Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

LỊCH SỬ VIỆT NAM TẬP 8

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:38' 27-02-2024
Dung lượng: 14.1 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
VIỆN H À N LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN SỬ HỌC
TẠ THỊ THÚY
(Chù biên)

LỊCH Sử
VIÊTNAM
TẬP 8

TỪ NĂM 1919 ĐẾN NẢM 1930

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quóc gia Việt Nam
Tạ Thị Thuý
Lịch sử Việt Nam / Tạ Thi Thuý (ch.b.), Ngô Văn Hoà, Vũ Hiụy
Phúc. - Tái bản. - H .: Khoa học xã hội. - 24cm
ĐTTS ghi: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Viện Sử học
T.8: Từ nảm 1919 đến năm 1930. - 2017. - 612tr.: minh hoạ
1. Lịch sử 2. 1919-1930 3. ViẹtNam
959.703 - dc23
KXM0034p-CIIP'

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN Sử HỌC
TẠ THỊ THÚY (Chủ biên)
NGÔ VẢN HÒA - VŨ HUY PHÚC

LỊCH SỬ VIỆT NAM
TẢP 8
TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1930
(Tái bản lần thứ nhất có bổ sung, sửa chữa)

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ N Ộ I-2017

LỊCH SỬ VIỆT NAM
TẬP 8
TỪ NĂM 1919 ĐẾN N Ă M 1930

PGS.TS.NCVCC. TẠ THỊ THÚY
(Chủ biên)

Nhóm biên soạn:
1. PGS.TS.NCVCC. Tạ Th| Thúy: Lời nói đầu và Két luận;
Chương I, II, III, IV, V
Tài liộu tham khảo và
thư mục sách
2. PQS.NCVCC. Ngô Ván Hòa:

Chương VI, VII

3. PGS.NCVCC. Vũ Huy Phúc:

Chương VIII, IX

Bộ sách Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập được hoàn thành trên cơ
sở Chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ (Viện Khoa học xã
hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), do
Viện Sử học là cơ quan chủ trì, PGS.TS.NCVCC. Trần Đức Cường
làm Chủ nhiệm và Tổng Chủ biên, cùng với tập thể các Giáo sư
(GS), Phó Giáo sư (PGS), Tiến sỹ (TS), Thạc sỹ (ThS), Nghiên cứu
viên cao cấp (NCVCC), Nghiên cứu viên chính (NCVC) và Nghiên
cứu viên (NCV) của Viện Sử học thực hiện.

B ộ SÁCH LỊCH SỬ VIỆT NAM

TẬP 1: Từ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ X
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền (Chủ biên)
• TS.NCVC. Nguyễn Hữu Tâm
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- TS .N C V C . Trirơng Thị Yén

TẬP 2: Từ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIV
- PGS.TS.NCVCC. Trần Thị Vinh (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Hà Mạnh Khoa
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Thị Phương Chi
- TS.NCVC. Đỗ Đức Hùng

TẬP 3: Từ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XVI
- PGS.TS.NCVC. Tạ Ngọc Liẻn (Chù biên)
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Thị Phương Chi
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Minh Tường
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền
5

TẬP 4: TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN THẾ KỶ XVIII
- PGS.TS.NCVCC. Trần Thị Vinh (Chủ biên)
- TS.NCVC. Đỗ Đức Hùng
- TS.NCVC. Tru-ơng Thị Yến
- PGS.TS.NCVC. Nguyẻn Thị Phương Chi

TẬP 5: TỪ NẢM 1802 ĐẾN NẢM 1858
- TS.NCVC. Trương Thị Yén (Chù biên)
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền
- PGS.TS.NCVC. Nguyén Đức Nhuệ
- NCV. Phạm Ái Phưcmg
- TS.NCVC. Nguyẻn Hữu Tâm

TẬP 6: TỪ NẢM 1858 ĐẾN NẪM 1896
- PGS.TS.NCVCC. Võ Kim Cương (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Hà Mạnh Khoa
- TS. Nguyẽn Mạnh Dũng
- ThS.NCV. Lê Thị Thu Hằng

TẬP 7: Từ NẢM 1897 ĐẾN NẮM 1918
- PQS.TS.NCVCC. Tạ Thi Thúy (Chủ bièn)

- NCV. Phạm Như Thơm
- TS.NCVC. Nguyẽn Lan Dung
- ThS.NCV. Đỗ Xuân Trường

TẠP 8: TỪ NẢM 1919 ĐẾN NẢM 1930
- PGS.TS.NCVCC. Tạ Thị Thúy (Chù biên)
- PGS.NCVCC. Ngô Văn Hòa
- PGS.NCVCC. Vũ Huy Phúc

TẬP 9: TỪ NẢM 1930 ĐÉN NĂM 1945
- PGS.TS.NCVCC. Tạ Thị Thúy (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Ngọc Mão
- PGS.TS.NCVCC. Võ Kim Cưang

6

TẬP 10: Từ NĂM 1945 ĐÉN NĂM 1950
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Thị Thu Cúc (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Quang Hải

TẬP 11: Từ NĂM 1951 ĐẾN NẢM 1954
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Quang Hải

TẬP 12: Từ NĂM 1954 ĐÉN NĂM 1965
- PGS.TS.NCVCC. Trần Đức Cường (Chủ biên)
- NCV. Nguyễn Hữu Đạo
- TS.NCVC. Lưu Thị Tuyết Vân

TẬP 13: Từ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Quang Hải

TẬP 14: Từ NĂM 1975 ĐẾN NẢM 1986
- PGS.TS.NCVCC. Trần Đức Cường (Chủ biên)
- TS.NCVC. Lưu Thị Tuyết Vân
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Thị Thu Cúc

TẬP 15: Từ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Ngọc Mão (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Lê Trung Dũng
- TS.NCVC. Nguyễn Thị Hồng Vân

7

LỜI GIỚI THIỆU
CHO LẦN TÁI BẢN THỨ NHÁT

Việt Nam là một quốc gia có truyền thống lịch sử và vàn hóa từ
lâu đời. Việc hiểu biết và nắm vững về lịch sử văn hóa của dân tộc
vừa là nhu cầu, vừa là đòi hỏi bức thiết đối với mỗi người Việt
Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay đất nước đang trong quá trình
Đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế. Để đáp ứng được những đòi hỏi đó, từ trước đến nay
đã có nhiều cơ quan, tổ chức và các tác giả ở trong nước và nước
ngoài quan tâm nghiên cứu về lịch sử Việt Nam dưới nhiều khía
cạnh khác nhau. Nhiều cồng trình lịch sử đã xuất bản và được công
bố rộng rãi, giúp cho nhân dân Việt Nam và bạn bè trên thế giới
hiểu biết về lịch sử, đất nước và con người Việt Nam. Tuy nhiên,
hầu hết các công trình đó đều là những công trình lịch sử vẫn còn
khá gián lược, chưa phản ánh hết được toàn bộ quá trình lịch sử của
dân tộc Việt Nam từ khởi thủy đến ngày nay một cách toàn diện, có
hệ thống; Một số công trình lịch sử khác lại mang tính chất quá
chuyên sâu về từng lĩnh vực, từng thời kỳ, hoặc từng vấn đề lịch sử
cụ thể, nên chưa thu hút được sự quan tâm rộng rãi của mọi đối
tượng trong xã hội. Do đó chưa đáp ứng được sự hiểu biết về lịch sử
và văn hóa dân tộc Việt Nam của quảng đại quần chúng nhân dân.
Hơn nữa trong xã hội Việt Nam hiện nay, rất nhiều người dân,
thậm chí có cả học sinh các trường phổ thông cơ sở và phổ thông
trung học, kể cả một số sinh viên của các trường cao đẳng và đại
học không thuộc các trường khối Khoa học xã hội và Nhân văn
có sự hiểu biết rất hạn chế về lịch sử dân tộc. Thực trạng trên đây
do nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân
9

LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 8

khách quan, trong đó phải kể đến một trong những nguyên nhân
chính là do chưa có được một bộ Lịch sử Việt Nam hoàn chinh được
trình bày một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống và thật sâu sẳc về
đất nước, con người, về truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước,
giữ nước rất đồi oai hùng và nền văn hóa hết sức phong phú, đặc
săc của dân tộc Việt Nam từ khởi thủy đến nay.
Đe góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển
đất nước, góp phần truyền bá tri thức lịch sử tới các tầng lớp nhân
dân và bạn bè trên thế giới mong muốn hiểu biết về lịch sử và văn
hóa Việt Nam, trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của thời kỳ
trước, bổ sung các kết quả nghiên cứu mới gần đây và những tư
liệu mới công bố, tập thể các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà
nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học đã dày công biên soạn bộ sách
Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập.
Bộ sách Lịch sử Việt Nam là bộ Thông sử Việt Nam lớn nhất từ
trước đến nay; là bộ sách có giá trị lớn về học thuật (lý luận), thực
tiễn và xã hội, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập
hiện nay. Bộ sách đã được Viện Sử học phối hợp với Nhà xuất bản
Khoa học xã hội xuất bản trọn bộ 15 tập Lịch sử Việt Nam từ khởi
thủy đến năm 2000 vào năm 2013 - 2014. Trong lần tái bản thứ nhất
này, Viện Sử học đã bổ sung, chỉnh sửa một số điểm và chức danh
khoa học của tác giả cho cập nhật và chính xác hơn.
Đây là một công trình lịch sử đồ sộ, nội dung hết sức phong
phú, toàn diện ữên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa - xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng... nên chắc chắn
khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong tiếp tục nhận
được ý kiến đóng góp của bạn đọc.
Hà Nội, tháng 8 năm 2016
PGS.TS. Đinh Quang Hải
Viện trường Viện Sử học

10

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Theo dòng thời gian, Việt Nam đã có một nền sử học truyền thống
với những bộ quốc sử và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn đồ
sộ như: Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử,
Phù biên tạp lục, Gia Định thành thông chí, Lịch triều hiến chiĩơng
loại chí, Đại Nam hội điển sự lệ, Khâm định Việt sử thông giám
cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất
thống chí,...
Trong thời kỳ cận đại, nền sử học Việt Nam vẫn tiếp tục phát
triển dù đất nước rơi vào ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Để
phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong khoảng thời gian cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sử học được nhiều nhà cách mạng Việt
Nam coi là vũ khí sắc bén nhằm thức tinh lòng yêu nước của nhân
dân và coi việc viéi sừ là đẻ chu người dân dục, từ dó nhận thức dứng
đắn về lịch sử mà thấy rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước,
tiêu biểu như Phan Bội Châu với Trùng Quang tâm sử, Việt Nam
quốc sử khảo\ Nguyễn Ái Quốc với Bản án chế độ thực dân Pháp,
Lịch sử nước ta (gồm 210 câu lục bát).
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nền sử học đương đại Việt Nam
bước sang trang mới vừa kể thừa và phát huy những giá ưị của sử
học truyền thống, đồng thời tiếp thu những yếu tố khoa học và cách
mạng của thời đại mới. Nhiệm vụ của sử học là tìm hiểu và trình
bày một cách khách quan, trung thực quá trình hình thành, phát
triển của lịch sử đất nước, tổng kết những bài học lịch sử về quá
trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trên thực tế, sử học đã

11

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 8

phục vụ đác lực sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta trong
cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.
Bước vào thời kỳ Đổi mới, sử học đã góp phần vào việc đổi
mới tư duy và xây dựng luận cứ khoa học cho việc xác định con
đường phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Sử học đã phát huy
được vị thế của mình nhằm nhận thức đúng quá khứ, tìm ra quy
luật vận động của lịch sử để hiểu hiện tại và góp phần định hướng
cho tương lai. Đồng thời, sử học, nhất là khoa học nghiên cứu về
lịch sử dân tộc, có vị trí nổi bật trong việc giáo dục chủ nghĩa yêu
nước, lòng tự hào dân tộc và rèn luyện nhân cách cho thế hệ trẻ...
Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sử học, các nhà sử
học nước ta đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội, các vấn đề dân tộc và tôn giáo, về đặc điểm và vai
trò của trí thức và văn hóa trong lịch sử Việt Nam... Kết quả là đã
có nhiều cuốn sách, nhiều tác phẩm của tập thể tác giả hoặc của cá
nhân các nhà nghiên cứu ra đời. Các công trình được biên soạn
trong thời gian qua đã làm phong phú thêm diện mạo nền sử học
Việt Nam, góp phần vào việc truyền bá tri thức lịch sử tới các tầng
lóp nhân dân.
Để phục vụ tốt hơn sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước,
cần có những công trình lịch sử hoàn chinh hơn về cấu trúc, phạm
vi, tu liệu và có sự đổi mới về phương pháp nghiên cứu, biên soạn,
mang tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện với chất lượng cao hom,
thể hiện khách quan, trung thực và toàn diện về quá trình dựng
nưóc và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trước đòi hỏi đó, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội phối hợp với Viện Sử học giới thiệu đến
bạn đọc bộ Lịch sử Việt Nam từ thời tiền sử đến ngày nay. Đây là
kết quả của Chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ (cấp Viện
Khoa học xã hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam) do Viện Sử học chủ t ì , PGS.TS. Trần Đức Cường làm
Chủ nhiệm đồng thời là Tổng Chủ biên.

12

Lời Nhà xuất bản

v ề phân kỳ lịch sử và phân chia các tập: Bộ Lịch sử Việt Nam
được kết cấu theo các thời kỳ: Thời kỳ cổ - trung đại (từ thời tiền sử
đến năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam);
Thời kỳ cận đại (thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và biến Việt Nam
thành thuộc địa đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công)
và Thời kỳ hiện đại (cũng có thể gọi là thời kỳ đương đại, kể từ khi
đất nước giành được độc lập và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời cho đến nay). Việc phân chia các tập chủ yếu theo các giai
đoạn lịch sử cụ thể và ứng với các nội dung chính được thể hiện
trong giai đoạn ấy.
Bộ Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập, như sau:
T ập 1: Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thể kỳ X
T ập 2: Lịch sử Việt Nam từ thế kỳ X đến thể kỷ x r v
T ệp 3: Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỳ XVI
T ệp 4: Lịch sử Việt Nam từ thế kỳ XVII đến thế kỳ XVIII
T ập 5: Lịch sử Việt Nam từ năm ỉ 802 đến năm 1858
T ập 6: Lịch sử Việt Nam từ nám 1858 đến năm 1896
T ập 7: Lịch sử Việt Nam từ nãm 1897 đến năm 1918
T ệp 8: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930
T ập 9: Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945
T ập 10: Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1950
T ập 11: Lịch sử Việt Nam từ năm 1951 đến năm 1954
T ập 12: Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1965
T ập 13: Lịch sử Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975
T ập 14: Lịch sử Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1986
T ập 15: Lịch sử Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000

13

LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 8

Hy vọng bộ Lịch sử Việt Nam sẽ cung cấp nhiều thông tin hữu
ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy và truyền bá lịch sử nước nhà.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, do những khó khăn chủ
quan và khách quan, với một khối lượng công việc đồ sộ lại đòi hỏi
chất lượng cao, Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Viện Sử học
trong khả năng cố thế đã làm hết sức mình, nhưng công bình khó
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc góp ý để khi cố dịp
tái bản, công trình được sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện han.
Xin trân trọng giới thiệu!
Hà Nội, tháng 9 nám 2013
Nhà xuất bản Khoa học xã hội

14

LỜI M Ở ĐẦU

Sử học là khoa học nghiên cứu về quá trình phát triển của xã
hội loài người nói chung hay của một quốc gia, một dân tộc nói
riêng. Nghiên cứu lịch sử là nhàm tìm hiểu những sự kiện xảy ra
trong quá khứ để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho hiện tại
và tương lai. Nghiên cứu và biên soạn lịch sử, vì vậy, trở thành một
yêu cầu bức thiết của mọi quốc gia, dân tộc. Phạm Công Trứ, nhà
chính trị danh tiếng, nhà sử học sống ở thế kỷ xvn, trong bài Tựa
sách Đại Việt sử kỷ bản kỳ tục biên viết: "Vì sao mà làm quốc sử?
V? sử chủ yếu là để ghi chép sự việc. Có chính trị cùa một đời tất
phải có sử của một đời. Mà ngòi bút chép sử giữ nghị luận rất
nghiêm, ca ngợi đời thịnh trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt
trăng, lên án kẻ loạn tặc thì gay gắt như sương thu lạnh buốt,
người thiện biết có thể bắt chước, người ác biết có thể tự răn, quan
h ệ đên việc ch ín h trị k h ô n g p h ả i là k h ô n g nhiêu. C h o n ên làm s ử là

Cốt để cho được như thế"1.
Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời. Việt Nam cũng là
một dân tộc yêu sử và có rất nhiều người ham thích tìm tòi, nghiên
cứu và biên soạn lịch sử. Đã có nhiều công trình lịch sử được công
bố, không chi do các cơ quan, tổ chức chuyên nghiên cứu biên
soạn, mà còn do cá nhân người yêu sử thực hiện... Điều này vừa có
mặt tích cực, lại có mặt tiêu cực. Tích cực vì sẽ góp phần giúp nhân
dân hiểu thêm về lịch sử nước nhà, nhưng cũng chứa đựng yếu tố
tiêu cực là dễ dẫn tới những hiểu biết phién diện, sai lầm về lịch
sử... đôi khi đồng nhất truyền thuyết với lịch sử?

1. Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 96.

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 8

Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,
trong gần 60 năm xây dựng và phát triển, đã tổ chúc sưu tầm, nghiên
cúu, dịch thuật và công bổ nhiều tư liệu lịch sử; đồng thời tập trung
công súc nghiên cứu những vấn đề cơ bản của lịch sử Việt Nam trên
tất cả các phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại... Việc nghiên cứu, làm sáng rõ những vấn đề cơ
bản trong lịch sử Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và bào
vệ Tổ quốc, đồng thời chuẩn bị điều kiện cần thiết về nội dung khoa
học tiến tới biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam từ tiền sử đến ngày nay.
Trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, Chủ nhiệm ủ y ban
Khoa học xã hội kiêm Viện trưởng Viện Sử học, Viện Sử học đã tổ
chức biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam gồm ba tập, Tập I xuất bản
năm 197ỉ, Tập n xuất bản lần đầu năm 1985, tái bản cố sửa chữa,
bổ sung năm 2004.
Đến thập niên 90, Viện Sử học tổ chức biên soạn và công bố
một số tập Lịch sử Việt Nam, gồm: Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ
đến thể kỷ X, Lịch sử Việt Nam thế kỳ X và XV, Lịch sử Việt Nam
1858-1896, Lịch sử Việt Nam 1897-1918. Lịch sử Việt Nam 1954-1965
và Lịch sử Việt Nam 1965-1975.
Ke thừa thành quả nghiên cứu của thời kỳ trước, bổ sung các
kết quả nghiên cứu trên tất cả các lĩnh vực, trong khoảng 10 năm
gần đây, Viện Sử học tổ chức biên soạn và nay cho xuất bản bộ
sách Lịch sử Việt Nam 15 tập trên cơ sở kết quả Chương tìn h
nghiên cứu cấp Bộ của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, nay là
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Để biên soạn bộ sách này, Viện Sử học xác định Lịch sử
Việt Nam phải được nhận thức là lịch sử của các cộng đồng quổc
gia và tộc người đã từng sinh sống trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam
hiện nay, đóng góp vào sự phát triển của văn hóa và văn minh Việt
Nam, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
16

Lòi mở đầu
Viết về tiến trình lịch sừ Việt Nam cần phải có cái nhìn đa tuyến
với điểm xuất phát là sự tồn tại trong thời kỳ cổ đại của ba trung tâm
văn hóa dẫn đến sự hình thành những nhà nước sơ khai: trung tâm văn
hóa Đông Sơn và nước Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc, trung tâm văn

hóa Sa Huỳnh và nước Lâm Áp (Champa) ờ miền Trung, trung tâm
văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam ở miền Nam.
Chính sự hội nhập của ba dòng văn hóa ấy, mà dòng chủ lưu
thuộc về văn hóa Đông Sơn và nước Văn Lang - Âu Lạc, đã tạo nền
tảng phong phú, thống nhất ữong đa dạng của lịch sử văn hóa Việt
Nam ngày nay.
Trong quá trình biên soạn, những đặc điểm khác của lịch sử
Việt Nam cũng được chú ý đến. Lịch sử Việt Nam là lịch sử cùa
một quốc gia đa tộc người, ừong đó người Kinh chiếm đa số (hom
86% dân số). Đây cũng là lịch sử của một dân tộc luôn thực hiện

đồng thời hai nhiệm vụ: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì vậy bên
cạnh các ưang viết về lịch sử chống ngoại xâm như một đặc điểm
nổi bật và xuyên suốt của lịch sử Việt Nam, thì lịch sử xây dựng
đất nước, lịch sử chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng được coi
trọng. Đ ồng thời, lịch sử Việt Nam được đặt vào bối cảnh khu vực
và quốc tế trong mỗi thời kỳ. Mục tiêu của chúng tôi là cố găng

dựng lại trung thực, khách quan bức tranh toàn cảnh về lịch sử Việt
Nam qua từng thời kỳ lịch sừ cụ thể.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song với một công trình lớn như vậy,
chắc chắn các tác giả sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong bạn đọc góp ý để công trình đạt chất lượng tốt hơn khi có dịp
tái bản.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 8 năm 2013
PGS.TS. T rần Đức Cưửng
Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Sử học,
Tổng Chủ biên công tìn h
17

LỜI NÓI ĐẢU
"Giai đoạn 1919-1930 tuy ngắn ngủi nhimg lại là một giai đoạn
mang tính chất bản lề quan trọng trong toàn bộ tiến trình lịch sử
cận - hiện đại Việt Nam. Đây chính là giai đoạn quyết định chiều
hướng phát triển của Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo, tạo
ra tiền đề về tư tưởng, tổ chức và lực lượng cho sự phát triển của
phong trào giải phóng dân tộc ở những giai đoạn sau mà sớm nhất là
thăng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo".
Đây là lời kết luận cuối cùng trong tập sách này của chúng tôi
mang tên: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm ỉ 930.
Bởi vị trí quan trọng đó, giai đoạn 1919-1930 đã trở thành chủ
đề nghiên cứu của nhiều học giả, nhiều tác phẩm trong cũng như
ngoài nước; và ở đây, giai đoạn lịch sử ấy cũng được tách ra khỏi
những gioi đoạn lịch sử khác đc nghiên cứu và trình bày thành một

tập sách riêng.
Lợi thế lớn nhất khi biên soạn tập sách này là nguồn tài liệu
tham khảo rất phong phú. Do tính chất hấp dẫn của chính bản thân
đề tài này, hay nói đúng hơn là của giai đoạn lịch sử đầy biến
động cả về phía chủ nghĩa thực dân cũng như về phía phong trào
cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, nên số
lượng tài liệu lưu trữ nhiều, sổ ấn phẩm liên quan cũng không phải
là ít.

về nguồn tài liệu lưu bữ, chúng tôi đã khai thác ở cả ba trung tâm
lưu trữ lớn là Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I tại Hà Nội, Trung tâm
Lưu trữ Quốc gia n tại Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Lưu
trữ Hải ngoại Pháp tại Aix - en - Provence, với một số lượng trang
19

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 8

khai thác được khá lớn. Tuy nhiên, nguồn tài liệu này có đặc điểm là
khá tản mạn nên các tác giả phải nhiều công chắt lọc và tổng hợp mới
có thể sử dụng được.
v ề các ấn phẩm, ngoài những ấn phẩm mang tính chất tài liệu,
như những tập san niên giám hay báo chí các loại đề cập đến nhiều
khía cạnh khác nhau của đề tài, được khai thác ở các trung tâm lưu
trữ, các thư viện, còn nhiều công trình nghiên cứu của các học giả
người Pháp được công bố ngay trong giai đoạn 1919-1930 hay xa
hơn một chút - trước năm 1945. Mặt khác, phải kể tới những công
trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cao của các học giả nổi tiếng
người Việt, người Pháp, người Mỹ, người Anh... được công bố trong
thời gian từ sau năm 1945 đến nay. Trong đó, một số học giả đã được
nói tới trong Lời nói đầu của cuốn Lịch sử Việt Nam tập 7.
Nguồn tài liệu phong phú đó đã tạo nhiều thuận lợi cho việc tạo
dựng công trình, giải quyết ngọn ngành mỗi khía cạnh bên quan, bót
đi tình trạng tư biện, lấy suy diễn lôgích thay cho sử liệu, nâng cao giá
trị tham khảo cùa công trình. Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi các tác
giả phải cố gắng để không bị sa đà, biến công bình thành tập hợp
những chuyên đề riêng rẽ. Hcm nữa, mặc dù rất phong phú, nhưng
nguồn tài liệu đố vẫn còn chưa đủ để cho phép giải quyết dứt điểm
mọi vấn đề liên quan đến giai đoạn lịch sử này. Chúng tôi hy vọng sẽ
hội đủ những điều kiện, nhất là điều kiện về tài liệu tham khảo, để làm
sáng tỏ những vấn đề chưa được giải quyết dứt điểm trong một công
binh khác.
Cuốn Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930, tập 8 được trình
bày thành 9 chương, không bao gồm phần Lời nói đầu và phần Kết
luận, do 3 tác giả thực hiện là:
1. PGS.TS. Tạ Thị Thuý là chủ biên công trình, biên soạn từ
chương I đến chương V và các phần Lời nói đầu, Kết luận, Tài liệu tham
khảo và thư mục sách;
2. PGS. Ngô Văn Hòa biên soạn chương VI và VII;
3. PGS. Vũ Huy Phúc biên soạn chương v i n và IX.
20

Lòi nói đầu
Đe hoàn thành công trình này, chúng tôi trước hết xin cảm ơn
các cơ quan chủ trì đề tài, các nhà khoa học trong nước và ngoài
nước đã giúp đỡ chúng tôi về chuyên môn cũng như trong việc sưu tầm
tài liệu.
Một lần nữa, cảm om GS.TS. Shaun Kingsley Malamey, Trường
Đại học Quốc tế Thiên Chúa giáo, Tokyo, Nhật Bản về chuyên đề:
"Bệnh tật, sức khỏe và y học ở Việt Nam từ 1919 đến 1930" được
chúng tôi tham khảo một phần ờ chương IV của cuốn sách.
Cuối cùng, để hoàn thiện và nâng cao chất lượng của công trình,
chúng tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc.
Xin trân trọng cảm om!
Hà Nội, 2013
Chủ biên
PGS.TS. T ạ Thị Thúy

21

Chương I

CHÍNH SÁCH THUỘC ĐỊA
CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở VIỆT NAM
SAU CHIÉN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc nhưng tất cả
các nước tham chiến, cả thắng trận và bại trận, đều bị thiệt hại nặng
nề về người và của với 10 triệu người chết, 20 triệu người bị thương
và 208 tỷ đô la bị ngốn vào chi phí quân sự1. Không những thế, cuộc
chiến tranh đó còn tạo ra một cục diện thế giới mới với sự phát triển
mạnh mẽ của phong trào cộng sản, phong ưào công nhân và phong
trào giải phóng dân tộc.
Tình hình đó đã làm cho các nưóc đế quốc lúng túng và mặc dù
mâu thuẫn nhau quyết liệt, vẫn phải liên kết để đàn áp và hạn chế
các trào lưu cách mạng nói trên. Mặt khác, để khôi phục nền kinh tế
bị tàn phá bong chiến tranh, tạo đà cho cuộc chạy đua trong nội bộ
thế giới tu bản cũng như chạy đua với một hệ thống thế giới mới xã hội chủ nghĩa, vừa ra đời từ thắng lợi của Cách mạng tháng
Mười Nga, chúng tăng cường việc khai thác nguồn tài nguyên và
nhân công giá rẻ cùa các thuộc địa.
Trong bối cảnh chung đó, cũng như các nước đế quốc khác, đế
quốc Pháp vừa ra sức bóc lột nhân dân chính quốc, vừa đẩy mạnh
khai thác các thuộc địa cả cũ và mới. Đồng thời, Pháp buộc phải có
1. Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo, Phạm Xuân Nam,
Bùi Đình Thanh, Lịch sử Việt Nam, Tập n, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
1985, tr. 152.
23

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 8

những điều chinh trong chính sách thuộc địa để cho việc khai thác
có hiệu quả hom.
I. NHU CẦU ĐẨY MẠNH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA
THỰC DÂN PHÁP SAU CHIẾN TRANH
1. Sự kiệt quệ của Pháp sau chiến tran h
Dù thuộc phe Hiệp uớc, Pháp vẫn là nước bị động chạm nhiều
nhất và bị thiệt hại nhiều nhất trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất,
cả về người và cùa, cả trên phương diện quân sự, chính trị và kinh tế.
Việc chuẩn bị, động viên cho chiến tranh và sự tàn phá của nó
làm cho nền kinh tế Pháp rơi vào tình trạng khủng hoảng, rối loạn
trầm trọng.
Trong những năm chiến tranh (1914-1918), những người đang
độ tuổi lao động phải ra mặt trận. Thiếu nhân công, các nhà máy bị
đóng cửa. Tất cả cơ sở hạ tầng, ngựa xe, gia súc và những vật liệu
thiết yếu cho quân đội đều bị trưng thu. 70% nhà máy sản xuất thép
(95 trong số 127 lò cao) rơi vào tay Đức1. Sản xuất công nghiệp và
nông nghiệp bị đình trệ. Vào năm 1919, sản lượng hai ngành này
chi còn bàng 45% so với năm 19132. Chién tranh kéo dài, Pháp
phải nhập ngày càng nhiều những vật phẩm cần cho chiến tranh mà
trong nước không thể sản xuất hoặc không thể tự cấp được nữa.
Ngay từ tháng 8 năm 1914, một ủ y ban nhập khẩu hàng hóa được
thành lập. Năm 1919, việc xuất khẩu của Pháp chi còn bằng 1/3
nhập khẩu của nó5.

1. Patrice Morlat, Indochine années vingts: Le Balcon de la France sur le
Pacifique, Les Indes Savantes, Paris, 2001, tr. 15.
2. Jean Charles Asselain, Histoire économique de la France du XVIIIe siècle
à nos jours.2. De 1919 à la fin des années 1970, Edition du Seuil, Paris,
1984, tr. 25.
3. Jean Charles Asselain, Histoire économique..., Sđd, ư. 25.

24

Chương I. Chính sách thuộc địa của thực dân Pháp...
Số lượng hàng Pháp phải mua trung bình mỗi năm ữong chiến
ừanh là 17,8 tỳ ữancs thay vì 8,4 tỳ írancs năm 1913'.
Trong khi nhập khẩu tăng lên như vậy thì xuất khẩu của Pháp
ngày một giảm đi, khoảng 13 tỷ francs và trong chiến tranh chi còn
đạt khoảng 60 tỷ írancs2. Pháp mua chủ yếu từ Mỹ (27 tỷ francs) và
Anh (23 tỷ írancs)3.
Sự sút giảm của nền sản xuất, tình trạng nhập siêu đã làm
cho Pháp trở thành con nợ lớn nhất trong số các nước thắng trận
mà chủ yếu là nợ Anh và Mỹ, với tổng số tiền lên đến 1 tỷ đô la
vào năm 19174, 170 tỷ írancs vào năm 1918 và 300 tỷ írancs vào năm
19205. Số nợ đó một mặt là để trang trải cho nhu cầu của bản
thân nước Pháp, mặt khác là để ứng ra cho các nước Đồng minh
nhỏ hơn vay lại như: Bi (250 triệu francs), Serbi (90 triệu írancs),
Hy Lạp (20 triệu írancs), Monténégro (500.000 írancs). Mặt khác,
Pháp phải cho Nga vay 250 triệu írancs cho nhu cầu chiến tranh
của nước này và cam kết sẽ cho nước này vay mỗi tháng 75 triệu
írancs cho đến năm 1917. Cho đến cuối chiến tranh, tổng số tiền
mà Pháp cho các nước Đồng minh vay là 7,5 tỷ írancs, trong đó
3,5 tỷ írancs cho nước Nga đã bị chính quyền Xô viết tuyên bố
xóa nợ sau Cách mạng tháng Mười6. Tính cả các khoản mà Pháp
cho Nga vay và đầu tư vào nước Nga không thể đòi lại sau Cách
mạng tháng Mười là 14 tỷ francs7, và nếu tính tổng cộng các
khoản mà Pháp đã đầu tư vào một số nước bị hủy diệt trong
chiến tranh hay chuyển sang chế độ cộng sản (như Nga) thì số

1, 2. Patrice Morlat, Indochine..., Sđd, tr. 15.
3, 4. Patrice Morlat, Indochine..., Sđd, tr. 16.
5. G. Bonneíous, Histoire de la Troisième République, Tome 2, Paris, 1957,
tr. 454.
6. Patrice Morlat, Indochine..., Sđd, tr. 17.
7. Trần Huy Liệu, Lịch sử tám mươi năm chống Pháp, Quyển I, Nxb. Văn Sừ - Địa, Hà Nội, 1956, tr. 215, 216.

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 8

mất trắng sẽ là 40 tỷ francs'. Việc Pháp tham gia liên minh can
thiệp vũ trang của 14 nước vào Nga và ượ cấp về tài chính cho
Bạch vệ chổng phá chính quyền Xô viết đã lại ngổn thêm hàng tỷ
firancs trong ngân quỹ của Pháp2.
Ngân sách của Pháp vì v$y luôn luôn ở trong tình trạng thiếu
hụt. Số thiếu hụt đố mới chỉ tính đến năm Ỉ91S đã ỉà 18 tỷ francs3,
năm 19Ỉ8 là 60 tỷ ữancs4, cộng thêm khoản nợ các nước trong khối
Đồng minh và các khoản cho các nước trong khối Đồng minh vay
bị mất, sự thiếu hụt của ngân sách Pháp là 107 tỷ francs\
Mọi biện pháp đã dược Chính phủ Pháp sử dụng để trang trải
các khoản nợ nần chất chồng đố và chi tiêu cho chiến tranh. Trước
hết, Pháp phải bán bớt một phần dự trữ vàng cho nước ngoài, chủ
yếu là Anh và Mỹ. Cho đến cuối chiến tranh số trữ kim xuất sang
Anh tương đương 2,839 tỷ ĩrancs và Mỹ 89 triệu ữancs, tổng cộng
3,1 tỷ írancs6. Mặt khác, Chính phủ Pháp phải phát hành công trái ở
trong nước. Trong số 157 tỷ francs được ước tính cho việc chi tiêu
mang tính chất công cộng từ năm 1914 đến năm 1919 thì 45 tỷ
ữancs là do thu của ngân sách và 60 tỷ ỉrancs là do các đợt phát
hành công trái7. Đồng thời, Pháp cũng phải dựa vào các nước thuộc
địa, với tổng cộng 544.510 lính chiến và 199.900 lính thợ, gần 1 tỷ
ữancs mỗi năm8 và những nguyên liệu mà nước Pháp thôi không
thể khai thác được ở trong nước.
Riêng đổi với Đông Dương khi chiến tranh diễn ra, Đông Dương
buộc phải gồng lên "chi viện" về người và của cho chính quốc, theo
phương châm "Rồng Nam phun bạc, đánh đổ Đức tặc". Tổng cộng,
1,4, 5. Patrice Morlat, Indochine..., Sđd, ư. 19.
2. M. Cachin, Le problème de la paix et les dettes extérieures, Paris, 1925, ừ. 38.
3. Philippe Bemard, La fin (Tun monde (1914-1929), Le Sueil, Paris, 1975,
ữ. 38.
6,7. Patrice Morlat, Indochine..., Sđd, tr. 17.
8. Patnce Morlat, lndochine..., Sđd, tr. 199.
26

Chương I. Chính sách thuộc địa của thục dân Pháp...
ưong số 544.510 lính chiến và 199.900 lính thợ mà tất cả các nước
thuộc địa của Pháp đã được mộ cho chính quốc, trong chiến tranh,
Đông Dương góp một phần quan trọng với 48.992 lính chiến và
51.000 lính thợ1 và trong tổng số tiền mà các nước thuộc địa phải
nộp cho chính quốc hàng năm, gần 1 tỳ francs thì xứ này đã chiếm
1/3 với khoảng 367 triệu Ễrancs. Đông Dương còn cung cấp cho Pháp
336.000 tấn nguyên liệu ữong sổ 1,5 triệu tấn của cả khối thuộc địa
của nước này2.
Sự tàn phá của chiến tranh cũng thật nặng nề đổi với Pháp,
không những so với các nước Đồng minh mà ngay cả so với Đức,
vì Pháp phải chịu gần như toàn bộ chiến sự diễn ra ở phía Tây và
một mình phải đương đầu với già nừa quân đội Đức (35 trong số 69
sư đoàn Đức). Pháp trở thành một cưòmg quốc về quân sự trên thế
giới nhưng phải trả một giá đắt là 1.364.000 người bị giết, 740.000
người bị thương3. Theo tính toán của các học giả thì sự thiệt hại về
người của các nước tham chiến so với sổ dân đang độ tuổi lao động
của các nước đó như sau: 10,5% đối với Pháp; gần 10% đối với
Đức và Áo - Hung; từ 5% đến 6% đối với Ý, Anh, Nga; 0,2% đối với
Mỹ4. Chiếm tỷ lệ lớn trong số người thi...
 
Gửi ý kiến