
- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Công Chính
Ngày gửi: 08h:26' 01-08-2023
Dung lượng: 16.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Công Chính
Ngày gửi: 08h:26' 01-08-2023
Dung lượng: 16.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
THẦY MẪU Chứng minh thơ của Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị là CAO, SÂU và SẮC và hàm
súc, nói ít gợi nhiều, trong thơ có nhạc và có họa”
Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị là ba nhà thơ lớn của Trung Quốc. Mỗi người có một phong cách
thơ riêng: thơ Lí Bạch thì phóng túng; thơ Bạch Cư Dị thì u buồn; thơ Đỗ Phủ có lẽ là người trung hòa
giữa Lí Bạch và Bạch Cư Dị. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: thơ Lí Bạch “cao”, thơ Đỗ Phủ “sâu”, thơ
Bạch Cư Dị “sắc”
Thật vậy, thơ Li Bạch viết về đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người
dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và
bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng... Đề tài nào cũng có
những bài tuyệt tác.
Đọc bài “Thương tiến tửu” ta thấy đất nước Trung Hoa hiện lên tráng lệ dưới ngòi bút của ông. Sông
Hoàng Hà cuồn cuộn chảy ra biển đông như một lực sĩ:
Quân bất kiến:
Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
(Thương tiến tửu)
Há chẳng thấy nước Hoàng Hà từ trời đổ xuống
Chảy tuột biển Đông chẳng quay về
Sông Dương Tử (tức Trường Giang) đi vào thơ ông như giải lụa thắt ngang trời:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa giang nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)
Bạn từ lầu Hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói châu Dương xuôi dòng
Bóng buồm đã khuất bầu không
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời
Thác Hương Lô được miêu tả như sông Ngân Hà tuột khỏi mây:
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
(Vọng Lư Sơn bộc bố)
Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này:
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.
Tả cảnh thiên nhiên mà tráng lệ như thế, rõ ràng tác giả đã yêu quê hương, đất nước biết nhường nào.
Lòng yêu nước ở Lý Bạch chính là bắt nguồn từ lòng yêu sông núi quê hương vậy.
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sơn.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
Đầu giường ánh trăng rọi,
Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
(Tương Như dịch)
Bài thơ thật hàm súc, chỉ bốn câu thơ, nhưng tác giả đã vẽ được một bức tranh tuyệt đẹp, đồng thời
cùng bộc lộ được tấm lòng yêu quê hương tha thiết của mình.
Khác với Lý Bạch, ngòi bút Đỗ Phủ luôn bám sát đời sống, hay nói như Lương Khả Siêu, ông là nhà
thơ “tả thực chi tiết”. Ông lại đặc biệt chú trọng ngôn từ thơ ca, chủ trương “ngữ bất kinh nhân, tử bất
hưu” (lời thơ không làm người ta kinh hoàng thì chết không nhắm mắt). Do vậy thơ ông gieo vào lòng
người đọc ấn tượng sâu sắc về cuộc sống, về nỗi cơ cực của nhân dân, về số phận “gian nan khổ hận”
cùng cảnh ngộ với “dân đen” của chính ông. Nếu trong thơ Lý Bạch có dòng sông hát ca, chim muông ríu
rít, vầng trăng duyên dáng thì trong thơ Đỗ Phủ dòng sông nức nở, vầng trăng thổn thức và chim muông,
cỏ cây câm lặng, úa vàng. Men theo năm tháng của các bài thơ ra đời, chúng ta có thể thấy được những
nét chính của đời sống chính trị, xã hội đời Đường trước và sau loạn An Sử.
Chu môn tửu nhục xú
Lộ hữu đống tử cốt
Vinh khô chỉ xích dị
Trù trướng nan tái thuật
(Cửa son rượu thịt ôi
Ngoài đường đầy xác chết
Sướng khổ cách gang tấc
Quặn lòng không nói được)
Đất nước điêu linh, nhân dân cơ cực, nhưng triều đình vẫn liên tục phát động chiến tranh, mở mang bờ
cõi. Đỗ Phủ đã đứng về phía những người dân bị bắt phu bắt lính, kịch liệt lên án chiến tranh bành trướng
xâm lược.
Mỗi nước có biên thuỳ
Chỉ cần chặn xâm lược
Tàn sát để làm chi?
Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, điêu đứng. Hai hiện tượng nổi bật trong những năm tháng loạn ly này
là cảnh bắt lính, bắt phu và cảnh chia ly thê thảm. Chùm thơ “Tam lại” “Tam biệt”. Bài “Thạch Hào lại”
đã vẽ nên một cảnh tượng thê lương của người dân Trung Hoa thời bấy giờ.
Người ta gọi thơ ông là Thi sử bởi vì cái ấn tượng binh đao khói lửa nội chiến mà thơ ông gieo vào
lòng người còn sâu sắc gấp trăm lần các bộ sách viết về thời này.
Nhưng Đỗ Phủ không hề “viết sử” một cách khách quan. Ông đã đứng hẳn về phía “dân đen”, coi nỗi
đau của họ như nỗi đau của chính mình, ước mong san sẻ gánh năng cơm áo và dằn vặt tâm linh với họ.
Tư tưởng nhân đạo của Đỗ Phủ là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo dưới thời phong kiến. Bài thơ “Mao ốc
vi thu phong sở phá ca” thể hiện rõ nhân cách của ông.
Ước gì có được ngôi nhà vạn gian
Che cho kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, ai nấy đều hân hoan.
Khác với Lí Bạch và Đỗ Phủ, thơ Bạch Cư Dị mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ
nhàng kín đáo nhưng săc bén được đông đảo bạn đọc mến mộ.
Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu
Trong hoa oanh ríu rít nhau
Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh, dây mành, ngừng đứt
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ.
(Tì bà hành)
Tác giả dùng những từ láy âm “ríu rít”, “róc rách” để miêu tả tiếng đàn của người kĩ nữ. Tiếng đàn
nghe réo rắt như oanh hót, như nước suối chảy xuống ghềnh. Đang réo rắt như thế, chợt “dây mành ngừng
đứt”, im lặng, nó làm cho người đọc xúc động. Đặc biệt tiếng đàn được miêu tả về tác dụng của nó:
Cung đàn trọn khúc thanh tao
Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một vầng trăng trong vắt dòng sông”.
Sau khi “lặng ngắt” bây giờ “tiếng buông xé lụa” nổi lên. Tiếng đàn làm cho cảnh vật xung quanh
trở nên lặng im. Mọi người trong bàn tiệc, nhất là Giang Châu Tư Mã, đã hiểu thấu tâm tình của người kĩ
nữ. Không gian cũng lặng im để thưởng thức tiếng đàn. Những chiếc thuyền như ngừng trôi theo dòng
nước, chỉ còn “một vầng trăng trong vắt dòng sông”. Vũ trụ như ngừng chuyển động, chỉ vì tiếng đàn quá
hay, làm xúc động cả những vật vô tri.
Tóm lại ba nhà đại thi hào vĩ đại của Trung Hoa: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đã để lại chơ đời
nhiều áng thơ hay, Ngày nay, chúng ta có thể suy ngẫm được rất nhiều về thành tựu to lớn và nhân cách
phi phàm của ba ông từ những lời thơ trên.
súc, nói ít gợi nhiều, trong thơ có nhạc và có họa”
Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị là ba nhà thơ lớn của Trung Quốc. Mỗi người có một phong cách
thơ riêng: thơ Lí Bạch thì phóng túng; thơ Bạch Cư Dị thì u buồn; thơ Đỗ Phủ có lẽ là người trung hòa
giữa Lí Bạch và Bạch Cư Dị. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: thơ Lí Bạch “cao”, thơ Đỗ Phủ “sâu”, thơ
Bạch Cư Dị “sắc”
Thật vậy, thơ Li Bạch viết về đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người
dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và
bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng... Đề tài nào cũng có
những bài tuyệt tác.
Đọc bài “Thương tiến tửu” ta thấy đất nước Trung Hoa hiện lên tráng lệ dưới ngòi bút của ông. Sông
Hoàng Hà cuồn cuộn chảy ra biển đông như một lực sĩ:
Quân bất kiến:
Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
(Thương tiến tửu)
Há chẳng thấy nước Hoàng Hà từ trời đổ xuống
Chảy tuột biển Đông chẳng quay về
Sông Dương Tử (tức Trường Giang) đi vào thơ ông như giải lụa thắt ngang trời:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa giang nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)
Bạn từ lầu Hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói châu Dương xuôi dòng
Bóng buồm đã khuất bầu không
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời
Thác Hương Lô được miêu tả như sông Ngân Hà tuột khỏi mây:
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
(Vọng Lư Sơn bộc bố)
Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này:
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.
Tả cảnh thiên nhiên mà tráng lệ như thế, rõ ràng tác giả đã yêu quê hương, đất nước biết nhường nào.
Lòng yêu nước ở Lý Bạch chính là bắt nguồn từ lòng yêu sông núi quê hương vậy.
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sơn.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
Đầu giường ánh trăng rọi,
Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
(Tương Như dịch)
Bài thơ thật hàm súc, chỉ bốn câu thơ, nhưng tác giả đã vẽ được một bức tranh tuyệt đẹp, đồng thời
cùng bộc lộ được tấm lòng yêu quê hương tha thiết của mình.
Khác với Lý Bạch, ngòi bút Đỗ Phủ luôn bám sát đời sống, hay nói như Lương Khả Siêu, ông là nhà
thơ “tả thực chi tiết”. Ông lại đặc biệt chú trọng ngôn từ thơ ca, chủ trương “ngữ bất kinh nhân, tử bất
hưu” (lời thơ không làm người ta kinh hoàng thì chết không nhắm mắt). Do vậy thơ ông gieo vào lòng
người đọc ấn tượng sâu sắc về cuộc sống, về nỗi cơ cực của nhân dân, về số phận “gian nan khổ hận”
cùng cảnh ngộ với “dân đen” của chính ông. Nếu trong thơ Lý Bạch có dòng sông hát ca, chim muông ríu
rít, vầng trăng duyên dáng thì trong thơ Đỗ Phủ dòng sông nức nở, vầng trăng thổn thức và chim muông,
cỏ cây câm lặng, úa vàng. Men theo năm tháng của các bài thơ ra đời, chúng ta có thể thấy được những
nét chính của đời sống chính trị, xã hội đời Đường trước và sau loạn An Sử.
Chu môn tửu nhục xú
Lộ hữu đống tử cốt
Vinh khô chỉ xích dị
Trù trướng nan tái thuật
(Cửa son rượu thịt ôi
Ngoài đường đầy xác chết
Sướng khổ cách gang tấc
Quặn lòng không nói được)
Đất nước điêu linh, nhân dân cơ cực, nhưng triều đình vẫn liên tục phát động chiến tranh, mở mang bờ
cõi. Đỗ Phủ đã đứng về phía những người dân bị bắt phu bắt lính, kịch liệt lên án chiến tranh bành trướng
xâm lược.
Mỗi nước có biên thuỳ
Chỉ cần chặn xâm lược
Tàn sát để làm chi?
Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, điêu đứng. Hai hiện tượng nổi bật trong những năm tháng loạn ly này
là cảnh bắt lính, bắt phu và cảnh chia ly thê thảm. Chùm thơ “Tam lại” “Tam biệt”. Bài “Thạch Hào lại”
đã vẽ nên một cảnh tượng thê lương của người dân Trung Hoa thời bấy giờ.
Người ta gọi thơ ông là Thi sử bởi vì cái ấn tượng binh đao khói lửa nội chiến mà thơ ông gieo vào
lòng người còn sâu sắc gấp trăm lần các bộ sách viết về thời này.
Nhưng Đỗ Phủ không hề “viết sử” một cách khách quan. Ông đã đứng hẳn về phía “dân đen”, coi nỗi
đau của họ như nỗi đau của chính mình, ước mong san sẻ gánh năng cơm áo và dằn vặt tâm linh với họ.
Tư tưởng nhân đạo của Đỗ Phủ là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo dưới thời phong kiến. Bài thơ “Mao ốc
vi thu phong sở phá ca” thể hiện rõ nhân cách của ông.
Ước gì có được ngôi nhà vạn gian
Che cho kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, ai nấy đều hân hoan.
Khác với Lí Bạch và Đỗ Phủ, thơ Bạch Cư Dị mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ
nhàng kín đáo nhưng săc bén được đông đảo bạn đọc mến mộ.
Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu
Trong hoa oanh ríu rít nhau
Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh, dây mành, ngừng đứt
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ.
(Tì bà hành)
Tác giả dùng những từ láy âm “ríu rít”, “róc rách” để miêu tả tiếng đàn của người kĩ nữ. Tiếng đàn
nghe réo rắt như oanh hót, như nước suối chảy xuống ghềnh. Đang réo rắt như thế, chợt “dây mành ngừng
đứt”, im lặng, nó làm cho người đọc xúc động. Đặc biệt tiếng đàn được miêu tả về tác dụng của nó:
Cung đàn trọn khúc thanh tao
Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một vầng trăng trong vắt dòng sông”.
Sau khi “lặng ngắt” bây giờ “tiếng buông xé lụa” nổi lên. Tiếng đàn làm cho cảnh vật xung quanh
trở nên lặng im. Mọi người trong bàn tiệc, nhất là Giang Châu Tư Mã, đã hiểu thấu tâm tình của người kĩ
nữ. Không gian cũng lặng im để thưởng thức tiếng đàn. Những chiếc thuyền như ngừng trôi theo dòng
nước, chỉ còn “một vầng trăng trong vắt dòng sông”. Vũ trụ như ngừng chuyển động, chỉ vì tiếng đàn quá
hay, làm xúc động cả những vật vô tri.
Tóm lại ba nhà đại thi hào vĩ đại của Trung Hoa: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đã để lại chơ đời
nhiều áng thơ hay, Ngày nay, chúng ta có thể suy ngẫm được rất nhiều về thành tựu to lớn và nhân cách
phi phàm của ba ông từ những lời thơ trên.
 









Các ý kiến mới nhất