ÔN HSG VĂN 8

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: võ thị quý
Ngày gửi: 21h:48' 11-12-2022
Dung lượng: 765.0 KB
Số lượt tải: 110
Nguồn:
Người gửi: võ thị quý
Ngày gửi: 21h:48' 11-12-2022
Dung lượng: 765.0 KB
Số lượt tải: 110
Số lượt thích:
0 người
BDHSG Ngữ VăN 8
LH:
0988126458
nếu lấy cả bộcó tính phí ạ.
Bồi dưỡng HSG VĂN 8.180 đề,800 tr.Tặng TL ôn, phụ đao,NLXH….. G A cv 5512,dạy thêm, đề đọc
hiểu,nlxh….
Th/ Cô vui lòng tham gia nhóm Nhóm fb: Tài liệu ôn HSG ngữ văn 6.7.8.9 để tải các tài liệu cho tiện
Mọi thông tin về tài liệu: lhVuongĐinh 0988 126 458
PHƯƠNG PHÁP VIẾT MỞ BÀI KẾT BÀI HAY
(ÔN THI HỌC SINH GIỎI)
Có nhiều yếu tố để làm nên một bài văn hay, và người ta thường chú trọng phần
nội dung (thân bài) mà quên đi rằng mở bài và kết bài cũng quan trọng không kém.
Mở bài đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình trình bày vấn đề nghị luận, và kết
bài cho ta biết việc trình bày vấn đề đã kết thúc để lại ấn tượng trong lòng người
đọc. Để viết được một mở bài và kết bài hay, lôi cuốn cũng là một kĩ năng rất quan
trọng.
I. PHƯƠNG PHÁP VIẾT MỞ BÀI
1. Tầm quan trọng của một mở bài hay:
Nhà văn M.Gorki đã từng nói: “Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu, cũng
như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm và người ta thường tìm nó
rất lâu”. Thật vậy, nhiều bạn trẻ thường gặp khó khăn trong việc mở đầu bài văn
của mình. Một mở đầu hay sẽ giúp các bạn có thêm cảm hứng cho bài viết của
mình, giúp bài viết được trôi chảy hơn. Mở bài hay còn tạo ấn tượng cho giám
khảo. Và người đọc thấy được sự thích thú khi cảm nhận bài văn ngay từ phần mở
đầu thì có thể khẳng định được chất lượng bài văn đạt giá trị cao. Một bài văn cần
nhiều kỹ năng và mở bài là một kỹ năng quan trọng cho thấy người viết đã xác định
đúng hướng và đi sâu vào vấn đề cần thể hiện.
2. Các yếu tố của một mở bài hay:
Để có một mở bài hay cho một bài viết không hề dễ dàng, hay ở đây không chỉ là
nội dung thể hiện đủ đúng ý mà mở bài hay còn được thể hiện qua việc sử dụng
ngôn từ viết hay, ngôn ngữ của mỗi người là khác nhau vì cách cảm nhận văn học
trong mỗi người là khác nhau nên trau dồi về kiến thức văn học cũng quan trọng.
Có hai nguyên tắc để viết mở bài hay: thứ nhất là nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề
bài hay còn gọi là làm “trúng đề”; thứ hai là chỉ được phép nêu những ý khái quát
về vấn đề hay là tóm tắt nội dung thể hiện trong bài viết một cách súc tích nhưng
vẫn thể hiện ý rõ diễn đạt.
Một mở bài hay cần có các yếu tố:
- Ngắn gọn: ở đây được hiểu mở bài hay ngắn gọn là ngắn về số lượng câu và nội
dung thể hiện, số lượng câu chỉ cần khoảng 4 - 6 câu, nội dung chỉ cần sự tóm tắt
Mời qúy thầy cô tham gia vào nhóm: Tài liệu ôn thi hsg ngữ văn 6.7.8.9 để tải bài cho tiện nhé
1
ngắn gọn. Phần mở bài quá dài dòng không những khiến bạn mất thời gian mà còn
khiến bạn bị cạn kiệt ý tưởng cho phần thân bài, đôi khi mở bài dài quá khiến sai
lệch ý trong cách thể hiện. Hãy viết mở bài là sự tóm tắt, khơi nguồn nội dung ít để
người đọc cảm nhận được sự tò mò và đi chinh phục nội dung tiếp theo ở phần thân
bài
- Đầy đủ: Một mở bài hay đầy đủ là phải nêu được vấn đề nghị luận, câu nói dẫn
dắt, ngắn nhưng đầy đủ ý mới quan trọng, vấn đề chính cũng như nội dung quan
trọng bắt buộc phải nhắc đến phần mở bài.
- Độc đáo: Độc đáo trong một mở bài hay là gây được sự chú ý cho người đọc về
vấn đề cần viết bằng những liên tưởng khác lạ, tưởng tượng phong phú trong các
bài văn miêu tả, kể tạo sự thu hút bất ngờ cho người đọc. Sự độc đáo trong mở bài
khiến bài viết của các bạn trở nên nổi bật và nhận được sự chú ý và theo dõi của
mọi người về chất lượng bài văn.
- Tự nhiên: Dùng ngôn từ giản dị, mộc mạc trong cách viết bài, đặc biệt thể hiện ở
phần mở bài là cần thiết để có một mở bài hay.
Phần mở bài có ảnh hưởng đến cảm xúc, tâm lý người chấm nên sự đầu tư kỹ càng
về kiến thức và kỹ năng cho phần mở bài để tránh lạc đề, sơ sài hay dài dòng, tuân
thủ những nguyên tắc hay những yếu tố cơ bản là cần thiết trong việc tạo một mở
bài hay và ý nghĩa.
3. Cách viết mở bài hay
Thông thường có hai cách mở bài:
a) Trực tiếp (cách này thường dành cho các bạn học sinh trung bình): Là cách
đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận. Nghĩa là sau khi đã tìm hiểu đề và tìm được vấn
đề trọng tâm của bài nghị luận, ta nêu thẳng vấn đề đó ra bằng một luận điểm rõ
ràng. Tuy nhiên khi mở bài trực tiếp, ta cũng phải trình bày cho đủ ý, không nói
thiếu nhưng cũng không nên nói hết nội dung, phải đáp ứng đủ các yêu cầu của một
phần mở bài đúng mực trong nhà trường. Đặt vấn đề theo cách trực tiếp dễ làm,
nhanh gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận, tuy nhiên thường khô khan, cứng nhắc, thiếu hấp
dẫn cho bài viết.
Nếu đề bài yêu cầu nghị luận về tác phẩm thì mở bài phải giới thiệu được tên tác
giả, phong cách thơ tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, trích dẫn khổ thơ,
hoặc giới thiệu vấn đề nghị luận.
b) Gián tiếp (dành cho các bạn khá – giỏi): Với cách này người viết phải dẫn dắt
vào đề bằng cách nêu lên những ý có liên quan đến luận đề (vấn đề cần nghị luận)
2
để gây sự chú ý cho người đọc sau đó mới bắt sang luận đề. Người viết xuất phát từ
một ý kiến, một câu chuyện, một đoạn thơ, đoạn văn, một phát ngôn của nhân vật
nổi tiếng nào đó,...
dẫn dắt người đọc đến vấn đề sẽ b àn luận trong bài viết. Mở bài theo cách này tạo được sự
uyển chuyển, linh hoạt cho bài viết, hấp dẫn người đọc.
Các cách mở bài gián tiếp:
So sánh: So sánh là cách đối chiếu hai hoặc nhiều đối tượng với nhau ở phương diện
giống nhau, khác nhau hoặc cả hai. Cách mở bài so sánh gây thích thú cho người đọc vì
nó chứng tỏ người viết có kiến thức văn học phong phú. Có nhiều cách làm phần mở bài
theo dạng so sánh. Tác phẩm thì có tác giả, đề tài, chủ đề, nội dung, cảm hứng, thể loại,
giai đoạn, giá trị, nhân vật… nên người viết có thể đối chiếu điểm giống nhau, khác nhau
hoặc vừa giống vừa khác của một trong các vấn đề đó.
Đi từ đề tài: Bất kì tác phẩm văn học nào cũng thuộc một đề tài nào đó. Hiểu điều này,
cùng với kiến thức lí luận văn học “Đề tài là phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác
phẩm”, người viết nghị luận văn học sẽ dễ dàng giới thiệu vấn đề một cách rành mạch.
Các nhà văn viết về mùa thu thì đề tài là mùa thu; viết về tình bạn, tình yêu, tình cảm gia
đình thì đó cũng là đề tài.
Đi từ giai đoạn: Mỗi thời kì lịch sử, giai đoạn lịch sử lại có những bối cảnh xã hội khác
nhau ảnh hưởng ít nhiều trực tiếp hoặc gián tiếp đến giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật
của tác phẩm. Đi từ giai đoạn, thời kì văn học sẽ gắn hiện thực đời sống với nhà văn - tác
phẩm - bạn đọc. Cách mở bài này dành cho những học sinh kiểu “triết học gia” ham tìm
tòi, ưa lí luận nhờ đó dễ tạo điểm nhấn cho bài văn.
Đi từ thể loại: Không có tác phẩm nào không thuộc một thể loại chính nào đó. Mỗi thể
loại văn học lại có những đặc trưng riêng. Người viết dựa vào đặc trưng thể loại để giải
mã nghệ thuật trong tác phẩm.
Trích dẫn một câu nói, một câu thơ hoặc từ một triết lí cuộc sống
II. PHƯƠNG PHÁP VIẾT KẾT BÀI
1. Tầm quan trọng của kết bài:
3
Kết bài trong văn nghị luận là một phần khá quan trọng bởi đây là phần sẽ tạo
dư âm cho bài viết. Nếu kết bài có sức nặng sẽ tạo nên những cảm xúc rất tốt
cho người đọc. Kết bài là phần kết thúc bài viết, vì vậy, nó tổng kết, thâu tóm lại
vấn đề đã được đặt ra ở mở bài và phát triển ở thân bài, đồng thời mở ra hướng suy
nghĩ mới, tình cảm mới cho người đọc. Phần kết bài có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá
vấn đề đặt ra ở mở bài và đã giải quyết ở thân bài. Phần này góp phần tạo tính hoàn
chỉnh, trọn vẹn cho bài văn.
2. Các yêu cầu viết kết bài hay:
Giống như phần mở bài, phần này chỉ nêu lên những ý khái quát, không trình bày
lan man, dài dòng hoặc lặp lại sự giảng giải, minh họa, nhận xét một cách chi tiết
như ở phần thân bài. Một kết bài thành công không chỉ là nhiệm vụ "gói lại" mà còn
phải "mở ra" - khơi lại suy nghĩ, tình cảm của người đọc. Thâu tóm lại nội dung bài
viết không có nghĩa là nhắc lại, lặp lại mà phải dùng một hình thức khác để khái
quát ngắn gọn; khơi gợi suy nghĩ hay tạo dư ba trong lòng người đọc; là câu văn khi
đã khép lại vẫn khiến cho người đọc day dứt, trăn trở, hướng về nó.
3. Cách viết mở bài hay:
- Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao: Là kiểu kết bài trên cơ sở
quan điểm chính của bài viết, bằng liên tưởng, vận dụng, người viết phát triển, mở
rộng nâng cao vấn đề.
CÁC CÁCH MỞ BÀI HIỆU QUẢ GV CẦN NẮM KHI ÔN HSG
KHỐI 789, ÔN CHUYÊN.
1. Mở bài cho dạng đề phân tích nhân vật.
2. Mở bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
3. Mở bài dạng so sánh tác phẩm.
4. CÁCH MỞ BÀI CHO DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
a.Đề tai kháng chiến
b.Mở bài về hình ảnh người nông dân, bất hạnh
4.1. Mở bài bằng nhận định tác giả và quan niệm sáng tác
4.2. Mở bài bằng chủ đề hay hình tượng trung tâm
4.3.Bình luận mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực cuộc sống. Chứng
minh bằng một số tác phẩm.
4.4.ở bài nghị luận xuất phát từ lý luận văn học
4.5. Mở bài về thơ ca
4.6. Mở bài văn xuôi
5. Mở bài giới thiệu sự trường tồn của tác phầm trong lòng người đọc.
5.1. Đi từ tác phẩm/tác giả
4
5.2.Đi từ tác phẩm/tác giả
5.3.Đi từ một nhận định
5.4.Sử dụng châm ngôn, ca dao, tục ngữ để bắt đầu
5.5.Đi từ hoàn cảnh sáng tác
5.6. Đi từ chủ đề
5.7 .So sánh
5.8. Phản đề
6. Mở bài theo lối đồng điệu cùng chủ đề.
7.Mở bài thông thường
8. Mở bài cho một chi tiết truyện
CẤU TRÚC MỘT BÀI NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT Ý KIẾN, NHẬN ĐỊNH
Dàn ý của dạng bài giải quyết một vấn đề lí luận văn học:
Dàn ý chung phần thân bài như sau:
Thao tác Nội dung Mức độ tư duy:
1. Mở bài: Tùy theo yêu cầu của đề để có những hướng tiếp cận mở bài khác nhau.
2. Thân bài:
2.1. Giải thích:
– Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hình ảnh khó hiểu trong nhận định.
– Chốt vấn đề nghị luận: Như vậy, vấn đề cần bàn ở đây là gì? (Đọc – Hiểu)
22. Bàn luận:
– Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải vấn đề nghị luận.
– Trả lời cho câu hỏi “vì sao?” (Vận dụng Tổng hợp)
2.3. Chứng minh:
– Chọn chi tiết trong tác phẩm để làm rõ các biểu hiện của vấn đề nghị luận. (Phân
tích)
+Luận điểm 1:
5
+Luận điểm 2:
+Luận điểm 3:
…………
2.4. Đánh giá:
– Đánh giá tính đúng đắn của vấn đề nghị luận.
– Bổ sung, phản biện lại vấn đề (Nếu có) (Đánh giá)
2.5. Liên hệ:
3. Kết bài.
Rút ra bài học cho nhà văn trong quá trình vận dụng sáng tác và bạn đọc trong quá
trình tiếp nhận.
Khi làm bài, cần vận dụng linh hoạt các bước trên nhưng nhất thiết phải có đầy đủ các
thao tác này để bài viết không bị mất điểm.
ĐỀ ÔN LUYỆN
Chuyên đề 2: ĐỀ TỔNG HỢP, ĐỀ MỞ (46 ĐỀ 187 TRANG)- 1 TRONG 14
CHUYÊN ĐỀ CỦA BỘ ĐỀ.
Đề 27
ĐỀ THI HSG MÔN NGỮ VĂN 8 HUYỆN
NĂM HỌC:
Thời gian: 150 phút
ĐỀ BÀI
I. ĐỌC HIỂU (6 điểm).
Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
(1)“Thế giới cần nâng niu quá đỗi. Ta sống đời lại thô tháp làm sao. Ta làm tổn
thương những dòng sông. Ta làm tổn thương những mặt đầm. Ta làm tổn thương
những mảnh vườn. Ta làm tổn thương những mùa hoa trái. Ta làm tổn thương những
bình minh yên ả. Ta làm tổn thương những canh khuya trong vắng. Ta làm đau những
niềm người quá đỗi mong manh...
(2) Mặt đất ngàn đời quen tha thứ. Đại dương bao la quen độ lượng. Cánh rừng
mênh mông quen trầm mặc. Những dòng sông quen chảy xuôi. Những hồ đầm quen
nín lặng. Những nẻo đường quen nhẫn nhịn. Những góc vườn quen che giấu. Những
thảm rêu vốn không biết dỗi hờn. Những đoá hoa không bao giờ chì chiết. Những giấc
mơ chỉ một mực bao dung. Những yêu thương không bao giờ trả đũa… Và ta cứ yên
6
chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên
bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu”.
(Chu Văn Sơn, Nên bị gai đâm)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. Em hãy cho biết chủ đề của đoạn văn (1).
Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật nổi bật được sử dụng
trong đoạn văn (2).
Câu 4. Theo em, tại sao tác giả lại cho rằng: “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm,
để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.”?
II. TẠO LẬP VĂN BẢN (14 điểm).
Câu 1. Từ nội dung ở phần đọc – hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ,
tương đương 20 – 25 dòng) nêu suy nghĩ của em về lòng vị tha.
Câu 2. Giáo sư, nhà giáo, nhà lý luận - phê bình văn học Lê Ngọc Trà có nhận định
cho rằng: “Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói tình cảm của con người, là sự tự
giãi bày và gửi gắm tâm tư.”.
Em hiểu nhận định trên như thế nào? Phân tích bài thơ “Khi con tu hú” (Tố
Hữu) để làm sáng tỏ nhận định trên. Liên hệ với bài thơ “Tiếng gà trưa” (Xuân
Quỳnh, Ngữ văn 7, tập 2) để làm rõ sự “tự giãi bày và gửi gắm tâm tư” của nhà thơ.
--- Hết –
HƯỚNG DẪN CHẤM
.
Hướng dẫn cụ thể:
Câu
Yêu cầu
Điểm
Phần I ĐỌC - HIỂU
1.
2.
3.
4.
1.
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Chủ đề đoạn văn: Con người ta quá vô tình trước những tội lỗi, tổn thương
do chính mình gây nên đối với thế giới tự nhiên và người khác.
- Biện pháp nghệ thuật nổi bật: Điệp từ (quen), điệp cấu trúc câu (Những …
quen …).
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh sự vô tư, bao dung, rộng lượng, tha thứ và sẻ chia của tự
nhiên đối với con người.
+ Tạo cho đoạn văn giàu tính nhạc.
- Vì con người ta quá vô tư trước những tổn thương mà mình gây ra cho kẻ
khác vì vậy mà bản thân chúng ta cũng nên bị “thương” để hiểu được tổn
thương người khác cũng chính là làm đau chính mình và mọi người, tổn
thương chính là rỉ máu.
- Lúc ấy ta sẽ biết yêu thương, chia sẻ; ta sẽ hòa vào thế giới này bằng trái
tim độ lượng, bao dung, sẽ biết thấu hiểu, trân trọng, nâng niu thiên nhiên,
đồng loại, dẹp bỏ đi thói vị kỉ, vô tâm, thờ ơ vô cảm để quan tâm nhiều hơn
đến mọi người.
Phần II.LÀM VĂN
Nghị luận xã hội
a. Đảm bảo cấu trúc của một đoạn văn nghị luận: Mở đoạn giới thiệu vấn đề
nghị luận; Thân đoạn làm rõ vấn đề nghị luận, triển khai được luận điểm;
7
Kết đoạn khái quát được nội dung nghị luận.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
2.
c. HS triển khai vấn đề nghị luận cụ thể, rõ ràng. Có thể trình bày theo định
hướng sau:
- Giải thích khái niệm: Vị tha là biết quan tâm, chăm lo một cách vô tư đến
lợi ích của người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình. Lòng vị tha ở
con người chứng tỏ một tinh thần vô cùng bao dung, nhân ái.
- Biểu hiện của lòng vị tha: thể hiện ở thái độ vô tư, không mưu toan tính
toán khi giúp đỡ người khác làm một việc gì đó. Sẵn sàng giúp đỡ bạn bè,
biết cảm thông giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, sẵn sàng tha
thứ cho lỗi lầm của người khác, biết quan tâm đến những người xung quanh,
sống hoà mình với mọi người, biết yêu thương đồng bào, đồng loại....
- Vai trò của lòng vị tha: đối với bản thân, con người sẽ cảm thấy thanh thản
trước cuộc đời bởi thấy rằng mình có ích, được mọi người mến yêu, quý
trọng. Đối với mọi người: lòng vị tha giúp người khác thấy cuộc có ý nghĩa,
góp phần làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
- Mở rộng: Phê phán thái độ sống ích kỉ, chỉ biết quan tâm đến lợi ích bản
thân, có khi vì mình mà làm hại cho tập thể, cho dân, cho nước.
- Bài học: Lòng vị tha là đức tính quý báu cần có của mỗi con người. Sống
vị tha mỗi người sẽ cảm thấy thêm yêu cuộc sống, có động lực để sống tốt
hơn trong cuộc đời này.
d. Sáng tạo: có cách diễn đạt độc đáo, thể hiện những suy nghĩ, kiến giải
mới mẻ về vấn đề
e.Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả,
dùng từ, đặt câu.
Nghị luận văn học
a.Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Có đầy đủ phần Mở bài,
thân bài, kết bài. Mở bài giới thiệu vấn đề nghị luận; Thân bài làm rõ được
nhận định, triển khai được các luận điểm; kết bài khái quát được nội dung
nghị luận.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự nhận thức
sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí
lẽ và dẫn chứng.
Thí sinh có thể giải quyết vấn đề theo hướng sau:
* Giới thiệu chung về vấn đề nghị luận.
- Dẫn dắt vấn đề nghị luận, trích dẫn ý kiến của Lê Anh Trà.
- Khẳng định vấn đề trong tác phẩm Khi con tu hú của Tố Hữu, liên hệ tác
phẩm Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh: cả hai văn bản đều là “sự giải bày và
gửi gắm tâm tư”, thể hiện những tình cảm cao đẹp của con người.
* Triển khai làm sáng tỏ vấn đề nghị luận.
1. Giải thích ý kiến:
- Tiếng nói tình cảm trong văn học được bày tỏ rất đa dạng: “sự giãi
bày” là thể hiện tình cảm một cách trực tiếp, chân thành; “gửi gắm tâm tư”
8
là bộc lộ tình cảm âm thầm kín đáo, mong chờ tiếng nói đồng vọng tri âm tri
kỉ.
- Văn học phải thể hiện được mọi khía cạnh trong đời sống con người:
số phận, tư tưởng, trí tuệ, và đặc biệt là tình cảm. Văn học phải chuyên chở
mọi cung bậc tình cảm của con người, là cầu nối giữa biết bao tâm hồn, biết
bao cảm xúc.
- Cảm xúc trong văn học không phải là thứ cảm xúc vu vơ hời hợt, mà
bao giờ nó cũng phải là một cảm xúc mãnh liệt. Nó không phải cái mãnh liệt
ầm ào bên ngoài, mà nó là sự cô đặc về chất của cảm xúc.
- Cảm xúc của văn học phải được soi chiếu dưới lý tưởng của thời đại,
phải được dẫn dắt bởi một tư tưởng.
Nhận định của giáo sư Lê Ngọc Trà đã đề cập đến đặc trưng quan
trọng trong nội dung của tác phẩm văn học: tính cảm xúc. Từ sự tự giãi bày
và gửi gắm tâm tư, văn học cất lên tiếng nói chung, tạo ra tiếng vọng kêu gọi
những tấm lòng đồng cảm, để biết bao người đọc tìm thấy mình trong từng
con chữ của người nghệ sĩ.
2. Chứng minh nhận định qua bài thơ “Khi con tu hú”:
Khái quát về bài thơ: Tố Hữu sáng tác bài thơ Khi con tu hú tại nhà
lao Thừa Phủ (Huế) vào mùa hè năm 1939, sau khi bị thực dân Pháp bắt
giam vì “tội” yêu nước và làm cách mạng. Bài thơ thể hiện tâm trạng xốn
xang, bức bối của người thanh niên cộng sản đang bị cầm tù, khi nghe thấy
tiếng chim tu hú báo hiệu mùa hè đến đã muốn phá tung xiềng xích để trở về
với đồng bào, đồng chí yêu thương.
* Luận điểm 1. Tiếng chim tu hú là yếu tố gợi mở để mạch cảm xúc
trào dâng mãnh liệt, là sự “tự giải bày” của người tù cộng sản:
- Tiếng chim tu hú gọi bầy gợi cho nhà thơ nghĩ đến khung trời lồng lộng ở
bên ngoài và càng cảm thấy ngột ngạt trong xà lim chật chội, càng khao khát
cháy bỏng cuộc sống tự do (dẫn chứng).
- Đó là tín hiệu của mùa hè rực rỡ, của sự sống tưng bừng sinh sôi nảy nở.
Tiếng chim vô tình tác động đến tâm hồn người tù trẻ tuổi. Nằm trong xà lim
chật hẹp, tối tăm, cách biệt với thế giới bên ngoài, nhà thơ lắng nghe tiếng
chim rộn rã, lắng nghe mọi âm thanh cuộc đời bằng tâm hồn và trái tim nhạy
cảm của người nghệ sĩ. Một tiếng chim thôi cũng gợi trong tâm tưởng nhà
thơ cả một trời thương nhớ về những mùa hè nồng nàn của quê hương (dẫn
chứng, phân tích).
- Sáu câu thơ lục bát uyển chuyển mở ra cả một thế giới rộn ràng, tràn trề
nhựa sống. Nhiều âm thanh, hình ảnh tiêu biểu của mùa hè được đưa vào bài
thơ: tiếng ve ngân trong vườn cây, lúa chiêm chín vàng trên cánh đồng, bầu
trời cao rộng với cánh diều chao lượn, trái cây chín mọng ngọt lành… Tiếng
chim tu hú khởi đầu và bắt nhịp cho mùa hè rộn rã âm thanh, rực rỡ màu sắc,
ngạt ngào hương vị… trong cảm nhận của người tù. Đoạn thơ thể hiện khả
năng cảm nhận tinh tế và khát vọng tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách
mạng trẻ trung, yêu đời nhưng đang bị quân thù tước mất tự do.
- Sức sống mãnh liệt của mùa hè chính là sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ
khát khao lí tưởng cách mạng, khát khao hoạt động, cống hiến cho dân, cho
nước. Tiếng chim tu hú là tiếng gọi thôi thúc của cuộc sống đối với người
chiến sĩ cách mạng đang bị giam cầm. Bên ngoài là tự do, phóng khoáng, đối
9
lập với sự tù túng, bức bối trong nhà giam (dẫn chứng).
* Luận điểm 2. Tiếng chim tu hú không chỉ gợi nhớ yêu thương, mà
còn là lời giục giã người chiến sĩ nhanh chóng trở về với cách mạng, cũng
là sự “gửi gắm tâm tư” của người tù cộng sản.
- Tâm trạng đau khổ, uất ức bật thốt thành lời thơ thống thiết. Cách ngắt nhịp
bất thường kết hợp với các từ ngữ có khả năng đặc tả và những từ cảm thán
như truyền đến độc giả cái cảm giác uất hận cao độ và niềm khao khát cháy
bỏng muốn thoát ra khỏi cảnh tù ngục, trở về với cuộc sống tự do bên ngoài
của người thanh niên yêu nước đang bị giam cầm trong lao tù đế quốc (dẫn
chứng).
- Những câu thơ chứa đựng nỗi khắc khoải, vật vã, day dứt khôn nguôi cả về
thể xác lẫn tâm hồn của nhà thơ trẻ. Trong hoàn cảnh ấy, thời khắc ấy, người
cộng sản phải tự đấu tranh với bản thân để làm chủ mình, vượt lên những
đắng cay nghiệt ngã của lao tù đế quốc, nuôi dưỡng ý chí, giữ vững khí tiết
và tinh thần đấu tranh cách mạng.
- Tiếng chim tu hú cứ kêu hoài như nhắc nhở tới nghịch cảnh của nhà thơ,
giục giã nhà thơ phá tung tù ngục để giành lại tự do. Bốn câu thơ sau căng
thẳng như chứa đựng một sức mạnh bị dồn nén chỉ chực bật tung ra. Đó là
tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi hoạt động chưa được bao lâu
đã lâm vào cảnh tù ngục, lúc nào cũng khao khát tự do, muốn thoát khỏi bốn
bức tường xà lim lạnh lẽo để trở về với đồng bào, đồng chí thân yêu.
- Tiếng chim tu hú chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi đã làm dậy lên tất
cả cảnh và tình mùa hè trong tâm tưởng nhà thơ. Người tù thấu hiểu được
cảnh ngộ trớ trêu của mình trong chốn lao tù ngột ngạt, giữa lúc cuộc sống
bên ngoài đang nảy nở, sinh sôi. Phải bứt tung xiềng xích, phá tan những nhà
ngục hữu hình và vô hình đang giam hãm cả dân tộc trong vòng nô lệ.
- Bài thơ hay ở những hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mà giàu sức gợi cảm, ở
nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển, tự nhiên và cả ở những cảm
xúc thiết tha, sàu lắng, thể hiện được nguồn sống sục sôi của người cộng sản.
Luận điểm 3. Bài thơ “Tiếng gà trưa” (Xuân Quỳnh) là sự bộc lộ
tình cảm yêu quê hương, đất nước chân thành, sâu lắng của nhà thơ qua
hình tượng tiếng gà trưa, cũng là sự “tự giãi bày và gửi gắm tâm tư”của
nhà thơ.
- Khái quát về bài thơ: Bài thơ Tiếng gà trưa được viết trong những năm đầu
của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ trên phạm vi cả nước. Trong hoàn
cảnh nước sôi lửa bỏng ấy, hàng triệu thanh niên đã lên đường với khí thế
“xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ, Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Nhân
vật trữ tình trong bài thơ là người chiến sĩ trẻ đang cùng đổng đội trên đường
hành quân vào Nam chiến đấu. Tiếng gà trưa đã gợi nhớ về những kỉ niệm
đẹp đẽ của tuổi thơ và tình bà cháu. Tình cảm gia đình, quê hương đã làm
sâu sắc thêm tình yêu đất nước.
- Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết. Chỉ một tiếng gà trưa bất chợt
nghe thấy khi dừng chân bên xóm nhỏ là đã gợi dậy cả một trời thương nhớ,
thể hiện sự rung cảm cao độ trong tâm hồn chiến sĩ (dẫn chứng)
- Quê nhà hiện lên rõ nét trong tâm tưởng và những kỉ niệm tuổi thơ lần lượt
sống dậy qua những hình ảnh thân thương. Tiếng gà trưa khiến người cháu
xa nhà nhớ đến người bà kính yêu một đời tần tảo (dẫn chứng).
10
- Nổi bật qua gần suốt bài thơ là hình ảnh người bà chắt chiu, giành giụm
yêu thương cháu. Bà đã luôn ân cần, hi sinh và mệt nhọc. Hình ảnh người bà
được miêu tả gắn bó thân thuộc với quê hương làng xóm, hơn thế nó còn là
những kỉ niệm không bao giờ phai nhạt (dẫn chứng).
- Tâm trạng người chiến sĩ trẻ từ những kỉ niệm về tuổi thơ của mình mà khi
quay về thực tại với con dường hành quân trở nên giàu lòng hăng hái với
giọng thơ tràn trề sinh khí. Xuân Quỳnh đã khẳng định mục đích chiến đấu
hôm nay đó là vì tổ quốc, vì bà, vì kỉ niệm tuổi thơ êm đềm của mình. Và
nhà thơ khẳng định mình chiến đấu hôm nay chính là vì muốn bảo vệ quê
hương, bảo vệ sự yên bình của mọi mái nhà trên tổ quốc (dẫn chứng).
Tiếng gà trưa gợi những nỗi nhớ về người bà, về những kỉ niệm tuổi thơ,
về quê hương làng xóm và mục đích chiến đấu của người chiến sĩ chính là
“sự giải bày” tình cảm của người chiến sĩ trẻ.
- Tiếng gà cũng là tiếng gọi thân yêu của bà, của mẹ, của quê hương. Tiếng
gọi thân yêu ấy như là niềm tin cho người chiến sĩ trong cuộc chiến đấu bảo
vệ quê hương yêu dấu, là tình cảm tiền tuyến - hậu phương của nhân dân ta
trong cuộc kháng chiến, gian khổ có thể làm mệt mỏi, bom đạn có thể hủy
diệt mọi thứ nhưng những tình cảm về bà, về những kỉ niệm ấu thơ cùng
tiếng gà trưa không bao giờ chết mà vẫn còn nguyên lửa, vẫn cứ trào dâng
trong lòng. Đó là tình cảm, cảm xúc được gửi gắm kín đáo trong bài thơ.
- Bài thơ “Tiếng gà trưa” của nhà thơ Xuân Quỳnh là một bài thơ hay, những
câu từ trong bài thơ bắt nguồn từ những thứ giản dị, gần gũi và mộc mạc
nhưng lại có giá trị lớn lao và cao đẹp.
* Đánh giá chung.
- Hai bài thơ “Khi con tu hú” (Tố Hữu) và “Tiếng gà trưa” (Xuân Quỳnh)
tuy sáng tác ở hai thời kỳ khác nhau, có những nét khác biệt về nội dung và
nghệ thuật song đều là những bài thơ hay của dòng văn học cách mạng Việt
Nam.
- Cả hai bài thơ đều hướng tới ngợi ca những tình cảm cao đẹp của người
Việt Nam: tình yêu thiên nhiên, tình cảm gia đình, tình yêu đất nước…
Những tình cảm đó chính là “sự giải bày và gửi gắm tâm tư” của nhà thơ đến
với bạn đọc thông qua sáng tác của mình.
- Khẳng định nhận định của giáo sư, nhà giáo, nhà phê bình văn học Lê
Ngọc Trà là hoàn toàn chính xác bởi đặc trưng quan trọng trong nội dung
của tác phẩm văn học chính là tính cảm xúc.
d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa
tiếng Việt.
************************************************
11
0,25
0,25
Đề 3:
PHẦN I – ĐỌC HIỂU
ĐỀ THI CHỌN H.S.G LỚP 8
NĂM HỌC : 2018-2019
MÔN : NGỮ VĂN
I. ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu
Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu:
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc
sống trí tuệ. Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và
khi không còn có nhu cầu đó nữa thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi,
mòn mỏi đi và cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện
nghiêm túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc,
lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh
niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc
vận động đọc sách trong thanh niên cả nước và vận động từng nhà gây dựng tủ sách
gia đình. Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc, mỗi người
mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động
mỗi người trong một năm đọc lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ,
không quá khó. Việc nhỏ đấy, nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công việc
lớn.
(Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, Tạp chí điện tử tiasang.com.vn, ngày 197-2007)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2: Vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc
sống trí tuệ nữa”?
Câu 3: Theo em việc nhỏ và công cuộc lớn mà tác giả đề cập đến trong đoạn văn là gì?
Câu 4: Thông điệp mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích?
PHẦN II – LÀM VĂN
Câu 1 (6 điểm) Người thành công luôn tìm thấy cơ hội trong khó khăn. Kẻ thất bại
luôn thấy khó khăn trong mọi cơ hội.
Câu 2. (10 điểm)
Có ý kiến cho rằng: “Dù được sáng tác theo trào lưu lãng mạn hay hiện thực,
những trang viết của những nhà văn tài năng và tâm huyết đều thấm đượm tinh thần
nhân đạo sâu sắc”
Qua các văn bản “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố và văn bản “Lão Hạc”
của Nam Cao em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?
12
I. Đọc hiểu ( 4 đ)
Câu
HƯỚNG DẪN CHẤM
Nội dung
1 Phương thức biểu đạt chính: phương thức nghị luận/ nghị luậ
“Công cuộc lớn” đọc sách trở thành ý thức, thành nhu cầu của mỗi người, mỗi gia
đình trong xã hội, phấn đấu đưa việc đọc sách trở thành văn hóa của quốc gia, dân
tộc.
2 “Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí
tuệ”.
Lí do: vì không đọc sách thì đời sống tinh thần con người\ nghèo đi, mòn mỏi đi,
cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng.
3
- “Việc nhỏ” là vận động đọc sách và gây dựng tủ sách trong mỗi gia đình, mỗi
người có thể đọc từ vài chục dòng mỗi ngày đến một cuốn sách trong năm.
Thông điệp: từ việc khẳng định đọc sách là biểu hiện của con người có cuộc sống
4 trí tuệ, không đọc sách sẽ có nhiều tác hại, tác giả đưa ra lời đề nghị về phong trào
đọc sách và nâng cao ý thức đọc sách ở mọi người.
Câu 1 (6đ)
1. Giải thích:
Người thành công là người đạt được mục đích mà mình đặt ra sau một quá trình nỗ
lực, cố gắng.
Kẻ thất bại là người không thực hiện được những mong muốn, dự định đã đặt ra.
Cơ hội: hoàn cảnh thuận tiện gặp được để làm việc gì mình mong ước.
Về thực chất, câu nói khẳng định sự thành bại của mỗi người phụ thuộc vào cách
người ấy đón nhận và xử thế trước những vấn đề của đời sống.
2. Bình luận
- Thành và bại luôn song hành như một thực thể khách quan. Không ai không từng
gặp thất bại, ngay cả những người thành công. (dẫn chứng)
13
- Sự thành bại của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào tài năng hay cơ hội mà còn ở
thái độ của người đó trước những khó khăn trong cuộc sống:
+ Với những người giàu nghị lực, mỗi khó khăn là cơ hội để tích lũy kinh nghiệm,
kiểm chứng năng lực của bản thân. Và như thế, họ sẽ luôn tìm thấy cơ hội trong mỗi
khó khăn để thành công.
+ Với những người bi quan, lười biếng khi gặp khó khăn thử thách vội chán nản,
tự tìm thấy lí do để thoái thác công việc, từ bỏ ước mơ. Không vượt qua khó khăn
càng khiến họ mất hết niềm tin để rồi chỉ thấy khó khăn trong mọi cơ hội. Và chắc
chắn họ sẽ luôn thất bại.
Cuộc sống rất khắc nghiệt nhưng luôn ẩn giấu nhiều cơ hội mà mọi người cần nắm
bắt.
Sự thành bại ở một giai đoạn không có ý nghĩa trong suốt cả cuộc đời. Mọi người
cần có cách ứng xử trước mọi thành bại để đạt được những điều mình mong ước.
Thành công chỉ có được sau quá trình học tập, tích lũy, nỗ lực, rèn luyện lâu dài
Phê phán thái độ sống hèn nhát, lười biếng, dễ gục ngã, mất niềm tin sau những lần
thất bại.
3. Bài học nhận thức và hành động
- Cần phải có niềm tin, nghị lực lớn để vượt qua những thử thách khó khăn trong
cuộc sống, để luôn tìm thấy cơ hội trong mọi khó khăn.
- Không ngại đối mặt với khó khăn. Coi khó khăn, thử thách như một phần tất yếu
của cuộc sống.
- Luôn hành động mạnh mẽ, quyết đoán để khắc phục khó khăn…
Câu 2. (10 điểm)
I. Yêu cầu chung
- Về nội dung: Hiểu yêu cầu đề bài, nắm vững tác phẩm, biết phân tích theo định
hướng, văn viết mạch lạc, có cảm xúc.
- Về hình thức: Trình bày ý rõ ràng, biết cân đối với hai câu trên.
II. Yêu cầu cụ thể
Chấp nhận trình tự, cách thức khai triển khác nhau, miễn là thí sinh có ý thức bám sát
14
và làm sáng rõ định hướng sau:
1. Mở bài: Dẫn dắt giới thiệu vấn đề nghị luận, trích dẫn và giới hạn vấn đề
2. Thân bài
2.1. Giải thích ý kiến
* Học sinh cần giải thích được ý của nhận định
- Trào lưu lãng m...
LH:
0988126458
nếu lấy cả bộcó tính phí ạ.
Bồi dưỡng HSG VĂN 8.180 đề,800 tr.Tặng TL ôn, phụ đao,NLXH….. G A cv 5512,dạy thêm, đề đọc
hiểu,nlxh….
Th/ Cô vui lòng tham gia nhóm Nhóm fb: Tài liệu ôn HSG ngữ văn 6.7.8.9 để tải các tài liệu cho tiện
Mọi thông tin về tài liệu: lhVuongĐinh 0988 126 458
PHƯƠNG PHÁP VIẾT MỞ BÀI KẾT BÀI HAY
(ÔN THI HỌC SINH GIỎI)
Có nhiều yếu tố để làm nên một bài văn hay, và người ta thường chú trọng phần
nội dung (thân bài) mà quên đi rằng mở bài và kết bài cũng quan trọng không kém.
Mở bài đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình trình bày vấn đề nghị luận, và kết
bài cho ta biết việc trình bày vấn đề đã kết thúc để lại ấn tượng trong lòng người
đọc. Để viết được một mở bài và kết bài hay, lôi cuốn cũng là một kĩ năng rất quan
trọng.
I. PHƯƠNG PHÁP VIẾT MỞ BÀI
1. Tầm quan trọng của một mở bài hay:
Nhà văn M.Gorki đã từng nói: “Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu, cũng
như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm và người ta thường tìm nó
rất lâu”. Thật vậy, nhiều bạn trẻ thường gặp khó khăn trong việc mở đầu bài văn
của mình. Một mở đầu hay sẽ giúp các bạn có thêm cảm hứng cho bài viết của
mình, giúp bài viết được trôi chảy hơn. Mở bài hay còn tạo ấn tượng cho giám
khảo. Và người đọc thấy được sự thích thú khi cảm nhận bài văn ngay từ phần mở
đầu thì có thể khẳng định được chất lượng bài văn đạt giá trị cao. Một bài văn cần
nhiều kỹ năng và mở bài là một kỹ năng quan trọng cho thấy người viết đã xác định
đúng hướng và đi sâu vào vấn đề cần thể hiện.
2. Các yếu tố của một mở bài hay:
Để có một mở bài hay cho một bài viết không hề dễ dàng, hay ở đây không chỉ là
nội dung thể hiện đủ đúng ý mà mở bài hay còn được thể hiện qua việc sử dụng
ngôn từ viết hay, ngôn ngữ của mỗi người là khác nhau vì cách cảm nhận văn học
trong mỗi người là khác nhau nên trau dồi về kiến thức văn học cũng quan trọng.
Có hai nguyên tắc để viết mở bài hay: thứ nhất là nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề
bài hay còn gọi là làm “trúng đề”; thứ hai là chỉ được phép nêu những ý khái quát
về vấn đề hay là tóm tắt nội dung thể hiện trong bài viết một cách súc tích nhưng
vẫn thể hiện ý rõ diễn đạt.
Một mở bài hay cần có các yếu tố:
- Ngắn gọn: ở đây được hiểu mở bài hay ngắn gọn là ngắn về số lượng câu và nội
dung thể hiện, số lượng câu chỉ cần khoảng 4 - 6 câu, nội dung chỉ cần sự tóm tắt
Mời qúy thầy cô tham gia vào nhóm: Tài liệu ôn thi hsg ngữ văn 6.7.8.9 để tải bài cho tiện nhé
1
ngắn gọn. Phần mở bài quá dài dòng không những khiến bạn mất thời gian mà còn
khiến bạn bị cạn kiệt ý tưởng cho phần thân bài, đôi khi mở bài dài quá khiến sai
lệch ý trong cách thể hiện. Hãy viết mở bài là sự tóm tắt, khơi nguồn nội dung ít để
người đọc cảm nhận được sự tò mò và đi chinh phục nội dung tiếp theo ở phần thân
bài
- Đầy đủ: Một mở bài hay đầy đủ là phải nêu được vấn đề nghị luận, câu nói dẫn
dắt, ngắn nhưng đầy đủ ý mới quan trọng, vấn đề chính cũng như nội dung quan
trọng bắt buộc phải nhắc đến phần mở bài.
- Độc đáo: Độc đáo trong một mở bài hay là gây được sự chú ý cho người đọc về
vấn đề cần viết bằng những liên tưởng khác lạ, tưởng tượng phong phú trong các
bài văn miêu tả, kể tạo sự thu hút bất ngờ cho người đọc. Sự độc đáo trong mở bài
khiến bài viết của các bạn trở nên nổi bật và nhận được sự chú ý và theo dõi của
mọi người về chất lượng bài văn.
- Tự nhiên: Dùng ngôn từ giản dị, mộc mạc trong cách viết bài, đặc biệt thể hiện ở
phần mở bài là cần thiết để có một mở bài hay.
Phần mở bài có ảnh hưởng đến cảm xúc, tâm lý người chấm nên sự đầu tư kỹ càng
về kiến thức và kỹ năng cho phần mở bài để tránh lạc đề, sơ sài hay dài dòng, tuân
thủ những nguyên tắc hay những yếu tố cơ bản là cần thiết trong việc tạo một mở
bài hay và ý nghĩa.
3. Cách viết mở bài hay
Thông thường có hai cách mở bài:
a) Trực tiếp (cách này thường dành cho các bạn học sinh trung bình): Là cách
đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận. Nghĩa là sau khi đã tìm hiểu đề và tìm được vấn
đề trọng tâm của bài nghị luận, ta nêu thẳng vấn đề đó ra bằng một luận điểm rõ
ràng. Tuy nhiên khi mở bài trực tiếp, ta cũng phải trình bày cho đủ ý, không nói
thiếu nhưng cũng không nên nói hết nội dung, phải đáp ứng đủ các yêu cầu của một
phần mở bài đúng mực trong nhà trường. Đặt vấn đề theo cách trực tiếp dễ làm,
nhanh gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận, tuy nhiên thường khô khan, cứng nhắc, thiếu hấp
dẫn cho bài viết.
Nếu đề bài yêu cầu nghị luận về tác phẩm thì mở bài phải giới thiệu được tên tác
giả, phong cách thơ tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, trích dẫn khổ thơ,
hoặc giới thiệu vấn đề nghị luận.
b) Gián tiếp (dành cho các bạn khá – giỏi): Với cách này người viết phải dẫn dắt
vào đề bằng cách nêu lên những ý có liên quan đến luận đề (vấn đề cần nghị luận)
2
để gây sự chú ý cho người đọc sau đó mới bắt sang luận đề. Người viết xuất phát từ
một ý kiến, một câu chuyện, một đoạn thơ, đoạn văn, một phát ngôn của nhân vật
nổi tiếng nào đó,...
dẫn dắt người đọc đến vấn đề sẽ b àn luận trong bài viết. Mở bài theo cách này tạo được sự
uyển chuyển, linh hoạt cho bài viết, hấp dẫn người đọc.
Các cách mở bài gián tiếp:
So sánh: So sánh là cách đối chiếu hai hoặc nhiều đối tượng với nhau ở phương diện
giống nhau, khác nhau hoặc cả hai. Cách mở bài so sánh gây thích thú cho người đọc vì
nó chứng tỏ người viết có kiến thức văn học phong phú. Có nhiều cách làm phần mở bài
theo dạng so sánh. Tác phẩm thì có tác giả, đề tài, chủ đề, nội dung, cảm hứng, thể loại,
giai đoạn, giá trị, nhân vật… nên người viết có thể đối chiếu điểm giống nhau, khác nhau
hoặc vừa giống vừa khác của một trong các vấn đề đó.
Đi từ đề tài: Bất kì tác phẩm văn học nào cũng thuộc một đề tài nào đó. Hiểu điều này,
cùng với kiến thức lí luận văn học “Đề tài là phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác
phẩm”, người viết nghị luận văn học sẽ dễ dàng giới thiệu vấn đề một cách rành mạch.
Các nhà văn viết về mùa thu thì đề tài là mùa thu; viết về tình bạn, tình yêu, tình cảm gia
đình thì đó cũng là đề tài.
Đi từ giai đoạn: Mỗi thời kì lịch sử, giai đoạn lịch sử lại có những bối cảnh xã hội khác
nhau ảnh hưởng ít nhiều trực tiếp hoặc gián tiếp đến giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật
của tác phẩm. Đi từ giai đoạn, thời kì văn học sẽ gắn hiện thực đời sống với nhà văn - tác
phẩm - bạn đọc. Cách mở bài này dành cho những học sinh kiểu “triết học gia” ham tìm
tòi, ưa lí luận nhờ đó dễ tạo điểm nhấn cho bài văn.
Đi từ thể loại: Không có tác phẩm nào không thuộc một thể loại chính nào đó. Mỗi thể
loại văn học lại có những đặc trưng riêng. Người viết dựa vào đặc trưng thể loại để giải
mã nghệ thuật trong tác phẩm.
Trích dẫn một câu nói, một câu thơ hoặc từ một triết lí cuộc sống
II. PHƯƠNG PHÁP VIẾT KẾT BÀI
1. Tầm quan trọng của kết bài:
3
Kết bài trong văn nghị luận là một phần khá quan trọng bởi đây là phần sẽ tạo
dư âm cho bài viết. Nếu kết bài có sức nặng sẽ tạo nên những cảm xúc rất tốt
cho người đọc. Kết bài là phần kết thúc bài viết, vì vậy, nó tổng kết, thâu tóm lại
vấn đề đã được đặt ra ở mở bài và phát triển ở thân bài, đồng thời mở ra hướng suy
nghĩ mới, tình cảm mới cho người đọc. Phần kết bài có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá
vấn đề đặt ra ở mở bài và đã giải quyết ở thân bài. Phần này góp phần tạo tính hoàn
chỉnh, trọn vẹn cho bài văn.
2. Các yêu cầu viết kết bài hay:
Giống như phần mở bài, phần này chỉ nêu lên những ý khái quát, không trình bày
lan man, dài dòng hoặc lặp lại sự giảng giải, minh họa, nhận xét một cách chi tiết
như ở phần thân bài. Một kết bài thành công không chỉ là nhiệm vụ "gói lại" mà còn
phải "mở ra" - khơi lại suy nghĩ, tình cảm của người đọc. Thâu tóm lại nội dung bài
viết không có nghĩa là nhắc lại, lặp lại mà phải dùng một hình thức khác để khái
quát ngắn gọn; khơi gợi suy nghĩ hay tạo dư ba trong lòng người đọc; là câu văn khi
đã khép lại vẫn khiến cho người đọc day dứt, trăn trở, hướng về nó.
3. Cách viết mở bài hay:
- Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao: Là kiểu kết bài trên cơ sở
quan điểm chính của bài viết, bằng liên tưởng, vận dụng, người viết phát triển, mở
rộng nâng cao vấn đề.
CÁC CÁCH MỞ BÀI HIỆU QUẢ GV CẦN NẮM KHI ÔN HSG
KHỐI 789, ÔN CHUYÊN.
1. Mở bài cho dạng đề phân tích nhân vật.
2. Mở bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
3. Mở bài dạng so sánh tác phẩm.
4. CÁCH MỞ BÀI CHO DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
a.Đề tai kháng chiến
b.Mở bài về hình ảnh người nông dân, bất hạnh
4.1. Mở bài bằng nhận định tác giả và quan niệm sáng tác
4.2. Mở bài bằng chủ đề hay hình tượng trung tâm
4.3.Bình luận mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực cuộc sống. Chứng
minh bằng một số tác phẩm.
4.4.ở bài nghị luận xuất phát từ lý luận văn học
4.5. Mở bài về thơ ca
4.6. Mở bài văn xuôi
5. Mở bài giới thiệu sự trường tồn của tác phầm trong lòng người đọc.
5.1. Đi từ tác phẩm/tác giả
4
5.2.Đi từ tác phẩm/tác giả
5.3.Đi từ một nhận định
5.4.Sử dụng châm ngôn, ca dao, tục ngữ để bắt đầu
5.5.Đi từ hoàn cảnh sáng tác
5.6. Đi từ chủ đề
5.7 .So sánh
5.8. Phản đề
6. Mở bài theo lối đồng điệu cùng chủ đề.
7.Mở bài thông thường
8. Mở bài cho một chi tiết truyện
CẤU TRÚC MỘT BÀI NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT Ý KIẾN, NHẬN ĐỊNH
Dàn ý của dạng bài giải quyết một vấn đề lí luận văn học:
Dàn ý chung phần thân bài như sau:
Thao tác Nội dung Mức độ tư duy:
1. Mở bài: Tùy theo yêu cầu của đề để có những hướng tiếp cận mở bài khác nhau.
2. Thân bài:
2.1. Giải thích:
– Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hình ảnh khó hiểu trong nhận định.
– Chốt vấn đề nghị luận: Như vậy, vấn đề cần bàn ở đây là gì? (Đọc – Hiểu)
22. Bàn luận:
– Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải vấn đề nghị luận.
– Trả lời cho câu hỏi “vì sao?” (Vận dụng Tổng hợp)
2.3. Chứng minh:
– Chọn chi tiết trong tác phẩm để làm rõ các biểu hiện của vấn đề nghị luận. (Phân
tích)
+Luận điểm 1:
5
+Luận điểm 2:
+Luận điểm 3:
…………
2.4. Đánh giá:
– Đánh giá tính đúng đắn của vấn đề nghị luận.
– Bổ sung, phản biện lại vấn đề (Nếu có) (Đánh giá)
2.5. Liên hệ:
3. Kết bài.
Rút ra bài học cho nhà văn trong quá trình vận dụng sáng tác và bạn đọc trong quá
trình tiếp nhận.
Khi làm bài, cần vận dụng linh hoạt các bước trên nhưng nhất thiết phải có đầy đủ các
thao tác này để bài viết không bị mất điểm.
ĐỀ ÔN LUYỆN
Chuyên đề 2: ĐỀ TỔNG HỢP, ĐỀ MỞ (46 ĐỀ 187 TRANG)- 1 TRONG 14
CHUYÊN ĐỀ CỦA BỘ ĐỀ.
Đề 27
ĐỀ THI HSG MÔN NGỮ VĂN 8 HUYỆN
NĂM HỌC:
Thời gian: 150 phút
ĐỀ BÀI
I. ĐỌC HIỂU (6 điểm).
Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
(1)“Thế giới cần nâng niu quá đỗi. Ta sống đời lại thô tháp làm sao. Ta làm tổn
thương những dòng sông. Ta làm tổn thương những mặt đầm. Ta làm tổn thương
những mảnh vườn. Ta làm tổn thương những mùa hoa trái. Ta làm tổn thương những
bình minh yên ả. Ta làm tổn thương những canh khuya trong vắng. Ta làm đau những
niềm người quá đỗi mong manh...
(2) Mặt đất ngàn đời quen tha thứ. Đại dương bao la quen độ lượng. Cánh rừng
mênh mông quen trầm mặc. Những dòng sông quen chảy xuôi. Những hồ đầm quen
nín lặng. Những nẻo đường quen nhẫn nhịn. Những góc vườn quen che giấu. Những
thảm rêu vốn không biết dỗi hờn. Những đoá hoa không bao giờ chì chiết. Những giấc
mơ chỉ một mực bao dung. Những yêu thương không bao giờ trả đũa… Và ta cứ yên
6
chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên
bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu”.
(Chu Văn Sơn, Nên bị gai đâm)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. Em hãy cho biết chủ đề của đoạn văn (1).
Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật nổi bật được sử dụng
trong đoạn văn (2).
Câu 4. Theo em, tại sao tác giả lại cho rằng: “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm,
để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.”?
II. TẠO LẬP VĂN BẢN (14 điểm).
Câu 1. Từ nội dung ở phần đọc – hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ,
tương đương 20 – 25 dòng) nêu suy nghĩ của em về lòng vị tha.
Câu 2. Giáo sư, nhà giáo, nhà lý luận - phê bình văn học Lê Ngọc Trà có nhận định
cho rằng: “Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói tình cảm của con người, là sự tự
giãi bày và gửi gắm tâm tư.”.
Em hiểu nhận định trên như thế nào? Phân tích bài thơ “Khi con tu hú” (Tố
Hữu) để làm sáng tỏ nhận định trên. Liên hệ với bài thơ “Tiếng gà trưa” (Xuân
Quỳnh, Ngữ văn 7, tập 2) để làm rõ sự “tự giãi bày và gửi gắm tâm tư” của nhà thơ.
--- Hết –
HƯỚNG DẪN CHẤM
.
Hướng dẫn cụ thể:
Câu
Yêu cầu
Điểm
Phần I ĐỌC - HIỂU
1.
2.
3.
4.
1.
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Chủ đề đoạn văn: Con người ta quá vô tình trước những tội lỗi, tổn thương
do chính mình gây nên đối với thế giới tự nhiên và người khác.
- Biện pháp nghệ thuật nổi bật: Điệp từ (quen), điệp cấu trúc câu (Những …
quen …).
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh sự vô tư, bao dung, rộng lượng, tha thứ và sẻ chia của tự
nhiên đối với con người.
+ Tạo cho đoạn văn giàu tính nhạc.
- Vì con người ta quá vô tư trước những tổn thương mà mình gây ra cho kẻ
khác vì vậy mà bản thân chúng ta cũng nên bị “thương” để hiểu được tổn
thương người khác cũng chính là làm đau chính mình và mọi người, tổn
thương chính là rỉ máu.
- Lúc ấy ta sẽ biết yêu thương, chia sẻ; ta sẽ hòa vào thế giới này bằng trái
tim độ lượng, bao dung, sẽ biết thấu hiểu, trân trọng, nâng niu thiên nhiên,
đồng loại, dẹp bỏ đi thói vị kỉ, vô tâm, thờ ơ vô cảm để quan tâm nhiều hơn
đến mọi người.
Phần II.LÀM VĂN
Nghị luận xã hội
a. Đảm bảo cấu trúc của một đoạn văn nghị luận: Mở đoạn giới thiệu vấn đề
nghị luận; Thân đoạn làm rõ vấn đề nghị luận, triển khai được luận điểm;
7
Kết đoạn khái quát được nội dung nghị luận.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
2.
c. HS triển khai vấn đề nghị luận cụ thể, rõ ràng. Có thể trình bày theo định
hướng sau:
- Giải thích khái niệm: Vị tha là biết quan tâm, chăm lo một cách vô tư đến
lợi ích của người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình. Lòng vị tha ở
con người chứng tỏ một tinh thần vô cùng bao dung, nhân ái.
- Biểu hiện của lòng vị tha: thể hiện ở thái độ vô tư, không mưu toan tính
toán khi giúp đỡ người khác làm một việc gì đó. Sẵn sàng giúp đỡ bạn bè,
biết cảm thông giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, sẵn sàng tha
thứ cho lỗi lầm của người khác, biết quan tâm đến những người xung quanh,
sống hoà mình với mọi người, biết yêu thương đồng bào, đồng loại....
- Vai trò của lòng vị tha: đối với bản thân, con người sẽ cảm thấy thanh thản
trước cuộc đời bởi thấy rằng mình có ích, được mọi người mến yêu, quý
trọng. Đối với mọi người: lòng vị tha giúp người khác thấy cuộc có ý nghĩa,
góp phần làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
- Mở rộng: Phê phán thái độ sống ích kỉ, chỉ biết quan tâm đến lợi ích bản
thân, có khi vì mình mà làm hại cho tập thể, cho dân, cho nước.
- Bài học: Lòng vị tha là đức tính quý báu cần có của mỗi con người. Sống
vị tha mỗi người sẽ cảm thấy thêm yêu cuộc sống, có động lực để sống tốt
hơn trong cuộc đời này.
d. Sáng tạo: có cách diễn đạt độc đáo, thể hiện những suy nghĩ, kiến giải
mới mẻ về vấn đề
e.Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả,
dùng từ, đặt câu.
Nghị luận văn học
a.Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Có đầy đủ phần Mở bài,
thân bài, kết bài. Mở bài giới thiệu vấn đề nghị luận; Thân bài làm rõ được
nhận định, triển khai được các luận điểm; kết bài khái quát được nội dung
nghị luận.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự nhận thức
sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí
lẽ và dẫn chứng.
Thí sinh có thể giải quyết vấn đề theo hướng sau:
* Giới thiệu chung về vấn đề nghị luận.
- Dẫn dắt vấn đề nghị luận, trích dẫn ý kiến của Lê Anh Trà.
- Khẳng định vấn đề trong tác phẩm Khi con tu hú của Tố Hữu, liên hệ tác
phẩm Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh: cả hai văn bản đều là “sự giải bày và
gửi gắm tâm tư”, thể hiện những tình cảm cao đẹp của con người.
* Triển khai làm sáng tỏ vấn đề nghị luận.
1. Giải thích ý kiến:
- Tiếng nói tình cảm trong văn học được bày tỏ rất đa dạng: “sự giãi
bày” là thể hiện tình cảm một cách trực tiếp, chân thành; “gửi gắm tâm tư”
8
là bộc lộ tình cảm âm thầm kín đáo, mong chờ tiếng nói đồng vọng tri âm tri
kỉ.
- Văn học phải thể hiện được mọi khía cạnh trong đời sống con người:
số phận, tư tưởng, trí tuệ, và đặc biệt là tình cảm. Văn học phải chuyên chở
mọi cung bậc tình cảm của con người, là cầu nối giữa biết bao tâm hồn, biết
bao cảm xúc.
- Cảm xúc trong văn học không phải là thứ cảm xúc vu vơ hời hợt, mà
bao giờ nó cũng phải là một cảm xúc mãnh liệt. Nó không phải cái mãnh liệt
ầm ào bên ngoài, mà nó là sự cô đặc về chất của cảm xúc.
- Cảm xúc của văn học phải được soi chiếu dưới lý tưởng của thời đại,
phải được dẫn dắt bởi một tư tưởng.
Nhận định của giáo sư Lê Ngọc Trà đã đề cập đến đặc trưng quan
trọng trong nội dung của tác phẩm văn học: tính cảm xúc. Từ sự tự giãi bày
và gửi gắm tâm tư, văn học cất lên tiếng nói chung, tạo ra tiếng vọng kêu gọi
những tấm lòng đồng cảm, để biết bao người đọc tìm thấy mình trong từng
con chữ của người nghệ sĩ.
2. Chứng minh nhận định qua bài thơ “Khi con tu hú”:
Khái quát về bài thơ: Tố Hữu sáng tác bài thơ Khi con tu hú tại nhà
lao Thừa Phủ (Huế) vào mùa hè năm 1939, sau khi bị thực dân Pháp bắt
giam vì “tội” yêu nước và làm cách mạng. Bài thơ thể hiện tâm trạng xốn
xang, bức bối của người thanh niên cộng sản đang bị cầm tù, khi nghe thấy
tiếng chim tu hú báo hiệu mùa hè đến đã muốn phá tung xiềng xích để trở về
với đồng bào, đồng chí yêu thương.
* Luận điểm 1. Tiếng chim tu hú là yếu tố gợi mở để mạch cảm xúc
trào dâng mãnh liệt, là sự “tự giải bày” của người tù cộng sản:
- Tiếng chim tu hú gọi bầy gợi cho nhà thơ nghĩ đến khung trời lồng lộng ở
bên ngoài và càng cảm thấy ngột ngạt trong xà lim chật chội, càng khao khát
cháy bỏng cuộc sống tự do (dẫn chứng).
- Đó là tín hiệu của mùa hè rực rỡ, của sự sống tưng bừng sinh sôi nảy nở.
Tiếng chim vô tình tác động đến tâm hồn người tù trẻ tuổi. Nằm trong xà lim
chật hẹp, tối tăm, cách biệt với thế giới bên ngoài, nhà thơ lắng nghe tiếng
chim rộn rã, lắng nghe mọi âm thanh cuộc đời bằng tâm hồn và trái tim nhạy
cảm của người nghệ sĩ. Một tiếng chim thôi cũng gợi trong tâm tưởng nhà
thơ cả một trời thương nhớ về những mùa hè nồng nàn của quê hương (dẫn
chứng, phân tích).
- Sáu câu thơ lục bát uyển chuyển mở ra cả một thế giới rộn ràng, tràn trề
nhựa sống. Nhiều âm thanh, hình ảnh tiêu biểu của mùa hè được đưa vào bài
thơ: tiếng ve ngân trong vườn cây, lúa chiêm chín vàng trên cánh đồng, bầu
trời cao rộng với cánh diều chao lượn, trái cây chín mọng ngọt lành… Tiếng
chim tu hú khởi đầu và bắt nhịp cho mùa hè rộn rã âm thanh, rực rỡ màu sắc,
ngạt ngào hương vị… trong cảm nhận của người tù. Đoạn thơ thể hiện khả
năng cảm nhận tinh tế và khát vọng tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách
mạng trẻ trung, yêu đời nhưng đang bị quân thù tước mất tự do.
- Sức sống mãnh liệt của mùa hè chính là sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ
khát khao lí tưởng cách mạng, khát khao hoạt động, cống hiến cho dân, cho
nước. Tiếng chim tu hú là tiếng gọi thôi thúc của cuộc sống đối với người
chiến sĩ cách mạng đang bị giam cầm. Bên ngoài là tự do, phóng khoáng, đối
9
lập với sự tù túng, bức bối trong nhà giam (dẫn chứng).
* Luận điểm 2. Tiếng chim tu hú không chỉ gợi nhớ yêu thương, mà
còn là lời giục giã người chiến sĩ nhanh chóng trở về với cách mạng, cũng
là sự “gửi gắm tâm tư” của người tù cộng sản.
- Tâm trạng đau khổ, uất ức bật thốt thành lời thơ thống thiết. Cách ngắt nhịp
bất thường kết hợp với các từ ngữ có khả năng đặc tả và những từ cảm thán
như truyền đến độc giả cái cảm giác uất hận cao độ và niềm khao khát cháy
bỏng muốn thoát ra khỏi cảnh tù ngục, trở về với cuộc sống tự do bên ngoài
của người thanh niên yêu nước đang bị giam cầm trong lao tù đế quốc (dẫn
chứng).
- Những câu thơ chứa đựng nỗi khắc khoải, vật vã, day dứt khôn nguôi cả về
thể xác lẫn tâm hồn của nhà thơ trẻ. Trong hoàn cảnh ấy, thời khắc ấy, người
cộng sản phải tự đấu tranh với bản thân để làm chủ mình, vượt lên những
đắng cay nghiệt ngã của lao tù đế quốc, nuôi dưỡng ý chí, giữ vững khí tiết
và tinh thần đấu tranh cách mạng.
- Tiếng chim tu hú cứ kêu hoài như nhắc nhở tới nghịch cảnh của nhà thơ,
giục giã nhà thơ phá tung tù ngục để giành lại tự do. Bốn câu thơ sau căng
thẳng như chứa đựng một sức mạnh bị dồn nén chỉ chực bật tung ra. Đó là
tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi hoạt động chưa được bao lâu
đã lâm vào cảnh tù ngục, lúc nào cũng khao khát tự do, muốn thoát khỏi bốn
bức tường xà lim lạnh lẽo để trở về với đồng bào, đồng chí thân yêu.
- Tiếng chim tu hú chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi đã làm dậy lên tất
cả cảnh và tình mùa hè trong tâm tưởng nhà thơ. Người tù thấu hiểu được
cảnh ngộ trớ trêu của mình trong chốn lao tù ngột ngạt, giữa lúc cuộc sống
bên ngoài đang nảy nở, sinh sôi. Phải bứt tung xiềng xích, phá tan những nhà
ngục hữu hình và vô hình đang giam hãm cả dân tộc trong vòng nô lệ.
- Bài thơ hay ở những hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mà giàu sức gợi cảm, ở
nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển, tự nhiên và cả ở những cảm
xúc thiết tha, sàu lắng, thể hiện được nguồn sống sục sôi của người cộng sản.
Luận điểm 3. Bài thơ “Tiếng gà trưa” (Xuân Quỳnh) là sự bộc lộ
tình cảm yêu quê hương, đất nước chân thành, sâu lắng của nhà thơ qua
hình tượng tiếng gà trưa, cũng là sự “tự giãi bày và gửi gắm tâm tư”của
nhà thơ.
- Khái quát về bài thơ: Bài thơ Tiếng gà trưa được viết trong những năm đầu
của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ trên phạm vi cả nước. Trong hoàn
cảnh nước sôi lửa bỏng ấy, hàng triệu thanh niên đã lên đường với khí thế
“xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ, Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Nhân
vật trữ tình trong bài thơ là người chiến sĩ trẻ đang cùng đổng đội trên đường
hành quân vào Nam chiến đấu. Tiếng gà trưa đã gợi nhớ về những kỉ niệm
đẹp đẽ của tuổi thơ và tình bà cháu. Tình cảm gia đình, quê hương đã làm
sâu sắc thêm tình yêu đất nước.
- Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết. Chỉ một tiếng gà trưa bất chợt
nghe thấy khi dừng chân bên xóm nhỏ là đã gợi dậy cả một trời thương nhớ,
thể hiện sự rung cảm cao độ trong tâm hồn chiến sĩ (dẫn chứng)
- Quê nhà hiện lên rõ nét trong tâm tưởng và những kỉ niệm tuổi thơ lần lượt
sống dậy qua những hình ảnh thân thương. Tiếng gà trưa khiến người cháu
xa nhà nhớ đến người bà kính yêu một đời tần tảo (dẫn chứng).
10
- Nổi bật qua gần suốt bài thơ là hình ảnh người bà chắt chiu, giành giụm
yêu thương cháu. Bà đã luôn ân cần, hi sinh và mệt nhọc. Hình ảnh người bà
được miêu tả gắn bó thân thuộc với quê hương làng xóm, hơn thế nó còn là
những kỉ niệm không bao giờ phai nhạt (dẫn chứng).
- Tâm trạng người chiến sĩ trẻ từ những kỉ niệm về tuổi thơ của mình mà khi
quay về thực tại với con dường hành quân trở nên giàu lòng hăng hái với
giọng thơ tràn trề sinh khí. Xuân Quỳnh đã khẳng định mục đích chiến đấu
hôm nay đó là vì tổ quốc, vì bà, vì kỉ niệm tuổi thơ êm đềm của mình. Và
nhà thơ khẳng định mình chiến đấu hôm nay chính là vì muốn bảo vệ quê
hương, bảo vệ sự yên bình của mọi mái nhà trên tổ quốc (dẫn chứng).
Tiếng gà trưa gợi những nỗi nhớ về người bà, về những kỉ niệm tuổi thơ,
về quê hương làng xóm và mục đích chiến đấu của người chiến sĩ chính là
“sự giải bày” tình cảm của người chiến sĩ trẻ.
- Tiếng gà cũng là tiếng gọi thân yêu của bà, của mẹ, của quê hương. Tiếng
gọi thân yêu ấy như là niềm tin cho người chiến sĩ trong cuộc chiến đấu bảo
vệ quê hương yêu dấu, là tình cảm tiền tuyến - hậu phương của nhân dân ta
trong cuộc kháng chiến, gian khổ có thể làm mệt mỏi, bom đạn có thể hủy
diệt mọi thứ nhưng những tình cảm về bà, về những kỉ niệm ấu thơ cùng
tiếng gà trưa không bao giờ chết mà vẫn còn nguyên lửa, vẫn cứ trào dâng
trong lòng. Đó là tình cảm, cảm xúc được gửi gắm kín đáo trong bài thơ.
- Bài thơ “Tiếng gà trưa” của nhà thơ Xuân Quỳnh là một bài thơ hay, những
câu từ trong bài thơ bắt nguồn từ những thứ giản dị, gần gũi và mộc mạc
nhưng lại có giá trị lớn lao và cao đẹp.
* Đánh giá chung.
- Hai bài thơ “Khi con tu hú” (Tố Hữu) và “Tiếng gà trưa” (Xuân Quỳnh)
tuy sáng tác ở hai thời kỳ khác nhau, có những nét khác biệt về nội dung và
nghệ thuật song đều là những bài thơ hay của dòng văn học cách mạng Việt
Nam.
- Cả hai bài thơ đều hướng tới ngợi ca những tình cảm cao đẹp của người
Việt Nam: tình yêu thiên nhiên, tình cảm gia đình, tình yêu đất nước…
Những tình cảm đó chính là “sự giải bày và gửi gắm tâm tư” của nhà thơ đến
với bạn đọc thông qua sáng tác của mình.
- Khẳng định nhận định của giáo sư, nhà giáo, nhà phê bình văn học Lê
Ngọc Trà là hoàn toàn chính xác bởi đặc trưng quan trọng trong nội dung
của tác phẩm văn học chính là tính cảm xúc.
d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa
tiếng Việt.
************************************************
11
0,25
0,25
Đề 3:
PHẦN I – ĐỌC HIỂU
ĐỀ THI CHỌN H.S.G LỚP 8
NĂM HỌC : 2018-2019
MÔN : NGỮ VĂN
I. ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu
Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu:
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc
sống trí tuệ. Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và
khi không còn có nhu cầu đó nữa thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi,
mòn mỏi đi và cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện
nghiêm túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc,
lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh
niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc
vận động đọc sách trong thanh niên cả nước và vận động từng nhà gây dựng tủ sách
gia đình. Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc, mỗi người
mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động
mỗi người trong một năm đọc lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ,
không quá khó. Việc nhỏ đấy, nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công việc
lớn.
(Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, Tạp chí điện tử tiasang.com.vn, ngày 197-2007)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2: Vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc
sống trí tuệ nữa”?
Câu 3: Theo em việc nhỏ và công cuộc lớn mà tác giả đề cập đến trong đoạn văn là gì?
Câu 4: Thông điệp mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích?
PHẦN II – LÀM VĂN
Câu 1 (6 điểm) Người thành công luôn tìm thấy cơ hội trong khó khăn. Kẻ thất bại
luôn thấy khó khăn trong mọi cơ hội.
Câu 2. (10 điểm)
Có ý kiến cho rằng: “Dù được sáng tác theo trào lưu lãng mạn hay hiện thực,
những trang viết của những nhà văn tài năng và tâm huyết đều thấm đượm tinh thần
nhân đạo sâu sắc”
Qua các văn bản “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố và văn bản “Lão Hạc”
của Nam Cao em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?
12
I. Đọc hiểu ( 4 đ)
Câu
HƯỚNG DẪN CHẤM
Nội dung
1 Phương thức biểu đạt chính: phương thức nghị luận/ nghị luậ
“Công cuộc lớn” đọc sách trở thành ý thức, thành nhu cầu của mỗi người, mỗi gia
đình trong xã hội, phấn đấu đưa việc đọc sách trở thành văn hóa của quốc gia, dân
tộc.
2 “Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí
tuệ”.
Lí do: vì không đọc sách thì đời sống tinh thần con người\ nghèo đi, mòn mỏi đi,
cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng.
3
- “Việc nhỏ” là vận động đọc sách và gây dựng tủ sách trong mỗi gia đình, mỗi
người có thể đọc từ vài chục dòng mỗi ngày đến một cuốn sách trong năm.
Thông điệp: từ việc khẳng định đọc sách là biểu hiện của con người có cuộc sống
4 trí tuệ, không đọc sách sẽ có nhiều tác hại, tác giả đưa ra lời đề nghị về phong trào
đọc sách và nâng cao ý thức đọc sách ở mọi người.
Câu 1 (6đ)
1. Giải thích:
Người thành công là người đạt được mục đích mà mình đặt ra sau một quá trình nỗ
lực, cố gắng.
Kẻ thất bại là người không thực hiện được những mong muốn, dự định đã đặt ra.
Cơ hội: hoàn cảnh thuận tiện gặp được để làm việc gì mình mong ước.
Về thực chất, câu nói khẳng định sự thành bại của mỗi người phụ thuộc vào cách
người ấy đón nhận và xử thế trước những vấn đề của đời sống.
2. Bình luận
- Thành và bại luôn song hành như một thực thể khách quan. Không ai không từng
gặp thất bại, ngay cả những người thành công. (dẫn chứng)
13
- Sự thành bại của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào tài năng hay cơ hội mà còn ở
thái độ của người đó trước những khó khăn trong cuộc sống:
+ Với những người giàu nghị lực, mỗi khó khăn là cơ hội để tích lũy kinh nghiệm,
kiểm chứng năng lực của bản thân. Và như thế, họ sẽ luôn tìm thấy cơ hội trong mỗi
khó khăn để thành công.
+ Với những người bi quan, lười biếng khi gặp khó khăn thử thách vội chán nản,
tự tìm thấy lí do để thoái thác công việc, từ bỏ ước mơ. Không vượt qua khó khăn
càng khiến họ mất hết niềm tin để rồi chỉ thấy khó khăn trong mọi cơ hội. Và chắc
chắn họ sẽ luôn thất bại.
Cuộc sống rất khắc nghiệt nhưng luôn ẩn giấu nhiều cơ hội mà mọi người cần nắm
bắt.
Sự thành bại ở một giai đoạn không có ý nghĩa trong suốt cả cuộc đời. Mọi người
cần có cách ứng xử trước mọi thành bại để đạt được những điều mình mong ước.
Thành công chỉ có được sau quá trình học tập, tích lũy, nỗ lực, rèn luyện lâu dài
Phê phán thái độ sống hèn nhát, lười biếng, dễ gục ngã, mất niềm tin sau những lần
thất bại.
3. Bài học nhận thức và hành động
- Cần phải có niềm tin, nghị lực lớn để vượt qua những thử thách khó khăn trong
cuộc sống, để luôn tìm thấy cơ hội trong mọi khó khăn.
- Không ngại đối mặt với khó khăn. Coi khó khăn, thử thách như một phần tất yếu
của cuộc sống.
- Luôn hành động mạnh mẽ, quyết đoán để khắc phục khó khăn…
Câu 2. (10 điểm)
I. Yêu cầu chung
- Về nội dung: Hiểu yêu cầu đề bài, nắm vững tác phẩm, biết phân tích theo định
hướng, văn viết mạch lạc, có cảm xúc.
- Về hình thức: Trình bày ý rõ ràng, biết cân đối với hai câu trên.
II. Yêu cầu cụ thể
Chấp nhận trình tự, cách thức khai triển khác nhau, miễn là thí sinh có ý thức bám sát
14
và làm sáng rõ định hướng sau:
1. Mở bài: Dẫn dắt giới thiệu vấn đề nghị luận, trích dẫn và giới hạn vấn đề
2. Thân bài
2.1. Giải thích ý kiến
* Học sinh cần giải thích được ý của nhận định
- Trào lưu lãng m...
 








Các ý kiến mới nhất