Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

TẤM LÒNG BÁC ÁI CỦA BÁC HỒ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: giaotrinhpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:50' 31-01-2024
Dung lượng: 40.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
NHỮNG CÂU CHUYỆN VE BÁC H ồ

TấliH LÒNG BÁC ÁI CÙA BÁC Hổ
Trần Thị Ngân (Sưu tầm, tuyển chọn)

NHÀ XUẤT BẢN MỸ THUẬT

LÒI NÓI ĐẨU
Việt Nam có quyền kiêu hãnh và tự hào, vì chúng ta có một Lãnh tụ
thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất, đó là Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là
ngọn đèn pha chói lọi soi đường, chỉ lối cho toàn Đảng, toàn dân ta đấu
tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người đã để lại cho Đảng ta, dân tộc
ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là
hiện thân của sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những
tinh hoa văn hóa của nhân loại. Trên thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở
thành tài sản tinh thần vô giá của Đàng ta và của cả dân tộc ta, là tấm gương
sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo.
Nhằm góp phần vào việc tuyên truyền, nghiên cứu, giáo dục để tiếp tục
thực hiện Chì thị số 06-CT/TW ngày 07-11-2006 của Bộ Chính trị khóa X
về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản
Mỹ Thuật phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Đông
Nam xuất bản Bộ sách Những câu chuyện về Bác Hồ. Bộ sách chia thành
nhiều cuốn theo các chủ đề.
Trân ưọng giới thiệu cuốn sách Tấm lòng bác ái của Bác Hồ với quý
bạn đợc. Chúng tôi xin trân thành cảm ơn các tác giả có bài ưong cuốn sách
này; đồng thời cũng thành thật xin lỗi những tác giả mà chúng tôi chưa tìm
gặp được để xin phép. Rất mong các tác giả lượng thứ và vui lòng liên hệ
với chúng tôi để chúng tôi thực hiện theo Luật Bản quyền.
NHÀ XUẤT BẢN

3

Phẩn I

NHỮNG CÂU CHUYỆN VÊ TẤM
LÒNG BÁC Ai Củ a Bá c

hồ

CHỦ TỊCH HỔ CHÍ MINH VỚI TẨM LÒNG NHÂN ÁI, BAO DUNG
Tấm lòng nhân ái, bao dung, yêu thương con người đã làm nên giá trị
tinh thần lớn lao và sâu sắc của vị Cha già kính yêu - Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Quan điểm vì con người của Bác đã trờ thành một triết lý nhân sinh
cao cả, kết tinh từ những giá trị truyền thống của dân tộc, cùa nhân loại và
thời đại.
Suốt cuộc đời, từ khi bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước đến
trước khi vĩnh biệt thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều một lòng vì nước, vì
dân. Trong thời gian ở nuớc ngoài, chứng kiến cảnh công nhân bị áp bức
bóc lột, Bác Hồ đã nghĩ đến những người lao động nghèo khổ cùng cảnh
ngộ ờ đất nước mình. Bác đã từng nói: “Ở đời và làm người phải thương
nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”. Ngay từ ngày đầu
Cách mạng Tháng Tám thành công, tại cuộc họp đầu tiên của ủ y ban
nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Chù tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ mục tiêu
của Nhà nước là: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có
chỗ ở, làm cho dân có học hành. Để làm được điều đó, Người đã đề ra
nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và giặc dốt. Thương nhân dân đời sống
khó khăn, Bác nhắc nhở nhiệm vụ thường xuyên là xóa đói nghèo, làm cho
kinh tế phát triển; người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người
khá giàu thì giàu thêm. Kinh tế có phát triển, đời sống đồng bào có ấm no
thì đất nước mới cường thịnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ,
đảng viên, khi đã có chính quyền, phải xây dựng bộ máy trong sạch vững
mạnh, đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu, xa
dân; phải dựa vào dân, khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong nhân dân.
Bác thường dành thời gian đến thăm các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là
những người nghèo khổ. Thấy các cháu nhỏ sức khỏe yếu, Bác đề nghị
những nhà lãnh đạo địa phương phải chăm lo đến đời sống người dân từ
việc nhỏ nhất. Những khi Tết đến xuân về, dù không có nhiều tiền bạc, quà
bánh để tặng những người nghèo khổ, Bác cũng dành thời gian đến với họ.
7

Một hôm, Bác đến thăm gia đình chị Chín, công nhân khuân vác ở Văn
Điển nhân dịp Tết. Chị công nhân cảm động quá, không ngờ được Chủ
tịch nước đến thăm, liền ôm Bác khóc òa. Thấy vậy Bác nói: “Bác không
đến thăm những người như mẹ con thím thì còn thăm ai!”. Đối với Bác,
trên đời này không có gì đẹp bằng tình yêu thương con người, yêu thương
nhân loại. Làm việc đêm khuya, có bát chè bồi dưỡng, Bác xẻ đôi cho
người chiến sĩ bào vệ cùng ăn. Đi chiến dịch biên giới, Bác không chịu
một mình cưỡi ngựa. Bác bảo cả bảy người cùng đi bộ, để ngựa thồ hành
lý cho anh em đỡ mệt.
Đối với những người lầm đường lạc lối, Bác vẫn đối xử một cách độ
lượng, khoan hồng. Bác thường căn dặn, với những đồng bào lạc lối, lầm
đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đoàn kết.
Theo Chủ tịch Hồ Chi Minh, người cán bộ cách mạng phải là người có
văn hóa, phải xung phong làm trước thiên hạ, hưởng sung sướng sau thiên
hạ; cái gì lợi cho Đảng, cho dân thì khó mấy cũng làm; cái gì hại đến Đảng,
đến dân thì kiên quyết chống lại. Người cán bộ phải là người đầy tớ trung
thành của nhân dân; mỗi cán bộ đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức
cách mạng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ tình yêu
thương đối với mọi tầng lớp nhân dân: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình
thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh
niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, bầu bạn
và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.
Tấm lòng nhân ái, bao dung của Bác thể hiện bàng hành động cách
mạng, với mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ ách thống trị của bọn xâm lược,
giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Lý tưởng cao cả cùa Người là
đem lại độc lập tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam cũng như
nhân loại trên thế giới. Dân tộc ta thành kính biết ơn Người, vị lãnh tụ kính
yêu, suốt đời chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước nhà được
độc lập, tự do, nhân dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

p.v

8

“HIẾU NGHĨA, BÁC ÁI LÀ TẤM LỒNG
CỦA BÁC HỒ DỔI

vón THUƯNG BINH - LIỆT s ĩ

Tháng 7/1947, trong thư gửi Ban thường trực của Ban tổ chức ngày
thương binh, liệt sĩ toàn quốc, Bác Hồ đã đồng ý chọn ngày 27/7 hàng năm
làm ngày thương binh - liệt sĩ toàn quốc để tỏ lòng “hiếu nghĩa, bác ái” với
thương - bệnh binh, liệt sĩ.
Bác đề nghị đồng bào cả nước hãy nhịn ăn một bữa “để giúp đỡ chiến sĩ
bị thương”.
Ngày 15/8/1948, Bác viết thư cổ vũ: Từ trước đồng bào đã giúp đỡ
nhiều nhưng tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được và
những tử sĩ sẽ không tái sinh mà lòng bác ái đồng bào cũng có hạn. Vì vậy,
tôi mong và chắc ràng đồng bào trước đã giúp đỡ, sau này sẽ sẵn sàng giúp
dỡ mãi”
Tháng 2/1947, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh số 20/SL ban hành chế độ
lương hưu thương tật đối với thương binh, chế độ “tiền tuất” đối với gia
dinh “tử sĩ” , quy đinh tiêu chuẩn để xác nhàn thương binh, tử sĩ. Đây là văn
bản pháp lý đầu tiên quy định chế độ ưu đãi đối với thương binh, gia đinh
liệt sĩ.
Tấm lòng, tình cảm của Bác đã thể hiện một cách nhất quán từ lời nói
đến việc làm trong hoàn cảnh nhân dân ta đang trải qua cuộc kháng chiến
gian khổ đã làm xúc động đến hàng triệu trái tim, hàng triệu tấm lòng của
đồng bào và bộ đội.
Tháng 7/1951, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang trên đà
thắng lợi. Bác Hồ đích thân phát động phong trào đón thưong binh về làng.
Bác viết: “Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn
Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dàn.... Song
với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp
9

thế nào cho xứng đáng... Mỗi xã phải tuỳ theo sự cố gắng và khà năng
chung mà đón một số anh em thương binh”
Tấm lòng của Bác Hồ kêu gọi chí tình, chí nghĩa đã được nhiều nơi,
nhiều địa phương hưởng ứng, xúc tiến tích cực. số ít thương binh vào làm
cơ quan Nhà nước hay nặng hơn thì về các trại an dưỡng, còn hầu hết các
anh thương binh được đón về địa phương. Chính vì việc làm đầy ân nghĩa
này mà nhiều thương binh đã gặp được tình cảm trong sáng, mối tình đẹp
nên vợ, nên chồng xây đáp nên tổ ấm. Dù biết rằng hậu phương trong kháng
chiến còn nghèo, còn khó khãn, thiếu thốn nhưng tấm lòn các đồng bào đối
với thương binh thì rộng mở.
Bác Hồ nhìn nhận một cách thấu đáo mà hết sức sâu sắc sự cống hiển
hy sinh của chiến sĩ. Người nói với tình cảm sâu nặng mà rõ ràng, khúc
triết, dễ hiểu, ai nghe cũng không cầm lòng được. Bác nói: “Trong cuộc
kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời
giờ. Của cải hết có thể làm ra, thời gian qua, thời giàn lại đến. Nhưng bộ
đội hy sinh xương máu có khi hy sinh cả tính mạng. Cụt chân, gãy tay, chân
tay không thể mọc lại, người chết không thể sống lại. Đó là một sự hy sinh
tuyệt đối”
Tấm lòng tình cảm hiếu nghĩa, bác ái của Bác mang đậm lòng nhân ái,
tính nhân văn cao cả đối với thương binh, liệt sĩ thật là vô bờ bến.
Tháng 7/1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, một nửa đất
nước được giải phóng. Bác nhớ đến công lao của những anh hùng liệt sĩ,
giữa bộn bề công việc, Bác viết thư cho cụ Bộ trường Bộ Thương bình để
chi trả. Tôi đã tiếp nhận được báo cáo nhiều nơi khen ngợi một số thương
bỉnh - bệnh binh và gia đình liệt sĩ đã trở thành người thương binh kiểu
mẫu, gia đình gương mẫu. Tôi mong rằng Bộ Thương binh xã hội nêu
những thành tích và những kinh nghiệm quý báu ấy để những cô chú, anh
em khác noi theo”
Ngày 17/7/1956, sau hòa bình lập lại, không lâu có một số ít thương
binh công thần đòi hỏi. Bác nghiêm khắc nhắc nhờ “Nếu anh em nào có sai
lầm như công thần, ỷ lại, kém kỳ luật, kém tin tưởng, yêu cầu nhân dân quá
đáng, không tích cực công tác thì nên cố gắng sửa chữa”
Lời Bác nhắc nhở nhẹ nhàng mà nghiêm khắc cùa lãnh tụ kính yêu.
Chính những lời nhắc nhờ ấy, một số có sai sót đã nhận ra lỗi của mình mà
hối hận, thực lòng khắc phục sửa chữa.
10

Cả cuộc đời cùa Bác, Người luôn dành tình cảm cho thương binh, liệt
sĩ: “Đối với những người đã anh dũng hy sinh một phần xương máu của
mình Đảng và Chính phủ, đồng bào phải tìm cách làm cho họ có nơi ăn,
chốn ở, yên ổn... Đối với cha mẹ, vợ con của thương binh, liệt sĩ thì chính
quyền, địa phương giúp đỡ họ có công ăn, việc làm thích hợp, quyết không
để họ bị đói rét”
Thấm nhuần tình cảm của Người, kế thừa và phát huy truyền thống của
dân tộc “Uống nước - nhớ nguồn” nhân dân ta luôn dành cho thương binh,
gia đình liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng những sự ưu đãi những chính sách
quan tâm. Nhân dân các dân tộc tỉnh ta, qua phong trào đền ơn - đáp nghĩa
đã có những động viên, thăm hỏi, những mái nhà tình nghĩa được xây dựng,
những lớp dạy nghề cho con em được mở.
Kỷ niệm 65 năm ngày thương binh - liệt sĩ, chúng ta càng biết ơn sự
đóng góp xương máu của thương binh, liệt sĩ để đất nước hôm nay dưới sự
lãnh đạo của Đảng không ngừng phát triển, phồn vinh.
Văn song (TTV)

11

BÁC HỒ ■ MỘT TÌNH YÊU BAO LA
Võ Thị Cẩm Hiền (Bảo tàng c ầ n Thơ)
“Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong
trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân. Cả
cuộc đời Bác hi sinh cho dán tộc Việt Nam... Đó là một đoạn trong bài
hát rất hay và tràn đầy xúc cảm mà nhạc sĩ Thuận Yến đã viết và kính
dâng lên Người.
Có thể nói, trong suốt quãng đời thơ ấu cho đến lúc truởng thành, sự
hòa nhập giữa những giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị đạo
đức mới, đã đúc kết nên tư tuởng đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho quan niệm
và tư tưởng đạo đức của Người luôn gần gũi, dễ hiểu đối với nhân dân.
Những người lao động vốn vất vả tìm kế mưu sinh đã đến với Người vì
Người đã thấu hiểu được tất cả ước mơ, khát vọng bình dị của họ.
Yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp
nhất của Hồ Chí Minh. Bác yêu thương con người không phân biệt miền
xuôi hay miền ngược, già hay trẻ, gái hay trai, hễ là người Việt Nam yêu
nước đều có chỗ trong trái tim và tấm lòng nhân ái cùa Người. Nhưng truớc
hết Bác dành tình yêu cho những người cùng khổ, những người bị áp bức,
bóc lột. Bởi lẽ, hơn ai hết, Người đã chịu đựng và chứng kiến những nỗi
đau đẫm máu và nước mắt của những người đi phu, những nhà yêu nước bị
tàn sát, khủng bố.
Người đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh cho tự do, hạnh
phúc, cho áo ấm, cơm no cùa mọi người nhưng riêng mình thì sống vô
cùng giản dị và thanh đạm, bời vì lẽ sống của Người là lo trước thiên hạ,
vui sau thiên hạ.
Người luôn đặt mình trong cùng nỗi đau khổ của nhân loại. Trái tim
Người đập cùng nhịp đập với nhân dân. Người mong muốn những gì dân
tộc ta mong muốn. Tấm lòng của Người được thể hiện bàng những câu nói
12

chân thành nhất và những hành dộng cụ thể, thiết thực nhất. Suốt đời Người
chỉ có một ham muốn tột bậc, đó là hòa bình, độc lập cho nhân dân, cơm ăn
áo mặc cho mọi người.
Năm 1946, khi tham dự cuộc vận động “Mùa đông binh s ĩ ', Bác đã cởi
ngay chiếc áo len đang mặc để gửi cho các chiến sĩ ngoài mặt trận. Bác
dành cả tiền lương tháng, tiền nhuận bút, cả quần áo, khăn mặt để tặng cho
các chiến sĩ và gia đình thương binh, liệt sĩ.
Khi biết con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, Bác đã gửi đến ông bức
thư. Trong thư có đoạn: “Ngài biết ràng tôi không có gia đình, cũng không
có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Thanh niên Việt Nam là
con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi mất một đoạn ruột”. Đọc
xong thư Bác, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã bàng hoàng xúc động vì không dám
nghĩ ràng, giữa lúc Bác Hồ bận trăm nghìn việc quốc gia đại sự, ngay cả họ
hàng thân thuộc cũng không có thì giờ thăm hỏi. Thế mà Bác vẫn nghĩ đến
ông - một gia đình bé nhỏ đang có tang đau lòng. Bởi lê, Bác đã từng nói:
mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng. Gộp cả những nỗi đau
khổ ấy lại thì thành nỗi đau khổ cùa tôi. Tấm lòng của Bác thật quảng đại,
bao la!
Ngày nay, theo bước chân Người, trên đất nước ta đâu đâu cũng có
những tấm lòng, những hành dộng thiết thực thể hiện đạo lý uống nước nhớ
nguồn, đền ơn đáp nghĩa đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình
có công với cách mạng. Làm được như vậy, Bác cũng thấy vui lòng.
Năm 1961, khi Bác về thăm lại Păc Bó - chiến khu xưa, mặc dù đã là
Chủ tịch nước nhưng việc gì Bác cũng tự làm, ai cũng thương, cũng giúp.
Bác tắm cho trẻ, chữa ghẻ, chốc cho các cháu. Đứa nào cũng được Bác cho
quà và trò chuyện thân mật như ông với cháu. Bọn trẻ đứa nào cũng thích
dù đó chỉ là những gói kẹo nhỏ. Hầu như tết Trung thu nào Bác cũng gửi
quà và viết thư chúc Tet Trung thu cho các cháu thiếu niên nhi đồng với
những tình cảm yêu mến thiết tha:
Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đông.
Trong những buổi gặp gỡ với các cháu tại phủ Chủ tịch, Bác luôn muốn
bonR be các cháu nhỏ, ôm hôn tất cả.
13

Có người chiến sĩ từng bảo vệ Bác, kể lại trong niềm xúc động: có cán
bộ cứ nghĩ rằng đạo đức cách mạng chì để áp dụng trong công tác thôi. Bản
thân tôi, được gần Bác, thấy ngay cả lúc ãn cơm, Bác cũng dạy ta thế nào là
đạo đức cách mạng. Mỗi khi có món gì ngon là Bác chia sè cho người này,
người kia cùng ãn. cầm chén cơm, đôi lúc Bác nhu tư lự về điều gì đó. Bác
yên lòng sao được khi miền Nam phải ăn cơm giữa mưa bom, bão đạn, ở
đâu đó, các cụ già, em nhỏ đói rách, lang thang, các chiến sĩ dầm mưa chịu
đói rét để kịp giờ hành quân.
Ngay cả lúc bệnh tình cùa Ngirời ngày một xấu đi, Bác vẫn luôn trăn
trở, thăm hỏi tình hình chiến sự ờ miền Nam, bởi lẽ, miền Nam ruột thịt
luôn ờ trong trái tim Người.
Tuy nhiên, ở Bác, chi có tình yêu thương con người là chưa đủ mà nó
phải gắn liền với thái độ tôn trọng con người, biết cách nâng đỡ, giáo dục
con người, rộng lượng, khoan dung, đồng thời phải biết nghiêm khác với
bản thân.
Đối với những cán bộ, đảng viên có lỗi, Bao giờ Người cũng mong
muốn và tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm. Người dạy ràng: mỗi con
người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt nảy nờ
như hoa mùa xuân để đẩy lùi phần ác chứ không phải đập cho tơi bời.
Tấm lòng nhân ái bao la của Bác luôn khoan dung cho tất cả mọi người.
Nhờ vậy, Bác đã tập hợp được cả dân tộc, cả những thành phần trước đây
đối lập với Người trong cuộc cách mạng giành độc lập tự do và xây dựng
chù nghĩa xã hội.
Với tinh thần đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại, Bác đã cảm
hóa được những người ở bên kia chiến tuyến, những phạm nhân trong lao
tù. Năm 1946, Bác tới trại giam Hỏa Lò để thăm hỏi, khuyên bảo những
phạm nhân ở đây. Bác ân cần ngồi bên họ, khuyên bảo họ, nghe họ phân
trần, và Người đã rưng rưng nước mắt. Trong bức thư gửi cho người Pháp,
Bác nói: than ôi, trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là
máu. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau.
Tất cả những điều đó đã thể hiện một nhân cách lớn: nhân ái, vị tha,
khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người. Hồ Chí Minh - Người là vầng
thái dương rạng ngời, ấm áp!
14

Ngày riay, trong thời đại kinh tế thị trường, chúng ta đang từng bước
hội nhập với thế giới, có nhiều luồng văn hóa độc hại du nhập vào nước ta.
Trong đó, thanh thiếu niên là lớp người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Mặt
khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đàng viên, công chức nhà nước đang
trong tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, xa rời
quần chúng nhân dân, cơ hội, tham nhũng, thu vén cho bản thân mình mà
quên mất mình là “đầy tớ phục vụ nhân dân” như lời Bác đã dạy.
Cuộc vận động tìm hiểu và học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã
và đang có một tác động sâu rộng với mọi tầng lớp nhân dân. Đó là một
trong những giải pháp nhàm ngăn chặn và từng bước đẩy lùi những thực
trạng trên. Song song đó, việc rèn luyện, cùng cố và phát triển đạo đức cách
mạng của mỗi người phải là việc làm thường xuyên và liên tục.
Riêng bàn thân tôi, một người làm việc trong ngành văn hóa thông tin,
những câu chuyện viết về Người thật sự là những tài liệu vô cùng quý giá.
Chúng tôi là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tường, có nhiệm vụ
tuyên truyền đường lối, chù trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước đến công chúng. Vì thế, hơn ai hết, chúng tôi phải thường xuyên rèn
luyện, tu dưỡng đạo đức mà nhất là phải tăng cường học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có như thế, chúng tôi mới đủ bản lĩnh,
năng lực, và cảm thấy mình xứng đáng là những tuyên truyền viên, thực
hiện nhiệm vụ của Đàng và Nhà nước.

15

LÒNG NHÂN ÁI MÊNH MÔNG
Nhà báo Phan Quang
Câu chuyện này nhà thơ Tố Hữu kể cho chúng tôi nghe, trong một
chuyến về thăm và làm việc tại tỉnh Hưng Yên.
Hôm ấy, một ngày đông khô hanh, anh đi thăm đồng bãi ven sông
Hồng, quê hương Anh hùng lao động Phạm Thị Vách. Chị nổi tiếng về
thành tích làm thủy lợi giỏi trong phong trào cải tạo đồng đất bãi. Vùng này
vào mùa lũ ngập nước mấy tháng liền, sang mùa khô lại hạn hán thường
xuyên. Anh Tố Hữu rất vui. Chuyến đi ấy gợi cảm hứng để anh làm bài thơ
“Giữa ngày xuân”, nói về người con gái đất bãi nãng động, đầy tự tin:
... Trông người con gái bước
Hai cánh tay đưa trước, đánh đường xa
Như con thuyền quen vượt những phong ba...
Trong bữa cơm chiều thân mật do Bí thư tỉnh ủy Hưng Yên Lê Quý
Quỳnh mời, nhà thơ Tố Hữu đang náo nức về sự đổi đời của người phụ nữ
nông thôn ta, chợt giọng trầm xuống, anh kể: Cách đây mấy tháng, Bác Hồ

CÓ nhận được thư của một chị trước đây là nữ du kích vùng tả ngạn sông
Hồng. Thư viết: Xưa kia, cháu là du kích, chưa hiểu biết gì nhiều. Cháu
chẳng may lấy phải một người chồng hung bạo. Anh hay đánh đập cháu
luôn. Cháu khổ lắm. Cháu đã báo cáo với chi bộ, với ủy ban xã,' các đồng
chí đều bảo: Việc riêng trong gia đình, ai biết được, về nhà mà giải quyết
với nhau. Cháu khổ quá, cháu không biết giải quyết thế nào, cháu chì biết
thưa với Bác...
Bác Hồ chuyển bức thư ấy sang Ban Bí thư, đề nghị giải quyết giúp
(hồi ấy nhà thơ Tố Hữu là ủ y viên Ban Bí thư). Bác Hồ dặn thêm: Nhưng
các chú phải giải quyết cho khéo, không cỏ người ta lại khổ hơn. cấp trên
can thiệp vụng về, có thể người ta còn bị chồng hành hạ tàn bạo hơn. Mà
16

trong hoàn cảnh xã hội ta, giái quyết cho vợ chồng bỏ nhau chưa chắc đã là
giải pháp tốt, nhiều khi sự chia tay không làm cho người phụ nữ hạnh phúc,
ngược lại có khi sẽ chịu dau khổ suốt đời.
Anh Tố Hữu nói thêm: Tấm lòng nhân ái của Bác Hồ mênh mông như
biển cả. Bác rất thấu hiểu việc đời. Bác quan tâm trước hết các cháu thiếu
nhi và phụ nữ. Có thư của các cháu, của các chị ở cơ sở, Bác bận bao công
việc lớn, thế mà nhận được Bác tranh thủ đọc luôn. (Anh cười) Còn thư cùa
cán bộ chúng mình gửi đến báo cáo vừa lập được thành tích này nọ, làm sao
Bác xem hết dược. Bác rất vui khi nhận của các cháu, các chị, của cán bộ
cơ sờ báo cáo địa phươrig đã làm được việc này việc nọ, gia đình hàng xóm
có chuyện gì hay - niềm vui cùa Bác là thấy những người xưa kia chịu thiệt
thòi, bất hạnh nhất nay tìm được cuộc sống xứng đáng, giành lại nhân phẩm
cùa mình.
So tay của tôi ghi mấu chuyện trên
đây ngày 12 tháng 12 năm 1962.

17

KHOAN DUNG, NHÂN ÁI Hố CHÍ MINH - MỘT GIÁ TRỊ
ĐẶC TRUNG CHO VẪN HOA HOÀ BÌNH
Thế kỷ XX đã qua với hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng trăm cuộc
chiến tranh khu vực lớn nhỏ. Nỗi khủng khiếp trước thảm họa Hiroshima và
Nagasaki đến nay vẫn chưa thôi nhức nhối trong trái tim nhân loại. Trái đất
càng trờ nên mong manh hơn khi vũ khí hủy diệt ngày càng được hoàn
thiện, sự tích lũy ngày càng lớn, đủ sức làm nổ tung cả hành tinh bé nhỏ cùa
chúng ta.
Hòa bình là khát vọng của nhân loại, bởi trong thực tế tồn tại mấy
nghìn năm qua, loài người chưa bao giờ được sống trong một thế giới hòa
bình. Sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, bước vào thiên niên kỷ mới, loài người
càng thấm thìa nhận ra rằng không thể giải quyết mọi tranh chấp„xung đột
bàng vũ khí mà phải bằng thông cảm, hiểu biết, đối thoại, bằng văn hóa
khoan dung. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn
hóa hoà bình mà linh hồn của nó chính là lòng nhân ái, khoan dung.
“Dân tộc ta lò một dân tộc giàu lòng bác ái”. Chù tịch Hồ Chí Minh đã

nói như vậy, và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của khoan dung,
nhân ái Việt Nam.
Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ờ lòng yêu thương
mênh mông, sâu sắc đối với con người, ở niềm tin vào phần tốt đẹp; phần
thiện trong mỗi con người, dù nhất thời họ có lầm lạc, còn nhỏ nhen,
thấp kém; từ đó Người nhắc nhở chúng ta “phải biết làm cho phần tốt
trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần
đi”. “Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân
ái mà cảm hóa họ”.
Đối với những quan lại cũ, cả với những người từng có nợ máu với
cách mạng, Người cũng khuyên “không nên đào bới những chuyện cũ ra
18

làm án mới,... mà nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung”. Đẻ làm được
điều đó, Người nhắc nhở chủng ta phải vượt qua những thiên kiến, hẹp hòi.
“Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó
rộng và sâu''.
Chính sách đại đoàn kết và tấm lòng khoan dung, độ lượng của Bác Hồ ■
đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, đã càm hoá được nhiều
nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ, một
lòng một dạ đi theo cách mạng và kháng chiến, không quản ngại gian khổ,
hy sinh.
Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở thái độ trân trọng, cái
nhìn rộng lượng đối với những giá trị khác nhau của vãn hoá nhân loại, là
chấp nhận giao lưu, đối thoại, tìm ra cái chung, nhằm đạt tới sự hoà đồng,
cùng phát triển.
Hồ Chí Minh xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hoá. Trong khi chống Pháp,
Người vẫn yêu mến và đề cao văn hoá Pháp; chống Mỹ và vẫn ca ngợi
truyền thống đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Mỹ. Bản thân
Người là hình ảnh kết tinh của tinh hoa văn hóa nhân loại Đông và Tây.
Trong một thế giới cộng sinh về văn hóa, có sự giao lưu giữa cái chung và
cái riêng, cái đồng nhất và cái dị biệt, khoan dung Hồ Chí Minh là chấp
nhận đối thoại về giá trị, là truy tìm cái chung, cái nhân loại để hòa đồng.
Người đã viết: “Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác, nhưng có một điều
thì dân nào cũng giống nhau. Ảy là dân nào cũng ira sự lành, ghét sự dữ”.
Là một nhà ngoại giao biết thương lượng, có đầu óc thực tế, Hồ Chí
Minh biết tìm ra mẫu số chung cho mọi cuộc đối thoại. Người nói với người
Pháp: “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức tự do, bình
đẳng, bác ái độc lập".
Với các tôn giáo, Hồ Chí Minh thành thật tôn trọng đức tin của người
có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức - nhân văn của
các vị sáng lập, không hề bài bác, phù định mà khéo hướng lý tưởng của
các tôn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho
nhân dân.
Mùa hè năm 1946 tại Paris, Người đã tiếp một nhóm linh mục công
giáo đến thăm, trong đó có linh mục Cao Văn Luận, một người công giáo
19

xác tín, chống cộng. Sau này, ông ta đã thuật lại trong cuốn hồi ký của mình
lời của Hồ Chí Minh trong buổi gặp: “Mục đích của Chính phủ ta là đeo
đuổi chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Đe đạt
hạnh phúc đó mọi người cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu đức
Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi đau
của người đồng thời, chắc Ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm cứu
khổ loài người”.
Tại cuộc họp mặt đại biểu các tôn giáo, đàng phái tại Chùa Bà Đá mừng
Chính phủ liên hiệp lâm thừi vừa thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
“Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Giatô giáo tin ở Đức Chúa Trời, cũng
như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin
tường. Nhưng đổi với nhân dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn
làm gì, ta phải theo nấy”.
Nói về khoan dung tôn giáo cùa Hồ Chí Minh, chính J.Sainteny thừa
nhận: “Ve phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để thấy nơi các
chương trình cùa cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công
kích, đa nghi hoặc chế diễu bất kỳ một tôn giáo nào'“.
Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên nguyên tắc công
lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, không chấp nhận thỏa hiệp vô nguyên tắc
với tội ác, bất công, xã hội và tất cả cái gì chà đạp lên “quyền sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi con người và mỗi dân tộc.
N gười nói: “Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đõ đồng chí, đổng

bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến
Đảng, đến nhân dân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp cách mạng của mình bàng
một cừ chì hòa bình: đưa yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Vecxay (1919).
Nhung Người biết: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động
bạo lực cùa kẻ mạnh đối với kẻ yếu”, bởi vậỵ, Người cũng đã nói từ rất
sớm: “Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bàng phương pháp
ôn hòa thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ
nước và để chen vai, thích cánh với năm châu”.
Trong cuộc xung đột Việt - Pháp, giữa hai giải pháp hòa bình và bạo
lực, Hồ Chí Minh luôn luôn chọn giải pháp hòa bình, nên Người đã chấp
20

nhận thỏa hiệp, nhân nhượng: ký Hiệp định sơ bộ 6.3 rồi “Tạm ước 14.9;
không quản bất trắc, hiểm nguy, Người sang tận thủ đô nước Pháp để tìm
kiếm hòa bình. Rất tiếc, thiện chí đó đã không được đáp lại.
Đến khi đối phương buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên tự vệ,
Người đã luôn luôn giáo dục chúng ta biết phân biệt bọn thực dân xâm lược
phản động Pháp với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình và công lý. Người
đã tìm mọi cách để hạn chế đến mức thấp nhất những thương vong trên
chiến trường, cho quân ta và cho cả quân địch. Người nói một cách xúc
dộng: “Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người
Pháp hay là người Việt đều là người”. Người nhắc nhở mục tiêu cùa chúng
ta là đánh bại, đánh sập ý chí xâm lược của địch chứ không phải là đánh
tiêu diệt hoàn toàn chúng trên chiến trường. Ta hiểu vì sao Người không tán
thành cách gọi một trận đánh chết nhiều người là một trận đánh “đẹp” !
Người nói: “Đánh mà thắng là giỏi, nhung không đánh mà thắng lại giỏi
hơn”, nên theo binh pháp cùa cha ông, “đánh vào lòng người là hơn hết,
đánh vào thành trì là thứ hai”, vì vậy Người tất coi trọng địch vận, ngụy
vận, coi “khéo ngụy vận thì đó cũng là một cách tiêu diệt sinh lực địch”.
Đối với những tù binh và thường dân Pháp bị ta bát trong chiến tranh,
Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ ta phải nêu cao lý tưởng chính nghĩa,
nhân dạo, phải đối xử khoan hồng đối với họ để “cho thế giới biết rằng ta là
một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”. Người
chi thị cho Bộ tài chính cùa ta cấp cho mỗi người lính hay thường dân Pháp
bị bắt 200 đồng/mỗi tháng, trong khi mức ăn của bộ đội ta chi có 150
đồng/tháng, với lý do “ta có thé chịu kham khố được, nhưng đối với họ cần
phải rộng rãi hơn”. Một lần đến thăm trại tù binh Pháp bị bắt trong chiến
dịch Biên giới, thấy một đại ủy quân y Pháp ở trần, đang run lên vì lạnh,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cởi chiếc áo người đang mặc, trao cho anh ta.
Trong thư gửi cho tướng R.Xalăng, Tổng chi huy quân đội Pháp ở
Đông Dương, (6-1947), một người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong suốt chuyến Người sang thăm nước Pháp, đã từng được Người coi là
bạn, có đoạn viết: “Chúng ta đã từng là những người bạn tốt... Nhưng hoàn
cảnh ngoài ý muổn đã biến chúng ta thành hai kẻ đổi địch. Điều đó thật
đáng tiếc!... Vì chúng ta buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là
những chiến binh hào hiệp, những đối thù quân tử, trong khi chờ đợi chúng
ta trở thành bạn hữu của nhau”.
21

Thật là ngôn luận của một hiệp sĩ, một chính nhân quân tử! Chúng ta
chiến đấu vì những mục tiêu cao cả hòa bình, độc lập dân tộc, chứ không vì
lý do nào khác. Hoàn cảnh đã buộc phải chiến đấu thì hãy chiến đấu ra trò,
cao thượng và chính trực, để sau chiến đấu, lại trở lại là những người bạn!
Người đã làm hết sức mình để không gây ra mối hận thù đối với dân tộc
Pháp, một dân tộc mà Người luôn luôn yêu mến và kính trọng.
Qua đó, có thể thấy: khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh không phải là
một sách lược mà là sự kế tục và phát triển tniyền thống khoan dung, nhân ái
của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử và cũng là sụ thể hiện bản chất
nhân văn, chính nghĩa của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Khoan
dung cũng là một biểu hiện sức mạnh cùa cách mạng, chì có những cuộc
cách mạng chân chính, được lòng dân, mới có sức thuyết phục, cảm hóa trái
tim, khối óc của quần chúng, bao gồm cả những người lầm lạc và chống đối.
Ngày nay, trên thế giới, chiến tranh lạnh đã qua đi, nhưng loài người
vẫn đang phải sống trong “một nền hòa bình nóng”. Nhiều nơi vẫn đang
diễn ra những cuộc chiến tranh, xung đột đẫm máu về lãnh thổ, dân tộc, sắc
tộc và tôn giáo. Do thiếu một thái độ khoan dung, người ta tự coi mình là
độc tôn, đi tới dị hóa, kỳ...
 
Gửi ý kiến