Tìm kiếm Giáo án
SÁNG KIẾN MÔN GDTC

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Huyền
Ngày gửi: 09h:44' 25-02-2025
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Huyền
Ngày gửi: 09h:44' 25-02-2025
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
==========***==========
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: “Một số giải pháp tạo hứng thú học tập môn
Giáo dục thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3”
Lĩnh vực: Giáo dục thể chất
Cấp học: Tiểu học
Năm học 2024-2025
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số giải pháp tạo hứng thú học tập môn Giáo dục
thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3.
2. Lĩnh vực/ Cấp học áp dụng sáng kiến: Giáo dục thể chất/ Tiểu học.
3. Tác giả:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Phương
Nam (nữ): Nữ
- Ngày tháng/ năm sinh: 04/12/1988
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Thể dục thể thao.
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Lai Cách.
- Điện thoại: 0977 040 465.
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Lai Cách – Huyện Cẩm Giàng –
Tỉnh Hải Dương.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Lai Cách – Huyện Cẩm
Giàng – Tỉnh Hải Dương.
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Cần được sự quan tâm chỉ đạo
của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, giáo viên tâm huyết, nhiệt tình của giáo viên, sự
ham học hỏi của học sinh.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2024 – 2025.
8. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
- Tôi tự khẳng định rằng bản sáng kiến kinh nghiệm này tôi tự nghiên cứu không
sao chép hoặc vi phạm bản quyền!
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP
DỤNG
SÁNG KIẾN
Nguyễn Thị Phương
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD & ĐT
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1
1.1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến
1
2. 1.2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến
1.3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2
2
2. Thực trạng của vấn đề
2.1. Thuận lợi
2
2.2. Khó khăn
3
2.3. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
3
3. Giải pháp thực hiện và giải quyết vấn đề
5
3.1. Thiết kế trò chơi sáng tạo, hiệu quả
6
3.2. Lồng ghép trò chơi vào bài học một cách hợp lý
9
3.3. Tạo không khí vui vẻ, gây hứng thú cho học sinh khi học môn
19
Giáo dục thể chất
4. Kết quả đạt được
21
4.1. Đối với học sinh
22
4.2. Đối với giáo viên
22
4.3. Đối với nhà trường
22
5. Điều kiện để áp dụng sáng kiến
25
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
26
2. Khuyến nghị
26
2.1. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
27
2.2. Đối với Ban giám hiệu nhà trường
27
2.3. Đối với giáo viên GDTC
27
2.4. Đối với cha mẹ học sinh
27
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Như chúng ta đều biết, Giáo dục không đơn thuần là việc truyền thụ kiến
thức mà còn phải giúp học sinh (HS) phát triển về thể chất, tinh thần, kỹ năng
sống. Môn Giáo dục thể chất (GDTC) là một phần quan trọng trong hệ thống
chương trình giáo dục tiểu học, giúp học sinh rèn luyện thể lực, phát triển kỹ năng
vận động, tăng cường sức khỏe, đồng thời hình thành và phát triển tinh thần đoàn
kết, kỷ luật.
GDTC ở bậc Tiểu học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ học
sinh phát triển một cách toàn diện cả về thể chất, tinh thần và nhân cách. Đây là
giai đoạn nền tảng để rèn luyện và duy trì thói quen vận động lành mạnh, xây dựng
sức khỏe và kỹ năng sống cho các em học sinh. Tuy nhiên, việc tổ chức trò chơi
cho học sinh còn có những bất cập, hạn chế nhất định. Từ thực trạng và tầm quan
trọng nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp tạo hứng thú học tập môn
Giáo dục thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3” để nghiên
cứu giúp học sinh giảm căng thẳng, tăng cường sự chủ động, sôi nổi và nâng cao
hiệu quả cao sau mỗi giờ học.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
2.1. Điều kiện
+ Trước hết, giáo viên phải biết trăn trở, ham tìm hiểu, cần sự quyết tâm cao
để có hiệu quả tốt sau giờ học.
+ Có kế hoạch cụ thể, phù hợp cho từng công việc.
+ Tích cực tham mưu và tranh thủ sự giúp đỡ tạo điều kiện của Chi bộ, Ban
giám hiệu nhà trường và các tổ chức khác.
+ Kết hợp chặt chẽ với nhà trường, hội cha mẹ học sinh giúp đỡ tạo điều kiện.
2.2. Thời gian: Từ tháng 9/2024 đến tháng 2/2025.
2.3. Đối tượng áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 3.
3. Nội dung sáng kiến
3.1. Tính mới của sáng kiến
+ Tạo ra môi trường học tập vui nhộn, thân thiện và gắn liền với nội dung bài
học.
+ Các trò chơi không chỉ giúp rèn luyện thể chất mà còn lồng ghép các yếu tố
giáo dục về tinh thần đồng đội, kỷ luật và giao tiếp.
+ Sáng kiến chú trọng tới nhu cầu và khả năng vận động của trẻ ở độ tuổi tiểu
học, lựa chọn những trò chơi đơn giản, an toàn nhưng vẫn mang tính kích thích sự
sáng tạo.
3.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Sáng kiến này của tôi có thể đưa ứng dụng vào thực tế hầu hết các trường Tiểu
học trong toàn huyện và cả ngành giáo dục.
3.3. Lợi ích của sáng kiến đem lại
- Nâng cao sức khỏe và phát triển thể chất.
- Tạo hứng thú và động lực học tập.
- Rèn luyện kỹ năng xã hội và tinh thần đồng đội.
- Cung cấp sự sáng tạo và tư duy linh hoạt.
4. Kết quả đạt được
Tôi tin tưởng, nếu triển khai và ứng dụng rộng rãi sáng kiến kinh nghiệm
này sẽ cải thiện và tăng cường hiệu quả của môn GDTC trong nhà trường. Vì
phương pháp của tôi dựa trên kinh nghiệm thực tiễn và những cố gắng nỗ lực ham
học hỏi trong quá trình công tác.
5. Đề xuất, kiến nghị
- Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn chuyên đề về đổi mới phương pháp
giảng dạy môn GDTC. Đầu tư xây dựng tài liệu hướng dẫn ngân hàng trò chơi vận
động phù hợp với từng cấp học để giáo viên có thể tham khảo và áp dụng.
- Quan tâm và tạo điều kiện cho giáo viên GDTC đổi mới phương pháp giảng
dạy, khuyến khích ứng dụng trò chơi vào giảng dạy.
- Tạo điều kiện đầy đủ trang thiết bị và sân tập cho học sinh.
1
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến
Như chúng ta đều biết, giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn
phải giúp học sinh phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, kỹ năng sống. Môn
GDTC giúp học sinh rèn luyện thể lực, phát triển kỹ năng vận động, tăng cường
sức khỏe, đồng thời xây dựng tinh thần đoàn kết và kỷ luật. GDTC là môn học
chính đã được đưa vào chương trình giảng dạy từ bậc tiểu học, trung học cơ sở,
trung học phổ thông cho đến đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định đây là môn
học chính khóa, giúp đảm bảo tất cả học sinh, sinh viên đều được rèn luyện thể
chất thường xuyên. GDTC được coi là môn bổ trợ cho các môn học khác bằng
cách giúp học sinh có đủ sức khỏe, tinh thần để tiếp thu kiến thức tốt hơn.
GDTC ở bậc Tiểu học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp học sinh
phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần và nhân cách. Đây là giai đoạn nền tảng để
hình thành thói quen vận động lành mạnh, xây dựng sức khỏe và kỹ năng sống cho các
em học sinh. Thông qua các tiết học Giáo dục thể chất, học sinh sẽ được phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể lực và thẩm mĩ, và đặc biệt đây được coi là nền tảng để phát
triển thể thao chuyên nghiệp sau này.
Thế nhưng, thực tế hiện nay cho thấy, một bộ phận không nhỏ học sinh chưa thực
sự yêu thích môn học GDTC, khiến việc giảng dạy môn học này còn gặp một số khó
khăn. Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy môn GDTC, tôi nhận thấy các nội dung trò
chơi trong giờ học môn GDTC thực sự đã tác động tích cực tới các em học sinh, nó bổ
trợ trực tiếp cho các bài tập, hỗ trợ các em rèn luyện sức khỏe, phát triển thể chất hài
hòa, nâng cao ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết và ý chí vượt qua thử thách. Tuy
nhiên, quá trình tổ chức trò chơi cho học sinh còn có những hạn chế, bất cập nhất định.
Từ những thực trạng đã nêu ở trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “Một số giải
pháp tạo hứng thú học tập môn Giáo dục thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi
2
cho học sinh lớp 3” để giúp học sinh giảm căng thẳng, tăng cường sự chủ động,
năng động và nâng cao hiệu quả cao sau mỗi giờ học.
1.2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến
Tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp tạo hứng thú học tập môn Giáo dục
thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3” với các mục tiêu
chính sau:
- Nghiên cứu và lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp với học sinh, đặc biệt
là học sinh lớp 3, giúp các em vừa học vừa chơi, nâng cao hiệu quả học tập.
- Đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp trò chơi vào các tiết học GDTC
để giúp học sinh yêu thích và chủ động hơn trong quá trình học.
- Tạo môi trường thoải mái, vui vẻ khi tham gia tập luyện và các hoạt động
thể chất.
- Nâng cao kỹ năng vận động cho học sinh, giúp các em phát triển thể chất
toàn diện, cải thiện sức khỏe, tăng sự nhanh nhẹn, khéo léo.
- Tạo sự đoàn kết, rèn luyện khả năng làm việc nhóm, giao tiếp và hợp tác với
bạn bè thông qua các trò chơi.
- Hỗ trợ đồng nghiệp có thêm tài liệu tham khảo, giúp họ tổ chức các hoạt
động giảng dạy GDTC hiệu quả hơn.
- Đóng góp vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng dạy và học, tạo động
lực để học sinh rèn luyện thể dục thể thao, hướng tới một thế hệ học sinh khỏe
mạnh, năng động.
1.3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Thời gian: Từ tháng 9/2024 đến tháng 2/2025.
1.3.2. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối lớp 3.
1.3.3. Phạm vi nghiên cứu: Trường Tiểu học.
2. Thực trạng của vấn đề
2.1. Thuận lợi
3
- Ban lãnh đạo nhà trường, các cấp lãnh ngành và địa phương rất quan tâm đến
học sinh, có sự quan tâm chỉ đạo về chuyên môn và đầu tư một số trang thiết bị để học
tập môn GDTC. Đội ngũ giáo viên nhà trường tương đối trẻ, yêu nghề mến trẻ, có nhiệt
huyết, tinh thần cầu thị, luôn hết lòng vì học sinh thân yêu.
- Môn GDTC được thiết kế và phát triển giảm thời lượng tập luyện, tăng
hoạt động vui chơi và kỹ năng của học sinh vì vậy bộ môn có nhiều điều chỉnh về
nội dung chương trình và cấu hình.
- Giáo viên đều được hướng dẫn về cách thiết kế bài thi theo phương pháp
mới, phân tích hoạt động một cách cụ thể, rõ ràng, kèm theo chỉ mẫu.
2.2. Khó khăn
- Nhà trường chưa có nhà đa năng để cho học sinh luyện tập. Còn thiếu thiết
bị vận động: Dây nhảy, bóng, cọc tiêu, cờ ….
- Một số học sinh còn xem nhẹ bộ môn và chưa có thói quen rèn luyện thể dục
thể thao hàng ngày dẫn đến dễ mệt mỏi khi vận động. Các em dành nhiều thời gian
cho các thiết bị điện tử như điện thoại, máy tính… dẫn đến tình trạng lười vận động
và gia tăng nguy cơ thừa cân, béo phì. Trong một số tiết học GDTC học sinh còn
thiếu sự hứng thú, chỉ tham gia với tâm lý bắt buộc, chưa thực sự chủ động và say
mê với môn học.
- Phụ huynh còn xem nhẹ và chưa nắm rõ được tầm quan trọng của môn học,
nên ít tạo điều kiện cho các em rèn luyện thể chất điều đó ảnh hưởng đến thể lực, thể
hình của các em. Đa số phụ huynh, học sinh còn coi môn GDTC là môn phụ, nên chưa
đầu tư khuyến khích con luyện tập rèn luyện thể chất.
2.3. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trong năm học vừa qua, tôi được Ban Giám hiệu nhà trường phân công
giảng dạy môn GDTC khối lớp 3. Qua thực tế, Tôi nhận thấy rằng tình hình học
sinh tham gia học môn chưa có tính tự giác cao, Các em còn kháng cự trong hoạt
động, thường trốn tránh hoặc tập luyện mang tính chất chống đối. Mặt khác, qua
4
quá trình giảng dạy tôi nhận thấy trò chơi trong các hoạt động học tập lặp đi lặp lại
một cách đơn điệu, từ cách chơi, luật chơi đến hình phạt. Với vai trò là giáo viên
phụ trách môn học, tôi luôn trăn trở suy nghĩ nên dùng phương pháp nào để đạt
hiệu quả cao nhất, phù hợp nhất? Phải thay đổi những trò chơi gì? Hay chơi như
nào? Chơi trò chơi gì cho phù hợp với bài học? Để tạo nên một tiết học vui vẻ ấn
tượng? Muốn vậy, người giáo viên phải kiên trì, chịu khó tìm tòi tham khảo các tài
liệu. Giáo viên dùng hình ảnh hoặc câu chuyện sinh động hấp dẫn thông qua trò
chơi vận động giúp học sinh yêu thích và hứng thú với môn GDTC.
Trong những tuần đầu của năm học 2024 - 2025, tôi vừa giảng dạy vừa tìm
hiểu đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Tôi nhận thấy học sinh lớp 3 là độ tuổi hiếu
động, thích khám phá và học hỏi thông qua các hoạt động vui chơi. Vì vậy, nếu biết
cách lồng ghép trò chơi vào tiết học GDTC giáo viên có thể giúp học sinh học tập
một cách tự nhiên, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn.
Qua thực trạng trên, Tôi đã thực hiện khảo sát mức độ yêu thích của học sinh
đối với bộ môn GDTC nhằm tạo hứng thú học tập môn Giáo dục thể chất thông qua
việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3.
* Kết quả của thực trạng
Để nghiên cứu, tôi đã khảo sát 2 lớp 3A và 3B. Trong đó lớp 3A (nhóm đối
chứng) được học theo phân phối chương trình và lớp 3B (nhóm thực nghiệm) học
theo phương pháp tôi thực nghiệm.
Kết quả cụ thể đạt được như sau:
Bảng 1: Kết quả khảo sát sự yêu thích của học sinh đối với bộ môn GDTC
trước khi áp dụng sáng kiến.
Kết quả thu được
Lớp 3A nhóm đối chứng
(30 HS)
Lớp 3B nhóm thực nghiệm
(30 HS)
5
HS yêu thích
HS không
yêu thích
HS yêu thích
HS không
yêu thích
SL
Tỷ lệ%
SL
Tỷ lệ%
SL
Tỷ lệ%
SL
Tỷ lệ%
19
63,3
11
36,7
16
53,3
14
46,7
Qua bảng khảo sát tôi thấy 3A (Nhóm đối chứng) chỉ đạt được 63,3% HS
yêu thích môn học và 36,7% HS không yêu thích. Lớp 3B (Nhóm thực nghiệm) chỉ
đạt được 53,3% học sinh yêu thích môn học, còn lại 46,7% số học sinh không yêu
thích môn học, một tỷ lệ quá cao.
* Nguyên nhân của thực trạng
- Phương pháp giảng dạy chưa hấp dẫn: Giáo án của giáo viên còn thiếu
sự sáng tạo. Nhiều bài học GDTC vẫn mang tính chất dập khuôn, tập trung vào
rèn luyện động tác kỹ thuật mà thiếu yếu tố vui chơi, sáng tạo. Nếu chỉ lặp đi
lặp lại một số bài tập đơn giản mà không có sự đổi mới, học sinh dễ cảm thấy
nhàm chán.
- Không phải học sinh nào cũng có khả năng vận động tốt, nhưng nếu bài
học không điều chỉnh phù hợp, chỉ đánh giá theo tiêu chí thể lực mà không quan tâm
đến nỗ lực cá nhân, học sinh yếu hơn sẽ cảm thấy môn học này không dành cho
mình, sẽ dễ nản lòng.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy và huấn luyện, Tôi luôn trăn trở về cách
khơi dậy thú vị trong môn học, giúp học sinh không chỉ luyện rèn sức khỏe mà còn
phát triển tri thức, sản phẩm chất đạo đức và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Vì vậy, tôi đã đề xuất một số giải pháp thông qua việc lồng ghép trò chơi vào bài
học cho học sinh lớp 3, nỗ lực nâng cao chất lượng dạy và học.
3. Giải pháp thực hiện và giải quyết vấn đề
Để nâng cao hiệu quả trong dạy GDTC tôi áp dụng các trò chơi trong các tiết
học. Phương pháp này mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích. Các trò chơi không
6
chỉ hỗ trợ cho quá trình rèn luyện, mà còn khơi dậy sự thú vị, say mê, kích thích tư
duy sáng tạo và tinh thần chủ động trong giờ học và lưu giữ những nét văn hóa của
dân tộc. Hơn hết, nó góp phần thu hẹp khoảng cách giữa giáo viên và học sinh, giúp
tiết học trở nên sôi động hơn, đồng thời tạo hứng thú cho cả người dạy và người học.
Vì vậy, tôi đã đề xuất các giải pháp sau:
3.1. Thiết kế trò chơi sáng tạo, hiệu quả
Lựa chọn thiết kế trò chơi phù hợp là yếu tố quan trọng nhất để tạo hứng thú
và nâng cao hiệu quả giờ học GDTC. Để chọn được trò chơi phù hợp, giáo viên cần
xem xét nhiều yếu tố như mục tiêu bài học, đặc điểm tâm lý - thể chất của học sinh,
tính an toàn, không gian và dụng cụ hỗ trợ.
Việc lựa chọn trò chơi phù hợp căn cứ vào các yếu tố sau:
3.1.1. Dựa trên mục tiêu bài học
Mỗi bài học GDTC đều có những kỹ năng và kiến thức nhất định mà học
sinh cần đạt được. Vì vậy, trò chơi được chọn phải hỗ trợ rèn luyện các kỹ năng
này một cách tự nhiên và hiệu quả.
Ví dụ:
+ Bài học về chạy nhanh → Chọn trò chơi có yếu tố tốc độ, như “Chạy tiếp
sức”, “Chạy vượt chướng ngại vật”.
+ Bài học về bật xa, bật cao → Chọn trò chơi có động tác nhảy như “Nhảy
ếch”, “Nhảy qua suối”.
+ Bài học về ném, chuyền bóng → Chọn trò chơi rèn khả năng phối hợp như
“Chuyền bóng nhanh”, “Ném bóng vào rổ”.
+ Bài học rèn luyện sức bền → Chọn trò chơi có yếu tố vận động liên tục như
“Mèo đuổi chuột”, “Cướp cờ”.
Nguyên tắc chọn trò chơi phải giúp học sinh rèn luyện đúng kỹ năng bài học
mà không tạo cảm giác gượng ép, nhàm chán.
3.1.2. Dựa trên đặc điểm tâm lý và thể chất của học sinh lớp 3
7
Học sinh lớp 3 (8-9 tuổi) có những đặc điểm riêng về thể chất và tâm lý mà
giáo viên cần cân nhắc khi chọn trò chơi.
* Đặc điểm tâm lý:
- Thích hoạt động vui vẻ, có yếu tố thi đấu nhẹ nhàng.
- Dễ mất tập trung nếu trò chơi quá dài hoặc phức tạp.
- Yêu thích các trò chơi có yếu tố kể chuyện, nhập vai.
* Đặc điểm thể chất:
- Cơ thể đang phát triển, khả năng vận động chưa hoàn thiện, dễ mệt nếu vận
động liên tục trong thời gian dài.
- Có sự khác biệt về thể chất giữa các em, một số em nhanh nhẹn hơn, một số
em còn chậm chạp.
* Lưu ý khi chọn trò chơi:
- Chọn trò chơi có luật đơn giản, dễ hiểu, thời gian chơi ngắn (3-5 phút/lượt)
để phù hợp với mức độ tập trung của học sinh.
- Nên có trò chơi kết hợp của vận động nhanh và vận động nhẹ để học sinh
không bị quá tải.
- Đảm bảo tất cả học sinh đều được tham gia, tránh trò chơi chỉ phù hợp với
những em nhanh nhẹn, khiến các em chậm hơn bị bỏ rơi, dễ sinh ra chán nản, không
muốn tham gia các hoạt động tiếp theo.
3.1.3. Đảm bảo tính an toàn khi chơi
An toàn là yếu tố bắt buộc khi lựa chọn trò chơi GDTC, vì trẻ lớp 3 chưa có
khả năng kiểm soát cơ thể tốt và dễ bị té ngã.
* Các lưu ý về an toàn:
- Không chọn trò chơi có nguy cơ va chạm mạnh, té ngã nguy hiểm.
- Tránh các trò chơi yêu cầu dùng lực quá mạnh hoặc có thể gây chấn thương
(ví dụ: kéo co với lực quá lớn).
8
- Không chọn trò chơi đòi hỏi kỹ thuật cao mà học sinh chưa thành thạo.
- Kiểm tra sân bãi trước khi chơi để tránh vật cản nguy hiểm.
- Không nên tổ chức trò chơi sau:
+ Rượt bắt trên nền sân cứng, trơn trượt → dễ té ngã.
+ Trò chơi yêu cầu nhảy từ độ cao lớn → nguy cơ chấn thương.
+ Trò chơi dùng vật nặng để ném → có thể gây nguy hiểm.
Đặc biệt, giáo viên cần thử nghiệm trước và hướng dẫn kỹ lưỡng để đảm bảo
trò chơi an toàn.
3.1.4. Dựa trên điều kiện sân bãi và dụng cụ có sẵn
Không gian và trang thiết bị của trường sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn trò
chơi. Giáo viên cần lựa chọn trò chơi phù hợp với điều kiện thực tế để đảm bảo việc
tổ chức diễn ra thuận lợi.
- Nếu sân bãi rộng, thoáng: Có thể tổ chức trò chơi vận động mạnh, cần nhiều
không gian như “Cướp cờ”, “Chạy tiếp sức”, “Bịt mắt bắt dê”...
- Nếu sân nhỏ hoặc tổ chức trong lớp học: Chọn trò chơi nhẹ nhàng, ít di
chuyển như “Truyền bóng nhanh”, “Simon says”, “Đứng ngồi theo hiệu lệnh”...
- Nếu không có nhiều dụng cụ: Sử dụng dụng cụ tự chế (tất, cát để làm bóng,
giấy làm vòng, vạch phấn làm vạch đích…)
Giáo viên cần linh hoạt điều chỉnh trò chơi dựa trên điều kiện thực tế, tránh
chọn trò chơi quá phụ thuộc vào dụng cụ khó kiếm.
3.1.5. Đảm bảo trò chơi có tính hấp dẫn, kích thích hứng thú của học sinh
- Trò chơi cần có yếu tố cạnh tranh nhẹ nhàng để tạo động lực nhưng không
gây áp lực.
- Có thể lồng ghép câu chuyện, nhân vật, tình huống vui nhộn để học sinh
thích thú hơn.
9
- Đổi mới cách tổ chức để tránh sự nhàm chán (ví dụ: Cùng một trò chơi nhưng
có thể thay đổi cách tính điểm, đổi cách chia nhóm...).
Ví dụ:
+ Thay vì “Chạy tiếp sức” thông thường, có thể đổi thành “Chạy thu thập báu
vật” để tạo cảm giác phiêu lưu cho học sinh.
+ Thay vì “Nhảy lò cò”, có thể đổi thành “Nhảy qua sông” với cọc tiêu tượng
trưng cho đá giữa sông.
Giáo viên càng thiết kế những trò chơi càng sáng tạo, càng thú vị, học sinh sẽ
càng yêu thích với môn học.
3.2. Lồng ghép trò chơi vào bài học một cách hợp lý
3.2.1. Trò chơi khởi động: Giúp học sinh chuẩn bị tinh thần và thể lực trước khi
vào bài học chính.
Dưới đây là một số trò chơi khởi động đơn giản, vui nhộn giúp học sinh lớp
3 hứng thú trước khi bắt đầu bài học môn Giáo dục thể chất:
* Trò chơi : “Gió thổi”
Hình ảnh minh họa
Cách chơi:
Giáo viên đứng giữa lớp và hô: “Gió thổi, gió thổi...”
Học sinh hỏi: “Thổi gì hoặc thổi về đâu?”
Giáo viên đáp: “Thổi về những bạn mặc áo màu xanh” (hoặc bất kỳ tiêu chí
nào như tóc dài, mang giày đỏ, sinh tháng 5…).
10
Những học sinh có đặc điểm phù hợp phải nhanh chóng chạy về vị trí đã được
giáo viên chỉ định từ trước.
Lợi ích: Giúp học sinh nhanh nhẹn, phản xạ tốt và tạo không khí vui vẻ.
* Trò chơi: “Đua thuyền”
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Chia lớp thành 3-4 đội, mỗi đội đứng xếp thành hàng dọc. Ngay
sau khi có hiệu lệnh, học sinh sẽ ngồi xuống, đặt hai tay lên vai bạn phía trước và
cùng nhau “Chèo thuyền” bằng cách lắc người sang hai bên theo nhịp giáo viên hô.
Đội nào phối hợp nhịp nhàng và về đích trước là đội thắng.
Lợi ích: Hỗ trợ rèn luyện kỹ năng khéo léo, nhanh nhẹn và tạo tinh thần đồng
đội.
* Trò chơi: “Kéo co ngược”
11
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Học sinh xếp thành hai hàng đối diện nhau, nắm tay nhau tạo
thành một sợi dây. Khi giáo viên hô “Kéo!”, hai đội cùng lùi về phía sau thay vì
kéo về phía trước như kéo co thông thường. Đội nào lùi về đích trước mà không bị
đứt hàng là đội thắng.
Lợi ích: Giúp khởi động cơ thể, rèn luyện sức bền và tạo sự hào hứng.
* Trò chơi: “Đi theo tín hiệu đèn giao thông” hoặc “Đèn đỏ – Đèn xanh”
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Giáo viên đóng vai cảnh sát giao thông và đứng ở đầu sân. Chia
nhóm 10 học sinh chơi 1 lần, đứng thành một hàng ngang ở vạch xuất phát. Khi giáo
viên hô “Đèn xanh”, học sinh chạy về phía trước. Khi giáo viên hô “Đèn đỏ”, học
sinh phải đứng yên tại chỗ. Ai còn di chuyển khi có lệnh “Đèn đỏ” sẽ phải quay lại
vạch xuất phát. Ai về đích đầu tiên sẽ thắng.
Lợi ích: Giúp học sinh phản xạ nhanh, tập trung cao độ.
* Trò chơi: “Chuyển bóng tiếp sức”
12
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Chia lớp thành 3-4 đội, xếp thành hàng dọc. Mỗi đội có một quả
bóng. Khi có hiệu lệnh, người đầu tiên chuyển bóng qua đầu cho người phía sau.
Người nhận bóng không được quay lại mà phải chuyền tiếp theo cách tương tự.
Người cuối cùng cầm bóng chạy lên đầu hàng và bắt đầu lại. Đội nào hoàn thành
sớm nhất sẽ thắng.
Lợi ích: Rèn luyện sự khéo léo, nhanh nhẹn và tinh thần đồng đội.
* Trò chơi: “Bắt chước động vật”
13
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Giáo viên hô tên một con vật, học sinh phải bắt chước cách di
chuyển của con vật đó.
Ví dụ:
“Thỏ” → Nhảy lò cò bằng hai chân.
“Cua” → Đi ngang bằng tay và chân.
“Chim” → Vẫy tay như đang bay.
Giáo viên có thể làm mẫu hoặc sáng tạo thêm cách di chuyển vui nhộn.
Lợi ích: Giúp học sinh vận động toàn thân, tạo không khí vui vẻ.
3.2.2. Trò chơi trong giờ học: Hỗ trợ rèn luyện kỹ năng vận động và tạo sự hấp
dẫn.
Dưới đây là một số trò chơi vận động phù hợp để lồng ghép vào giờ học Giáo
dục thể chất giúp học sinh lớp 3 rèn luyện kỹ năng vận động và tạo sự hứng thú:
14
* Trò chơi: “Bịt mắt bắt dê” (Dành cho bài học về phản xạ, nhanh nhẹn)
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Một học sinh được bịt mắt đứng giữa vòng tròn. Các bạn còn lại di
chuyển nhẹ nhàng xung quanh và có thể vỗ tay, phát ra âm thanh để đánh lạc hướng.
Khi giáo viên hô “Bắt dê!”, học sinh bịt mắt sẽ cố gắng bắt một bạn bất kỳ. Khi bắt
được, học sinh đó phải đoán đúng tên bạn mình mới được đổi vai.
Lợi ích: Phát triển phản xạ nhanh, rèn luyện sự tập trung.
* Trò chơi: “Chạy tiếp sức” (Dành cho bài học chạy nhanh, phối hợp
nhóm)
Hình ảnh minh họa
15
Cách chơi: Chia lớp thành 3-4 đội, mỗi đội xếp thành hàng dọc. Khi có hiệu
lệnh, người đầu tiên chạy nhanh đến vạch mốc, sau đó quay lại và trao gậy (hoặc
chạm tay) cho bạn tiếp theo. Đội nào hoàn thành trước sẽ thắng.
Lợi ích: Rèn luyện tốc độ, sự phối hợp và tinh thần đồng đội.
* Trò chơi: “Nhảy bao bố” (Dành cho bài học về sức bền, sự khéo léo)
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Chia lớp thành các đội (5-7 bạn/đội), mỗi đội có 1 bao bố. Khi
có hiệu lệnh, học sinh đầu tiên nhảy trong bao từ vạch xuất phát đến vạch đích,
rồi quay lại trao bao cho bạn tiếp theo. Đội nào hoàn thành trước sẽ chiến thắng.
Lợi ích: Tăng cường sức bật, rèn luyện sự khéo léo và kiên trì.
* Trò chơi: “Kéo co” (Dành cho bài học về sức mạnh, đoàn kết nhóm)
Hình ảnh minh họa
16
Cách chơi: Chia lớp thành hai đội có số lượng bằng nhau. Mỗi đội nắm chặt
một đầu dây thừng và kéo về phía mình. Đội nào kéo được đối phương qua vạch quy
định trước sẽ thắng.
Lợi ích: Phát triển sức mạnh, tinh thần đồng đội và khả năng chịu đựng.
* Trò chơi: “Bóng chuyền hơi” (Dành cho bài học về sự khéo léo, phối hợp
tay mắt)
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội, dùng lưới hoặc dây làm vạch ngăn cách. Các
đội chuyền bóng hơi qua lưới bằng cách đánh hoặc đẩy bóng sao cho đối phương
không đỡ được. Đội nào làm rơi bóng nhiều lần hơn sẽ thua.
Lợi ích: Rèn luyện phản xạ nhanh, khả năng phối hợp nhóm.
* Trò chơi: “Bật xa lấy cờ” (Dành cho bài học về bật xa, sức bật chân)
Hình ảnh minh họa
17
Cách chơi: Giáo viên đặt các lá cờ hoặc vật nhỏ ở vạch xa. Học sinh đứng ở
vạch xuất phát, khi có hiệu lệnh, từng em bật xa về phía trước để lấy cờ. Ai lấy được
cờ trước sẽ thắng.
Lợi ích: Tăng cường sức bật, rèn luyện đôi chân.
3.2.3. Trò chơi thư giãn cuối giờ: Giúp học sinh thoải mái, vui vẻ và củng cố bài
học.
* Trò chơi: “Rồng rắn lên mây” (Phát triển sự nhanh nhẹn, linh hoạt)
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Một học sinh đóng vai “ông chủ” đứng một chỗ. Các học sinh
khác xếp hàng nối đuôi nhau, đặt tay lên vai bạn phía trước và hát:“Rồng rắn lên
mây, có cây lúc lắc…”. Khi bài hát kết thúc, “Ông chủ” sẽ đuổi theo để bắt người
cuối cùng trong hàng. Nếu bị bắt, người đó sẽ vào vai “Ông chủ” và trò chơi tiếp
tục.
Lợi ích: Giúp học sinh vận động linh hoạt, rèn phản xạ nhanh.
* Trò chơi: “Thỏ nhảy vườn cà rốt” (Luyện sức bật và phản xạ nhanh)
Cách chơi: Giáo viên đặt các vòng tròn (hoặc vạch đánh dấu) trên sân tượng
trưng cho hố cà rốt. Học sinh đóng vai những chú thỏ đứng cách vạch một khoảng
nhất định. Khi giáo viên hô “Thỏ nhảy!”, học sinh sẽ nhảy bật xa đến hố cà rốt. Ai
bật xa nhất hoặc nhảy chính xác vào hố sẽ thắng.
18
Lợi ích: Giúp tăng cường sức bật, phát triển sự khéo léo.
* Trò chơi: “Con số bí mật” (Kết hợp vận động và tư duy nhanh)
Cách chơi: Giáo viên chuẩn bị sẵn các tấm thẻ ghi số (1-10) và đặt trên sân.
Khi có hiệu lệnh, học sinh chạy quanh sân, khi giáo viên hô một số bất kỳ, các em
phải nhanh chóng tìm và chạm vào thẻ số đó. Ai chạm đúng số trước sẽ được điểm
thưởng.
Lợi ích: Rèn phản xạ nhanh, kết hợp vận động và tư duy.
* Trò chơi: “Đếm sao” (Giúp thư giãn, điều hòa nhịp thở)
Cách chơi: Học sinh ngồi hoặc nằm thoải mái trên sàn. Giáo viên yêu cầu
nhắm mắt, hít vào chậm và đếm trong đầu từ 1-5, sau đó thở ra chậm rãi. Có thể kết
hợp với âm nhạc nhẹ nhàng để tạo cảm giác thư giãn. Ai giữ được hơi thở đều nhất
sẽ được khen.
Lợi ích: Giúp học sinh điều hòa nhịp thở, giảm mệt mỏi sau vận động.
* Trò chơi: “Đàn chim bay” (Vận động nhẹ, kết hợp trí tưởng tượng)
Cách chơi: Giáo viên hô: “Chim bay, chim bay…” và làm động tác vỗ tay
như chim bay. Học sinh bắt chước theo. Nhưng nếu giáo viên hô “Chim bay” mà
làm động tác khác (Ví dụ: Vỗ tay lên đầu), ai làm theo sẽ bị loại.
Trò chơi tiếp tục đến khi tìm ra người cuối cùng làm đúng.
Lợi ích: Giúp học sinh tập trung, rèn phản xạ và vui chơi nhẹ nhàng.
* Trò chơi: “Truyền tin” (Rèn trí nhớ và kết nối lớp học)
Cách chơi: Chia lớp thành 3-4 nhóm ngồi thành hàng dọc. Giáo viên thì thầm
một câu ngắn vào tai bạn đầu tiên trong hàng. Bạn đó truyền lại câu nói cho bạn tiếp
theo. Câu nói tiếp tục được truyền đến bạn cuối cùng, người này sẽ nói to lại. Nhóm
nào truyền tin chính xác nhất sẽ thắng.
Lợi ích: Rèn trí nhớ, tạo không khí thư giãn vui vẻ.
19
* Trò chơi: “Vịt đẻ trứng” (Vận động nhẹ, tạo tiếng cười vui vẻ)
Cách chơi: Học sinh đứng thành vòng tròn, mỗi em cầm một quả bóng nhỏ
tượng trưng cho “Trứng”. Khi có hiệu lệnh, các em kẹp bóng giữa hai đầu gối và
nhảy đến vạch đích để “Đẻ trứng” (Thả bóng vào rổ). Ai làm rơi bóng giữa chừng
sẽ quay lại làm lại từ đầu. Ai đẻ trứng nhanh nhất sẽ thắng.
Lợi ích: Giúp học sinh thư giãn, rèn sự khéo léo và cân bằng cơ thể.
* Trò chơi: “Làm theo nhạc” (Tác dụng: Thư giãn, phối hợp vận động
theo giai điệu)
Cách chơi: Giáo viên bật một đoạn nhạc vui nhộn. Học sinh phải nhảy, vỗ tay
hoặc lắc lư theo nhịp nhạc. Khi nhạc dừng, tất cả phải đứng im tại chỗ. Ai còn di
chuyển sau khi nhạc dừng sẽ bị loại.
Lợi ích: Giúp học sinh thư giãn cơ thể, tạo niềm vui sau giờ học.
* Trò chơi: “Sói và cừu” (Thư giãn, vận động nhẹ nhàng)
Cách chơi: Một bạn đóng vai “Sói”, các bạn còn lại là “Cừu” đứng thành
vòng tròn. Khi giáo viên hô “Sói ngủ!”, sói phải nhắm mắt và cừu chạy nhẹ nhàng
trong vòng tròn. Khi hô “Sói dậy!”, sói sẽ mở mắt và đuổi bắt một bạn cừu. Ai bị
bắt sẽ làm sói trong lượt tiếp theo.
Lợi ích: Giúp học sinh vận động nhẹ nhàng, tạo không khí hào hứng.
3.3. Tạo không khí vui vẻ, gây hứng thú cho học sinh khi học môn Giáo dục thể
chất
Việc tạo không khí vui vẻ, sôi động khi giảng dạy môn Giáo dục thể chất là
rất quan trọng. Thực tế cho thấy, khi tham gia các hoạt động thể chất có bầu không
khí tích cực, giúp học sinh phấn chấn, có xu hướng tích cực, khuyến khích sự sáng
tạo và chủ động, giảm căng thẳng, nâng cao thể lực và tinh thần Một tiết học vui
nhộn, có không khí vui vẻ sẽ tạo hứng khởi cho học sinh, giúp học sinh cảm thấy
tiết học nhẹ nhàng, không nhàm chán, không cảm thấy áp lực khi thực hiện các bài
tập.
20
Để tạo không khí sôi động, gây hứng thú cho học sinh tôi sử dụng các biện
pháp sau:
3.3.1. Sử dụng nhạc nền sôi động khi bắt đầu tập trung học sinh đầu giờ
Tôi nhận thấy, khi xếp hàng ra sân học thể dục, học sinh thường đi rất uể oải,
đi chậm chạp, không thích thú. Thay vì hiệu lệnh thổi còi tập trung, tôi đã sử dụng
nhạc báo hiệu.
Sử dụng loa kéo của nhà trường có sẵn, tôi kết nối với điện thoại thông qua
bluetooth để khởi động nhạc khi bắt đầu.
Một số bản nhạc được tôi sử dụng để tập trung học sinh đầu giờ:
+ “Tập thể dục buổi sáng” –
+ “Việt Nam Ơi”
+ “Bống bống bang bang” ...
Đây đều là những nhạc Việt Nam dễ nhớ, dễ tạo sự quen thuộc, để cho các em
hình thành thói quen khi nhạc bắt đầu là các em sẽ di chuyển nhanh về vị trí tập trung
của lớp mình.
3.3.2. Tổ chức thi đua, khen thưởng để tạo động lực học tập
Thi đua và khen thưởng là những phương pháp hiệu quả giúp học sinh yêu
thích hơn với môn Giáo dục thể chất. Khi được công nhận và khen thưởng, học sinh
có động lực rèn luyện tốt hơn, phát triển tinh thần thể thao và đoàn kết.
* Nguyên tắc tổ chức thi đua, khen thưởng
- Công bằng, minh bạch: Tiêu chí đánh giá rõ ràng, phù hợp với từng nhóm
học sinh.
- Đa dạng hình thức thi đua: Thi cá nhân, theo nhóm, lớp để khuyến khích
nhiều đối tượng tham gia.
- Khen thưởng kịp thời: Động viên ngay khi học sinh đạt thành tích để tăng
hiệu ứng tích cực.
...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
==========***==========
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: “Một số giải pháp tạo hứng thú học tập môn
Giáo dục thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3”
Lĩnh vực: Giáo dục thể chất
Cấp học: Tiểu học
Năm học 2024-2025
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số giải pháp tạo hứng thú học tập môn Giáo dục
thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3.
2. Lĩnh vực/ Cấp học áp dụng sáng kiến: Giáo dục thể chất/ Tiểu học.
3. Tác giả:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Phương
Nam (nữ): Nữ
- Ngày tháng/ năm sinh: 04/12/1988
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Thể dục thể thao.
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Lai Cách.
- Điện thoại: 0977 040 465.
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Lai Cách – Huyện Cẩm Giàng –
Tỉnh Hải Dương.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Lai Cách – Huyện Cẩm
Giàng – Tỉnh Hải Dương.
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Cần được sự quan tâm chỉ đạo
của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, giáo viên tâm huyết, nhiệt tình của giáo viên, sự
ham học hỏi của học sinh.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2024 – 2025.
8. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
- Tôi tự khẳng định rằng bản sáng kiến kinh nghiệm này tôi tự nghiên cứu không
sao chép hoặc vi phạm bản quyền!
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP
DỤNG
SÁNG KIẾN
Nguyễn Thị Phương
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD & ĐT
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1
1.1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến
1
2. 1.2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến
1.3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2
2
2. Thực trạng của vấn đề
2.1. Thuận lợi
2
2.2. Khó khăn
3
2.3. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
3
3. Giải pháp thực hiện và giải quyết vấn đề
5
3.1. Thiết kế trò chơi sáng tạo, hiệu quả
6
3.2. Lồng ghép trò chơi vào bài học một cách hợp lý
9
3.3. Tạo không khí vui vẻ, gây hứng thú cho học sinh khi học môn
19
Giáo dục thể chất
4. Kết quả đạt được
21
4.1. Đối với học sinh
22
4.2. Đối với giáo viên
22
4.3. Đối với nhà trường
22
5. Điều kiện để áp dụng sáng kiến
25
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
26
2. Khuyến nghị
26
2.1. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
27
2.2. Đối với Ban giám hiệu nhà trường
27
2.3. Đối với giáo viên GDTC
27
2.4. Đối với cha mẹ học sinh
27
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Như chúng ta đều biết, Giáo dục không đơn thuần là việc truyền thụ kiến
thức mà còn phải giúp học sinh (HS) phát triển về thể chất, tinh thần, kỹ năng
sống. Môn Giáo dục thể chất (GDTC) là một phần quan trọng trong hệ thống
chương trình giáo dục tiểu học, giúp học sinh rèn luyện thể lực, phát triển kỹ năng
vận động, tăng cường sức khỏe, đồng thời hình thành và phát triển tinh thần đoàn
kết, kỷ luật.
GDTC ở bậc Tiểu học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ học
sinh phát triển một cách toàn diện cả về thể chất, tinh thần và nhân cách. Đây là
giai đoạn nền tảng để rèn luyện và duy trì thói quen vận động lành mạnh, xây dựng
sức khỏe và kỹ năng sống cho các em học sinh. Tuy nhiên, việc tổ chức trò chơi
cho học sinh còn có những bất cập, hạn chế nhất định. Từ thực trạng và tầm quan
trọng nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp tạo hứng thú học tập môn
Giáo dục thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3” để nghiên
cứu giúp học sinh giảm căng thẳng, tăng cường sự chủ động, sôi nổi và nâng cao
hiệu quả cao sau mỗi giờ học.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
2.1. Điều kiện
+ Trước hết, giáo viên phải biết trăn trở, ham tìm hiểu, cần sự quyết tâm cao
để có hiệu quả tốt sau giờ học.
+ Có kế hoạch cụ thể, phù hợp cho từng công việc.
+ Tích cực tham mưu và tranh thủ sự giúp đỡ tạo điều kiện của Chi bộ, Ban
giám hiệu nhà trường và các tổ chức khác.
+ Kết hợp chặt chẽ với nhà trường, hội cha mẹ học sinh giúp đỡ tạo điều kiện.
2.2. Thời gian: Từ tháng 9/2024 đến tháng 2/2025.
2.3. Đối tượng áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 3.
3. Nội dung sáng kiến
3.1. Tính mới của sáng kiến
+ Tạo ra môi trường học tập vui nhộn, thân thiện và gắn liền với nội dung bài
học.
+ Các trò chơi không chỉ giúp rèn luyện thể chất mà còn lồng ghép các yếu tố
giáo dục về tinh thần đồng đội, kỷ luật và giao tiếp.
+ Sáng kiến chú trọng tới nhu cầu và khả năng vận động của trẻ ở độ tuổi tiểu
học, lựa chọn những trò chơi đơn giản, an toàn nhưng vẫn mang tính kích thích sự
sáng tạo.
3.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Sáng kiến này của tôi có thể đưa ứng dụng vào thực tế hầu hết các trường Tiểu
học trong toàn huyện và cả ngành giáo dục.
3.3. Lợi ích của sáng kiến đem lại
- Nâng cao sức khỏe và phát triển thể chất.
- Tạo hứng thú và động lực học tập.
- Rèn luyện kỹ năng xã hội và tinh thần đồng đội.
- Cung cấp sự sáng tạo và tư duy linh hoạt.
4. Kết quả đạt được
Tôi tin tưởng, nếu triển khai và ứng dụng rộng rãi sáng kiến kinh nghiệm
này sẽ cải thiện và tăng cường hiệu quả của môn GDTC trong nhà trường. Vì
phương pháp của tôi dựa trên kinh nghiệm thực tiễn và những cố gắng nỗ lực ham
học hỏi trong quá trình công tác.
5. Đề xuất, kiến nghị
- Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn chuyên đề về đổi mới phương pháp
giảng dạy môn GDTC. Đầu tư xây dựng tài liệu hướng dẫn ngân hàng trò chơi vận
động phù hợp với từng cấp học để giáo viên có thể tham khảo và áp dụng.
- Quan tâm và tạo điều kiện cho giáo viên GDTC đổi mới phương pháp giảng
dạy, khuyến khích ứng dụng trò chơi vào giảng dạy.
- Tạo điều kiện đầy đủ trang thiết bị và sân tập cho học sinh.
1
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến
Như chúng ta đều biết, giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn
phải giúp học sinh phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, kỹ năng sống. Môn
GDTC giúp học sinh rèn luyện thể lực, phát triển kỹ năng vận động, tăng cường
sức khỏe, đồng thời xây dựng tinh thần đoàn kết và kỷ luật. GDTC là môn học
chính đã được đưa vào chương trình giảng dạy từ bậc tiểu học, trung học cơ sở,
trung học phổ thông cho đến đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định đây là môn
học chính khóa, giúp đảm bảo tất cả học sinh, sinh viên đều được rèn luyện thể
chất thường xuyên. GDTC được coi là môn bổ trợ cho các môn học khác bằng
cách giúp học sinh có đủ sức khỏe, tinh thần để tiếp thu kiến thức tốt hơn.
GDTC ở bậc Tiểu học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp học sinh
phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần và nhân cách. Đây là giai đoạn nền tảng để
hình thành thói quen vận động lành mạnh, xây dựng sức khỏe và kỹ năng sống cho các
em học sinh. Thông qua các tiết học Giáo dục thể chất, học sinh sẽ được phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể lực và thẩm mĩ, và đặc biệt đây được coi là nền tảng để phát
triển thể thao chuyên nghiệp sau này.
Thế nhưng, thực tế hiện nay cho thấy, một bộ phận không nhỏ học sinh chưa thực
sự yêu thích môn học GDTC, khiến việc giảng dạy môn học này còn gặp một số khó
khăn. Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy môn GDTC, tôi nhận thấy các nội dung trò
chơi trong giờ học môn GDTC thực sự đã tác động tích cực tới các em học sinh, nó bổ
trợ trực tiếp cho các bài tập, hỗ trợ các em rèn luyện sức khỏe, phát triển thể chất hài
hòa, nâng cao ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết và ý chí vượt qua thử thách. Tuy
nhiên, quá trình tổ chức trò chơi cho học sinh còn có những hạn chế, bất cập nhất định.
Từ những thực trạng đã nêu ở trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “Một số giải
pháp tạo hứng thú học tập môn Giáo dục thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi
2
cho học sinh lớp 3” để giúp học sinh giảm căng thẳng, tăng cường sự chủ động,
năng động và nâng cao hiệu quả cao sau mỗi giờ học.
1.2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến
Tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp tạo hứng thú học tập môn Giáo dục
thể chất thông qua việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3” với các mục tiêu
chính sau:
- Nghiên cứu và lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp với học sinh, đặc biệt
là học sinh lớp 3, giúp các em vừa học vừa chơi, nâng cao hiệu quả học tập.
- Đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp trò chơi vào các tiết học GDTC
để giúp học sinh yêu thích và chủ động hơn trong quá trình học.
- Tạo môi trường thoải mái, vui vẻ khi tham gia tập luyện và các hoạt động
thể chất.
- Nâng cao kỹ năng vận động cho học sinh, giúp các em phát triển thể chất
toàn diện, cải thiện sức khỏe, tăng sự nhanh nhẹn, khéo léo.
- Tạo sự đoàn kết, rèn luyện khả năng làm việc nhóm, giao tiếp và hợp tác với
bạn bè thông qua các trò chơi.
- Hỗ trợ đồng nghiệp có thêm tài liệu tham khảo, giúp họ tổ chức các hoạt
động giảng dạy GDTC hiệu quả hơn.
- Đóng góp vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng dạy và học, tạo động
lực để học sinh rèn luyện thể dục thể thao, hướng tới một thế hệ học sinh khỏe
mạnh, năng động.
1.3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Thời gian: Từ tháng 9/2024 đến tháng 2/2025.
1.3.2. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối lớp 3.
1.3.3. Phạm vi nghiên cứu: Trường Tiểu học.
2. Thực trạng của vấn đề
2.1. Thuận lợi
3
- Ban lãnh đạo nhà trường, các cấp lãnh ngành và địa phương rất quan tâm đến
học sinh, có sự quan tâm chỉ đạo về chuyên môn và đầu tư một số trang thiết bị để học
tập môn GDTC. Đội ngũ giáo viên nhà trường tương đối trẻ, yêu nghề mến trẻ, có nhiệt
huyết, tinh thần cầu thị, luôn hết lòng vì học sinh thân yêu.
- Môn GDTC được thiết kế và phát triển giảm thời lượng tập luyện, tăng
hoạt động vui chơi và kỹ năng của học sinh vì vậy bộ môn có nhiều điều chỉnh về
nội dung chương trình và cấu hình.
- Giáo viên đều được hướng dẫn về cách thiết kế bài thi theo phương pháp
mới, phân tích hoạt động một cách cụ thể, rõ ràng, kèm theo chỉ mẫu.
2.2. Khó khăn
- Nhà trường chưa có nhà đa năng để cho học sinh luyện tập. Còn thiếu thiết
bị vận động: Dây nhảy, bóng, cọc tiêu, cờ ….
- Một số học sinh còn xem nhẹ bộ môn và chưa có thói quen rèn luyện thể dục
thể thao hàng ngày dẫn đến dễ mệt mỏi khi vận động. Các em dành nhiều thời gian
cho các thiết bị điện tử như điện thoại, máy tính… dẫn đến tình trạng lười vận động
và gia tăng nguy cơ thừa cân, béo phì. Trong một số tiết học GDTC học sinh còn
thiếu sự hứng thú, chỉ tham gia với tâm lý bắt buộc, chưa thực sự chủ động và say
mê với môn học.
- Phụ huynh còn xem nhẹ và chưa nắm rõ được tầm quan trọng của môn học,
nên ít tạo điều kiện cho các em rèn luyện thể chất điều đó ảnh hưởng đến thể lực, thể
hình của các em. Đa số phụ huynh, học sinh còn coi môn GDTC là môn phụ, nên chưa
đầu tư khuyến khích con luyện tập rèn luyện thể chất.
2.3. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trong năm học vừa qua, tôi được Ban Giám hiệu nhà trường phân công
giảng dạy môn GDTC khối lớp 3. Qua thực tế, Tôi nhận thấy rằng tình hình học
sinh tham gia học môn chưa có tính tự giác cao, Các em còn kháng cự trong hoạt
động, thường trốn tránh hoặc tập luyện mang tính chất chống đối. Mặt khác, qua
4
quá trình giảng dạy tôi nhận thấy trò chơi trong các hoạt động học tập lặp đi lặp lại
một cách đơn điệu, từ cách chơi, luật chơi đến hình phạt. Với vai trò là giáo viên
phụ trách môn học, tôi luôn trăn trở suy nghĩ nên dùng phương pháp nào để đạt
hiệu quả cao nhất, phù hợp nhất? Phải thay đổi những trò chơi gì? Hay chơi như
nào? Chơi trò chơi gì cho phù hợp với bài học? Để tạo nên một tiết học vui vẻ ấn
tượng? Muốn vậy, người giáo viên phải kiên trì, chịu khó tìm tòi tham khảo các tài
liệu. Giáo viên dùng hình ảnh hoặc câu chuyện sinh động hấp dẫn thông qua trò
chơi vận động giúp học sinh yêu thích và hứng thú với môn GDTC.
Trong những tuần đầu của năm học 2024 - 2025, tôi vừa giảng dạy vừa tìm
hiểu đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Tôi nhận thấy học sinh lớp 3 là độ tuổi hiếu
động, thích khám phá và học hỏi thông qua các hoạt động vui chơi. Vì vậy, nếu biết
cách lồng ghép trò chơi vào tiết học GDTC giáo viên có thể giúp học sinh học tập
một cách tự nhiên, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn.
Qua thực trạng trên, Tôi đã thực hiện khảo sát mức độ yêu thích của học sinh
đối với bộ môn GDTC nhằm tạo hứng thú học tập môn Giáo dục thể chất thông qua
việc sử dụng trò chơi cho học sinh lớp 3.
* Kết quả của thực trạng
Để nghiên cứu, tôi đã khảo sát 2 lớp 3A và 3B. Trong đó lớp 3A (nhóm đối
chứng) được học theo phân phối chương trình và lớp 3B (nhóm thực nghiệm) học
theo phương pháp tôi thực nghiệm.
Kết quả cụ thể đạt được như sau:
Bảng 1: Kết quả khảo sát sự yêu thích của học sinh đối với bộ môn GDTC
trước khi áp dụng sáng kiến.
Kết quả thu được
Lớp 3A nhóm đối chứng
(30 HS)
Lớp 3B nhóm thực nghiệm
(30 HS)
5
HS yêu thích
HS không
yêu thích
HS yêu thích
HS không
yêu thích
SL
Tỷ lệ%
SL
Tỷ lệ%
SL
Tỷ lệ%
SL
Tỷ lệ%
19
63,3
11
36,7
16
53,3
14
46,7
Qua bảng khảo sát tôi thấy 3A (Nhóm đối chứng) chỉ đạt được 63,3% HS
yêu thích môn học và 36,7% HS không yêu thích. Lớp 3B (Nhóm thực nghiệm) chỉ
đạt được 53,3% học sinh yêu thích môn học, còn lại 46,7% số học sinh không yêu
thích môn học, một tỷ lệ quá cao.
* Nguyên nhân của thực trạng
- Phương pháp giảng dạy chưa hấp dẫn: Giáo án của giáo viên còn thiếu
sự sáng tạo. Nhiều bài học GDTC vẫn mang tính chất dập khuôn, tập trung vào
rèn luyện động tác kỹ thuật mà thiếu yếu tố vui chơi, sáng tạo. Nếu chỉ lặp đi
lặp lại một số bài tập đơn giản mà không có sự đổi mới, học sinh dễ cảm thấy
nhàm chán.
- Không phải học sinh nào cũng có khả năng vận động tốt, nhưng nếu bài
học không điều chỉnh phù hợp, chỉ đánh giá theo tiêu chí thể lực mà không quan tâm
đến nỗ lực cá nhân, học sinh yếu hơn sẽ cảm thấy môn học này không dành cho
mình, sẽ dễ nản lòng.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy và huấn luyện, Tôi luôn trăn trở về cách
khơi dậy thú vị trong môn học, giúp học sinh không chỉ luyện rèn sức khỏe mà còn
phát triển tri thức, sản phẩm chất đạo đức và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Vì vậy, tôi đã đề xuất một số giải pháp thông qua việc lồng ghép trò chơi vào bài
học cho học sinh lớp 3, nỗ lực nâng cao chất lượng dạy và học.
3. Giải pháp thực hiện và giải quyết vấn đề
Để nâng cao hiệu quả trong dạy GDTC tôi áp dụng các trò chơi trong các tiết
học. Phương pháp này mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích. Các trò chơi không
6
chỉ hỗ trợ cho quá trình rèn luyện, mà còn khơi dậy sự thú vị, say mê, kích thích tư
duy sáng tạo và tinh thần chủ động trong giờ học và lưu giữ những nét văn hóa của
dân tộc. Hơn hết, nó góp phần thu hẹp khoảng cách giữa giáo viên và học sinh, giúp
tiết học trở nên sôi động hơn, đồng thời tạo hứng thú cho cả người dạy và người học.
Vì vậy, tôi đã đề xuất các giải pháp sau:
3.1. Thiết kế trò chơi sáng tạo, hiệu quả
Lựa chọn thiết kế trò chơi phù hợp là yếu tố quan trọng nhất để tạo hứng thú
và nâng cao hiệu quả giờ học GDTC. Để chọn được trò chơi phù hợp, giáo viên cần
xem xét nhiều yếu tố như mục tiêu bài học, đặc điểm tâm lý - thể chất của học sinh,
tính an toàn, không gian và dụng cụ hỗ trợ.
Việc lựa chọn trò chơi phù hợp căn cứ vào các yếu tố sau:
3.1.1. Dựa trên mục tiêu bài học
Mỗi bài học GDTC đều có những kỹ năng và kiến thức nhất định mà học
sinh cần đạt được. Vì vậy, trò chơi được chọn phải hỗ trợ rèn luyện các kỹ năng
này một cách tự nhiên và hiệu quả.
Ví dụ:
+ Bài học về chạy nhanh → Chọn trò chơi có yếu tố tốc độ, như “Chạy tiếp
sức”, “Chạy vượt chướng ngại vật”.
+ Bài học về bật xa, bật cao → Chọn trò chơi có động tác nhảy như “Nhảy
ếch”, “Nhảy qua suối”.
+ Bài học về ném, chuyền bóng → Chọn trò chơi rèn khả năng phối hợp như
“Chuyền bóng nhanh”, “Ném bóng vào rổ”.
+ Bài học rèn luyện sức bền → Chọn trò chơi có yếu tố vận động liên tục như
“Mèo đuổi chuột”, “Cướp cờ”.
Nguyên tắc chọn trò chơi phải giúp học sinh rèn luyện đúng kỹ năng bài học
mà không tạo cảm giác gượng ép, nhàm chán.
3.1.2. Dựa trên đặc điểm tâm lý và thể chất của học sinh lớp 3
7
Học sinh lớp 3 (8-9 tuổi) có những đặc điểm riêng về thể chất và tâm lý mà
giáo viên cần cân nhắc khi chọn trò chơi.
* Đặc điểm tâm lý:
- Thích hoạt động vui vẻ, có yếu tố thi đấu nhẹ nhàng.
- Dễ mất tập trung nếu trò chơi quá dài hoặc phức tạp.
- Yêu thích các trò chơi có yếu tố kể chuyện, nhập vai.
* Đặc điểm thể chất:
- Cơ thể đang phát triển, khả năng vận động chưa hoàn thiện, dễ mệt nếu vận
động liên tục trong thời gian dài.
- Có sự khác biệt về thể chất giữa các em, một số em nhanh nhẹn hơn, một số
em còn chậm chạp.
* Lưu ý khi chọn trò chơi:
- Chọn trò chơi có luật đơn giản, dễ hiểu, thời gian chơi ngắn (3-5 phút/lượt)
để phù hợp với mức độ tập trung của học sinh.
- Nên có trò chơi kết hợp của vận động nhanh và vận động nhẹ để học sinh
không bị quá tải.
- Đảm bảo tất cả học sinh đều được tham gia, tránh trò chơi chỉ phù hợp với
những em nhanh nhẹn, khiến các em chậm hơn bị bỏ rơi, dễ sinh ra chán nản, không
muốn tham gia các hoạt động tiếp theo.
3.1.3. Đảm bảo tính an toàn khi chơi
An toàn là yếu tố bắt buộc khi lựa chọn trò chơi GDTC, vì trẻ lớp 3 chưa có
khả năng kiểm soát cơ thể tốt và dễ bị té ngã.
* Các lưu ý về an toàn:
- Không chọn trò chơi có nguy cơ va chạm mạnh, té ngã nguy hiểm.
- Tránh các trò chơi yêu cầu dùng lực quá mạnh hoặc có thể gây chấn thương
(ví dụ: kéo co với lực quá lớn).
8
- Không chọn trò chơi đòi hỏi kỹ thuật cao mà học sinh chưa thành thạo.
- Kiểm tra sân bãi trước khi chơi để tránh vật cản nguy hiểm.
- Không nên tổ chức trò chơi sau:
+ Rượt bắt trên nền sân cứng, trơn trượt → dễ té ngã.
+ Trò chơi yêu cầu nhảy từ độ cao lớn → nguy cơ chấn thương.
+ Trò chơi dùng vật nặng để ném → có thể gây nguy hiểm.
Đặc biệt, giáo viên cần thử nghiệm trước và hướng dẫn kỹ lưỡng để đảm bảo
trò chơi an toàn.
3.1.4. Dựa trên điều kiện sân bãi và dụng cụ có sẵn
Không gian và trang thiết bị của trường sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn trò
chơi. Giáo viên cần lựa chọn trò chơi phù hợp với điều kiện thực tế để đảm bảo việc
tổ chức diễn ra thuận lợi.
- Nếu sân bãi rộng, thoáng: Có thể tổ chức trò chơi vận động mạnh, cần nhiều
không gian như “Cướp cờ”, “Chạy tiếp sức”, “Bịt mắt bắt dê”...
- Nếu sân nhỏ hoặc tổ chức trong lớp học: Chọn trò chơi nhẹ nhàng, ít di
chuyển như “Truyền bóng nhanh”, “Simon says”, “Đứng ngồi theo hiệu lệnh”...
- Nếu không có nhiều dụng cụ: Sử dụng dụng cụ tự chế (tất, cát để làm bóng,
giấy làm vòng, vạch phấn làm vạch đích…)
Giáo viên cần linh hoạt điều chỉnh trò chơi dựa trên điều kiện thực tế, tránh
chọn trò chơi quá phụ thuộc vào dụng cụ khó kiếm.
3.1.5. Đảm bảo trò chơi có tính hấp dẫn, kích thích hứng thú của học sinh
- Trò chơi cần có yếu tố cạnh tranh nhẹ nhàng để tạo động lực nhưng không
gây áp lực.
- Có thể lồng ghép câu chuyện, nhân vật, tình huống vui nhộn để học sinh
thích thú hơn.
9
- Đổi mới cách tổ chức để tránh sự nhàm chán (ví dụ: Cùng một trò chơi nhưng
có thể thay đổi cách tính điểm, đổi cách chia nhóm...).
Ví dụ:
+ Thay vì “Chạy tiếp sức” thông thường, có thể đổi thành “Chạy thu thập báu
vật” để tạo cảm giác phiêu lưu cho học sinh.
+ Thay vì “Nhảy lò cò”, có thể đổi thành “Nhảy qua sông” với cọc tiêu tượng
trưng cho đá giữa sông.
Giáo viên càng thiết kế những trò chơi càng sáng tạo, càng thú vị, học sinh sẽ
càng yêu thích với môn học.
3.2. Lồng ghép trò chơi vào bài học một cách hợp lý
3.2.1. Trò chơi khởi động: Giúp học sinh chuẩn bị tinh thần và thể lực trước khi
vào bài học chính.
Dưới đây là một số trò chơi khởi động đơn giản, vui nhộn giúp học sinh lớp
3 hứng thú trước khi bắt đầu bài học môn Giáo dục thể chất:
* Trò chơi : “Gió thổi”
Hình ảnh minh họa
Cách chơi:
Giáo viên đứng giữa lớp và hô: “Gió thổi, gió thổi...”
Học sinh hỏi: “Thổi gì hoặc thổi về đâu?”
Giáo viên đáp: “Thổi về những bạn mặc áo màu xanh” (hoặc bất kỳ tiêu chí
nào như tóc dài, mang giày đỏ, sinh tháng 5…).
10
Những học sinh có đặc điểm phù hợp phải nhanh chóng chạy về vị trí đã được
giáo viên chỉ định từ trước.
Lợi ích: Giúp học sinh nhanh nhẹn, phản xạ tốt và tạo không khí vui vẻ.
* Trò chơi: “Đua thuyền”
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Chia lớp thành 3-4 đội, mỗi đội đứng xếp thành hàng dọc. Ngay
sau khi có hiệu lệnh, học sinh sẽ ngồi xuống, đặt hai tay lên vai bạn phía trước và
cùng nhau “Chèo thuyền” bằng cách lắc người sang hai bên theo nhịp giáo viên hô.
Đội nào phối hợp nhịp nhàng và về đích trước là đội thắng.
Lợi ích: Hỗ trợ rèn luyện kỹ năng khéo léo, nhanh nhẹn và tạo tinh thần đồng
đội.
* Trò chơi: “Kéo co ngược”
11
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Học sinh xếp thành hai hàng đối diện nhau, nắm tay nhau tạo
thành một sợi dây. Khi giáo viên hô “Kéo!”, hai đội cùng lùi về phía sau thay vì
kéo về phía trước như kéo co thông thường. Đội nào lùi về đích trước mà không bị
đứt hàng là đội thắng.
Lợi ích: Giúp khởi động cơ thể, rèn luyện sức bền và tạo sự hào hứng.
* Trò chơi: “Đi theo tín hiệu đèn giao thông” hoặc “Đèn đỏ – Đèn xanh”
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Giáo viên đóng vai cảnh sát giao thông và đứng ở đầu sân. Chia
nhóm 10 học sinh chơi 1 lần, đứng thành một hàng ngang ở vạch xuất phát. Khi giáo
viên hô “Đèn xanh”, học sinh chạy về phía trước. Khi giáo viên hô “Đèn đỏ”, học
sinh phải đứng yên tại chỗ. Ai còn di chuyển khi có lệnh “Đèn đỏ” sẽ phải quay lại
vạch xuất phát. Ai về đích đầu tiên sẽ thắng.
Lợi ích: Giúp học sinh phản xạ nhanh, tập trung cao độ.
* Trò chơi: “Chuyển bóng tiếp sức”
12
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Chia lớp thành 3-4 đội, xếp thành hàng dọc. Mỗi đội có một quả
bóng. Khi có hiệu lệnh, người đầu tiên chuyển bóng qua đầu cho người phía sau.
Người nhận bóng không được quay lại mà phải chuyền tiếp theo cách tương tự.
Người cuối cùng cầm bóng chạy lên đầu hàng và bắt đầu lại. Đội nào hoàn thành
sớm nhất sẽ thắng.
Lợi ích: Rèn luyện sự khéo léo, nhanh nhẹn và tinh thần đồng đội.
* Trò chơi: “Bắt chước động vật”
13
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Giáo viên hô tên một con vật, học sinh phải bắt chước cách di
chuyển của con vật đó.
Ví dụ:
“Thỏ” → Nhảy lò cò bằng hai chân.
“Cua” → Đi ngang bằng tay và chân.
“Chim” → Vẫy tay như đang bay.
Giáo viên có thể làm mẫu hoặc sáng tạo thêm cách di chuyển vui nhộn.
Lợi ích: Giúp học sinh vận động toàn thân, tạo không khí vui vẻ.
3.2.2. Trò chơi trong giờ học: Hỗ trợ rèn luyện kỹ năng vận động và tạo sự hấp
dẫn.
Dưới đây là một số trò chơi vận động phù hợp để lồng ghép vào giờ học Giáo
dục thể chất giúp học sinh lớp 3 rèn luyện kỹ năng vận động và tạo sự hứng thú:
14
* Trò chơi: “Bịt mắt bắt dê” (Dành cho bài học về phản xạ, nhanh nhẹn)
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Một học sinh được bịt mắt đứng giữa vòng tròn. Các bạn còn lại di
chuyển nhẹ nhàng xung quanh và có thể vỗ tay, phát ra âm thanh để đánh lạc hướng.
Khi giáo viên hô “Bắt dê!”, học sinh bịt mắt sẽ cố gắng bắt một bạn bất kỳ. Khi bắt
được, học sinh đó phải đoán đúng tên bạn mình mới được đổi vai.
Lợi ích: Phát triển phản xạ nhanh, rèn luyện sự tập trung.
* Trò chơi: “Chạy tiếp sức” (Dành cho bài học chạy nhanh, phối hợp
nhóm)
Hình ảnh minh họa
15
Cách chơi: Chia lớp thành 3-4 đội, mỗi đội xếp thành hàng dọc. Khi có hiệu
lệnh, người đầu tiên chạy nhanh đến vạch mốc, sau đó quay lại và trao gậy (hoặc
chạm tay) cho bạn tiếp theo. Đội nào hoàn thành trước sẽ thắng.
Lợi ích: Rèn luyện tốc độ, sự phối hợp và tinh thần đồng đội.
* Trò chơi: “Nhảy bao bố” (Dành cho bài học về sức bền, sự khéo léo)
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Chia lớp thành các đội (5-7 bạn/đội), mỗi đội có 1 bao bố. Khi
có hiệu lệnh, học sinh đầu tiên nhảy trong bao từ vạch xuất phát đến vạch đích,
rồi quay lại trao bao cho bạn tiếp theo. Đội nào hoàn thành trước sẽ chiến thắng.
Lợi ích: Tăng cường sức bật, rèn luyện sự khéo léo và kiên trì.
* Trò chơi: “Kéo co” (Dành cho bài học về sức mạnh, đoàn kết nhóm)
Hình ảnh minh họa
16
Cách chơi: Chia lớp thành hai đội có số lượng bằng nhau. Mỗi đội nắm chặt
một đầu dây thừng và kéo về phía mình. Đội nào kéo được đối phương qua vạch quy
định trước sẽ thắng.
Lợi ích: Phát triển sức mạnh, tinh thần đồng đội và khả năng chịu đựng.
* Trò chơi: “Bóng chuyền hơi” (Dành cho bài học về sự khéo léo, phối hợp
tay mắt)
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội, dùng lưới hoặc dây làm vạch ngăn cách. Các
đội chuyền bóng hơi qua lưới bằng cách đánh hoặc đẩy bóng sao cho đối phương
không đỡ được. Đội nào làm rơi bóng nhiều lần hơn sẽ thua.
Lợi ích: Rèn luyện phản xạ nhanh, khả năng phối hợp nhóm.
* Trò chơi: “Bật xa lấy cờ” (Dành cho bài học về bật xa, sức bật chân)
Hình ảnh minh họa
17
Cách chơi: Giáo viên đặt các lá cờ hoặc vật nhỏ ở vạch xa. Học sinh đứng ở
vạch xuất phát, khi có hiệu lệnh, từng em bật xa về phía trước để lấy cờ. Ai lấy được
cờ trước sẽ thắng.
Lợi ích: Tăng cường sức bật, rèn luyện đôi chân.
3.2.3. Trò chơi thư giãn cuối giờ: Giúp học sinh thoải mái, vui vẻ và củng cố bài
học.
* Trò chơi: “Rồng rắn lên mây” (Phát triển sự nhanh nhẹn, linh hoạt)
Hình ảnh minh họa
Cách chơi: Một học sinh đóng vai “ông chủ” đứng một chỗ. Các học sinh
khác xếp hàng nối đuôi nhau, đặt tay lên vai bạn phía trước và hát:“Rồng rắn lên
mây, có cây lúc lắc…”. Khi bài hát kết thúc, “Ông chủ” sẽ đuổi theo để bắt người
cuối cùng trong hàng. Nếu bị bắt, người đó sẽ vào vai “Ông chủ” và trò chơi tiếp
tục.
Lợi ích: Giúp học sinh vận động linh hoạt, rèn phản xạ nhanh.
* Trò chơi: “Thỏ nhảy vườn cà rốt” (Luyện sức bật và phản xạ nhanh)
Cách chơi: Giáo viên đặt các vòng tròn (hoặc vạch đánh dấu) trên sân tượng
trưng cho hố cà rốt. Học sinh đóng vai những chú thỏ đứng cách vạch một khoảng
nhất định. Khi giáo viên hô “Thỏ nhảy!”, học sinh sẽ nhảy bật xa đến hố cà rốt. Ai
bật xa nhất hoặc nhảy chính xác vào hố sẽ thắng.
18
Lợi ích: Giúp tăng cường sức bật, phát triển sự khéo léo.
* Trò chơi: “Con số bí mật” (Kết hợp vận động và tư duy nhanh)
Cách chơi: Giáo viên chuẩn bị sẵn các tấm thẻ ghi số (1-10) và đặt trên sân.
Khi có hiệu lệnh, học sinh chạy quanh sân, khi giáo viên hô một số bất kỳ, các em
phải nhanh chóng tìm và chạm vào thẻ số đó. Ai chạm đúng số trước sẽ được điểm
thưởng.
Lợi ích: Rèn phản xạ nhanh, kết hợp vận động và tư duy.
* Trò chơi: “Đếm sao” (Giúp thư giãn, điều hòa nhịp thở)
Cách chơi: Học sinh ngồi hoặc nằm thoải mái trên sàn. Giáo viên yêu cầu
nhắm mắt, hít vào chậm và đếm trong đầu từ 1-5, sau đó thở ra chậm rãi. Có thể kết
hợp với âm nhạc nhẹ nhàng để tạo cảm giác thư giãn. Ai giữ được hơi thở đều nhất
sẽ được khen.
Lợi ích: Giúp học sinh điều hòa nhịp thở, giảm mệt mỏi sau vận động.
* Trò chơi: “Đàn chim bay” (Vận động nhẹ, kết hợp trí tưởng tượng)
Cách chơi: Giáo viên hô: “Chim bay, chim bay…” và làm động tác vỗ tay
như chim bay. Học sinh bắt chước theo. Nhưng nếu giáo viên hô “Chim bay” mà
làm động tác khác (Ví dụ: Vỗ tay lên đầu), ai làm theo sẽ bị loại.
Trò chơi tiếp tục đến khi tìm ra người cuối cùng làm đúng.
Lợi ích: Giúp học sinh tập trung, rèn phản xạ và vui chơi nhẹ nhàng.
* Trò chơi: “Truyền tin” (Rèn trí nhớ và kết nối lớp học)
Cách chơi: Chia lớp thành 3-4 nhóm ngồi thành hàng dọc. Giáo viên thì thầm
một câu ngắn vào tai bạn đầu tiên trong hàng. Bạn đó truyền lại câu nói cho bạn tiếp
theo. Câu nói tiếp tục được truyền đến bạn cuối cùng, người này sẽ nói to lại. Nhóm
nào truyền tin chính xác nhất sẽ thắng.
Lợi ích: Rèn trí nhớ, tạo không khí thư giãn vui vẻ.
19
* Trò chơi: “Vịt đẻ trứng” (Vận động nhẹ, tạo tiếng cười vui vẻ)
Cách chơi: Học sinh đứng thành vòng tròn, mỗi em cầm một quả bóng nhỏ
tượng trưng cho “Trứng”. Khi có hiệu lệnh, các em kẹp bóng giữa hai đầu gối và
nhảy đến vạch đích để “Đẻ trứng” (Thả bóng vào rổ). Ai làm rơi bóng giữa chừng
sẽ quay lại làm lại từ đầu. Ai đẻ trứng nhanh nhất sẽ thắng.
Lợi ích: Giúp học sinh thư giãn, rèn sự khéo léo và cân bằng cơ thể.
* Trò chơi: “Làm theo nhạc” (Tác dụng: Thư giãn, phối hợp vận động
theo giai điệu)
Cách chơi: Giáo viên bật một đoạn nhạc vui nhộn. Học sinh phải nhảy, vỗ tay
hoặc lắc lư theo nhịp nhạc. Khi nhạc dừng, tất cả phải đứng im tại chỗ. Ai còn di
chuyển sau khi nhạc dừng sẽ bị loại.
Lợi ích: Giúp học sinh thư giãn cơ thể, tạo niềm vui sau giờ học.
* Trò chơi: “Sói và cừu” (Thư giãn, vận động nhẹ nhàng)
Cách chơi: Một bạn đóng vai “Sói”, các bạn còn lại là “Cừu” đứng thành
vòng tròn. Khi giáo viên hô “Sói ngủ!”, sói phải nhắm mắt và cừu chạy nhẹ nhàng
trong vòng tròn. Khi hô “Sói dậy!”, sói sẽ mở mắt và đuổi bắt một bạn cừu. Ai bị
bắt sẽ làm sói trong lượt tiếp theo.
Lợi ích: Giúp học sinh vận động nhẹ nhàng, tạo không khí hào hứng.
3.3. Tạo không khí vui vẻ, gây hứng thú cho học sinh khi học môn Giáo dục thể
chất
Việc tạo không khí vui vẻ, sôi động khi giảng dạy môn Giáo dục thể chất là
rất quan trọng. Thực tế cho thấy, khi tham gia các hoạt động thể chất có bầu không
khí tích cực, giúp học sinh phấn chấn, có xu hướng tích cực, khuyến khích sự sáng
tạo và chủ động, giảm căng thẳng, nâng cao thể lực và tinh thần Một tiết học vui
nhộn, có không khí vui vẻ sẽ tạo hứng khởi cho học sinh, giúp học sinh cảm thấy
tiết học nhẹ nhàng, không nhàm chán, không cảm thấy áp lực khi thực hiện các bài
tập.
20
Để tạo không khí sôi động, gây hứng thú cho học sinh tôi sử dụng các biện
pháp sau:
3.3.1. Sử dụng nhạc nền sôi động khi bắt đầu tập trung học sinh đầu giờ
Tôi nhận thấy, khi xếp hàng ra sân học thể dục, học sinh thường đi rất uể oải,
đi chậm chạp, không thích thú. Thay vì hiệu lệnh thổi còi tập trung, tôi đã sử dụng
nhạc báo hiệu.
Sử dụng loa kéo của nhà trường có sẵn, tôi kết nối với điện thoại thông qua
bluetooth để khởi động nhạc khi bắt đầu.
Một số bản nhạc được tôi sử dụng để tập trung học sinh đầu giờ:
+ “Tập thể dục buổi sáng” –
+ “Việt Nam Ơi”
+ “Bống bống bang bang” ...
Đây đều là những nhạc Việt Nam dễ nhớ, dễ tạo sự quen thuộc, để cho các em
hình thành thói quen khi nhạc bắt đầu là các em sẽ di chuyển nhanh về vị trí tập trung
của lớp mình.
3.3.2. Tổ chức thi đua, khen thưởng để tạo động lực học tập
Thi đua và khen thưởng là những phương pháp hiệu quả giúp học sinh yêu
thích hơn với môn Giáo dục thể chất. Khi được công nhận và khen thưởng, học sinh
có động lực rèn luyện tốt hơn, phát triển tinh thần thể thao và đoàn kết.
* Nguyên tắc tổ chức thi đua, khen thưởng
- Công bằng, minh bạch: Tiêu chí đánh giá rõ ràng, phù hợp với từng nhóm
học sinh.
- Đa dạng hình thức thi đua: Thi cá nhân, theo nhóm, lớp để khuyến khích
nhiều đối tượng tham gia.
- Khen thưởng kịp thời: Động viên ngay khi học sinh đạt thành tích để tăng
hiệu ứng tích cực.
...
 









Các ý kiến mới nhất