoạt động giao tiếp”. Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao tiếp được
thuận tiện, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ riêng. Tiếng Việt là
một ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngôn ngữ viết đóng vai
trò quan trọng của Tiếng Việt nói riêng và trong tiếng nói của các quốc gia nói
chung. Yêu cầu đầu tiên và quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng
chính tả. Có nghĩa là khi thể hiện ngôn ngữ viết cần phải tuân theo hệ thống
các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ. Hay nói cách
khác, chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được thừa nhận trong ngôn
ngữ toàn dân. Mục đích của nó là phương tiện thuận tiện cho việc giao tiếp bằng
chữ viết, bảo đảm cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất những điều đã
viết. Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị cản
trở giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước và đời
sau.
Vì vậy việc dạy chính tả đúng phải được coi trọng ngay đối với học sinh các
lớp của trường Tiểu học. Việc dạy chính tả được hiểu như rèn luyện việc thực
hiện những chuẩn mực của ngôn ngữ viết. Ở các lớp Tiểu học, chính tả sẽ tạo
điều kiện ban đầu trong hành trang ngôn ngữ cả một đời người trong các em.
Qua được học chính tả, các em nắm bắt được các quy tắc chính tả và hình thành
kỹ năng, kỹ xảo chính tả. Từ đó có thói quen viết đúng chính tả, giúp cho sự hoàn
thiện nhân cách của học sinh. Nó bắt đầu từ việc thuận tiện trong tiếp thu trí
thức qua các môn học ở Tiểu học đến việc xây dựng các văn bản trong quá trình
giao tiếp, trong học tập.
Chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học bao gồm nhiều phân môn. Phân môn
chính tả có nhiệm vụ chủ yếu rèn cho học sinh nắm các quy tắc và các thói quen
viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng Việt. Cùng với các phân môn khác, chính tả
giúp cho học sinh chiếm lĩnh văn hoá, là công cụ để giao tiếp, tư duy để học tập,
trau dồi kiến thức và nhân cách làm người. Ngay từ đầu ở bậc Tiểu học trẻ cần
phải được học môn chính tả một cách khoa học, cẩn thận để có thể sử dụng công
cụ này suốt những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng như
trong suốt cả cuộc đời. Phân môn Chính tả có tầm quan trọng như vậy nên môn
học này cần phải được coi trọng ở các trường Tiểu học.
Qua kiểm tra đánh giá chất lượng đầu năm về phân môn Chính tả với kết quả như
sau:
3
Bảng 1: KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA HỌC SINH KHỐI 3 THỜI ĐIỂM
THÁNG 9/2021
Lớp
TS
HS
3A
38
Số HS viết đúng chính
tả
Số HS viết sai chính tả
(âm đầu, vần và thanh)
SL
%
SL
%
26
68,4
12
31,6
Từ bảng phân loại đánh giá trên cho thấy hiện tượng mắc lỗi của học sinh do
nhiều nguyên nhân, nhiều yếu tố. Song, lỗi đó có 3 nguyên nhân cơ bản sau:
* Các yếu tố khách quan:
- Do tình hình dịch bệnh covid 19 học sinh bị gián đoạn học tập, nhiều em bị
bệnh phải nghỉ học, có những quãng thời gian phải học trực tuyến dài ngày giáo
viên khó quan sát trực tiếp vở của học sinh khi viết chính tả.
* Các lỗi thuộc về học sinh:
- Chủ yếu là do học sinh phát âm sai. Thường các em còn phát âm lẫn lộn giữa
âm l / n nên không phân biệt được khi viết.
- Do quên mặt chữ cái ghi âm, ghi tiếng từ.
- Một số em chưa hiểu kĩ thuật viết hoa Tiếng Việt và tiếng nước ngoài.
- Một số em nhầm lẫn giữa các âm đầu, vần, thanh điệu.
- Không nắm vững các luật chính tả.
- Chưa có ý thức rèn chữ viết để viết đúng, viết đẹp, sạch sẽ.
- Vốn từ của các em còn ít, chưa hiểu nghĩa của một số từ nên dễ viết sai.
* Các lỗi thuộc về gia đình học sinh:
- Do cách phát âm của ông bà, cha mẹ hoặc những người gần gũi với học sinh
chưa chuẩn, nói ngọng.
- Phụ huynh mặc dù quan tâm đến các con nhưng có những gia đình bố mẹ đi làm
ăn xa không ở gần con vì vậy sự quan tâm còn hạn chế.
Tóm lại: Các nguyên nhân trên có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo
dục nói chung và môn chính tả nói riêng. Để có kết quả giảng dạy cao thì chắc
chắn phải dần dần từng bước khắc phục những nguyên nhân trên
2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến.
2.1. Mục đích của giải pháp.
- Nghiên cứu thực trạng dạy - học liên quan đến nội dung sáng kiến.
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khó khăn, tồn tại và nguyên nhân của nó trong
quá trình dạy học phân môn chính tả, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp
4
phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Chính tả ở tiểu học.
2.2. Nội dung giải pháp:
Đã có nhiều những nghiên cứu về dạy chính tả cho học sinh Tiểu học song
những nghiên cứu đó chỉ là những định hướng, hướng dẫn chung ở tất cả các khối
lớp. Việc đi vào từng giải pháp cụ thể cho từng lớp, từng đối tượng học sinh thì
người giáo viên còn gặp nhiều lúng túng, không thể áp dụng các giải pháp một
cách máy móc, dập khuôn mà cần phải đúc rút, tích luỹ kinh nghiệm bằng thực tế
giảng dạy của chính mình.
Trong cuộc sống của con người, cụ thể là người Việt Nam không chỉ giao tiếp
bằng ngôn ngữ nói mà còn giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Như trong lĩnh vực học
tập nghiên cứu tài liệu cũng như việc giao tiếp giữa những người ở xa nhau, hoặc
giữa các thế hệ đời trước với đời sau. Tiếng Việt là công cụ để giao tiếp, tư duy
và học tập. Chính vì vậy yêu cầu đặt ra trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết là
làm sao phải đảm bảo được người đọc hiểu đúng hoàn toàn ý nghĩa, nội dung
trong văn bản của người viết. Viết đúng chính tả là giúp cho học sinh có điều
kiện sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các môn học khác
trong nhà trường. Để đạt được yêu cầu này trên lĩnh vực chữ viết phải được thể
hiện một cách thống nhất trên từng con chữ, từng âm tiết Tiếng Việt. Nói một
cách khác là mỗi âm vị sẽ được thể hiện bằng một hay một tổ hợp chữ cái đồng
thời mỗi từ cũng có một cách viết nhất định, thống nhất trong cộng đồng người
Việt.
Về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, mỗi âm vị được ghi bằng một
con chữ. Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết chính tả Tiếng Việt là
thống nhất với nhau. Đọc như thế nào sẽ viết như thế ấy. Trong giờ chính tả, học
sinh sẽ xác định được cách viết đúng (viết đúng chính tả) bằng việc tiếp nhận
chính xác âm thanh của lời nói (hình thức chính tả nghe - viết). Cơ chế của cách
viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết. Giữa đọc và
viết, giữa tập đọc và viết chính tả (chính tả nghe - viết: tức là nghe đọc để viết
lại) có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng lại có quy trình hoạt động trái
ngược nhau. Nếu tập đọc là sự chuyển hoá văn bản dưới dạng âm thanh thành văn
bản viết. Có như vậy, khi giao tiếp bằng ngôn ngữ, người đọc mới hiểu đúng
hoàn toàn nội dung, ý nghĩa mà người viết gửi gắm, việc viết đúng thống nhất
như thế còn gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là: chính tả. Bởi theo nghĩa gốc thì
“chính tả” tức là “phép viết đúng” hay “lối viết hợp với chuẩn”.
Qua các bài viết chính tả rèn luyện cho học sinh “có tính kỉ luật, tính cẩn
thận và óc thẩm mĩ”. Đồng thời bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt,
chữ viết, cách biểu thị tình cảm được thể hiện trong việc viết đúng chính tả.
Chữ viết và chính tả tham gia giao tiếp với tư cách là hình thức biểu hiện ngôn
ngữ văn bản. Phương pháp này đòi hỏi học sinh luyện tập, củng cố thường xuyên
có kỹ năng chính tả trong tất cả các tiết học.
Đặc biệt trong tình hình dich bệnh covid -19 mỗi giáo viên cần phải thích ứng
chuyển từ hình thức giảng dạy trực tiếp sang giảng dạy trực tuyến
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng viết chính tả
5
Phân môn Chính tả là giúp học sinh luyện viết đúng các âm, vần khó, viết đúng
các tên riêng bao gồm cả tên riêng nước ngoài. Thông qua một số bài chính
tả học sinh còn được mở rộng vốn từ, mở rộng hiểu biết về cuộc sống. Học
sinh lớp 3 các em biết viết đúng đã khó vậy dạy cho các em kĩ năng viết đẹp còn
khó hơn gấp bội. Vì vậy mỗi giáo viên khi dạy cần phải không ngừng tự học,
sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học để tìm ra các giải pháp thích hợp giúp học
sinh viết đúng chính tả.
* Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ dạy học chính
tả.
Là người giáo viên tiểu học thì cần nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nhiệm vụ, vị
trí của phân môn Chính tả trong trường .
Đối với môn Chính tả cũng như các môn học khác phải lấy học sinh làm trung
tâm trong giờ dạy học; phát huy tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh (thay
cho các phương pháp cũ, không còn phù hợp).
Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức điều khiển hướng dẫn để học sinh tự giác,
tích cực, độc lập lĩnh hội tri thức. Khả năng sư phạm phải mềm dẻo để lôi cuốn,
hấp dẫn các em vào nội dung bài học. Học sinh có cảm giác “Học mà chơi, chơi
mà học”.
Khắc phục tình trạng nói ngọng, đọc ngọng của giáo viên, nâng cao ý thức tự đào
tạo mình. Trước khi lên lớp, giáo viên phải soạn bài, chuẩn bị bài, đọc mẫu thật
chu đáo.
Việc soạn, giảng, kiểm tra - nhận xét là 3 hoạt động phải có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, quan tâm đầy đủ đến 3 đối tượng học sinh.
Khi kiểm tra vở viết của học sinh xong, giáo viên phải phân loại lỗi, chữa lỗi từng
học sinh.
Việc sửa lỗi cho học sinh được lặp đi lặp lại không những ở môn Chính tả mà còn
ở các môn học khác.
* Giải pháp 2: Khắc phục phát âm sai.
- Trong các giờ học giáo viên luôn chú ý rèn luyện cho các em đọc đúng, đưa
ra cách sửa và hướng dẫn các em sửa lỗi bởi vì phát âm sai dẫn đến viết sai.
- Đối với học sinh phát âm (nói) ngọng n/l, ch/tr, s/x, r/d/gi, nhầm lẫn vần, dấu
thanh, giáo viên có thể sửa luôn bằng cách lấy hai tiếng mà học sinh nhầm cho
phát âm lại (nghe cô phát âm để phân biệt) hoặc giải nghĩa từ, hoặc đưa vào trong
câu văn cụ thể cho học sinh nhớ và viết đúng.
Tôi rèn chủ yếu trong giờ đọc và thời gian rèn chữ viết khó trong khi đọc phân
môn Chính tả. Những em nào còn ngọng "những" đọc thành "nhứng"; "buồm"
đọc " buồng"; "lúa" đọc thành "núa" rèn cho các em có thói quen luyện đọc đúng,
nói đúng hiểu nghĩa đúng của tiếng hoặc từ, từ đó các em sẽ viết đúng. Tiếng
"nhứng" và "những" phải so sách để học sinh hiểu chữ này giống nhau ở âm và
vần, chỉ có khác ở dấu thanh.
* Giải pháp 3: Khắc phục lỗi nhầm lần giữa các âm đầu
Khắc phục lỗi các em còn nhầm lẫn khi viết các phụ âm trước các âm (e, ê, i)
6
tôi cho các em làm các dạng bài tập.
- Dựa các bài tập nhận dạng để phân biệt trong các giờ chính tả từng bài. Lựa
chọn các bài phân biệt phù hợp với đối tượng của các em để rèn luyện theo đúng
yêu cầu kiến thức và kỹ năng. Có thể tổ chức dưới dạng trò chơi:
- Dạng 1: Điền vào chỗ trống r/d/gi (bài 3 trang 84 sách chân trời sáng tạo tập 1)
Cánh đồng mới gặt
Lúa thoảng mùi thơm
Úa vàng cọng …ơm
Cùng …iều theo …ó
- Dạng 2: Điền vào chỗ trống s/x (bài 3 trang 98 sách Chân trời sáng tạo tập 1)
Cửa ..ổ - com mắt ngôi nhà
Mở ra nhìn khắp núi ..a, …ông dài
Cho em ánh …áng học bài
Đón bao gió mát, đêm cài trăng …ao
- Dạng 3: Phân biệt ch/tr
(bài 3 trang 34 sách Chân trời sáng tạo tập 1)
7
Cây bàng là …iếc nhà con
Bàng thương lũ trẻ, bóng …òn che ..,ung
Cây là cột, cành là khung
Lá xòe bên lá lợp …ời xanh.
- Cho học sinh giải nghĩa từ, học sinh tự phân biệt, đưa từ đó vào văn cảnh để
phân biệt và viết đúng.
* Giải pháp 4: Phân biệt âm l với âm n
Một là: Phân biệt âm l với âm n dựa vào từ "láy âm".
Khi ở vị trí thứ nhất trong một từ láy, l có thể láy âm với các âm đầu khác còn n
thì không có khả năng này. Do vậy khi gặp một tiếng mà không biết tiếng ấy viết
bằng phụ âm đầu l hay n, ta hãy thử tạo ra một từ láy âm (láy chính phụ âm đầu l
hoặc n) từ tiếng ấy, nếu được thì tiếng đó chính là được viết bằng phụ âm đầu l.
Ví dụ:
+ l láy với d: lò dò, lim dim....
+ l láy với h: loay hoay, lúi húi...
+ l láy với m: liên miên, lan man...
+ l láy với b: lắp bắp (có nghĩa)
+ n láy với b: nắp bắp (không có nghĩa)
+ l láy với c (k, q): la cà, lỉnh lỉnh, luẩn quẩn, ...
+ l láy với x: lao xao, lăng xăng, ...
+ l láy với t: le te, lon ton...
+ l láy với r: lào rào
+ l láy với v: lở vởn, lảng vảng, le ve...
+ l láy với kh: lom khom, lênh khênh...
+ l láy với ng: lơ ngơ, loằng ngoằng...
+ l láy với ch: loắt choắt, láng cháng...
+ l láy với nh: lăng nhăng, lem nhem, lằng nhằng, ...
8
Khi ở vị trí thứ hai của từ láy âm ta có một số quy tắc khác như sau:
+ l láy âm với các âm khác trừ âm đầu là gi hoặc không có âm đầu (trừ: khúm
núm, khệ nệ).
Ví dụ:
+ l láy với b: lóng ngóng, lòng bòng, ...
+ l láy với ch: cheo leo, chói lọi, ...
+ l láy với kh: khéo léo, khóc lóc, ...
Trong thực tế n chỉ láy với gi: giãy nảy, gian nan, ... và chỉ láy với tiếng không có
âm đầu: áy náy, ảo não, ...
* Tóm lại: l và n không láy với nhau trong cùng một từ láy. l có thể láy với nhiều
phụ âm khác (trừ n). Ngược lại n chỉ láy với chính nó mà thôi (không láy với bất
kì phụ âm nào khác).
Ví dụ: lạnh lùng, lông bông, loạng choạng, ...
- no nê, nao núng, nợ nần, ..
- Ngoài ra /n/ còn láy với những âm tiết không có âm đầu: Ví dụ: ảo não, áy
náy,...
Hai là: Phân biệt âm l với âm n dựa vào từ "điệp âm".
/l/ láy âm rất rộng rãi, trái lại /n/ không láy âm với một âm nào mà chỉ điệp
âm với chính nó. Đồng thời lại không có hiện tượng /l/ láy âm với /n/. Từ đó
suy ra quy tắc: Nếu gặp một từ láy mà hai âm đầu đọc giống nhau thì nhất định là
một điệp âm đầu và cả hai chữ phải cùng có âm đầu là /l/ hoặc /n/. Vì vậy ta
chỉ cần biết một chữ là đủ.
Ví dụ: bài 3 trang 101 sách Chân trời sáng tạo tập 2
Lấp loáng, long lanh, lanh lảnh, ....
No nê, nóng nực, ninh ních, nõn nà, ...
Trên đây là một số luật nhận diện chữ cái phân biệt l/n trong khi viết chính
tả mà tôi nắm được để hướng dẫn các em viết chính tả.
* Giải pháp 5 : Khắc phục lỗi viết hoa chưa đúng:
- Cần cho học sinh nắm chắc quy tắc viết hoa (chữ đầu câu sau dấu chấm, tên
9
người, tên địa danh: núi, sông, tên riêng, tên nước ngoài) sử dụng viết trong tất cả
các môn học.
Người viết
Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499
10
 








Các ý kiến mới nhất