Tài liêu Y tế học đường mới

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Bộ giáo dục
Người gửi: Nguyễn Công Long
Ngày gửi: 07h:50' 01-02-2024
Dung lượng: 8.9 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn: Bộ giáo dục
Người gửi: Nguyễn Công Long
Ngày gửi: 07h:50' 01-02-2024
Dung lượng: 8.9 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING
CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC
CHO NHÂN VIÊN Y TẾ TRƯỜNG HỌC
HỌC PHẦN 7
TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
ngày
(Ban hành kèm theo Quyết định số
/QĐ-BGDĐT
tháng năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Hà Nội, 2024
CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN
PGS.TS. Nguyễn Thanh Đề
Vụ trưởng Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
TS. Nguyễn Nho Huy
Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
BAN BIÊN SOẠN CÁC TÀI LIỆU
1. NGND.PGS.TS. Nguyễn Võ Kỳ Anh
Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Trưởng ban biên soạn các tài liệu.
2. TS.BS. Lê Văn Tuấn
Chuyên viên cao cấp Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Trưởng nhóm thư ký biên soạn các tài liệu.
BAN BIÊN SOẠN HỌC PHẦN 7
1. ThS. Vũ Mạnh Cường, Giám đốc Trung tâm Truyền thông - Giáo dục
sức khỏe Trung ương, Bộ Y tế (Trưởng ban).
2. BS. Đặng Phương Liên, Phó trưởng phòng Tổ chức - Hành chính,
Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe Trung ương, Bộ Y tế
(Thành viên, Thư ký).
3. ThS.BS. Lý Thu Hiền, Trưởng phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa
học, Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe Trung ương, Bộ Y
tế (Thành viên).
4. ThS.BS. Trương Quang Tiến, Giảng viên chính Trường Đại học Y tế
Công cộng (Thành viên).
5. TS. Bùi Hữu Toàn, Chuyên viên chính Cục Quản lý Môi trường Y tế,
Bộ Y tế (Thành viên).
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU
Truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) có vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe học sinh trong thời gian được nuôi dạy
và học tập ở trường. Các yếu tố nguy cơ tác động trực tiếp tới cơ thể đang
phát triển của các em, nếu không được truyền thông giáo dục sức khỏe để
kiểm soát tốt sẽ trở thành nguy cơ phát sinh bệnh tật, ảnh hưởng xấu tới
sức khỏe và thành tích học tập học sinh.
Tài liệu (học phần) Truyền thông giáo dục sức khỏe là một trong 8 tài
liệu thuộc Chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực cho nhân viên y
tế trường học do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn. Mục tiêu của
tài liệu này nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng về thực hiện hoạt động
TTGDSK trong nhà trường, cung cấp cho các nhà quản lý giáo dục, giáo
viên và nhân viên y tế trường học những thông tin chung về TTGDSK, giới
thiệu một số hình thức TTGDSK. Trên cơ sở đó, các trường xây dựng các
kế hoạch TTGDSK cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của trường mình.
Tài liệu này gồm các phần: Tổng quan về TTGDSK tại trường học, Kỹ
năng TTGDSK, Một số hình thức TTGDSK phù hợp tại trường học.
Tài liệu này có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy, tham khảo cho các
nhân viên y tế trường học chuyên trách, nhân viên kiêm nhiệm công tác y
tế trường học, sinh viên khối ngành sức khỏe, và các đối tượng khác liên
quan giúp họ có đầy đủ kiến thức về TTGDSK và áp dụng vào thực tế công
tác y tế trường học tại đơn vị mình.
Chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực cho nhân viên y tế trường
học được xây dựng bởi các chuyên gia về y tế trường học với sự hỗ trợ về
tài chính, kỹ thuật, và kinh nghiệm triển khai các dự án liên quan đến y
tế học đường trong thực tế của Tổ chức Cứu trợ Trẻ em (Save the Children)
tại Việt Nam.
Bộ Giáo dục và Đào tạo trân trọng đón nhận các ý kiến đóng góp của
bạn đọc để tài liệu hướng dẫn ngày càng hoàn thiện. Mọi ý kiến đóng góp
xin gửi về địa chỉ: Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vụ Giáo dục thể chất), 35 Đại Cồ
Việt, Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
4
CSGD
Cơ sở giáo dục
GDĐT
Giáo dục và Đào tạo
HS
Học sinh
MN
Mầm non
MXH
Mạng xã hội
PHHS
Phụ huynh học sinh
TTGDSK
Truyền thông giáo dục sức khỏe
YTTH
Y tế trường học
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
4
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG GIÁO
DỤC SỨC KHỎE TẠI TRƯỜNG HỌC
7
1. Một số khái niệm cơ bản
7
2. Quá trình truyền thông và mô hình truyền thông
12
3. Hành vi sức khỏe của học sinh
20
4. Truyền thông giáo dục sức khỏe tại trường học
32
Câu hỏi lượng giá cuối bài
36
BÀI 2: KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
39
1. Nguyên tắc cơ bản của truyền thông trực tiếp
40
2. Một số kỹ năng cơ bản trong truyền thông trực tiếp
41
3. Thực hành TTGDSK trực tiếp
67
Câu hỏi lượng giá cuối bài
68
BÀI 3: MỘT SỐ HÌNH THỨC TRUYỀN THÔNG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE PHÙ HỢP TẠI TRƯỜNG HỌC
71
1. Tầm quan trọng của việc lựa chọn các hình thức
truyền thông phù hợp
71
2. Một số hình thức TTGDSK trực tiếp
74
3. Một số hình thức truyền thông giáo dục sức khỏe
gián tiếp
91
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
5
MỤC LỤC
4. Lập kế hoạch TTGDSK tại trường học
97
Câu hỏi lượng giá cuối bài
103
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC I: Mẫu Kế hoạch truyền thông
104
PHỤ LỤC II: Ví dụ Kế hoạch truyền thông
105
PHỤ LỤC III: Mẫu Kế hoạch một buổi truyền thông
110
PHỤ LỤC IV: Ví dụ Kế hoạch truyền thông
111
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
104
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
113
BÀI 1
TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE TẠI
TRƯỜNG HỌC
BÀI
1
Mục tiêu bài học:
Sau khi kết thúc bài học, người học có khả năng:
1. Nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác truyền thông
giáo dục sức khỏe tại trường học.
2. Trình bày được các khái niệm cơ bản về truyền thông giáo
dục sức khỏe, hành vi sức khỏe, hành vi có lợi và hành vi có
hại cho sức khỏe.
3. Phân tích được quá trình thay đổi hành vi và điều kiện cần
thiết để thay đổi hành vi sức khỏe của cá nhân.
1
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1. Truyền thông
Khi nói đến truyền thông, có nhiều cụm từ quen thuộc thường được
mọi người sử dụng như: thông tin, tuyên truyền và truyền thông. Những
cụm từ này có những điểm chung, nhưng cũng có những đặc thù để phân
biệt.
Thông tin, hiểu theo nghĩa hành động, là truyền đi nội dung, tin tức,
thông điệp hoặc số liệu cụ thể tới người nhận thông tin nhưng thường
không phụ thuộc vào đặc điểm và phản hồi của đối tượng tiếp nhận. Quá
trình thông tin thường hướng đến công chúng nói chung, ví dụ: thông tin
về phòng chống bệnh dịch COVID-19 cho người dân.
Tuyên truyền thường mang ý nghĩa truyền tải, phổ biến thông tin
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
7
BÀI 1
theo xu hướng một chiều, từ cơ quan hoặc cá nhân có chức năng đến công
chúng, lặp lại nhiều lần, với nhiều hình thức khác nhau trong một khoảng
thời gian nhất định, nhằm mở rộng, tăng cường độ bao phủ thông tin để
nâng cao hiểu biết của một hoặc các nhóm đối tượng khác nhau, để chấp
nhận những ý tưởng, quan điểm hoặc hành vi nào đó. Ví dụ: tuyên truyền
về chính sách bảo hiểm y tế cho người dân nhằm tăng số lượng người dân
tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; tuyên truyền về chính
sách y tế trường học.
Truyền thông là quá trình giao tiếp, trao đổi, chia sẻ thông tin giữa
các cá nhân hoặc cơ quan/tổ chức truyền tin và người nhận tin (là các
nhóm đối tượng đích hay công chúng nói chung) nhằm tăng cường hiểu
biết, kiến thức; thúc đẩy thay đổi niềm tin, thái độ và hành vi của người
nhận tin. Đặc trưng của quá trình truyền thông là tính hai chiều từ nguồn
truyền tin đến người nhận tin và ngược lại, đồng thời luôn có đối tượng
và mục tiêu truyền thông cụ thể. Ví dụ: truyền thông về các qui định tại
trường học cho học sinh với mong muốn tất cả học sinh thực hiện đúng
các qui định này.
Truyền thông sức khỏe là quá trình truyền tải, trao đổi thông tin,
những thông điệp hay nội dung về các chủ đề sức khỏe, bệnh tật, dịch
bệnh, cách thức phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe, tăng cường sức khỏe giữa
các chủ thể nhằm tăng cường hiểu biết và kiến thức về sức khỏe, thay đổi
niềm tin, thái độ, hành vi theo hướng có lợi cho sức khỏe cá nhân, nhóm
và cộng đồng để góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe của họ. Ví dụ:
truyền thông cho học sinh về phòng chống các bệnh lây nhiễm để các em
chủ động phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe của mình.
Truyền thông sức khỏe là hoạt động chức năng quan trọng trong quá
trình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và nâng cao sức khỏe cộng
đồng. Dựa vào nhu cầu về hiểu biết, kiến thức, kĩ năng về sức khỏe của
người dân nói chung, các nhóm đối tượng đích nói riêng, người làm truyền
thông sức khỏe chuẩn bị nội dung, phát triển các thông điệp sức khỏe phù
hợp để truyền tải trực tiếp hoặc gián tiếp qua các kênh truyền thông khác
nhau đến các nhóm đối tượng đích nhằm tác động đến kiến thức, niềm
tin, thái độ và hành vi của họ.
Truyền thông sức khỏe được xem là “nghệ thuật và phương pháp
truyền tải thông tin sức khỏe”, nhằm tạo ảnh hưởng và khuyến khích cá
8
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
nhân và cộng đồng quan tâm đến sức khỏe và bệnh tật, cách thức phòng
bệnh và thực hành phòng bệnh, nâng cao sức khỏe.
1.2. Truyền thông thay đổi hành vi
Truyền thông thay đổi hành vi là chiến lược truyền thông nhằm tập
trung thay đổi hành vi có hại cho sức khỏe của các đối tượng đích trở
thành hành vi tích cực, có lợi cho sức khỏe, phòng tránh các nguy cơ gây
bệnh, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe của họ và những người có
liên quan. Ví dụ: truyền thông thay đổi hành vi vệ sinh bàn tay của học
sinh trung học cơ sở để chủ động phòng tránh bệnh COVID-19 hoặc bệnh
Tiêu chảy.
Các thành phần của quá trình truyền thông thay đổi hành vi được
cân nhắc, thiết kế phù hợp dựa trên đặc điểm và nhu cầu sức khỏe của đối
tượng đích nhằm thúc đẩy, tạo ra sự thay đổi và duy trì thực hiện hành vi
có lợi cho sức khỏe của từng cá nhân và nhóm đối tượng đích, cũng như
cộng đồng nói chung.
Trong truyền thông thay đổi hành vi, bên cạnh quá trình tương tác,
cung cấp, trao đổi thông tin giữa các bên, người làm truyền thông thay
đổi hành vi còn tập trung lắng nghe, tiếp nhận phản hồi để thấu hiểu đối
tượng, từ đó hướng dẫn, hỗ trợ thuyết phục đối tượng tự nguyện thay đổi
hành vi có hại, thực hiện và duy trì hành vi có lợi cho sức khỏe.
1.3. Giáo dục sức khỏe
Giáo dục là quá trình tác động có hệ thống đến sự phát triển thể chất,
trí tuệ, tinh thần, niềm tin, thái độ và kĩ năng của các đối tượng cụ thể
thông qua quá trình dạy-học, tự học tập và nghiên cứu. Mục đích của quá
trình giáo dục là giúp cá nhân đạt được những phẩm chất và năng lực
mong muốn để sống, học tập, làm việc, giải trí hiệu quả. Giáo dục chính
là quá trình truyền thông đặc biệt, có tính tương tác cao, giúp người học
hay đối tượng đích thay đổinhận thức, hiểu biết, kiến thức, niềm tin, thái
độ và hành vi theo hướng tích cực. Ví dụ: giáo dục về kĩ năng sống cho học
sinh; giáo dục về bảo vệ môi trường sống cho học sinh,...
Giáo dục sức khỏe là những hoạt động dạy-học về chủ đề sức khỏe.
Trong quá trình này, người dạy cung cấp kiến thức sức khỏe, giúp người
học hiểu biết, nhận thức đúng về sức khỏe, phòng bệnh, bảo vệ, nâng cao
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
9
BÀI 1
sức khỏe; hướng dẫn người học thực hành, rèn luyện để có kỹ năng phòng
ngừa bệnh tật, bảo vệ sức khỏe, nâng cao sức khỏe cho bản thân họ và
cộng đồng. Ví dụ: giáo dục về chăm sóc sức khỏe răng miệng cho học sinh
tiểu học; giáo dục về sức khỏe tuổi dậy thì cho học sinh trung học cơ sở;
giáo dục về tác hại của hút thuốc lá cho học sinh trung học,...
Giáo dục sức khỏe chính là quá trình truyền thông sức khỏe đặc biệt,
mà đối tượng đích là người học cụ thể. Tùy thuộc người học hay đối tượng
giáo dục là ai, nhu cầu giáo dục sức khỏe của họ là những gì (ví dụ: hiểu
biết, kiến thức, niềm tin, thái độ, thực hành, kĩ năng về phòng bệnh, bảo
vệ sức khỏe, nâng cao sức khỏe), các mục tiêu giáo dục sức khỏe cụ thể
được xác định, từ đó thiết kế các hoạt động giáo dục sức khỏe với những
phương pháp giáo dục sức khỏe phù hợp. Mục đích chính của giáo dục sức
khỏe là mong muốn người học hay đối tượng đích có năng lực để truy cập
nguồn thông tin sức khỏe, tiếp nhận, xử lí thông tin sức khỏe hiệu quả để
ra quyết định hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và có lợi cho
sức khỏe của mình.
Đối tượng đích hay người học sau khi tiếp nhận thông tin sức khỏe từ
quá trình giáo dục sức khỏe, sẽ xử lí, phân tích thông tin, rồi hiểu đúng
thông điệp sức khỏe, để đánh giá, cân nhắc nên làm gì, không nên làm gì,
để từ đó ra quyết định hành động hợp lí, có lợi cho chính sức khỏe của
bản thân và có thể mang lại lợi ích sức khỏe cho người khác và cộng đồng.
Trong các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, giáo dục sức khỏe
được xếp hàng đầu đã phản ánh vai trò rất quan trọng của giáo dục sức
khỏe. Giáo dục sức khỏe là trọng tâm của quá trình nâng cao sức khỏe
nhằm mục đích trao quyền làm chủ về sức khỏe cho người dân, trong môi
trường thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân hành động vì sức khỏe.
1.4. Truyền thông giáo dục sức khỏe
Cụm từ ghép truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) thường mang
ý nghĩa thực hiện quá trình truyền thông nhằm mục đích giáo dục sức
khỏe. Quá trình này được tiến hành với nhiều hoạt động truyền thông,
giáo dục sức khỏe đa dạng, qua nhiều kênh hay phương tiện truyền thông
khác nhau, có nhiều hình thức khác nhau để truyền tải thông tin, thông
điệp sức khỏe đến các nhóm đối tượng đích và công chúng nói chung. Mục
đích của quá trình truyền thông giáo dục sức khỏe cũng chính là mong
10
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
muốn người dân nói chung, các nhóm đối tượng đích cụ thể có nhiều hiểu
biết, kiến thức về sức khỏe, có niềm tin, thái độ tích cực về sức khỏe, về
phòng bệnh, để tự giác, chủ động thực hiện hiệu quả các hoạt động phòng
bệnh, bảo vệ sức khỏe, nâng cao sức khỏe đã được cơ quan y tế khuyến
cáo thực hiện.
TTGDSK tại trường học là quá trình truyền thông về sức khỏe, giáo
dục về sức khỏe cho học sinh nói chung, nhằm trang bị cho học sinh kiến
thức về các chủ đề sức khỏe, bệnh tật, dịch bệnh thường gặp, cách thức
phòng tránh bệnh tật, rèn luyện kĩ năng bảo vệ sức khỏe, nâng cao sức
khỏe bản thân. Nhân viên y tế trường học (YTTH), giáo viên, cha mẹ học
sinh chính là những người có vai trò quan trọng trong việc tham gia thực
hiện các hoạt động TTGDSK cho học sinh để góp phần đạt được kết quả
mong đợi.
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
11
BÀI 1
2
QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG VÀ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG
2.1. Quá trình truyền thông
Nói chung, quá trình truyền thông hình thành bởi chuỗi bảy giai đoạn
liên tiếp với nhau. Quá trình này bao gồm các giai đoạn diễn ra ở người
truyền tin như: (1) Ý tưởng; (2) Mã hóa thông tin thành những thông điệp
cụ thể; (3) Truyền tải thông điệp đến người nhận; (4) Thông qua các kênh
hoặc phương tiện truyền thông; và các giai đoạn diễn ra ở người nhận tin
như: (5) Người nhận tiếp nhận thông điệp; (6) Người nhận giải mã thông
điệp; (7) Phản hồi lại người truyền tin.
Quá trình truyền thông có hiệu quả như thế nào phụ thuộc vào kết quả
của tất cả giai đoạn vừa nêu trên. Ý tưởng, mã hóa thông tin phù hợp với
nhu cầu và khả năng hiểu của người nhận; truyền tải thông tin đã mã hóa
đến người nhận qua các kênh và phương tiện phù hợp với người nhận;
người nhận tiếp nhận đầy đủ thông điệp và hiểu đúng ý nghĩa thông điệp;
người nhận có những phản hồi tương ứng đến người truyền tin để điều
chỉnh (nếu cần thiết) sẽ làm cho hiệu quả truyền thông cao hơn, có nghĩa
là người nhận tin sẽ có khả năng hành động phù hợp với thông điệp đã
tiếp nhận. Ngược lại nếu một hoặc nhiều giai đoạn nêu trên chưa phù hợp
sẽ làm giảm hiệu quả truyền thông.
2.2. Mô hình truyền thông
Việc mô hình hóa quá trình truyền thông thành sơ đồ minh họa các
thành phần và mối liên quan của các thành phần trong quá trình này
được gọi là mô hình truyền thông. Mô hình truyền thông gồm có các
thành phần (a) nguồn phát/truyền tin, (b) người nhận tin, (c) thông điệp,
(d) kênh hoặc phương tiện truyền thông, (d) phản hồi từ người nhận tin
và (e) các yếu tố gây nhiễu. Mô hình truyền thông thường được thể hiện
như sơ đồ sau:
12
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
Sơ đồ 1: Mô hình truyền thông
a) Nguồn phát/truyền tin
Nguồn phát tin có thể là tổ chức hoặc cá nhân thực hiện các hoạt động
truyền thông sức khỏe. Tại trường học, nguồn phát tin có thể là đại diện
lãnh đạo trường, giáo viên hoặc nhân viên YTTH. Nguồn phát tin truyền
tải những thông điệp sức khỏe khác nhau thông qua kênh hoặc phương
tiện khác nhau đến người nhận tin. Năng lực truyền thông của cá nhân
hoặc tổ chức thực hiện việc này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của hoạt
động truyền thông sức khỏe. Người làm truyền thông cần hiểu đúng đặc
điểm của đối tượng truyền thông đích, xác định đúng nhu cầu truyền
thông của họ, có các kĩ năng truyền thông cần thiết và sử dụng các phương
thức truyền thông phù hợp để có thể thực hiện truyền thông hiệu quả.
b) Người nhận tin
Người nhận tin chính là các nhóm đối tượng đích như học sinh theo
các nhóm lớp, cha mẹ học sinh/người giám hộ/người chăm sóc hay giáo
viên. Đặc điểm nhân khẩu học, trình độ nhận thức, thói quen sử dụng
phương tiện truyền thông, nguồn tin truy cập quyết định khả năng tiếp
nhận, lĩnh hội, xử lí, phân tích thông tin sức khỏe để hiểu đúng nội dung
thông điệp, củng cố niềm tin, thay đổi thái độ và ra quyết định hợp lí.
Đối tượng đích được coi như một nhóm người có những đặc điểm
chung về nhân khẩu học (như: giới tính, tuổi, nơi cư trú, học vấn, nghề
nghiệp, thu nhập, hôn nhân,...), hành vi sức khỏe (như: hút thuốc lá, ít vận
động thể chất,...) hoặc có thể đang mắc phải cùng một vấn đề sức khỏe
(như: bệnh trầm cảm, chứng béo phì,...). Nhóm này cũng có thể có những
mối quan tâm hoặc mục đích chung nào đó. Họ cần nhận được những
thông tin, tài liệu hay sản phẩm sức khỏe nào đó để giải quyết vấn đề họ
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
13
BÀI 1
đang mắc phải hoặc để đáp ứng nhu cầu, mong muốn của họ. Nói cách
khác, đối tượng đích của quá trình TTGDSK là người sẽ quan tâm hoặc
cần những thông tin, thông điệp truyền thông về sức khỏe mà người làm
TTGDSK cung cấp.
c) Thông điệp
Thông điệp theo nghĩa rộng là những thông tin, nội dung mà người/
nguồn phát tin muốn truyền tải đến cho người nhận tin. Theo nghĩa hẹp,
thông điệp được hiểu là những thông điệp chính hay chủ đạo, là những
thông tin chính mà người làm truyền thông muốn người nhận tin nghe,
hiểu và ghi nhớ. Chúng là những nội dung tóm tắt, ngắn gọn, trình bày
rõ vấn đề gì, ai cần làm gì, tại sao làm điều đó, làm như vậy sẽ mang lại
giá trị, lợi ích gì cho ai. Thông điệp chính còn bao hàm cả những câu, từ,
mệnh đề mang tính “khẩu hiệu”, được sử dụng lặp đi lặp lại xuyên suốt
chương trình truyền thông, như “Không có bọ gậy/lăng quăng, không có
sốt xuất huyết” trong chương trình truyền thông phòng chống bệnh Sốt
xuất huyết.
Thông điệp sức khỏe thường bao hàm nội dung về giá trị của sức khỏe,
phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe, tăng cường sức khỏe, chính sách chăm sóc
sức khỏe,... Thông điệp sức khỏe được truyền tải, chia sẻ, thảo luận giữa
các chủ thể tham gia quá trình truyền thông qua các phương tiện, nền
tảng truyền thông khác nhau.
Hiệu quả của quá trình truyền thông phụ thuộc vào hiệu quả của
thông điệp. Thông điệp truyền thông hiệu quả thường có những đặc điểm:
• Ngắn gọn: tập trung vào 3-5 ý chính cho mỗi chủ đề, diễn đạt 1-3 câu
cho mỗi ý chính và mỗi ý chính có thể đọc hay diễn giải trong 30 giây
hoặc ít hơn.
• Đơn giản: tùng từ dễ hiểu; tránh hiểu nhầm, hiểu sai.
• Dễ nhớ: viết câu dạng chủ động, cấu trúc chặt chẽ, ngắn gọn, đơn giản
để dễ hiểu, dễ nhớ, dễ diễn đạt lại, chỉ rõ các lợi ích của các hành động.
• Phù hợp: cân bằng giữa thông điệp truyền tải với điều người nhận tin
cần biết (phù hợp nhu cầu, mong muốn của họ); ngôn ngữ và mức độ
thông tin tương xứng với đặc điểm của đối tượng đích.
• Thuyết phục: thông điệp có ý nghĩa, kích thích, thúc đẩy hành động.
14
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
d) Kênh và phương tiện truyền thông
Kênh truyền thông là cách thức hay phương thức truyền tải thông
điệp từ nguồn phát đến người nhận tin. Ví dụ: kênh truyền thông đại
chúng như: truyền hình (TV), phát thanh (radio); hoặc các nền tảng mạng
xã hội (Facebook, YouTube, Zalo,...); kênh truyền thông giữa các cá nhân
với nhau.
Phương tiện truyền thông là các phương tiện cụ thể để truyền tải
thông điệp sức khỏe qua các kênh truyền thông. Ví dụ: bản tin sức khỏe
phát trên radio, phóng sự về sức khỏe trên TV, tờ rơi về sức khỏe, áp phích
về phòng bệnh, các bài viết đăng trên trang web về sức khỏe, các ứng
dụng mạng xã hội, các bài trình bày về chủ đề sức khỏe,...
Hiện nay, các hình thức tương tác, truyền tải, chia sẻ thông tin giữa
các cá nhân với nhau có thể diễn ra theo hình thức trực tiếp mặt đối mặt
hoặc gián tiếp qua các phương tiện như điện thoại, trực tuyến (online)
qua các ứng dụng trên nền tảng internet (như Skype, Zoom, MsTeam,
Google Meet, Zalo, Viber,...).
Xác định đúng kênh/phương tiện để truyền tải thông điệp truyền
thông là rất quan trọng để độ bao phủ thông điệp rộng nhất và tác động
của truyền thông trên đối tượng đích cao nhất. Có 3 yếu tố giúp người làm
truyền thông quyết định lựa chọn kênh và phương tiện truyền thông là độ
bao phủ, chi phí và mục tiêu truyền thông.
• Độ bao phủ: cân nhắc đầu tiên để lựa chọn kênh và phương tiện tốt nhất
cho chương trình truyền thông là mức độ bao phủ của thông điệp sức
khỏe trên đối tượng đích hay nói cách khác là số lượng đối tượng đích
tiếp nhận được thông điệp. Độ bao phủ phụ thuộc: (1) Bạn muốn thông
điệp sức khỏe tiếp cận được bao nhiêu người? tần suất họ sẽ nhìn thấy/
đọc được/xem được/nghe được một thông điệp qua một kênh/phương
tiện cụ thể là bao nhiêu? Sau khi nhận được thông điệp, đối tượng đích
có chia sẻ nó với người khác không?; (2) Lực gia tăng độ bao phủ nghĩa
là khả năng thông điệp tương tác với các yếu tố khác làm gia tăng số
lượng người tiếp xúc với thông điệp, ví dụ: phóng sự về phòng bệnh
trên truyền hình thúc đẩy gia tăng số người đọc tờ rơi hay sách mỏng
hướng dẫn phòng bệnh đó; (3) Tính đặc hiệu của đối tượng tiếp cận
được thông điệp, nghĩa là khả năng thông điệp tiếp cận đúng đối tượng
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
15
BÀI 1
đã xác định ưu tiên.
• Chi phí: chi phí cho việc phát triển thông điệp, các tài liệu truyền thông
và sử dụng các kênh/phương tiện truyền thông khác cũng đáng kể và
thường được cân nhắc khi lựa chọn kênh và phương tiện truyền thông
cụ thể cho chương trình.
• Mục tiêu truyền thông: dựa vào mục tiêu để lựa chọn kênh, phương
tiện truyền thông sao cho phù hợp và giúp cho khả năng đạt được mục
tiêu cao nhất.
Bảng 1: Nguyên tắc chung về lựa chọn kênh, phương tiện truyền thông
Kênh, phương tiện
Phương tiện truyền
thông đại chúng
(báo in, báo hình,
báo nói, báo điện tử,
các nền tảng mạng
xã hội). Ví dụ: Trang
thông tin sức khỏe
trên website của
trường.
16
Đặc điểm
+ Ưu điểm: Bao phủ
thông tin trên diện
rộng; tần suất lớn;
truyền tải nhiều
thông tin; nhanh
chóng; tính chi phíhiệu quả cao.
+ Nhược điểm: Tính
lựa chọn đối tượng
hạn chế; cần chuyên
môn để phát triển
tài liệu/sản phẩm
truyền thông.
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
Cân nhắc lựa chọn
Mục tiêu tăng số
lượng đối tượng đích
có hiểu biết về thông
điệp truyền thông.
Phù hợp nhất với các
thông điệp đơn giản
và dễ hiểu, không cần
phản hồi.
Các dạng tài liệu in
thuận lợi để trình bày,
giải thích các nội dung
chi tiết, phức tạp.
Các sản phẩm nghe
nhìn có tác động
mạnh đến cảm xúc
khán/thính giả.
BÀI 1
Truyền thông, giao
tiếp giữa các cá
nhân (nói chuyện,
thảo luận, tọa
đàm,...), bao gồm cả
sử dụng các nền tảng
ứng dụng mạng xã
hội. Ví dụ: Thảo luận
theo nhóm/lớp về
chủ đề phòng chống
bạo lực học đường
(có hoặc không có sự
tham gia của giáo
viên hoặc nhân viên
YTTH)
+ Ưu điểm: có sự
tương tác, trao đổi,
chia sẻ thông tin;
giúp các bên hiểu
vấn đề, nhu cầu của
nhau; tính lựa chọn
đối tượng đích cao.
Các sự kiện (văn
hóa-sức khỏe; giải
trí-giáo dục sức
khỏe). Ví dụ: Meeting
tại trường học nhân
Ngày Thế giới không
thuốc lá hoặc các chủ
đề tương tự.
+ Ưu điểm: tiếp cận
số lượng lớn đối
tượng đích và tạo
nhiều cơ hội cho sự
tham gia, giao tiếp
giữa các cá nhân với
nhau.
Mục tiêu thay đổi
kiến thức, niềm tin,
thái độ, kĩ năng;
Phù hợp với các tình
huống mà các đối
tượng cần tương tác,
trao đổi, phản hồi.
+ Nhược điểm: cần
có cá nhân/nhóm
chuyên môn để điều
phối các hoạt động
tương tác, chia sẻ
thông tin.
Phù hợp với các mục
tiêu nâng cao hiểu
biết, kiến thức; thay
đổi niềm tin, thái độ;
cam kết thực hiện các
hoạt động vì mục đích
sức khỏe tại trường
học.
+ Nhược điểm: tính
lựa chọn đối tượng
đích có thể thấp và
chi phí tổ chức sự
kiện có thể tốn kém.
e) Phản hồi
Trong truyền thông hay giao tiếp, phản hồi là phản ứng hoặc ý kiến,
nhận xét, góp ý của người nhận tin truyền tải ngược trở lại người phát tin
sau khi họ tiếp nhận được thông điệp hoặc tiếp xúc với các hoạt động của
chương trình truyền thông. Phản hồi phản ánh tính hai chiều của truyền
thông; thiếu thành phần phản hồi, quá trình truyền thông không đầy đủ
hay mô hình truyền thông chưa khép kín.
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
17
BÀI 1
Phản hồi từ người nhận tin có thể biểu hiện đa dạng như: biểu hiện
hồi hộp, lo lắng, bối rối, sợ hãi hay bình tĩnh, tự tin của người nhận tin
(phi ngôn ngữ); hoặc lời nói nhận xét, góp ý, câu hỏi (lời nói); hoặc văn bản
góp ý, thư điện tử (email) góp ý, phiếu khảo sát (chữ viết),...
Phản hồi rất quan trọng trong quá trình truyền thông, giao tiếp vì một
số lý do sau đây:
• Cho biết liệu đối tượng đích có nhận được thông điệp hay không; nếu
nhận được thì có hiểu đúng ý nghĩa của thông điệp hay không, qua đó
phản ánh hiệu quả truyền thông ở mức độ nào.
• Báo hiệu mức độ giao tiếp hiệu quả giữa hai bên; phá bỏ các rào cản
giao tiếp giữa các bên, giúp cải thiện các mối quan hệ của con người.
• Thông qua nội dung phản hồi, cá nhân/tổ tổ chức phát tin đánh giá hiệu
quả của thông điệp, hiệu quả của kênh/phương tiện truyền thông, để từ
đó quyết định cần điều chỉnh, cải thiện những yếu tố cụ thể nào.
• Phản hồi là một công cụ để người phát tin học tập liên tục, nâng cao
năng lực, thúc đẩy sáng tạo trong truyền thông.
f) Nhiễu
Yếu tố nhiễu trong quá trình/mô hình truyền thông đề cập những yếu tố
ảnh hưởng đến quá trình tương tác, truyền tải thông điệp giữa người truyền
tin và người nhận tin, phiên giải ý nghĩa thông điệp và cuối cùng ảnh hưởng
đến kết quả của quá trình này. Các dạng nhiễu trong truyền thông bao gồm:
nhiễu từ môi trường, nhiễu tâm lý, nhiễu sinh lý và nhiễu ngữ nghĩa.
Nhiễu vật lý là bất kỳ yếu tố nào từ môi trường bên ngoài như: tiếng ồn
(nhạc, tiếng nói của người xung quanh, tiếng chuông reo, tiếng sấm, tiếng
mưa rơi,...), sự xuất hiện hoặc hoạt động của người khác xung quanh, thời
tiết không thuận lợi gây phân tán sự chú ý, làm ảnh hưởng đến truyền tải
và tiếp nhận thông điệp truyền thông, giao tiếp.
Nhiễu tâm lý có thể bao gồm tâm trạng, sự quan tâm của người nhận
tin đối với chủ đề cuộc trò chuyện. Ví dụ: học sinh có thiện cảm với nhân
viên YTTH sẽ khiến các em lắng nghe và trao đổi tích cực hơn trong giao
tiếp và như thế buổi nói chuyện về sức khỏe hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu
học sinh có tâm trạng không vui, thiếu tập trung sẽ có tác động tiêu cực
đến cách các em tương tác và tiếp nhận thông điệp.
18
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
Nhiễu sinh lý là bất kỳ thuộc tính thể chất nào ảnh hưởng đến cách
truyền tải thông điệp. Tình trạng sức khỏe thể chất không tốt của người
truyền tin hoặc người nhận tin (đau đầu, thiếu ngủ, thiếu năng lượng, suy
nhược cơ thể,...) có thể dẫn đến cách trình bày, diễn đạt không đầy đủ, sai
lệch thông tin; hoặc làm người nhận tin mất tập trung, khó tiếp nhận hoặc
phiên giải thông tin dẫn đến hiểu sai, hiểu nhầm.
Nhiễu về ngữ nghĩa là nhiễu thường do người phát/truyền tin gây ra.
Loại nhiễu này xảy ra khi lời nói, câu từ, ngữ pháp hoặc thuật ngữ được
người làm truyền thông sử dụng những gây khó hiểu hoặc hiểu nhầm
cho người nhận tin/đối tượng đích. Loại nhiễu này thường xuất hiện khi
người làm truyền thông chưa hiểu rõ đặc điểm của đối tượng đích hay
người nhận tin.
Người làm truyền thông cần chú ý xác định các yếu tố gây nhiễu rõ
ràng hoặc tiềm ẩn đối với quá trình truyền thông để có thể kiểm soát
tốt nhất, nhằm đảm bảo truyền thông hiệu quả, đạt được mục tiêu của
chương trình, của các hoạt động truyền thông, giao tiếp về sức khỏe nói
chung và tại trường học nói riêng.
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
19
BÀI 1
3
HÀNH VI SỨC KHOẺ CỦA HỌC SINH
3.1. Khái niệm hành vi và hành vi sức khỏe
a) Khái niệm hành vi
Hành vi là cách ứng xử của con người đối với một sự vật, sự kiện,
hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, biểu hiện thông qua
lời nói, cử chỉ, hành động nhất định. Hành vi cá nhân phản ánh yếu tố
nhận thức, hiểu biết, kiến thức, niềm tin, thái độ, chuẩn mực, giá trị của
cá nhân đó. Dựa vào kết quả của hành vi có thể chia hành vi thành 3 loại:
hành vi có lợi, hành vi trung tính, hành vi có hại.
Thói quen là hành vi của cá nhân được lặp đi lặp lại nhiều lần, hình
thành nếp sống, phong cách sinh hoạt, học tập, làm việc của cá nhân. Thói
quen có thể là kết quả của quá trình học tập, thực hành, rèn luyện hoặc có
thể bắt nguồn từ những trải nghiệm tình cờ hoặc do ảnh hưởng từ người
khác. Tương tự hành vi, thói quen có thể chia thành 3 loại là thói quen tốt,
thói quen xấu và thói quen trung tính.
b) Khái niệm hành vi sức khỏe
Hành vi sức khỏe là hành vi của cá nhân liên quan đến việc duy trì
sức khỏe, bảo vệ sức khỏe và nâng cao sức khỏe hoặc có liên quan với
một vấn đề sức khỏe hay bệnh tật cụ thể nào đó, ví dụ: ăn uống hàng ngày,
tập thể dục hàng ngày, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sống,... Hành
vi sức khỏe có khi rõ ràng, quan sát được như hành động hút thuốc lá,
nhưng có khi hành vi là biểu hiện cách cư xử, ứng xử đối với sự vật, hiện
tượng như đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy một cách khiên cưỡng,... Hành
vi sức khỏe của cá nhân là trọng tâm của quá trình TTGDSK. Mục tiêu
của quá trình này là thay đổi hiểu biết, kiến thức, niềm tin, thái độ, thực
hành, kĩ năng về sức khỏe theo hướng tích cực cho càng nhiều đối tượng
đích càng tốt.
Trong nhóm học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học, bên
cạnh nhiều học sinh có những hành vi lành mạnh có lợi cho sức khỏe, vẫn
20
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
còn nhiều học sinh đang thực hiện những hành vi có hại cho sức khỏe bản
thân và có nguy cơ gây hại cho sức khỏe cộng đồng. Bảng sau ...
MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING
CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC
CHO NHÂN VIÊN Y TẾ TRƯỜNG HỌC
HỌC PHẦN 7
TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
ngày
(Ban hành kèm theo Quyết định số
/QĐ-BGDĐT
tháng năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Hà Nội, 2024
CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN
PGS.TS. Nguyễn Thanh Đề
Vụ trưởng Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
TS. Nguyễn Nho Huy
Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
BAN BIÊN SOẠN CÁC TÀI LIỆU
1. NGND.PGS.TS. Nguyễn Võ Kỳ Anh
Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Trưởng ban biên soạn các tài liệu.
2. TS.BS. Lê Văn Tuấn
Chuyên viên cao cấp Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Trưởng nhóm thư ký biên soạn các tài liệu.
BAN BIÊN SOẠN HỌC PHẦN 7
1. ThS. Vũ Mạnh Cường, Giám đốc Trung tâm Truyền thông - Giáo dục
sức khỏe Trung ương, Bộ Y tế (Trưởng ban).
2. BS. Đặng Phương Liên, Phó trưởng phòng Tổ chức - Hành chính,
Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe Trung ương, Bộ Y tế
(Thành viên, Thư ký).
3. ThS.BS. Lý Thu Hiền, Trưởng phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa
học, Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe Trung ương, Bộ Y
tế (Thành viên).
4. ThS.BS. Trương Quang Tiến, Giảng viên chính Trường Đại học Y tế
Công cộng (Thành viên).
5. TS. Bùi Hữu Toàn, Chuyên viên chính Cục Quản lý Môi trường Y tế,
Bộ Y tế (Thành viên).
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU
Truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) có vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe học sinh trong thời gian được nuôi dạy
và học tập ở trường. Các yếu tố nguy cơ tác động trực tiếp tới cơ thể đang
phát triển của các em, nếu không được truyền thông giáo dục sức khỏe để
kiểm soát tốt sẽ trở thành nguy cơ phát sinh bệnh tật, ảnh hưởng xấu tới
sức khỏe và thành tích học tập học sinh.
Tài liệu (học phần) Truyền thông giáo dục sức khỏe là một trong 8 tài
liệu thuộc Chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực cho nhân viên y
tế trường học do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn. Mục tiêu của
tài liệu này nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng về thực hiện hoạt động
TTGDSK trong nhà trường, cung cấp cho các nhà quản lý giáo dục, giáo
viên và nhân viên y tế trường học những thông tin chung về TTGDSK, giới
thiệu một số hình thức TTGDSK. Trên cơ sở đó, các trường xây dựng các
kế hoạch TTGDSK cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của trường mình.
Tài liệu này gồm các phần: Tổng quan về TTGDSK tại trường học, Kỹ
năng TTGDSK, Một số hình thức TTGDSK phù hợp tại trường học.
Tài liệu này có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy, tham khảo cho các
nhân viên y tế trường học chuyên trách, nhân viên kiêm nhiệm công tác y
tế trường học, sinh viên khối ngành sức khỏe, và các đối tượng khác liên
quan giúp họ có đầy đủ kiến thức về TTGDSK và áp dụng vào thực tế công
tác y tế trường học tại đơn vị mình.
Chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực cho nhân viên y tế trường
học được xây dựng bởi các chuyên gia về y tế trường học với sự hỗ trợ về
tài chính, kỹ thuật, và kinh nghiệm triển khai các dự án liên quan đến y
tế học đường trong thực tế của Tổ chức Cứu trợ Trẻ em (Save the Children)
tại Việt Nam.
Bộ Giáo dục và Đào tạo trân trọng đón nhận các ý kiến đóng góp của
bạn đọc để tài liệu hướng dẫn ngày càng hoàn thiện. Mọi ý kiến đóng góp
xin gửi về địa chỉ: Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vụ Giáo dục thể chất), 35 Đại Cồ
Việt, Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
4
CSGD
Cơ sở giáo dục
GDĐT
Giáo dục và Đào tạo
HS
Học sinh
MN
Mầm non
MXH
Mạng xã hội
PHHS
Phụ huynh học sinh
TTGDSK
Truyền thông giáo dục sức khỏe
YTTH
Y tế trường học
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
4
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG GIÁO
DỤC SỨC KHỎE TẠI TRƯỜNG HỌC
7
1. Một số khái niệm cơ bản
7
2. Quá trình truyền thông và mô hình truyền thông
12
3. Hành vi sức khỏe của học sinh
20
4. Truyền thông giáo dục sức khỏe tại trường học
32
Câu hỏi lượng giá cuối bài
36
BÀI 2: KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
39
1. Nguyên tắc cơ bản của truyền thông trực tiếp
40
2. Một số kỹ năng cơ bản trong truyền thông trực tiếp
41
3. Thực hành TTGDSK trực tiếp
67
Câu hỏi lượng giá cuối bài
68
BÀI 3: MỘT SỐ HÌNH THỨC TRUYỀN THÔNG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE PHÙ HỢP TẠI TRƯỜNG HỌC
71
1. Tầm quan trọng của việc lựa chọn các hình thức
truyền thông phù hợp
71
2. Một số hình thức TTGDSK trực tiếp
74
3. Một số hình thức truyền thông giáo dục sức khỏe
gián tiếp
91
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
5
MỤC LỤC
4. Lập kế hoạch TTGDSK tại trường học
97
Câu hỏi lượng giá cuối bài
103
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC I: Mẫu Kế hoạch truyền thông
104
PHỤ LỤC II: Ví dụ Kế hoạch truyền thông
105
PHỤ LỤC III: Mẫu Kế hoạch một buổi truyền thông
110
PHỤ LỤC IV: Ví dụ Kế hoạch truyền thông
111
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
104
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
113
BÀI 1
TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE TẠI
TRƯỜNG HỌC
BÀI
1
Mục tiêu bài học:
Sau khi kết thúc bài học, người học có khả năng:
1. Nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác truyền thông
giáo dục sức khỏe tại trường học.
2. Trình bày được các khái niệm cơ bản về truyền thông giáo
dục sức khỏe, hành vi sức khỏe, hành vi có lợi và hành vi có
hại cho sức khỏe.
3. Phân tích được quá trình thay đổi hành vi và điều kiện cần
thiết để thay đổi hành vi sức khỏe của cá nhân.
1
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1. Truyền thông
Khi nói đến truyền thông, có nhiều cụm từ quen thuộc thường được
mọi người sử dụng như: thông tin, tuyên truyền và truyền thông. Những
cụm từ này có những điểm chung, nhưng cũng có những đặc thù để phân
biệt.
Thông tin, hiểu theo nghĩa hành động, là truyền đi nội dung, tin tức,
thông điệp hoặc số liệu cụ thể tới người nhận thông tin nhưng thường
không phụ thuộc vào đặc điểm và phản hồi của đối tượng tiếp nhận. Quá
trình thông tin thường hướng đến công chúng nói chung, ví dụ: thông tin
về phòng chống bệnh dịch COVID-19 cho người dân.
Tuyên truyền thường mang ý nghĩa truyền tải, phổ biến thông tin
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
7
BÀI 1
theo xu hướng một chiều, từ cơ quan hoặc cá nhân có chức năng đến công
chúng, lặp lại nhiều lần, với nhiều hình thức khác nhau trong một khoảng
thời gian nhất định, nhằm mở rộng, tăng cường độ bao phủ thông tin để
nâng cao hiểu biết của một hoặc các nhóm đối tượng khác nhau, để chấp
nhận những ý tưởng, quan điểm hoặc hành vi nào đó. Ví dụ: tuyên truyền
về chính sách bảo hiểm y tế cho người dân nhằm tăng số lượng người dân
tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; tuyên truyền về chính
sách y tế trường học.
Truyền thông là quá trình giao tiếp, trao đổi, chia sẻ thông tin giữa
các cá nhân hoặc cơ quan/tổ chức truyền tin và người nhận tin (là các
nhóm đối tượng đích hay công chúng nói chung) nhằm tăng cường hiểu
biết, kiến thức; thúc đẩy thay đổi niềm tin, thái độ và hành vi của người
nhận tin. Đặc trưng của quá trình truyền thông là tính hai chiều từ nguồn
truyền tin đến người nhận tin và ngược lại, đồng thời luôn có đối tượng
và mục tiêu truyền thông cụ thể. Ví dụ: truyền thông về các qui định tại
trường học cho học sinh với mong muốn tất cả học sinh thực hiện đúng
các qui định này.
Truyền thông sức khỏe là quá trình truyền tải, trao đổi thông tin,
những thông điệp hay nội dung về các chủ đề sức khỏe, bệnh tật, dịch
bệnh, cách thức phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe, tăng cường sức khỏe giữa
các chủ thể nhằm tăng cường hiểu biết và kiến thức về sức khỏe, thay đổi
niềm tin, thái độ, hành vi theo hướng có lợi cho sức khỏe cá nhân, nhóm
và cộng đồng để góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe của họ. Ví dụ:
truyền thông cho học sinh về phòng chống các bệnh lây nhiễm để các em
chủ động phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe của mình.
Truyền thông sức khỏe là hoạt động chức năng quan trọng trong quá
trình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và nâng cao sức khỏe cộng
đồng. Dựa vào nhu cầu về hiểu biết, kiến thức, kĩ năng về sức khỏe của
người dân nói chung, các nhóm đối tượng đích nói riêng, người làm truyền
thông sức khỏe chuẩn bị nội dung, phát triển các thông điệp sức khỏe phù
hợp để truyền tải trực tiếp hoặc gián tiếp qua các kênh truyền thông khác
nhau đến các nhóm đối tượng đích nhằm tác động đến kiến thức, niềm
tin, thái độ và hành vi của họ.
Truyền thông sức khỏe được xem là “nghệ thuật và phương pháp
truyền tải thông tin sức khỏe”, nhằm tạo ảnh hưởng và khuyến khích cá
8
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
nhân và cộng đồng quan tâm đến sức khỏe và bệnh tật, cách thức phòng
bệnh và thực hành phòng bệnh, nâng cao sức khỏe.
1.2. Truyền thông thay đổi hành vi
Truyền thông thay đổi hành vi là chiến lược truyền thông nhằm tập
trung thay đổi hành vi có hại cho sức khỏe của các đối tượng đích trở
thành hành vi tích cực, có lợi cho sức khỏe, phòng tránh các nguy cơ gây
bệnh, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe của họ và những người có
liên quan. Ví dụ: truyền thông thay đổi hành vi vệ sinh bàn tay của học
sinh trung học cơ sở để chủ động phòng tránh bệnh COVID-19 hoặc bệnh
Tiêu chảy.
Các thành phần của quá trình truyền thông thay đổi hành vi được
cân nhắc, thiết kế phù hợp dựa trên đặc điểm và nhu cầu sức khỏe của đối
tượng đích nhằm thúc đẩy, tạo ra sự thay đổi và duy trì thực hiện hành vi
có lợi cho sức khỏe của từng cá nhân và nhóm đối tượng đích, cũng như
cộng đồng nói chung.
Trong truyền thông thay đổi hành vi, bên cạnh quá trình tương tác,
cung cấp, trao đổi thông tin giữa các bên, người làm truyền thông thay
đổi hành vi còn tập trung lắng nghe, tiếp nhận phản hồi để thấu hiểu đối
tượng, từ đó hướng dẫn, hỗ trợ thuyết phục đối tượng tự nguyện thay đổi
hành vi có hại, thực hiện và duy trì hành vi có lợi cho sức khỏe.
1.3. Giáo dục sức khỏe
Giáo dục là quá trình tác động có hệ thống đến sự phát triển thể chất,
trí tuệ, tinh thần, niềm tin, thái độ và kĩ năng của các đối tượng cụ thể
thông qua quá trình dạy-học, tự học tập và nghiên cứu. Mục đích của quá
trình giáo dục là giúp cá nhân đạt được những phẩm chất và năng lực
mong muốn để sống, học tập, làm việc, giải trí hiệu quả. Giáo dục chính
là quá trình truyền thông đặc biệt, có tính tương tác cao, giúp người học
hay đối tượng đích thay đổinhận thức, hiểu biết, kiến thức, niềm tin, thái
độ và hành vi theo hướng tích cực. Ví dụ: giáo dục về kĩ năng sống cho học
sinh; giáo dục về bảo vệ môi trường sống cho học sinh,...
Giáo dục sức khỏe là những hoạt động dạy-học về chủ đề sức khỏe.
Trong quá trình này, người dạy cung cấp kiến thức sức khỏe, giúp người
học hiểu biết, nhận thức đúng về sức khỏe, phòng bệnh, bảo vệ, nâng cao
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
9
BÀI 1
sức khỏe; hướng dẫn người học thực hành, rèn luyện để có kỹ năng phòng
ngừa bệnh tật, bảo vệ sức khỏe, nâng cao sức khỏe cho bản thân họ và
cộng đồng. Ví dụ: giáo dục về chăm sóc sức khỏe răng miệng cho học sinh
tiểu học; giáo dục về sức khỏe tuổi dậy thì cho học sinh trung học cơ sở;
giáo dục về tác hại của hút thuốc lá cho học sinh trung học,...
Giáo dục sức khỏe chính là quá trình truyền thông sức khỏe đặc biệt,
mà đối tượng đích là người học cụ thể. Tùy thuộc người học hay đối tượng
giáo dục là ai, nhu cầu giáo dục sức khỏe của họ là những gì (ví dụ: hiểu
biết, kiến thức, niềm tin, thái độ, thực hành, kĩ năng về phòng bệnh, bảo
vệ sức khỏe, nâng cao sức khỏe), các mục tiêu giáo dục sức khỏe cụ thể
được xác định, từ đó thiết kế các hoạt động giáo dục sức khỏe với những
phương pháp giáo dục sức khỏe phù hợp. Mục đích chính của giáo dục sức
khỏe là mong muốn người học hay đối tượng đích có năng lực để truy cập
nguồn thông tin sức khỏe, tiếp nhận, xử lí thông tin sức khỏe hiệu quả để
ra quyết định hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và có lợi cho
sức khỏe của mình.
Đối tượng đích hay người học sau khi tiếp nhận thông tin sức khỏe từ
quá trình giáo dục sức khỏe, sẽ xử lí, phân tích thông tin, rồi hiểu đúng
thông điệp sức khỏe, để đánh giá, cân nhắc nên làm gì, không nên làm gì,
để từ đó ra quyết định hành động hợp lí, có lợi cho chính sức khỏe của
bản thân và có thể mang lại lợi ích sức khỏe cho người khác và cộng đồng.
Trong các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, giáo dục sức khỏe
được xếp hàng đầu đã phản ánh vai trò rất quan trọng của giáo dục sức
khỏe. Giáo dục sức khỏe là trọng tâm của quá trình nâng cao sức khỏe
nhằm mục đích trao quyền làm chủ về sức khỏe cho người dân, trong môi
trường thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân hành động vì sức khỏe.
1.4. Truyền thông giáo dục sức khỏe
Cụm từ ghép truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) thường mang
ý nghĩa thực hiện quá trình truyền thông nhằm mục đích giáo dục sức
khỏe. Quá trình này được tiến hành với nhiều hoạt động truyền thông,
giáo dục sức khỏe đa dạng, qua nhiều kênh hay phương tiện truyền thông
khác nhau, có nhiều hình thức khác nhau để truyền tải thông tin, thông
điệp sức khỏe đến các nhóm đối tượng đích và công chúng nói chung. Mục
đích của quá trình truyền thông giáo dục sức khỏe cũng chính là mong
10
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
muốn người dân nói chung, các nhóm đối tượng đích cụ thể có nhiều hiểu
biết, kiến thức về sức khỏe, có niềm tin, thái độ tích cực về sức khỏe, về
phòng bệnh, để tự giác, chủ động thực hiện hiệu quả các hoạt động phòng
bệnh, bảo vệ sức khỏe, nâng cao sức khỏe đã được cơ quan y tế khuyến
cáo thực hiện.
TTGDSK tại trường học là quá trình truyền thông về sức khỏe, giáo
dục về sức khỏe cho học sinh nói chung, nhằm trang bị cho học sinh kiến
thức về các chủ đề sức khỏe, bệnh tật, dịch bệnh thường gặp, cách thức
phòng tránh bệnh tật, rèn luyện kĩ năng bảo vệ sức khỏe, nâng cao sức
khỏe bản thân. Nhân viên y tế trường học (YTTH), giáo viên, cha mẹ học
sinh chính là những người có vai trò quan trọng trong việc tham gia thực
hiện các hoạt động TTGDSK cho học sinh để góp phần đạt được kết quả
mong đợi.
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
11
BÀI 1
2
QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG VÀ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG
2.1. Quá trình truyền thông
Nói chung, quá trình truyền thông hình thành bởi chuỗi bảy giai đoạn
liên tiếp với nhau. Quá trình này bao gồm các giai đoạn diễn ra ở người
truyền tin như: (1) Ý tưởng; (2) Mã hóa thông tin thành những thông điệp
cụ thể; (3) Truyền tải thông điệp đến người nhận; (4) Thông qua các kênh
hoặc phương tiện truyền thông; và các giai đoạn diễn ra ở người nhận tin
như: (5) Người nhận tiếp nhận thông điệp; (6) Người nhận giải mã thông
điệp; (7) Phản hồi lại người truyền tin.
Quá trình truyền thông có hiệu quả như thế nào phụ thuộc vào kết quả
của tất cả giai đoạn vừa nêu trên. Ý tưởng, mã hóa thông tin phù hợp với
nhu cầu và khả năng hiểu của người nhận; truyền tải thông tin đã mã hóa
đến người nhận qua các kênh và phương tiện phù hợp với người nhận;
người nhận tiếp nhận đầy đủ thông điệp và hiểu đúng ý nghĩa thông điệp;
người nhận có những phản hồi tương ứng đến người truyền tin để điều
chỉnh (nếu cần thiết) sẽ làm cho hiệu quả truyền thông cao hơn, có nghĩa
là người nhận tin sẽ có khả năng hành động phù hợp với thông điệp đã
tiếp nhận. Ngược lại nếu một hoặc nhiều giai đoạn nêu trên chưa phù hợp
sẽ làm giảm hiệu quả truyền thông.
2.2. Mô hình truyền thông
Việc mô hình hóa quá trình truyền thông thành sơ đồ minh họa các
thành phần và mối liên quan của các thành phần trong quá trình này
được gọi là mô hình truyền thông. Mô hình truyền thông gồm có các
thành phần (a) nguồn phát/truyền tin, (b) người nhận tin, (c) thông điệp,
(d) kênh hoặc phương tiện truyền thông, (d) phản hồi từ người nhận tin
và (e) các yếu tố gây nhiễu. Mô hình truyền thông thường được thể hiện
như sơ đồ sau:
12
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
Sơ đồ 1: Mô hình truyền thông
a) Nguồn phát/truyền tin
Nguồn phát tin có thể là tổ chức hoặc cá nhân thực hiện các hoạt động
truyền thông sức khỏe. Tại trường học, nguồn phát tin có thể là đại diện
lãnh đạo trường, giáo viên hoặc nhân viên YTTH. Nguồn phát tin truyền
tải những thông điệp sức khỏe khác nhau thông qua kênh hoặc phương
tiện khác nhau đến người nhận tin. Năng lực truyền thông của cá nhân
hoặc tổ chức thực hiện việc này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của hoạt
động truyền thông sức khỏe. Người làm truyền thông cần hiểu đúng đặc
điểm của đối tượng truyền thông đích, xác định đúng nhu cầu truyền
thông của họ, có các kĩ năng truyền thông cần thiết và sử dụng các phương
thức truyền thông phù hợp để có thể thực hiện truyền thông hiệu quả.
b) Người nhận tin
Người nhận tin chính là các nhóm đối tượng đích như học sinh theo
các nhóm lớp, cha mẹ học sinh/người giám hộ/người chăm sóc hay giáo
viên. Đặc điểm nhân khẩu học, trình độ nhận thức, thói quen sử dụng
phương tiện truyền thông, nguồn tin truy cập quyết định khả năng tiếp
nhận, lĩnh hội, xử lí, phân tích thông tin sức khỏe để hiểu đúng nội dung
thông điệp, củng cố niềm tin, thay đổi thái độ và ra quyết định hợp lí.
Đối tượng đích được coi như một nhóm người có những đặc điểm
chung về nhân khẩu học (như: giới tính, tuổi, nơi cư trú, học vấn, nghề
nghiệp, thu nhập, hôn nhân,...), hành vi sức khỏe (như: hút thuốc lá, ít vận
động thể chất,...) hoặc có thể đang mắc phải cùng một vấn đề sức khỏe
(như: bệnh trầm cảm, chứng béo phì,...). Nhóm này cũng có thể có những
mối quan tâm hoặc mục đích chung nào đó. Họ cần nhận được những
thông tin, tài liệu hay sản phẩm sức khỏe nào đó để giải quyết vấn đề họ
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
13
BÀI 1
đang mắc phải hoặc để đáp ứng nhu cầu, mong muốn của họ. Nói cách
khác, đối tượng đích của quá trình TTGDSK là người sẽ quan tâm hoặc
cần những thông tin, thông điệp truyền thông về sức khỏe mà người làm
TTGDSK cung cấp.
c) Thông điệp
Thông điệp theo nghĩa rộng là những thông tin, nội dung mà người/
nguồn phát tin muốn truyền tải đến cho người nhận tin. Theo nghĩa hẹp,
thông điệp được hiểu là những thông điệp chính hay chủ đạo, là những
thông tin chính mà người làm truyền thông muốn người nhận tin nghe,
hiểu và ghi nhớ. Chúng là những nội dung tóm tắt, ngắn gọn, trình bày
rõ vấn đề gì, ai cần làm gì, tại sao làm điều đó, làm như vậy sẽ mang lại
giá trị, lợi ích gì cho ai. Thông điệp chính còn bao hàm cả những câu, từ,
mệnh đề mang tính “khẩu hiệu”, được sử dụng lặp đi lặp lại xuyên suốt
chương trình truyền thông, như “Không có bọ gậy/lăng quăng, không có
sốt xuất huyết” trong chương trình truyền thông phòng chống bệnh Sốt
xuất huyết.
Thông điệp sức khỏe thường bao hàm nội dung về giá trị của sức khỏe,
phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe, tăng cường sức khỏe, chính sách chăm sóc
sức khỏe,... Thông điệp sức khỏe được truyền tải, chia sẻ, thảo luận giữa
các chủ thể tham gia quá trình truyền thông qua các phương tiện, nền
tảng truyền thông khác nhau.
Hiệu quả của quá trình truyền thông phụ thuộc vào hiệu quả của
thông điệp. Thông điệp truyền thông hiệu quả thường có những đặc điểm:
• Ngắn gọn: tập trung vào 3-5 ý chính cho mỗi chủ đề, diễn đạt 1-3 câu
cho mỗi ý chính và mỗi ý chính có thể đọc hay diễn giải trong 30 giây
hoặc ít hơn.
• Đơn giản: tùng từ dễ hiểu; tránh hiểu nhầm, hiểu sai.
• Dễ nhớ: viết câu dạng chủ động, cấu trúc chặt chẽ, ngắn gọn, đơn giản
để dễ hiểu, dễ nhớ, dễ diễn đạt lại, chỉ rõ các lợi ích của các hành động.
• Phù hợp: cân bằng giữa thông điệp truyền tải với điều người nhận tin
cần biết (phù hợp nhu cầu, mong muốn của họ); ngôn ngữ và mức độ
thông tin tương xứng với đặc điểm của đối tượng đích.
• Thuyết phục: thông điệp có ý nghĩa, kích thích, thúc đẩy hành động.
14
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
d) Kênh và phương tiện truyền thông
Kênh truyền thông là cách thức hay phương thức truyền tải thông
điệp từ nguồn phát đến người nhận tin. Ví dụ: kênh truyền thông đại
chúng như: truyền hình (TV), phát thanh (radio); hoặc các nền tảng mạng
xã hội (Facebook, YouTube, Zalo,...); kênh truyền thông giữa các cá nhân
với nhau.
Phương tiện truyền thông là các phương tiện cụ thể để truyền tải
thông điệp sức khỏe qua các kênh truyền thông. Ví dụ: bản tin sức khỏe
phát trên radio, phóng sự về sức khỏe trên TV, tờ rơi về sức khỏe, áp phích
về phòng bệnh, các bài viết đăng trên trang web về sức khỏe, các ứng
dụng mạng xã hội, các bài trình bày về chủ đề sức khỏe,...
Hiện nay, các hình thức tương tác, truyền tải, chia sẻ thông tin giữa
các cá nhân với nhau có thể diễn ra theo hình thức trực tiếp mặt đối mặt
hoặc gián tiếp qua các phương tiện như điện thoại, trực tuyến (online)
qua các ứng dụng trên nền tảng internet (như Skype, Zoom, MsTeam,
Google Meet, Zalo, Viber,...).
Xác định đúng kênh/phương tiện để truyền tải thông điệp truyền
thông là rất quan trọng để độ bao phủ thông điệp rộng nhất và tác động
của truyền thông trên đối tượng đích cao nhất. Có 3 yếu tố giúp người làm
truyền thông quyết định lựa chọn kênh và phương tiện truyền thông là độ
bao phủ, chi phí và mục tiêu truyền thông.
• Độ bao phủ: cân nhắc đầu tiên để lựa chọn kênh và phương tiện tốt nhất
cho chương trình truyền thông là mức độ bao phủ của thông điệp sức
khỏe trên đối tượng đích hay nói cách khác là số lượng đối tượng đích
tiếp nhận được thông điệp. Độ bao phủ phụ thuộc: (1) Bạn muốn thông
điệp sức khỏe tiếp cận được bao nhiêu người? tần suất họ sẽ nhìn thấy/
đọc được/xem được/nghe được một thông điệp qua một kênh/phương
tiện cụ thể là bao nhiêu? Sau khi nhận được thông điệp, đối tượng đích
có chia sẻ nó với người khác không?; (2) Lực gia tăng độ bao phủ nghĩa
là khả năng thông điệp tương tác với các yếu tố khác làm gia tăng số
lượng người tiếp xúc với thông điệp, ví dụ: phóng sự về phòng bệnh
trên truyền hình thúc đẩy gia tăng số người đọc tờ rơi hay sách mỏng
hướng dẫn phòng bệnh đó; (3) Tính đặc hiệu của đối tượng tiếp cận
được thông điệp, nghĩa là khả năng thông điệp tiếp cận đúng đối tượng
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
15
BÀI 1
đã xác định ưu tiên.
• Chi phí: chi phí cho việc phát triển thông điệp, các tài liệu truyền thông
và sử dụng các kênh/phương tiện truyền thông khác cũng đáng kể và
thường được cân nhắc khi lựa chọn kênh và phương tiện truyền thông
cụ thể cho chương trình.
• Mục tiêu truyền thông: dựa vào mục tiêu để lựa chọn kênh, phương
tiện truyền thông sao cho phù hợp và giúp cho khả năng đạt được mục
tiêu cao nhất.
Bảng 1: Nguyên tắc chung về lựa chọn kênh, phương tiện truyền thông
Kênh, phương tiện
Phương tiện truyền
thông đại chúng
(báo in, báo hình,
báo nói, báo điện tử,
các nền tảng mạng
xã hội). Ví dụ: Trang
thông tin sức khỏe
trên website của
trường.
16
Đặc điểm
+ Ưu điểm: Bao phủ
thông tin trên diện
rộng; tần suất lớn;
truyền tải nhiều
thông tin; nhanh
chóng; tính chi phíhiệu quả cao.
+ Nhược điểm: Tính
lựa chọn đối tượng
hạn chế; cần chuyên
môn để phát triển
tài liệu/sản phẩm
truyền thông.
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
Cân nhắc lựa chọn
Mục tiêu tăng số
lượng đối tượng đích
có hiểu biết về thông
điệp truyền thông.
Phù hợp nhất với các
thông điệp đơn giản
và dễ hiểu, không cần
phản hồi.
Các dạng tài liệu in
thuận lợi để trình bày,
giải thích các nội dung
chi tiết, phức tạp.
Các sản phẩm nghe
nhìn có tác động
mạnh đến cảm xúc
khán/thính giả.
BÀI 1
Truyền thông, giao
tiếp giữa các cá
nhân (nói chuyện,
thảo luận, tọa
đàm,...), bao gồm cả
sử dụng các nền tảng
ứng dụng mạng xã
hội. Ví dụ: Thảo luận
theo nhóm/lớp về
chủ đề phòng chống
bạo lực học đường
(có hoặc không có sự
tham gia của giáo
viên hoặc nhân viên
YTTH)
+ Ưu điểm: có sự
tương tác, trao đổi,
chia sẻ thông tin;
giúp các bên hiểu
vấn đề, nhu cầu của
nhau; tính lựa chọn
đối tượng đích cao.
Các sự kiện (văn
hóa-sức khỏe; giải
trí-giáo dục sức
khỏe). Ví dụ: Meeting
tại trường học nhân
Ngày Thế giới không
thuốc lá hoặc các chủ
đề tương tự.
+ Ưu điểm: tiếp cận
số lượng lớn đối
tượng đích và tạo
nhiều cơ hội cho sự
tham gia, giao tiếp
giữa các cá nhân với
nhau.
Mục tiêu thay đổi
kiến thức, niềm tin,
thái độ, kĩ năng;
Phù hợp với các tình
huống mà các đối
tượng cần tương tác,
trao đổi, phản hồi.
+ Nhược điểm: cần
có cá nhân/nhóm
chuyên môn để điều
phối các hoạt động
tương tác, chia sẻ
thông tin.
Phù hợp với các mục
tiêu nâng cao hiểu
biết, kiến thức; thay
đổi niềm tin, thái độ;
cam kết thực hiện các
hoạt động vì mục đích
sức khỏe tại trường
học.
+ Nhược điểm: tính
lựa chọn đối tượng
đích có thể thấp và
chi phí tổ chức sự
kiện có thể tốn kém.
e) Phản hồi
Trong truyền thông hay giao tiếp, phản hồi là phản ứng hoặc ý kiến,
nhận xét, góp ý của người nhận tin truyền tải ngược trở lại người phát tin
sau khi họ tiếp nhận được thông điệp hoặc tiếp xúc với các hoạt động của
chương trình truyền thông. Phản hồi phản ánh tính hai chiều của truyền
thông; thiếu thành phần phản hồi, quá trình truyền thông không đầy đủ
hay mô hình truyền thông chưa khép kín.
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
17
BÀI 1
Phản hồi từ người nhận tin có thể biểu hiện đa dạng như: biểu hiện
hồi hộp, lo lắng, bối rối, sợ hãi hay bình tĩnh, tự tin của người nhận tin
(phi ngôn ngữ); hoặc lời nói nhận xét, góp ý, câu hỏi (lời nói); hoặc văn bản
góp ý, thư điện tử (email) góp ý, phiếu khảo sát (chữ viết),...
Phản hồi rất quan trọng trong quá trình truyền thông, giao tiếp vì một
số lý do sau đây:
• Cho biết liệu đối tượng đích có nhận được thông điệp hay không; nếu
nhận được thì có hiểu đúng ý nghĩa của thông điệp hay không, qua đó
phản ánh hiệu quả truyền thông ở mức độ nào.
• Báo hiệu mức độ giao tiếp hiệu quả giữa hai bên; phá bỏ các rào cản
giao tiếp giữa các bên, giúp cải thiện các mối quan hệ của con người.
• Thông qua nội dung phản hồi, cá nhân/tổ tổ chức phát tin đánh giá hiệu
quả của thông điệp, hiệu quả của kênh/phương tiện truyền thông, để từ
đó quyết định cần điều chỉnh, cải thiện những yếu tố cụ thể nào.
• Phản hồi là một công cụ để người phát tin học tập liên tục, nâng cao
năng lực, thúc đẩy sáng tạo trong truyền thông.
f) Nhiễu
Yếu tố nhiễu trong quá trình/mô hình truyền thông đề cập những yếu tố
ảnh hưởng đến quá trình tương tác, truyền tải thông điệp giữa người truyền
tin và người nhận tin, phiên giải ý nghĩa thông điệp và cuối cùng ảnh hưởng
đến kết quả của quá trình này. Các dạng nhiễu trong truyền thông bao gồm:
nhiễu từ môi trường, nhiễu tâm lý, nhiễu sinh lý và nhiễu ngữ nghĩa.
Nhiễu vật lý là bất kỳ yếu tố nào từ môi trường bên ngoài như: tiếng ồn
(nhạc, tiếng nói của người xung quanh, tiếng chuông reo, tiếng sấm, tiếng
mưa rơi,...), sự xuất hiện hoặc hoạt động của người khác xung quanh, thời
tiết không thuận lợi gây phân tán sự chú ý, làm ảnh hưởng đến truyền tải
và tiếp nhận thông điệp truyền thông, giao tiếp.
Nhiễu tâm lý có thể bao gồm tâm trạng, sự quan tâm của người nhận
tin đối với chủ đề cuộc trò chuyện. Ví dụ: học sinh có thiện cảm với nhân
viên YTTH sẽ khiến các em lắng nghe và trao đổi tích cực hơn trong giao
tiếp và như thế buổi nói chuyện về sức khỏe hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu
học sinh có tâm trạng không vui, thiếu tập trung sẽ có tác động tiêu cực
đến cách các em tương tác và tiếp nhận thông điệp.
18
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
Nhiễu sinh lý là bất kỳ thuộc tính thể chất nào ảnh hưởng đến cách
truyền tải thông điệp. Tình trạng sức khỏe thể chất không tốt của người
truyền tin hoặc người nhận tin (đau đầu, thiếu ngủ, thiếu năng lượng, suy
nhược cơ thể,...) có thể dẫn đến cách trình bày, diễn đạt không đầy đủ, sai
lệch thông tin; hoặc làm người nhận tin mất tập trung, khó tiếp nhận hoặc
phiên giải thông tin dẫn đến hiểu sai, hiểu nhầm.
Nhiễu về ngữ nghĩa là nhiễu thường do người phát/truyền tin gây ra.
Loại nhiễu này xảy ra khi lời nói, câu từ, ngữ pháp hoặc thuật ngữ được
người làm truyền thông sử dụng những gây khó hiểu hoặc hiểu nhầm
cho người nhận tin/đối tượng đích. Loại nhiễu này thường xuất hiện khi
người làm truyền thông chưa hiểu rõ đặc điểm của đối tượng đích hay
người nhận tin.
Người làm truyền thông cần chú ý xác định các yếu tố gây nhiễu rõ
ràng hoặc tiềm ẩn đối với quá trình truyền thông để có thể kiểm soát
tốt nhất, nhằm đảm bảo truyền thông hiệu quả, đạt được mục tiêu của
chương trình, của các hoạt động truyền thông, giao tiếp về sức khỏe nói
chung và tại trường học nói riêng.
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
19
BÀI 1
3
HÀNH VI SỨC KHOẺ CỦA HỌC SINH
3.1. Khái niệm hành vi và hành vi sức khỏe
a) Khái niệm hành vi
Hành vi là cách ứng xử của con người đối với một sự vật, sự kiện,
hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, biểu hiện thông qua
lời nói, cử chỉ, hành động nhất định. Hành vi cá nhân phản ánh yếu tố
nhận thức, hiểu biết, kiến thức, niềm tin, thái độ, chuẩn mực, giá trị của
cá nhân đó. Dựa vào kết quả của hành vi có thể chia hành vi thành 3 loại:
hành vi có lợi, hành vi trung tính, hành vi có hại.
Thói quen là hành vi của cá nhân được lặp đi lặp lại nhiều lần, hình
thành nếp sống, phong cách sinh hoạt, học tập, làm việc của cá nhân. Thói
quen có thể là kết quả của quá trình học tập, thực hành, rèn luyện hoặc có
thể bắt nguồn từ những trải nghiệm tình cờ hoặc do ảnh hưởng từ người
khác. Tương tự hành vi, thói quen có thể chia thành 3 loại là thói quen tốt,
thói quen xấu và thói quen trung tính.
b) Khái niệm hành vi sức khỏe
Hành vi sức khỏe là hành vi của cá nhân liên quan đến việc duy trì
sức khỏe, bảo vệ sức khỏe và nâng cao sức khỏe hoặc có liên quan với
một vấn đề sức khỏe hay bệnh tật cụ thể nào đó, ví dụ: ăn uống hàng ngày,
tập thể dục hàng ngày, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sống,... Hành
vi sức khỏe có khi rõ ràng, quan sát được như hành động hút thuốc lá,
nhưng có khi hành vi là biểu hiện cách cư xử, ứng xử đối với sự vật, hiện
tượng như đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy một cách khiên cưỡng,... Hành
vi sức khỏe của cá nhân là trọng tâm của quá trình TTGDSK. Mục tiêu
của quá trình này là thay đổi hiểu biết, kiến thức, niềm tin, thái độ, thực
hành, kĩ năng về sức khỏe theo hướng tích cực cho càng nhiều đối tượng
đích càng tốt.
Trong nhóm học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học, bên
cạnh nhiều học sinh có những hành vi lành mạnh có lợi cho sức khỏe, vẫn
20
HỌC PHẦN 7. TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÀI 1
còn nhiều học sinh đang thực hiện những hành vi có hại cho sức khỏe bản
thân và có nguy cơ gây hại cho sức khỏe cộng đồng. Bảng sau ...
 








Các ý kiến mới nhất