Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

LỊCH SỬ VIỆT NAM TẬP 10

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:45' 27-02-2024
Dung lượng: 14.3 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
VIỆN H À N LÂM KH OA H Ọ C XÃ H Ộ I VIỆT NAM

VIỆN SỬ HỌC
ĐINH THỊ THU

cúc

(Chú biên)

LỊCH Sử
VIỆT NAM
TẬP 10

TỪ N Ă M 1945 ĐẾN N Ă M 1950

Biên mục trẾn xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Đinh Thị Thu Cúc
Lịch sử Việt Nam / B.S.: Đinh Thị Thu Cúc (ch.b.), Đỗ Thị
Nguyệt Quang, Đinh Quang Hải. - Tái bản. - H. : Khoa học xã hội. 24cm
ĐTTS ghi: Viộn Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Viện Sử học
T.10: Từ năm 1945 đến năm 1950. - 2017. - 628tr. : minh hoạ
1. Lịch sử 2. 1945-1950 3. Việt Nam
959.7041 - dc23
KXM0036p-CIP' '

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN SỬ HỌC
ĐINH THỊ THU c ú c (Chủ biên )
ĐỖ THỊ NGUYỆT QUANG - ĐINH QUANG HẲI

LICH SỬ VIÊT NAM
•

•

TẢP10
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1950
(Tái bản lần th ứ nhất có bổ sung, sửa chữa)

NHÀ XU ÁT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ N Ộ I-2017

LỊCH SỬ VIỆT NAM
TẬP 10
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1950
PGS.TS.NCVCC. ĐINH THỊ THU
(Chủ biên)

cú c

Nhóm biên soạn:
1. PGS.TS.NCVCC. Đinh Th| Thu Cúc:

Chương I, II

2. TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang:

Chương III, IV

3. PGS.TS.NCVC. Trương Thị Yốn:

Chương V, VI

Bộ sách Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập được hoàn thành trên cơ
sở Chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ (Viện Khoa học xã
hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), do
Viện Sử học là cơ quan chủ trì, PGS.TS.NCVCC. Trần Đức Cường
làm Chủ nhiệm và Tổng Chủ biên, cùng với tập thể các Giáo sư
(GS), Phó Giáo sư (PGS), Tiến sỹ (TS), Thạc sỹ (ThS), Nghiên cứu
viên cao cấp (NCVCC), Nghiên cứu viên chính (NCVC) và Nghiên
cứu viên (NCV) của Viện Sử học thực hiện.

B ộ SÁCH LỊCH SỬ VIỆT NAM

TẬP 1: TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ X
- PGS.TS.N CVC. Vũ Duy Mền (Chủ biên)
- TS.NCVC. Nguyễn Hữu Tâm
- PG S.TS.N CVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- TS.NCVC. Trương Thị Yến
TẬP 2: T ừ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIV
- PGS.TS.N CVCC. Trần Thị Vinh (Chủ biên)
- PGS.TS.N CVC. Hà Mạnh Khoa
- PGS.TS.N CVC. Nguyễn Thị Phương Chi
- TS.NCVC. Đổ Đức Hùng
TẬP 3: T ừ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XVI
- PGS.TS.N CVC. Tạ Ngọc Liễn (Chủ biên)
- PGS.TS.N CVC. Nguyễn Thị Phương Chi
- PGS.TS.N CVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- PGS.TS.N CVC. Nguyễn Minh Tường
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền

5

TẬP 4: TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN THẾ KỶ XVIII
- PG S.TS.N CVCC. Trần Thị Vinh (Chủ biên)

- TS.NCVC. Đỗ Đức Hùng
- TS.N CVC. Trưomg Thị Yến
- PG S.TS.N CVC. Nguyễn Thị Phương Chi
TẬP 5: T ừ NẢM 1802 ĐẾN NẢM 1858
- TS.N CVC. Trương Thị Yén (Chủ biên)

- PG S.TS.N CVC. Vũ Duy Mèn
- PG S.TS.N CVC. Nguyẽn Đức Nhuệ
- NCV. Phạm Ái Phương
- TS.NCVC. Nguyễn Hữu Tâm
TẬP 6: TỪ NẰM 1858 ĐẾN NẰM 1896
- PG S.TS.N CVCC. Võ Kim Cương (Chủ biên)
- PG S.TS.N CVC. Hà Mạnh Khoa
- T S . Nguyễn Mạnh Dũng
- ThS.NCV. Lê Thị Thu Hằng
TẬP 7: TỪ NĂM 1897 ĐẾN NẪM 1918
- PG S.TS.N CVCC. Tạ Thị Thúy (Chủ biên)
- NCV. Phạm Như Thơm
- TS.N CVC. Nguyễn Lan Dung
- ThS.NCV. Đỗ Xuân Trường
TẬP 8: TỪ NẢM 1919 ĐÉN NĂM 1930
- PG S.TS.N CVCC. Tạ Thị Thúy (Chủ biên)

■PGS.NCVCC. Ngô Văn Hòa
- PGS.N CVCC. Vũ Huy Phúc
TẬP 9: T ừ NẢM 1930 ĐÉN NĂM 1945
- PG S.TS.N CVCC. Tạ Thị Thúy (Chủ biên)
- PG S.TS.N CVCC. Nguyễn Ngọc Mão
- PG S.TS.N CVCC. Võ Kim Cương

6

TẬP 10: T ừ NĂM 1945 ĐÉN NĂM 1950
- PG S.TS.N CVCC. Đinh Thị Thu Cúc (Chủ biên)

- TS.N CV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PG S.TS.N CVCC. Đinh Quang Hải
TẬP 11: T ừ NĂM 1951 ĐẾN NẢM 1954
- PG S.TS.N CVCC. Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PG S.TS.N CVCC. Đinh Quang Hải
TẬP 12: T ừ NẢM 1954 ĐẾN NẢM 1965
- PG S.TS.N CVCC. Trần Đức Cường (Chủ biên)
- NCV. Nguyễn Hữu Đạo
- TS.N CVC. Lưu Thị Tuyết Vân
TẬP 13: T ừ NĂM 1965 ĐẾN NẢM 1975
- PG S.TS.N CVCC. Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PG S.TS.N CVCC. Đinh Quang Hải
TẬP 14: T Ừ NẢM 1075 Đ ÉN NẢM 1986

- PG S.TS.N CVCC. Trần Đức Cường (Chủ biên)

- TS.NCVC. Lưu Thị Tuyết Vân
- PG S.TS.N CVCC. Đinh Thị Thu Cúc
TẬP 15: TỪ NĂM 1986 ĐÉN NẰM 2000
- PG S.TS.N CVCC. Nguyễn Ngọc Mão (Chủ biên)
- PG S.TS.N CVC. Lê Trung Dũng
- TS.N CVC. Nguyễn Thị Hồng Vân

7

LỜI GIỚI THIỆU
CHO LẦN TÁI BẢN THỨ NHẤT

Việt Nam là một quốc gia có truyền thống lịch sử và văn hóa từ
lâu đời. Việc hiểu biết và nắm vững về lịch sử văn hóa của dân tộc
vừa là nhu cầu, vừa là đòi hỏi bức thiết đối với mỗi người Việt
Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay đất nước đang trong quá trình
Đổi mói, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hỏa và hội
nhập quốc tế. Đe đáp ứng được những đòi hỏi đó, từ trước đến nay
đã có nhiều cơ quan, tổ chức và các tác giả ở trong nước và nước
ngoài quan tâm nghiên cứu về lịch sử Việt Nam dưới nhiều khía
cạnh khác nhau. Nhiều công trình lịch sử đã xuất bản và được công
bố rộng rãi, giúp cho nhân dân Việt Nam và bạn bè trên thế giới
hiểu biết về lịch sử, đất nước và con người Việt Nam. Tuy nhiên,
hầu hết các công trình đó đều là những công trình lịch sử vẫn còn
khá giản lược, chưa phản ánh hết được toàn bộ quá trình lịch sử của
dân tộc Việt Nam từ khởi thủy đến ngày nay một cách toàn diện, có
hệ thống; Một số công trình lịch sử khác lại mang tính chất quá
chuyên sâu về từng lĩnh vực, từng thời kỳ, hoặc từng vấn đề lịch sử
cụ thể, nên chưa thu hút được sự quan tâm rộng rãi của mọi đối
tượng trong xã hội. Do đó chưa đáp ứng được sự hiểu biết về lịch sử
và văn hóa dân tộc Việt Nam của quảng đại quần chúng nhân dân.
Hom nữa trong xã hội Việt Nam hiện nay, rất nhiều người dân,
thậm chí có cả học sinh các trường phổ thông cơ sở và phổ thông
trung học, kể cả một số sinh viên của các trường cao đẳng và đại
học không thuộc các trường khối Khoa học xã hội và Nhân văn
có sự hiểu biết rất hạn chế về lịch sử dân tộc. Thực trạng trên đây
do nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân

9

LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 10
khách quan, ừong đó phải kể đến một trong những nguyên nhân
chinh là do chưa có được một bộ Lịch sử Việt Nam hoàn chinh được
trình bày một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống và thật sâu sắc về
đất nước, con người, về truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước,
giữ nước rất đỗi oai hùng và nền văn hóa hết sức phong phú, đặc
sắc của dân tộc Việt Nam từ khởi thủy đến nay.
Để góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển
đất nước, góp phần truyền bá tri thức lịch sử tới các tầng lớp nhân
dân và bạn bẻ trên thế giới mong muốn hiểu biết về lịch sử và văn
hóa Việt Nam, trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của thời kỳ
trước, bổ sung các kết quả nghiên cứu mới gần đây và những tư
liệu mới công bố, tập thể các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà
nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học đã dày công biên soạn bộ sách
Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập.
Bộ sách Lịch sử Việt Nam là bộ Thông sử Việt Nam lớn nhất từ
trước đến nay; là bộ sách cỏ giá trị lớn về học thuật (lý luận), thực
tiễn và xã hội, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập
hiện nay. Bộ sách đã được Viện Sử học phối hợp với Nhà xuất bản
Khoa học xã hội xuất bản trọn bộ 15 tập Lịch sử Việt Nam từ khởi
thủy đến năm 2000 vào năm 2013 - 2014. Trong lần tái bản thứ nhất
này, Viện Sử học đã bổ sung, chỉnh sửa một số điểm và chức danh
khoa học của tác giả cho cập nhật và chính xác hem.
Đây là một công trình lịch sử đồ sộ, nội dung hết sức phong
phú, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa - xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng... nên chắc chắn
khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong tiếp tục nhận
được ý kiến đóng góp của bạn đọc.
Hà Nội, tháng 8 năm 2016

PGS.TS. Đinh Quang Hải
Viện trưởng Viện Sử học

10

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Theo dòng thời gian, Việt Nam đã có một nền sử học truyền thống
với những bộ quốc sử và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn đồ
sộ như: Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử,
Phù biên tạp lục, Gia Định thành thông chí, Lịch triều hiến chương
loại chí, Đại Nam hội điển sự lệ, Khâm định Việt sử thông giám
cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhắt
thống chí,...
Trong thời kỳ cận đại, nền sử học Việt Nam vẫn tiếp tục phát
triển dù đất nước rơi vào ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Để
phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, ừong khoảng thời gian cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sử học được nhiều nhà cách mạng Việt
Nam coi là vũ khí sắc bén nhằm thức tinh lòng yêu nước của nhân
dân và coi việc viết sử là đế cho người dân đọc, từ đó nhận thức đúng
đắn về lịch sử mà thấy rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước,
tiêu biểu như Phan Bội Châu với Trùng Quang tâm sử, Việt Nam
quốc sử khảo; Nguyễn Ái Quốc với Bản án chế độ thực dân Pháp,
Lịch sử nước ta (gồm 210 câu lục bát).
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nền sừ học đương đại Việt Nam
bước sang ữang mới vừa kế thừa và phát huy những giá trị của sử
học truyền thống, đồng thời tiếp thu những yếu tố khoa học và cách
mạng của thời đại mới. Nhiệm vụ của sử học là tìm hiểu và trình
bày một cách khách quan, trung thực quá trình hình thành, phát
triển của lịch sử đất nước, tổng kết những bài học lịch sử về quá
trinh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trên thực tế, sử học đã

11

LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 10
phục vụ đắc lực sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta trong
cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.
Bước vào thời kỳ Đổi mới, sử học đã góp phần vào việc đổi
mới tu duy và xây dựng luận cứ khoa học cho việc xác định con
đường phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Sử học đã phát huy
được vị thế của mình nhằm nhận thức đúng quá khứ, tìm ra quy
luật vận động của lịch sử để hiểu hiện tại và góp phần định hướng
cho tương lai. Đồng thời, sử học, nhất là khoa học nghiên cứu về
lịch sử dân tộc, có vị trí nổi bật trong việc giáo dục chủ nghĩa yêu
nước, lòng tự hào dân tộc và rèn luyện nhân cách cho thế hệ trẻ ...
Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sử học, các nhà sử
học nước ta đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội, các vấn đề dân tộc và tôn giáo, về đặc điểm và vai
trò của trí thức và văn hóa trong lịch sử Việt N am ... Kết quả là đã
có nhiều cuốn sách, nhiều tác phẩm của tập thể tác giả hoặc của cá
nhân các nhà nghiên cứu ra đời. Các công trình được biên soạn
trong thời gian qua đã làm phong phú thêm diện mạo nền sử học
Việt Nam, góp phần vào việc truyền bá tri thức lịch sử tới các tầng
lớp nhân dân.
Để phục vụ tốt hơn sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước,
cần có những công trinh lịch sử hoàn chỉnh hơn về cấu trúc, phạm
vi, tư liệu và có sự đổi mới về phương pháp nghiên cứu, biên soạn,
mang tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện với chất lượng cao hơn,
thể hiện khách quan, trung thực và toàn diện về quá trình dựng
nước và giữ nước của dần tộc Việt Nam. Trước đòi hỏi đó, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội phối hợp với Viện Sử học giới thiệu đến
bạn đọc bộ Lịch sử Việt Nam từ thời tiền sử đến ngày nay. Đây là
kết quả của Chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ (cấp Viện
Khoa học xã hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam) do Viện Sử học chủ trì, PGS.TS. Trần Đức Cường làm
Chủ nhiệm đồng thời là Tổng Chủ biên.

12

Lời Nhà xuất bản
v ề phân kỳ lịch sử và phân chia các tập: Bộ Lịch sử Việt Nam
được kết cấu theo các thời kỳ: Thời kỳ cổ - trung đại (từ thời tiền sử
đến năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam);
Thời kỳ cận đại (thòi kỳ thực dân Pháp xâm lược và biến Việt Nam
thành thuộc địa đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công)
và Thời kỳ hiện đại (cũng có thể gọi là thời kỳ đương đại, kể từ khi
đất nước giành được độc lập và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời cho đến nay). Việc phân chia các tập chủ yếu theo các giai
đoạn lịch sử cụ thể và ứng với các nội dung chính được thể hiện
ừong giai đoạn ấy.
Bộ Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập, như sau:
T ập 1: Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X
T ập 2: Lịch sử Việt Nam từ thể kỷ X đến thế kỷ XIV
T ập 3: Lịch sử Việt Nam từ thế kỳ XV đến thế kỳ XVI
T ập 4: Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thể kỳ XVIII
T ập 5: Lịch sử Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1858
T ập 6: Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1896
T ập 7: Lịch sử Việt Nam từ năm 1897 đến năm 1918
T ập 8: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930
T ập 9: Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945
T ập 10: Lịch sứ Việt Nam từ nám 1945 đến năm 1950
T ập 11: Lịch sử Việt Nam từ năm 1951 đến năm 1954
T ập 12: Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1965
T ập 13: Lịch sử Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975
T ập 14: Lịch sử Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1986
T ập 15: Lịch sử Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000

13

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 10
Hy vọng bộ Lịch sử Việt Nam sẽ cung cấp nhiều thông tin hữu
ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy và truyền bá lịch sử nước nhà.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, do những khó khăn chủ
quan và khách quan, với một khối lượng công việc đồ sộ lại đòi hỏi
chất lượng cao, Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Viện Sử học
trong khả năng có thể đã làm hết sức mình, nhưng công trình khó
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc góp ý để khi có dịp
tái bản, công trình được sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu!
Hà Nội, tháng 9 năm 2013

Nhà xuất bản Khoa học xã hội

14

LỜI MỞ ĐÀU

Sử học là khoa học nghiên cứu về quá trình phát triển của xã
hội loài người nói chung hay của một quốc gia, một dân tộc nói
riêng. Nghiên cứu lịch sử là nhằm tìm hiểu những sự kiện xảy ra
trong quá khứ để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho hiện tại
và tương lai. Nghiên cứu và biên soạn lịch sử, vì vậy, trở thành một
yêu cầu bức thiết của mọi quốc gia, dân tộc. Phạm Công Trứ, nhà
chính trị danh tiếng, nhà sử học sống ở thế kỳ XVII, trong bài Tựa
sách Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên viết: "Vì sao mà làm quốc sử?
Vì sử chù yếu là để ghi chép sự việc. Có chính trị của một đời tất
phải có sử của một đời. Mà ngòi bút chép sử giữ nghị luận rất
nghiêm, ca ngợi đời thịnh trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt
trăng, lên án kẻ loạn tặc thì gay gắt như sương thu lạnh buốt,
người thiện biết có thế bắt chước, người ác biết có thế tự răn, quan
hệ đến việc chính trị không p h ả i là không nhỉcu. Cho nên làm sử là

Cốt để cho được như thế"1.
Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời. Việt Nam cũng là
một dân tộc yêu sử và có rất nhiều người ham thích tìm tòi, nghiên
cứu và biên soạn lịch sử. Đã có nhiều công trình lịch sử được công
bố, không chi do các cơ quan, tổ chức chuyên nghiên cứu biên
soạn, mà còn do cá nhân người yêu sử thực hiện... Điều này vừa có
mặt tích cực, lại có mặt tiêu cực. Tích cực vì sẽ góp phần giúp nhân
dân hiểu thêm về lịch sử nước nhà, nhưng cũng chứa đựng yếu tố
tiêu cực là dễ dẫn tới những hiểu biết phiến diện, sai lầm về lịch
sử... đôi khi đồng nhất truyền thuyết với lịch sử?

1. Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 96.

15

LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 10
Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,
trong gần 60 năm xây dựng và phát triển, đã tổ chức sưu tầm, nghiên
cứu, dịch thuật và công bổ nhiều tư liệu lịch sử; đồng thời tập trung
công sức nghiên cứu những vấn đề cơ bản cùa lịch sử Việt Nam trên
tất cả các phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đổi ngoại... Việc nghiên cứu, làm sáng rõ những vấn đề cơ
bản trong lịch sử Việt Nam nhảm phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, đồng thời chuẩn bị điều kiện cần thiết về nội dung khoa
học tiến tới biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam từ tiền sử đến ngày nay.
Trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, dưới sự chi đạo trực
tiếp của Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, Chủ nhiệm ủ y ban
Khoa học xã hội kiêm Viện trưởng Viện Sử học, Viện Sử học đã tổ
chức biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam gồm ba tập, Tập I xuất bản
năm 1971, Tập II xuất bản lần đầu năm 1985, tái bản có sửa chữa,
bổ sung năm 2004.
Đến thập niên 90, Viện Sử học tổ chức biên soạn và công bố
một số tập Lịch sử Việt Nam, gồm: Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỳ
đến thế kỷ X, Lịch sử Việt Nam thể kỷ X và XV, Lịch sử Việt Nam
1858-1896. Lịch sử Việt Nam 1897-1918. Lịch sử Việt Nam 1954-1965
và Lịch sử Việt Nam 1965-1975.
Kế thừa thành quả nghiên cứu của thời kỳ trước, bổ sung các
kết quả nghiên cứu trên tất cả các lĩnh vực, trong khoảng 10 năm
gần đây, Viện Sử học tổ chức biên soạn và nay cho xuất bản bộ
sách Lịch sử Việt Nam 15 tập trên cơ sở kết quả Chương trình
nghiên cứu cấp Bộ của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, nay là
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Để biên soạn bộ sách này, Viện Sử học xác định Lịch sử
Việt Nam phải được nhận thức là lịch sử của các cộng đồng quốc
gia và tộc người đã từng sinh sống trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam
hiện nay, đỏng góp vào sự phát triển của văn hóa và văn minh Việt
Nam, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

16

Lời mở đầu
Viết về tiến trình lịch sử Việt Nam cần phải có cái nhìn đa tuyến
với điểm xuất phát là sự tồn tại trong thời kỳ cổ đại của ba trung tâm
văn hóa dẫn đến sự hỉnh thành những nhà nước sơ khai: trung tâm văn
hóa Đông Sơn và nước Văn Lang - Âu Lạc ờ miền Bắc, trung tâm văn
hóa Sa Huỳnh và nước Lâm Áp (Champa) ở miền Trung, trung tâm
vãn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam ở miền Nam.
Chính sự hội nhập cùa ba dòng văn hóa ấy, mà dòng chủ lưu
thuộc về văn hóa Đông Sơn và nước Văn Lang - Âu Lạc, đã tạo nền
tảng phong phú, thống nhất trong đa dạng của lịch sử văn hóa Việt
Nam ngày nay.
Trong quá trình biên soạn, những đặc điểm khác của lịch sử
Việt Nam cũng được chú ý đến. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của
một quốc gia đa tộc người, trong đó người Kinh chiếm đa số (hom
86% dân số). Đây cũng là lịch sử của một dân tộc luôn thực hiện
đồng thời hai nhiệm vụ: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì vậy bên
cạnh các trang viết về lịch sử chống ngoại xâm như một đặc điểm
nổi bật và xuyên suốt của lịch sử Việt Nam, thì lịch sử xây dựng
đất nước, lịch sử chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng được coi
trọng. Đồng thời, lịch sử Việt Nam được đặt vào bối cảnh khu vực
và quốc tế trong mổi thời kỳ. Mục tiêu của chúng tôi là cố gắng
dựng lại trung thực, khách quan bức tranh toàn cảnh về lịch sử Việt
Nam qua từng thời kỳ lịch sử cụ thể.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song với một công trình lớn như vậy,
chắc chắn các tác giả sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong bạn đọc góp ý để công trình đạt chất lượng tốt hom khi có dịp
tái bản.
Xin trân ừọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 8 năm 2013

PGS.TS. Trần Đức Cường
Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Sử học,
Tổng Chủ biên công trình
17

LỜI NÓI ĐẦU

Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, thời kì 1945-1954, nhắt là giai
đoạn từ tháng 9/1945 đến cuối năm 1950 có vị trí đặc biệt và có
nhiều đặc điểm. Cách mạng tháng Tám 1945 đã thành công, nước
Việt Nam dân chù cộng hòa đã được thành lập, nhưng nền độc lập
cùa Việt Nam chưa được thế giới công nhận. Việt Nam vẫn là nơi
các thế lực đế quốc tranh giành ảnh hưởng, và dẫn đến kết cục là
thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, buộc nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa non trẻ phải phát động một cuộc kháng chiến trường kì,
toàn dân, toàn diện. Trên đất nước Việt Nam đã xuất hiện hình thái
đan xen giữa ta và địch. Phúi ta - Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa lãnh đạo nhân dân "vừa kháng chiến vừa kiến quốc", phừi địch các "chính phủ quốc gia" do Pháp dụng lên và lực lượng thân Phấp,
tiến hành tuyên truyền, lùn bịp. lôi kéo m ột hộ phận nhân dân sắng

trong các vùng tạm bị chúng chiếm đóng quay lưng lại với cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân tộc. Trong thực tế,
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn nằm trong vòng vây của chù
nghĩa đế quốc. Đất nước hầu như kiệt quệ bởi chính sách khai thác,
bóc lột đến cạn kiệt cùa thực dân Pháp, phát xít Nhật và bởi thiên tai
liên miên, lại bị các thế lực đế quốc và các thế lực phản động nhòm
ngó, xâu xé, đến mức . .ở trong tình thế hết súc mong manh, ngay
chính doi với sự tồn tại cùa mừih"1.
Đảng Cộng sản Đông Dương (hoạt động b í mật), Chính phủ
nuớc Việt Nam dân chù cộng hòa đúng đau là Chù tịch Hồ Chí Minh
1. "Mùa thu rồi, ngày hăm ba”, Tập 2: Độc lập hay là chét. Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1996, ư. 16.

19

LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 10
đã thi hành chính sách đổi nội, đối ngoại vừa mềm dẻo, lỉnh hoạt
vừa nguyên tắc, kiên định đã tùng bước thay đoi được tương quan
lực lượng và giành được những thắng lợi rất quan trọng có ý nghĩa
rất quyết định. Sự kiện Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chù
nhân dân khác công nhận nền độc lập cùa Việt Nam, đặt quan hệ
ngoại giao với nước Việt Nam dân chù cộng hòa vào đầu năm
1950, đặc biệt là Chiến thắng Biên giới Thu - Đông năm 1950 đập
tan các căn cứ chiếm đóng của địch, khai thông vùng căn cứ địa
Việt Bắc với the giới bên ngoài đã chấm dứt tình trạng bị cô lập
cùa nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Một cục diện mới (về chính
trị, quân sự, ngoại giao...) đã m ở ra. Do đó, không chi phía Việt
Nam dân chù cộng hòa có sự chuyển hướng trong đường loi chì
đạo kháng chiến, mà cả phía Pháp với nguỵ quyển, nguỵ quân cũng
đã phải để ra những đối sách mới để ứng phó với tình hình mới. Từ
tháng 8/1945 đến cuối năm 1950, 13 đời Thủ tướng Pháp với nhiều
kế hoạch xâm lược Việt Nam như Ke hoạch D'Argenlieu, Ke hoạch
Leclerc, Ke hoạch Revers đã không xoay chuyển được tình hình và
cuối năm 1950 phải chuyển sang một ké hoạch mới do Turómg De
Lattre de Tassigny, Cao uỷ Tổng chi huy quân đội Pháp ở Đông
Dương phụ trách.
Như vậy là đến cuối năm ỉ 950, cả hai lực lượng song song tồn
tại ở Việt Nam (lực lượng cùa nước Việt Nam dân chù cộng hòa một ntỉớc đã được phe xã hội chù nghĩa công nhận và lực lượng
thân Pháp đang được một sổ nước đế quốc như Mỹ, Anh ùng hộ)
đều chuyển sang một giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh một mất
một còn để giành giật vai trò là người đại diện đích thực trên đất
nước Việt Nam.
Giai đoạn lịch sử 1945-1950 chứa đựng nhiều sự kiện, nhiều
vấn đề nhưng chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đù.
Cho đến nay, những công trình của các sử gia Việt Nam nghiên
cứu "phía bên kia" một cách thật sự sâu sắc còn ít. Khôi phục lại
một cách chân thực, khách quan diện mạo cùa Việt Nam bằng cách
nhìn tổng thể, toàn diện cả hai phía là rất cần thiết đối với việc

20

Lời nói đầu
biên soạn lịch sử dân tộc giai đoạn này. Chi trên cơ sở nghiên cứu
một cách toàn diện tình hình chính trị - xã hội, quân sự, kinh tế,

văn hóa của cả hai phía, chúng ta mới có điêu kiện đánh giá những
thang lợi to lớn mà quân và dân nước Việt Nam dân chù cộng hòa
giành được, cũng như lí giải những khó khăn, ton thất cùa ta một
cách khách quan và đ ầ y đủ.

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thức được rằng dòng chính của lịch
sử giai đoạn này là lịch sử giai đoạn đầu cuộc kháng chiến và kiến
quốc cùa quân và dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Do vậy,
các sự kiện lịch sử về Việt Nam dân chù cộng hòa thường được
trình b à y nhiều hơn.

Nhóm biên soạn mong muốn và đã cố gắng thu thập tư liệu để
có thể trình bày một cách tương đối toàn diện lịch sử giai đoạn từ
tháng 9/1945 đến cuối năm 1950. Nhưng quả thực là "lực bất tòng
tám", bời lẽ còn rất nhiều màng tư liệu, đặc biệt là khối lượng tư
liệu đồ sộ đang được lưu giữ trong các kho lưu trữ ở nước ngoài
chúng tôi chưa tiếp cận được. Cho nên cuốn sách lịch sử Việt Nam
trong giai đoạn này có những màng tư liệu còn chưa được đầy đù.
Chúng tôi hy vọng trong tương lai gần có thể dần dần khắc phục
được sự thiếu sót này.
Cuốn sách do ba cán bộ nghiên cứu thuộc Phòng Lịch sử hiện
đại Việt Nam, Viện Sử học biên soạn:
- PGS. TS. ĐINH THỊ THU CÚC: Chương I, Chưcmg II, Lời
nói đầu và Lời kết;
- TS. ĐỖ THỊ NGUYỆT QUANG: Chương III, Chưcmg IV;
- PGS. TS. Đ INH QUANG HẢI: Chưcmg V, Chương VI.
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Lãnh đạo
Viện Khoa học xã hội Việt Nam (Nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã
hội Việt Nam) về sự tài trợ, Lãnh đạo Viện Sử học về sự quan tâm
chi đạo trong quá trình biên soạn và hoàn thành công trình này.
Tập sách này được biên soạn trên cơ sở tham khảo, ké thừa
nhiều tư liệu cũng như quan điếm của các công trình sử học đã

21

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 10
được công bố trước đây có liên quan đến nội dung cuốn sách này.
Không có điều kiện bày tỏ sự cảm tạ tới tận từng người, chúng tôi
thành thực xin lỗi và XÙI nhận ở chúng tôi, những người đi sau,
lòng biết ơn chân thành nhất.
Chúng tôi hết sức biết ơn các cơ quan lưu trữ tài liệu ở trung
ương, ở các địa phương, các thư viện, đặc biệt là thư viện Viện Sử
học đã cho phép và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để chúng tôi
có thể khai thác tư liệu.
Nhóm để tài độc biệt cám ơn PGS. Cao Văn Lượng, GS.NGND.
Đinh Xuân Lăm, PGS. NGND. u Mậu Hãn, PGS. Bùi Đình Thanh,
NNC. Đặng Phong, Thiếu tướng PGS. TS. Trịnh Vương Hồng, PGS.
TS. Nguyễn Trọng Phúc, PGS. TS. Trần Bá Đệ, PGS. TS. Trần Đức
Cuờng, PGS. TS. Nguyễn Văn Nhật... đã tận tình gợi ý, chì bảo, đọc
bản thảo, góp ý kiến, cung cấp tư liệu và hy vọng sẽ tiếp tục nhận
được sự giúp đỡ quý báu để công trình hoàn thiện hơn nữa.
Chủ biên
PGS. TS. ĐINH THỊ THU cúc

22

Chương I

VIỆT NAM TỪ THÀNH LẬP NỀN DÂN CHỦ CỘNG HÒA
ĐẾN KÝ HIỆP ĐỊNH s ơ B ộ VIỆT - PHÁP
(9-1945 - 3- 1946)

I. NỀN ĐỘC LẬP CÓ NGUY c ơ BỊ PHÁ HOẠI, NAM B ộ
VÀ NAM TRƯNG B ộ KHÁNG CHIẾN
1. Tình hình Việt Nam ngay sau khỉ giành độc lập
Tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, ngày 2-9-1945, thay mặt
Chính phủ lâm thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc
lập tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản
Tuyên ngôn khẩng định:
...“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật
đă thành một nước tự do độc lập. lo à n thể dân tộc Việt Nam quyết
đem tất cả tinh thần và lực ỉượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do, độc lập ấy”.1
Tuyên bố độc lập, nhưng nền độc lập của Việt Nam chưa được
quốc gia nào công nhận. Đây là vấn đề rất hệ trọng liên quan đến
toàn bộ cục diện phát triển của đất nước. Bối cảnh quốc tế và trong
nước vào thời điểm nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã có
những thay đổi cơ bản so với trước. Công cuộc xây dựng chế độ
mới và bảo vệ nền độc lập của nhân dân Việt Nam gắn chặt với
những thay đổi đó.
1. Hồ Chí Minh: Toàn lập, tập 4 (1945-1946). Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2000, ti. 4.

23

LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 10
Sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu
và ảnh hường của Liên Xô làm thay đổi tương quan chính trị, quân
sự và ngoại giao ữên thế giới. Liên Xô được coi như trụ cột của sự
nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình thế giới.
Phong trào giải phỏng dân tộc phát triển như vũ bão cùng với
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
trong các nước tư bản đã làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc. Để đối
phó lại, các nước đế quốc đã tìm cách liên minh phản công lại lực
lượng cách mạng trên phạm vi toàn thế giới. Mâu thuẫn giữa các
lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội do Liên
Xô đứng đầu với các nước đế quốc và lực lượng đồng minh do Mỹ
đứng đầu ngày càng trở nên gay gắt. Vừa mới ra đời, nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản
động liên kết với nhau bao vây, chống phá từ nhiều phía.
Theo Hiệp ước của Hội nghị Pôtxđam (17-7 - 2-8-1945), các đội
quân Đồng minh được giao trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật đã
kéo vào Việt Nam ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công.
Ngày 28-8-1945, Tướng Lư Hán, chi huy quân đội của Tường
Giới Thạch, dẫn 4 quân đoàn với quân số khoảng 200 nghìn người,
kéo vào đóng ở Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới
Việt - Trung đến vĩ tuyến 16. Tính chất ô hợp và sự quấy phá,
nhũng nhiễu của đội quân này đã gây cho Chính phủ và nhân dân ta
ở miền Bắc rất nhiều khó khăn. Nhân dân ta gọi đội quân này là
"Nạn Tàu vàng". Quân Tưởng buộc Việt Nam thực hiện chế độ
trưng thu lương thực để cung cấp cho chúng. Chúng đòi Việt Nam
mỗi tháng phải cung cấp 10 nghìn tấn gạo, ứong khi chính nhân
dân Bấc Bộ đang phải chịu hậu quả của nạn đói khủng khiếp nhất
trong lịch sử đất nước. Tướng Lư Hán còn ép Việt Nam phải để cho
quân lính được tiêu đồng bạc Quan kim đã mất giá của họ trên đất
Việt Nam.
Ngày 28-9-1945, tại ngôi nhà nguyên là Phủ Toàn quyền Pháp
tại Hà Nội đã diễn ra lễ đầu hàng Đồng minh của quân đội Nhật.
Tướng Lư Hán chủ trì buổi lễ và đọc một bản tuyên ngôn nói rõ

24

Chương ỉ. Việt Nam từ thành lập nền dân chủ cộng hòa..
nhiệm vụ của quân đội Trung Hoa sang Việt Nam để tiếp nhận sự
đầu hàng cùa quân đội Nhật chứ không can thiệp vào chủ quyền của
Việt Nam. Tuy nhiên, trong thực tế, hành động cùa họ lại trái ngược.
Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, quân Tưởng
còn nuôi ý đồ giúp các lực lượng phản động chống đối cách mạng
Việt Nam. Khi kéo vào Việt Nam, quân đội Tưởng đã dẫn theo một
số người Việt Nam nằm trong lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng
(gọi tắt là Việt Quốc, do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đứng
đầu) và lực lượng Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (gọi tắt là
Việt Cách do Nguyễn Hải Thần đứng đầu) vốn sống lưu vong ở
Trung Quốc về theo, nhằm tìm cách lật đổ chính quyền dân chủ cộng
hòa vừa mới ra đời, lập chính phủ thân Tưởng. Lực lượng Việt Quốc
và Việt Cách, nhờ sự hỗ trợ của quân Tưởng, đã chiếm giữ một số
nơi ở Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái. Quân Tưởng tiến hành nhiều
hoạt động vu cáo, nói xấu Việt Minh, chống chính quyền cách mạng
và ngang nhiên đòi gạt các bộ trường là đàng viên cộng sàn ra khỏi
Chính phủ. Quân Tường còn quậy phá, cướp bóc, gây tình hình lộn
xộn ở những nơi chúng kéo tới đóng quân. Cùng với quân Tường,
các lực lượng Việt Quốc, Việt Cách đã gây cho chính quyền cách
mạng non trẻ và nhân dân ta rất nhiều khó khăn.
ở mièn Nam , tinh hlnh còn nghiêm trọng hơn ớ miền Bác. Ý

đồ trở lại xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp ngày càng lộ rỗ.
Những biến chuyển của tình hình chính trị ở Đông Dương nói
riêng, trên phạm vi châu Á và thế giới nói chung trong năm 1945
làm cho Chính phủ Pháp thấy cần phải có những thay đổi trong
chính sách nếu không muốn để mất Đông Dương. Ngày 17-8-1945,
ủ y ban quốc phòng Pháp quyết định lấy Sư đoàn bộ binh thuộc
đia số 9' do Tướng Valluy chỉ huy, Sư đoàn thiết giáp do Massu
chi huy và Sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 để lập lực lượng viễn
chinh Pháp ờ Viễn Đông2 (sau đổi là đạo quân viễn chinh Pháp ở

1. Division d' Infanterie coloniale (viết tát DIC).
2. Forces Expéditionnaứes Franẹaises d' Extrème Orient (viết át FEFEO).

25

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 10
Viễn Đông1) đưa sang Đông Dương. Tướng Leclerc được cử làm
Tổng chỉ huy lực lượng lục quân Pháp ở Viễn Đông. Đô đốc
ƠArgenlieu được cử làm Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh Hải quân Pháp
ở Viễn Đông, ủ y ban hành động giải phóng Đông Duơng được cải
tổ thành ủ y ban Đông Dương do tướng De Gaulle l...
 
Gửi ý kiến