Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

toán điển hình lớp 3

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Huy Hùng
Ngày gửi: 15h:15' 20-09-2023
Dung lượng: 310.4 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích: 0 người
MỤC LỤC

1

Nội dung

Trang

1.1. Lý do chọn đề tài

2

1.2. Mục đích nghiên cứu

4

PHẦN 1:

1.3. Đối tượng nghiên cứu, áp dụng

4

MỞ ĐẦU

1.4. Phương pháp nghiên cứu đề tài

4

1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

4

2.1.Cơ sở lí luận

5

2.2.Thực trạng

5

2.3. Nội dung các biện pháp

6

PHẦN 2:
NỘI DUNG

2.4. Kết quả đạt được

PHẦN 3:
KẾT LUẬN VÀ
KIẾN NGHỊ

25

3.1. Kết luận

26

3.2. Kiến nghị

26

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO ĐỀ TÀI

28

NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG

29

CHẤM SKKN, ĐỀ TÀI NCKHƯD

30

2

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Năm học 2020 - 2021 là một năm học tập trung nâng cao chất lượng và hiệu
quả hoạt động giáo dục. Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học,
vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, lấy người học làm trung tâm được đặt ra
3

một cách bức thiết. Bản chất của việc lấy người học làm trung tâm là phát huy
cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh trong học tập.
Việc dạy - học theo phương pháp hiện hành cũng có mặt tích cực song vẫn
chưa phát huy hết vai trò tự chủ, tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Vì vậy việc
học tập của học sinh đôi khi diễn ra đơn điệu, tẻ nhạt, kết quả học tập của học
sinh không cao. Đây là một trong những nguyên nhân cản trở việc đào tạo các
em học sinh thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích
ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày.Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy
cũng gặp không ít những khó khăn . Môn toán ở Tiểu học bước đầu hình thành
và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái quán hoá, kích thích trí tưởng tượng,
gây hứng thú học tập toán, phát triển hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt
đúng bằng lời, bằng viết, các suy luận đơn giản, góp phần rèn luyện phương
pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo.
Mặc dù vậy, tôi đã từng bước khắc phục, vận dụng phương pháp giảng
dạy linh hoạt do đó đã đạt được những kết khả quan: HS mạnh dạn, tự tin, linh
hoạt, sáng tạo và tích cực hơn trong học tập cũng như tham gia các hoạt động.
Không khí học tập trong lớp tự nhiên, nhẹ nhàng, thân thiện, chất lượng giáo dục
ổn định và tăng dần qua các năm.
Quá trình dạy học Toán lớp 3 góp phần thiết thực vào việc hình thành
phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập và làm việc tích cực, chủ động,
khoa học, sáng tạo cho học sinh. Cho nên, giáo viên cần tổ chức hoạt động học
tập thường xuyên tạo ra các tình huống có vấn đề, tìm các biện pháp lôi cuốn học
sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề bằng cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ
năng vấn đề đó, huy động các kiến thức và các công cụ đã có để tìm ra con
đường hợp lí nhất giải đáp từng câu hỏi đặt ra trong qua trình giải quyết vấn đề,
diễn đạt các bước đi trong cách giải, tự mình kiểm tra lại các kết quả đã đạt
được, cùng các bạn rút kinh nghiệm về phương pháp giải.Từ đó không thể nói
mọi học sinh đều tiếp thu kiến thức được như nhau. Trong điều kiện học tập như
4

nhau, có học sinh có thể nắm kiến thức toán học rất nhanh chóng và sâu sắc mà
không cần một sự cố gắng đặc biệt, trong khi các em khác lại không đạt được kết
quả như vậy mặc dù cố gắng nhiều, đó chính là các em học chậm về môn
toán.Vậy làm thế nào để giúp những học sinh chậm về môn toán có thể tiếp thu
được những kiến thức và kỹ năng tối thiểu chương trình và sách giáo khoa quy
định. Đó là điều không chỉ bản thân chúng tôi trăn trở suy nghĩ mà còn là nỗi lo
chung của toàn bộ giáo viên khi trong lớp mình có những học sinh chậm tiêp thu
kiến thức của môn toán. Việc vận dụng sự đổi mới công tác dạy và phụ đạo học
sinh đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là bổn phận, nghĩa vụ của người thầy.
Mặt khác, nếu quan tâm đến việc phụ đạo học sinh chậm thì sẽ làm cho các em
tự tin hơn khi đến lớp, công tác duy trì sĩ số mới được đảm bảo, góp phần làm
nên thắng lợi của công tác phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phương.
Năm học 2020-2021 tôi được phân công giảng dạy lớp 3, bản thân tôi là
giáo viên giảng dạy lớp 3 hưởng ứng phong trào đó tôi đã nhận thức đúng đắn
tầm quan trọng môn Toán ở lớp 3. Ngôi trường nơi công tác thuộc xã Đăk Ngo –
huyện Tuy Đức, là xã vùng 3, điều kiện kinh tế còn khó khăn, đa số là dân tộc
thiểu số. Quả thật mà nói thì học tập Toán ở lớp 3 vô cùng quan trọng và khó
khăn, song qua kiểm tra khảo sát đánh giá tôi nhận thấy rằng bên cạnh những
em học tốt, nhận thức tốt, hoàn thành tốt các nội dung học tập vẫn còn một số
em học còn chậm, kết quả học tập môn toán chưa cao chính vì lẽ đó năm học này
tôi mạnh dạn đề xuất biện pháp nhằm hỗ trợ các em gặp khó khăn trong việc học
tập môn Toán có tiến bộ và tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp đỡ học
sinh khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3.”
1.2. Mục đích nghiên cứu :
- Giúp HS học chưa hoàn thành môn Toán học tiến bộ, nắm được nội dung
chương trình học năm học 2020-2021, Đạt kết quả tốt ở cuối năm học.

5

- Đề ra cho Gv các giải pháp hữu hiệu tối ưu nhất để hạn chế tình trạng
cuối năm kết quả học tập Toán của HS CHT chiếm tỷ lệ cao so với tỉ lệ chuẩn
của nhà trường.
- Nâng cao chất lượng bồi dưỡng thường xuyên cho GV và HS, HS nắm
vững kiến thức đối với các bài toán điển hình ở lớp 3.
- Có kế hoạch giảng dạy rõ ràng đối với Toán lớp 3 nói riêng và các môn
học khác nói chung.
- Giúp học sinh có lòng say mê, yêu thích môn học, có hứng thú học tập
cao để tránh tình trạng HS uể oải trong giờ học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu, áp dụng:
Học sinh lớp 3A trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm năm học 2020 - 2021.
1.4. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Khi thực hiện sáng kiến này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp vấn đáp.
1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Vì thời gian công tác và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên đề tài chỉ
nghiên cứu trong phạm vi trường tiểu học Đoàn Thị Điểm. Nội dung chủ yếu là
tìm hiểu về thực trạng việc dạy học môn toán để phát huy tính tích cực, sự thích
thú của học sinh của học sinh lớp 3, từ đó đề xuất một số biện pháp giúp học
sinh tích cực, chủ động, sáng tạo, tự giác tham gia hoạt động học tập, thích tìm
tòi khám phá những điều chưa biết, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn...
PHẦN 2: NỘI DUNG
2.1.Cơ sở lý luận:
Qua những năm trực tiếp giảng dạy, bản thân cũng nắm bắt và thấu hiểu được
tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học. Nếu các em được sống trong sự yêu thương,
6

chăm sóc, quan tâm của gia đình, thầy cô và có một môi trường học tập tốt thì
các em sẽ ham thích, say mê và nỗ lực trong học tập. Điều này có tác động rất
lớn đến các em là học sinh chậm chưa hoàn thành môn học, giúp các em tự tin
hơn trong việc học của mình. Việc phụ đạo học sinh chưa hoàn thành hay nói
khác hơn, để nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ là trách nhiệm của nhà
trường, gia đình mà là của toàn xã hội. Vì vậy, đây là động lực để những ai đang
làm công việc “trồng người” luôn cố gắng tìm ra phương pháp phù hợp nhằm
khắc phục tình trạng HS chưa hoàn thành.
2.2. Thực trạng
Năm học 2020 - 2021, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3A có
tổng số 30 học sinh. Được sự quan tâm của nhà trường cũng như chuyên môn nên
bản thân tôi cũng đã linh động, sáng tạo khi tổ chức giờ dạy trên lớp. Khả năng
tổng hợp, ghi nhớ của một số em học sinh còn hạn chế. Các em nhớ nhanh nhưng
cũng quên nhanh, thường không thể tự tổng hợp. Các em học máy móc. Vì vậy,
cần phải có tác động mạnh vào tâm trí để các em nhớ lâu, tự phát triển và làm
được các bài cụ thể từ các môn học. Đối với học sinh lớp 3 có thể tiếp nhận sự
giúp đỡ trong học tập từ nhiều phía. Trong đó, bạn học với vai trò “Đôi bạn cùng
tiến” đã giúp các em học sinh CHT giảm bớt phần nào khó khăn trong học tập.
Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, thân thiện luôn quan tâm đến từng đối tượng
học sinh đặc biệt là học sinh chưa hoàn thành môn học. Sự quan tâm, phối hợp
của Ban Giám Hiệu và Đoàn thể nhà trường.
Hiện nay, việc thực hiện đổi mới công tác dạy và học theo hướng khoán nội
dung chương trình cho phép giáo viên chủ động thời lượng trong từng phân môn,
từng bài học. Vì vậy, việc giúp đỡ các em trên lớp dễ dàng hơn, chủ động hơn.
Như đã nêu, đối tượng học sinh chưa hoàn thành có những khác biệt. Hơn thế
nữa, trong từng cá nhân của đối tượng này cũng là sự khác biệt về phong cách
nhận thức.Vì vậy, mỗi dạng đối tượng cần có sự tác động khác nhau.
7

*Tôi định hướng rằng dạy học giúp học sinh huy động tổng hợp kiến
thức, kĩ năng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết vấn đề trong
học tập và trong cuộc sống.
Cụ thể bảng số liệu qua khảo sát đầu năm như sau:
Sĩ số

Nhóm HS HTT

Nhóm HS HT

Nhóm HS CHT

30

7

16

7

Chiếm tỷ lệ

23.3%

53,4%

23.3%

2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
Trong thực tế, nhận thức của HS Tiểu học và đặc biệt là HS lớp 3 ở cùng
lứa tuổi là như nhau, song trong cùng một môi trường học tập có em việc lĩnh
hội kiến thức của mỗi em có mức độ phân hóa không đều vẫn sảy ra. Cùng một
lượng kiến thức truyền tải đó với thời gian đó nhưng có em học rất nhanh , có
em lại chậm hơn .Chính vì lẽ đó từng lớp học thì việc nhiều đối tượng học như :
hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt , hoàn thành và chưa hoàn thành vẫn là bình
thường.Vì thế để đảm bảo duy trì và phát huy chất lượng của học sinh người
giáo viên cần phải quan tâm đến biện pháp cụ thể của từng đối tượng học sinh.
Theo kinh nghiệm đúc kết của bản thân tôi mạnh dạn đề xuất các biện pháp sau:
Biện pháp 1: Dạy học phân hóa đối tượng học sinh:
Đối với biện pháp này Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành kiểm tra khảo
sát đánh giá nhận thức của các em , để biết được em nào nhận thức tốt em nào
khá và em nào còn chậm. Sau đó tôi chọn lọc được nhóm học sinh chưa hoàn
thành về môn Toán trong chương trình lớp 3 để có phương pháp theo dõi giúp đỡ
các em suốt quá trình học tập.
Đối với những em đọc chưa tốt tôi xếp vào một nhóm để tiện theo dõi
Đối với học sinh lớp 3 là lớp giữa cấp của bậc tiểu học nên ý thức, động
cơ học tập của các em chưa cao.
8

Theo qui định về đánh giá xếp loại học sinh hiện nay, môn học xếp loại chưa
hoàn thành khi điểm học lực môn dưới 5. Nhưng trong thực tế, những học sinh
yếu môn Toán, thì những môn học khác cũng bị ảnh hưởng. Điều này đòi hỏi sự
nỗ lực kiên trì của thầy và trò rất cao.
Đối tượng học sinh chưa hoàn thành thường là những em có hoàn cảnh khó
khăn về kinh tế, cha mẹ ly hôn, cuộc sống không ổn định hoặc là gia đình người
đồng bào dân tộc thiểu số, ít quan tâm đến việc học.
Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục: Đội ngũ giáo viên, cơ sở
vật chất, chất lượng đầu vào.
Trước những thách thức đó đòi hỏi người thầy phải nỗ lực bản thân, kiên
trì, bền bỉ cùng nhà trường khắc phục khó khăn và từng bước nâng cao chất
lượng giáo dục.
Biện pháp 2: Biện pháp phụ đạo HS chưa hoàn thành bài học trong
môn Toán về các dạng toán điển hình.
Hàng ngày tôi dành ra 15 phút đầu giờ truy bài để kèm cặp thêm những
em chưa hoàn thành môn Toán, tôi đến sớm hơn và lên lớp để hướng dẫn các em
các dạng bài tập cơ bản trong chương trình và giảng dạy theo kế hoạch đã định.
Ví dụ: Các dạng toán điển hình như rút về đơn vị, giải toán liên quan đến
yếu tố hình học, đại số…
Trong những đợt thao giảng, dự giờ của giáo viên ở trường và qua thăm
các lớp khối 3 tôi nắm được chất lượng của học sinh, tôi nhận thấy việc dạy học
dạng toán rút về đơn vị là hết sức cần thiết. Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, tư duy
của các con còn hạn chế về mặt suy luận, phân tích việc dạy “Toán rút về đơn vị
” góp phần giúp học sinh phát triển được năng lực tư duy, khả năng quan sát, trí
tưởng tượng cao và kỹ năng thực hành số học đặt nền móng vững chắc cho các
em học tốt môn toán ở các cấp học cao hơn.

9

- Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp chung để giải các bài
toán:
Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các
phương pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó. Cho nên,
chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm được các bước giải bài toán như sau:
* Bước 1: Đọc kĩ đề toán.
* Bước 2: Tóm tắt đề toán.
* Bước 3: Phân tích bài toán.
* Bước 4: Viết bài giải.
* Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.
* Đọc kĩ đề toán: Học sinh đọc đề toán ít nhất 3 lần, mục đích để giúp các em
nắm được ba yếu tố cơ bản. Những“dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong
đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là
quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số.
Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên
các yếu tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều
kiện cần thiết liên qua đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến
câu hỏi, phát hiện được các dữ kiện và điều kiện không tường minh để diễn đạt
một cách rõ ràng hơn. Tránh thói quen xấu là vừa đọc xong đề đã làm ngay.
* Tóm tắt đề toán: Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ,
làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm hiện
rõ hơn. Mỗi em cần cố gắng tóm tắt được các đề toán và biết cách nhìn vào tóm
tắt ấy mà nhắc lại được đề toán.
Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được
nhiều cách tóm tắt thì các em sẽ càng giải toán giỏi. Cho nên, khi dạy tôi đã
truyền đạt các cách sau tới học sinh:
* Cách 1: Tóm tắt bằng chữ.
* Cách 2: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
10

* Cách 3: Tóm tắt bằng hình tượng trưng.
* Cách 4: Tóm tắt bằng kẻ ô......
Tuy nhiên tôi luôn hướng dẫn các em chọn cách nào cho hiểu nhất, rõ nhất,
điều đó còn phụ thuộc vào nội dung từng bài.
* Phân tích bài toán: Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích đề
bài để tìm ra cách giải bài toán. Cho nên, ở bước này, giáo viên cần sử dụng
phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán
theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi thông thường:
- Bài toán cho biết gì? - Bài toán hỏi gì?
- Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?
- Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?.....
Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em
nắm bài kĩ hơn, tự các em giải được bài toán.
* Viết bài giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em sẽ
dễ dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác. Giáo viên chỉ việc yêu
cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở các
bước phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp.
* Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:
Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học
sinh thường coi bài toán đã giải xong là khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả
lời. Khi giáo viên hỏi: “ Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em
lúng túng. Vì vậy việc kiểm tra, đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán
và phải trở thành thói quen đối với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta
cần hướng dẫn các em thông qua các bước:
- Đọc lại lời giải.
- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn
diễn đạt trong lời giải đúng chưa.
- Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên.
11

- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.
Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài giải,
tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện
phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh.
- Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến
rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân (kiểu bài 1):
Để học sinh nắm chắc phương pháp giải kiểu bài toán này, tôi đã tiến
hành dạy ở trên lớp theo phương pháp và hình thức sau:
*Kiểm tra bài cũ:
* Bài mới:
* Luyện tập:
* Củng cố dặn dò:
Cụ thể:
Để học sinh nắm chắc phương pháp giải kiểu bài toán này, tôi đã tiến
hành dạy ở trên lớp theo phương pháp và hình thức sau:
* Kiểm tra bài cũ: Để nhắc lại kiến thức cũ và chuẩn bị cho kiến thức mới cần
truyền đạt, tôi ra đề như sau:
“Mỗi can chứa được 5 lít mật ong. Hỏi 7 can như vậy chứa được bao nhiêu lít
mật ong?”
Với bài này, học sinh dễ dàng giải được như sau:
Bài giải.
Bảy can như vậy chứa được số lít mật ong là:
5 x 7 = 35 ( l)
Đáp số: 35 lít mật ong.
Sau đó, tôi yêu cầu học sinh nhận dạng toán đã học (gấp một số lên
nhiều
lần) và giải thích cách làm (lấy số đó nhân với số lần), đồng thời cho học sinh
nhắc lại quy trình của cách giải một bài toán.
12

* Bài mới:
* Giới thiệu bài: Dựa vào bài toán kiểm tra bài cũ, giáo viên vừa củng cố,
vừa
giới thiệu bài ngày hôm nay các em sẽ được học.
* Hướng dẫn học sinh giải bài toán 1: Có 35 lít mật ong chia đều vào 7 can.
Hỏi mỗi can có mấy lít mật ong?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài.
- Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán (sử dụng phương pháp hỏi đáp):
+ Bài toán cho biết gì? (35 lít mật ong đổ đều vào 7 can).
+ Bài toán hỏi gì? ( mỗi can chứa bao nhiêu lít mật ong).
+ Giáo viên yêu cầu học sinh nêu miệng phần tóm tắt để giáo viên ghi bảng:
7 can : 35 l mật ong
1 can : ... l mật ong ?
- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán để tìm phương pháp giải bài toán.
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm bài.
- Giáo viên đưa bài giải đối chiếu.
Bài giải
Số lít mật ong có trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Đáp số: 5 lít mật ong.
- Giáo viên củng cố cách giải: Để tìm mỗi can chứa bao nhiêu lít mật ong ta làm
phép tính gì? ( phép tính chia).
- Giáo viên giới thiệu: Bài toán cho ta biết số lít mật ong có trong 7 can, yêu cầu
chúng ta tìm số lít mật ong trong mỗi can, để tìm được số lít mật ong trong mỗi
can, chúng ta thực hiện phép chia. Bước này gọi là rút về đơn vị, tức là tìm giá
trị của một phần trong các phần bằng nhau.
- Giáo viên cho học sinh nêu miệng kết quả một số bài toán đơn giản để áp dụng,
củng cố như:

13

Bài 1: Có 300 kg gạo chia đều vào 5 bao. Hỏi mỗi bao gạo như thế đựng được
bao nhiêu ki - lô - gam gạo?
+ Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề toán và nêu miệng phần tóm tắt và
giải bài toán:
Tóm tắt

Bài giải

5 bao: 300kg

Số ki-lô-gam gạo chứa trong mỗi bao là::

1 bao:…… kg gạo?

300 : 5 = 60 (kg)
Đáp số: 60 kg gạo.

Bài 2: Có 15 kg đậu chia đều vào 3 túi. Hỏi mỗi bao như thế đựng được bao
nhiêu ki-lô-gam đậu?
Tóm tắt

Bài giải

3 túi : 15 kg

Số đậu đựng trong mỗi túi là:

1 túi : ….. kg đậu?

15 : 3 = 5 (kg)
Đáp số : 5 kg đậu

* Hướng dẫn học sinh giải bài toán 2: Có 35 lít mật ong chia đều vào 7 can. Hỏi
2 can có mấy lít mật ong?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đầu bài: đọc cá nhân, đọc đồng thanh.
- Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt bài toán.
- Giáo viên ghi bảng (Phương pháp hỏi đáp)
7 can : 35 lít
2 can : ? lít.
- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán: (Phương pháp hỏi đáp)
+ Bài toán cho biết gì ? (7 can chứa 35 lít mật ong)
+ Bài toán hỏi gì ? (2 can chứa bao nhiêu lít mật ong)
+ Muốn tính được số lít mật ong có trong 2 can ta phải biết gì? (mỗi can chứa
được bao nhiêu lít mật ong)
+ Làm thế nào để tìm được số lít mật ong có trong mỗi can? (Lấy số lít mật
ong trong 7 can chia cho 7).

14

+ Yêu cầu học sinh nhẩm ngay số lít mật ong trong mỗi can: ..l ?
(35 : 7 = 5 lít)
+ Yêu cầu học sinh nêu cách tính 2 can khi đã biết 1 can.
(Lấy số lít mật ong có trong 1 can nhân với 2).
- Học sinh nêu lần lượt bài giải. Giáo viên ghi bảng.
Bài giải
Số lít mật ong có trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Số lít mật ong có trong hai can là:
5 x 2 = 10 (l)
Đáp số:10 lít mật ong.
- Yêu cầu học sinh nêu bước nào là bước rút về đơn vị ( Bước tìm số lít mật ong
trong 1 can gọi là bước rút về đơn vị.)
- Hướng dẫn học sinh củng cố dạng toán – kiểu bài 1:
Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thường được giải bằng 2 bước:
+ Bước 1: Tìm giá trị một đơn vị (giá trị một phần trong các phần bằng
nhau) - Thực hiện phép chia.
+ Bước 2: Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại (giá trị của nhiều phần
bằng nhau) - Thực hiện phép nhân.
- Hướng dẫn học sinh làm bài tập áp dụng.
- Giáo viên ghi tóm tắt lên bảng, học sinh nêu kết quả và giải thích cách làm
Bài 1: Có 45 kg ngô chia đều trong 3 túi. Hỏi với 8 túi như thế đựng được bao
nhiêu ki-lô-gam ngô?
Tóm tắt

Bài giải

3 túi : 45 kg

Số ki-lô-gam ngô có trong mỗi túi là:

8 túi : …kg ngô?

45 : 3 = 15 ( kg)
Số ki-lô-gam ngô có trong 8 túi là:
15

15 x 8 = 120 ( kg)
Đáp số: 120 kg ngô
Bài 2: Có 20 gói bánh đựng trong 4 thùng. Hỏi 12 thùng như thế đựng được bao
nhiêu gói bánh?
Tóm tắt

Bài giải

4 thùng : 20 gói.

Số gói bánh đựng trong mỗi thùng là:

12 thùng :….gói bánh ?

20 : 4 = 5 (gói)
Số gói bánh đựng trong 12 thùng là:
5 x 12 = 60 ( gói)
Đáp số: 60 gói bánh

Sau khi học sinh nắm chắc cách giải bài toán ở kiểu bài này, chúng ta cần
tiến hành hướng dẫn học sinh luyện tập.
* Luyện tập:
Khi tiến hành hướng dẫn học sinh luyện tập qua từng bài, giáo viên cần
thay đổi hình thức luyện tập. Chẳng hạn có ba bài tập thì có thể chọn các hình
thức như sau:
Bài 1: - Hướng dẫn học sinh thảo luận chung cả lớp, sau đó 1 học sinh tóm tắt
và giải bài toán trên bảng, cả lớp làm vào vở.
- Củng cố bước rút về đơn vị.
- Củng cố các bước giải bài toán này.
Bài 2: - Học sinh thảo luận và làm việc theo nhóm đôi.
- Yêu cầu 1 cặp học sinh trình bày bảng – Giáo viên kiểm tra các kết quả của
cả lớp.
- Yêu cầu học sinh nêu bước rút về đơn vị.
- Củng cố cách thực hiện 2 bước giải bài toán.
Bài 3: Hướng dẫn học sinh làm bài cá nhân......
* Củng cố dặn dò:
- Học sinh tự nêu các bước, cách thực hiện giải bài toán có liên quan đến rút
16

về đơn vị (kiểu bài 1)
- Giao thêm bài về nhà dạng tương tự để hôm sau kiểm tra.
- Qua mỗi lần luyện tập xen kẽ, giáo viên đều củng cố cách làm ở kiểu bài đó là:
Bài giải được thực hiện qua 2 bước:
Bước 1: ( Bước rút về đơn vị) : Tìm giá trị 1 đơn vị (Giá trị 1 phần). Thực
hiện phép tính chia.
Bước 2: Tìm nhiều đơn vị (từ 2 trở lên) . Thực hiện phép nhân.
+ Nhấn mạnh cốt chính của kiểu bài 1 là tìm giá trị của nhiều đơn vị (nhiều
phần).
- Khi học sinh đã nắm chắc kiểu bài 1 thì các em dễ dàng giải được kiểu bài 2.
- Hướng dẫn học sinh luyện tập so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài :
Để học sinh luyện tập tốt 2 kiểu bài này, tôi đã hướng dẫn các em so sánh
các bước giải và nhận ra đặc điểm của mỗi kiểu bài:
Các

Kiểu bài 1

Kiểu bài 2

bước

( Tìm giá trị của các phần)

( Tìm số phần)

1

-Tìm giá trị của 1 phần: ( phép

-Tìm giá trị của 1 phần: ( phép

chia) (Đây là bước rút về đơn vị)

chia) (Đây cũng là bước rút về
đơn vị)

2

-Tìm giá trị của 1 phần

-Tìm số phần.

(phép nhân)

(Phép chia)

Lấy giá trị 1 phần nhân với số

Lấy giá trị các phần chia cho giá

phần

trị 1 phần.

Sau đó, tôi yêu cầu học sinh học thuộc để áp dụng nhận dạng kiểu bài và
giải các bài toán đó. Khi luyện tập, tôi tiến hành cho học sinh luyện 2 bài tập
song song với nhau, mục đích là để các em vừa làm, vừa nhận dạng, so sánh. Sau
mỗi lần luyện tập như vậy, chúng ta lại củng cố kiến thức một lần cho các em,
chắc các em không còn nhầm lẫn nữa.
17

- Không nắm được cấu tạo số tự nhiên ( cách đặt tính)…
Trong lớp chủ nhiệm có một số em thì hầu như là không biết tính khi học toán.
Nguyên nhân thì có rất nhiều, bản thân chỉ xin nêu một số nguyên nhân tiêu
biểu: Không nắm được các phép tính cộng, trừ có nhớ, không thuộc bảng nhân,
bảng chia. Vì vậy, các em cũng không nắm được các phép tính cộng, trừ, nhân,
chia. Không nắm được lí thuyết bài (công thức, quy tắt).
Vậy, đối với những học sinh không biết tính thì giáo viên cần: Hướng dẫn để các
em hiểu, cộng có nghĩa là thêm vào, trừ là bớt đi. Khi thực hiện các phép tính
cộng, trừ, giáo viên nên sử dụng nhiều hình ảnh trực quan cho các em cầm, nắm,
sờ vào và thực hành đếm. Được thực hành nhiều lần, dần dần các em sẽ nhớ và
biết cách tính. Đối với những em không thuộc bảng nhân, chia thì giáo viên gọi
lên kiểm tra thường xuyên vào sinh hoạt 15 phút đầu giờ, giáo viên có thể lấy
nhiều ví dụ minh họa trong cuộc sống, tạo thành các tình huống liên quan đến
các phép tính nhân, chia cho học sinh thực hiện.
Ôn lại các cách đặt tính. Giáo viên cho học sinh làm các bài tập từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp. Ban đầu, cho học sinh đặt tính các số có các chữ số thuộc
cùng một hàng.
Ví dụ: 235 + 345
Sau đó, cho học sinh đặt tính các số có 2 chữ số với số có 3 chữ số.
Ví dụ: 46 +123
Để biết đặt tính thì các em phải thuộc tất cả các hàng theo thứ tự từ nhỏ đến
lớn hoặc từ lớn đến nhỏ, thì mới tính toán chính xác được.
Bên cạnh những học sinh không biết tính thì có những em tính còn yếu.
Nguyên nhân các em tính yếu có thể là do: Khả năng tính nhẩm kém do cộng,
trừ, nhân, chia trong bảng chưa thành thạo dẫn đến tính toán chậm, thiếu chính
xác khi thực hiện các phép tính cộng, trừ có nhớ và nhân, chia ngoài bảng.
Chưa có kỹ năng làm bài tập dạng trắc nghiệm, lười tính và thường chọn kết
quả theo cảm tính hoặc xem bài của bạn. Mặt khác, các em chưa biết cách suy
18

luận khi giải toán. Các em rất sợ các bài tập về giải toán vì ảnh hưởng bởi khả
năng đọc hiểu và không biết tính hoặc tính thiếu chính xác.
Vậy đối với những học sinh tính yếu thì giáo viên cần:
Chú trọng vào việc giúp các em thành thạo 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia
mức độ đơn giản.
Khi giải toán, giáo viên có thể yêu cầu các bạn khá, giỏi phân tích đề bài,
tóm tắt và trình bày bài giải. Sau đó, ra một bài tập tương tự như vậy chỉ cần
thay đổi một vài con số và yêu cầu các em học yếu làm lại. Các em có thể làm
vào giờ ra chơi hoặc giờ luyện vào buổi chiều. Khi các em làm bài, giáo viên
theo dõi, sửa sai (nếu có) kịp thời.
Bước đầu, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú khi làm đúng những bài toán cơ
bản.
Động viên, giúp đỡ các em hoàn thành các bài tập cơ bản ngay tại lớp.
Nâng dần mức độ luyện tập theo khả năng từng em.
Trên lớp, bạn học hoặc giáo viên cần giúp đỡ kịp thời để tránh những khó
khăn thường trực, dần dần giúp các em tự kiểm tra, biết nhờ bạn, nhờ giáo viên
giúp đỡ khi cần.
Khuyến khích các em tự rèn vào vở bài tập đối với các dạng bài thường sai,
xem trước bài mới.
Giáo viên cần có sự kiểm tra việc rèn qua vở bài tập để có hướng khắc phục
và động viên kịp thời.
 Tóm lại:
Ngoài những giải pháp nhằm cải thiện kết quả học tập của học sinh yếu,
biện pháp lâu dài là tạo ra sự hứng thú trong quá trình học tập. Thông qua những
phương pháp dạy học tích cực, người thầy phải chuyển yêu cầu học tập thành
nhu cầu vì nguồn gốc của tính tích cực, sự hứng thú là nhu cầu. Khi học sinh có
nhu cầu thì tự các em sẽ tìm kiếm tri thức. Đó chính là khả năng tự học.
19

Hơn nữa, các em học sinh tiểu học là thế hệ Măng non của đất nước. Nên
bản thân luôn luôn hướng các em theo khẩu hiệu “Học vì ngày mai lập nghiệp”.
Học để hiểu biết, học để trau dồi tri thức và học để trở thành những người công
dân có ích cho xã hội. Bản thân cũng tin tưởng rằng, mình đã đưa ra những biện
pháp thích hợp trong công tác phụ đạo học sinh yếu. Đây là yếu tố cần thiết, giúp
cho chất lượng học tập của các em ngày một được nâng cao.
- Đối với dạng bài giải toán có lời văn:
Đưa ra những biện pháp tích cực nhất để rèn kĩ năng giải toán có lời văn
cho học sinh lớp 3, qua đó giúp học sinh lớp 3 từng bước phát triển năng lực tư
duy, rèn luyện phương pháp và kỹ năng suy luận logic,... Hướng dẫn học sinh
giải cụ thể một số bài toán, dạng toán có lời văn ở lớp 3 , từ đó đúc rút kinh
nghiệm, đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng dạy - học giải toán
có lời văn. Đồng thời phục vụ cho công tác giảng dạy của bản thân tôi trong năm
học 2020-2021 nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học.
Qua kết quả khảo sát cho thấy những nguyên nhân dẫn đến việc học sinh
thực hiện giải bài toán sai là do: Do nhầm lẫn trong thực hiện phép tính, nhưng
nguyên nhân chính vẫn là do kĩ năng nhận dạng toán, kỹ năng phân tích tóm tắt
và giải các bài toán có lời văn của các em còn nhiều hạn chế. Phân tích tóm tắt
bài toán chính là phản ánh sự hiểu bài và làm bài của các em. Em nào tóm tắt
được bài toán thì khả năng làm bài giải đúng sẽ cao hơn. Chính vì thực trạng này
đặt ra là: Dạy giải toán có lời văn như thế nào để các em ngoài việc nắm được
kiến thức thì phải có kỹ năng giải những dạng bài tương tự như nhau. Và kỹ
năng đó được nâng cao dần theo thời gian rèn luyện có như vậy mới nâng cao
chất lượng dạy - học.
Việc phối kết hợp nhịp nhàng giữa nội dung chương trình các em đang
học trên lớp, với chương trình thực hành luyện tập là một phương pháp luyện tập

20

thực hành thật sự mang lại hiệu quả. Các em tham gia thực hành nhiều thì kĩ
năng nhận dạng và phân tích đề chính xác, tư duy logic hơn.
- Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước giải một bài toán có lời văn.
* Ví dụ: Ba em Mai,Hoa ,Hưng, lần lượt cân nặng là 36kg, 38kg,40kg,.Hỏi ba
em cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
Bước1: Tìm hiểu đề
- Cho học sinh tự đọc đề bài nhiều lượt.
- Hướng dẫn học sinh nắm các dữ liệu bài toán.
+ Bài toán cho biết gì? Ba em Mai,Hoa ,Hưng, lần lượt cân nặng là 36kg,
38kg,40kg
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? Hỏi ba em cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
- Tóm tắt:
Mai: 36kg
Hoa:38kg
Hưng: 40kg
3em:... kg?
Bước 2: Lập kế hoạch giải
Muốn tìm trung bình mỗi em bao nhiêu kg ta làm thế nào? (Ta lấy số cân
nặng của 3 em cộng với nhau
Bước 3: Giải bài toán
Bài giải
Trung bình mỗi em nặng số kg là:
36+38+40 = 104 kg
Đáp số: 104kg
- Dạy bài toán gấp một số lên nhiều lần:
Mục tiêu: Giúp HS nắm vững các bước giải toán cơ bản của dạng toan gấp một
số lên nhiều lần
21

Cách thực hiện:
Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào cácphương
pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó.
* Bước 1: Đọc kĩ đề toán.
* Bước 2: Tóm tắt đề toán.
* Bước 3: Phân tích bài toán.
* Bước 4: Viết bài giải.
* Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.
Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:
* Đọc kĩ đề toán: Học sinh đọc đề toán ít nhất 3 lần, mục đích để giúp các em
nắm được ba yếu tố cơ bản. Những“dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong
đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là
quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số.
Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên
các yếu tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều
kiện cần thiết liên qua đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến
câu hỏi, phát hiện được các dữ kiện và điều kiện không tường minh để diễn đạt
một cách rõ ràng hơn. Tránh thói quen xấu là vừa đọc xong đề đã làm ngay.
* Tóm tắt đề toán: Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ,
làm ...
 
Gửi ý kiến