Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

LỊCH SỬ VIỆT NAM TẬP 1

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:21' 27-02-2024
Dung lượng: 12.3 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN SỬ HỌC
VŨ DUY MỀN
(Chủ biên)

LỊCH Sử
VIỆT NAM
TẬP1

TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ X

N H À XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI

LỊCH S ử VIỆT NAM
TẬP 1
TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ X

Biẻn mục trẾn xuát bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
LỊch sử Việt Nam / B.S.: Vũ Duy Mển (ch.b.), Nguyễn Hữu
Tâm, Nguyễn Đức Nhuệ, Trương Hụ Yến. - Tái bản. - H. : Khoa học
xã hội. - 24cm
ĐTTS ghi: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Viện Sử học
T.l: Từ khởi thủy đến thế kỷ X. - 2017. - 672tr.
1. Lịch sử cổ đại 2. việt Nam
959.701 - dc23
KXM0037p-CIP

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘỈ VIỆT NAM

VIỆN SỬ HỌC
VŨ DUY MỀN (Chủ biên)
NGUYỄN HỮU TÂM - NGUYỀN đ ứ c
TRƯƠNG TH| YẾN

nhuệ

LỊCH SỬ VIỆT NAM
TẬP
1
•
TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ X
(Tái bản lần th ứ nhất có bỗ sung, sửa chữa)

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ N Ộ I-2017

LỊCH SỬ VIỆT NAM
TẬP 1
TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THÉ KỶ X
PGS.TS. NCVC. VŨ DUY MỀN
(Chủ biên)
Nhóm biên soạn
1. PGS.TS. NCVC. Vũ Duy Mèn:

Lời mở đầu; Chương I, II,
V, VI, VII

2. TS. NCVC. Nguyễn Hữu Tâm:
3. PGS.TS. NCVC. Nguyển Đức Nhuệ:
4. TS. NC V C . T rư ơ n g T hị Yén:

Chương III, IX,

Phụ lục l-IV

Chương VIII
C h ư ơ n g IV

Những người cộng tác
ThS. Phạm Thi Quế Liên - ThS. Đỗ Danh Huấn
ThS. Võ Thi Phương Thúy - CN. Ngô Vũ Hải Hằng

Bộ sách Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập được hoàn thành trên cơ
sở Chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ (Viện Khoa học xã
hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), do
Viện Sừ học là cơ quan chủ trì, PGS.TS.NCVCC. Trần Đức Cường
làm Chù nhiệm và Tổng Chủ biên, cùng với tập thể các Giáo sư
(GS), Phó Giáo sư (PGS), Tiến sỹ (TS), Thạc sỹ (ThS), Nghiên cứu
viên cao cấp (NCVCC), Nghiên cứu viên chính (NCVC) và Nghiên
cứu viên (NCV) cùa Viện Sừ học thực hiện.

BỘ SÁCH LỊCH SỬ VIỆT NAM

TẬP 1: TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ X
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền (Chủ biên)
- TS.NCVC. Nguyễn Hữu Tâm
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- TS.NCVC. Trương Thị Yến
TẬP 2: TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIV
- PGS.TS.NCVCC. Trần Thị Vinh (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Hà Mạnh Khoa
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Thị Phương Chi
- TS.NCVC. Đỗ Đức Hùng
TẠP 3: T ừ THÉ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XVI
- PGS.TS.NCVC. Tạ Ngọc Liễn (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Thị Phương Chi
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Minh Tường
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền

5

TẬP 4: TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN THÉ KỶ XVIII
- PGS.TS.NCVCC. Trần Thị Vinh (Chủ biên)
- TS.NCVC. Đỗ Đức Hùng
- TS.NCVC. Trương Thị Ỹến
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Thị Phương Chi
TẬP 5: TỪ NẢM 1802 ĐẾN NĂM 1858
- TS.NCVC. Trương Thị Yến (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- NCV. Phạm Ái Phương
- TS.NCVC. Nguyễn Hữu Tâm
TẬP 6: TỪ NĂM 1858 ĐÉN NĂM 1896
- PGS.TS.NCVCC. Võ Kim Cương (Chủ biên)
■ PGS.TS.NCVC. Hà Mạnh Khoa
- TS. Nguyễn Mạnh Dũng
- ThS.NCV. Lê Thị Thu Hằng
TẬP 7: TỪ NĂM 1897 ĐẾN NĂM 1918
- PGS.TS.NCVCC. Tạ Thị Thúy (Chủ biên)
- NCV. Phạm Như Thơm
- ThS.NCV. Nguyễn Lan Dung
- ThS.NCV. Đỗ Xuân Trường
TẠP 8: TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1930
- PGS.TS.NCVCC. Tạ Thị Thúy (Chủ biên)
- PGS.NCVCC. Ngô Văn Hòa
- PGS.NCVCC. Vũ Huy Phúc
TẬP 9: TỪ NĂM 1930 ĐÉN NĂM 1945
- PGS.TS.NCVCC. Tạ Thị Thủy (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Ngọc Mão
- PGS.TS.NCVCC. Võ Kim Cương

6

TẠP 10: TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1950
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Thị Thu Cúc (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Quang Hải
TẬP 11: TỪ NĂM 1951 ĐÉN NĂM 1954
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Quang Hải
TẬP 12: TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965
- PGS.TS.NCVCC. Trần Đức Cường (Chủ biên)
- NCV. Nguyễn Hữu Đạo
- TS.NCVC. Lưu Thị Tuyết Vân
TẬP 13: TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Vàn Nhật (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Quang Hải
TẬP 14: TỪ NĂM 1975 ĐÉN NĂM 1986
- PGS.TS.NCVCC. Trần Đức Cường (Chủ biên)
- TS.NCVC. Lưu Thị Tuyêt Vân
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Thị Thu Cúc
TẬP 15: TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Ngọc Mão (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Lê Trung Dũng
- TS.NCVC. Nguyễn Thị Hồng Vân

7

LỜ I G IỚ I TH IỆU
CHO LẦN TÁI BẢN T H Ử NHÁT

Việt Nam là một quốc gia có truyền thống lịch sử và văn hóa từ
lâu đời. Việc hiểu biết và nắm vững về lịch sử văn hóa của dân tộc
vừa là nhu cầu, vừa là đòi hỏi bức thiết đối với mỗi người Việt
Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay đất nước đang trong quá trình
Đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế. Đẻ đáp ứng được những đòi hòi đó, từ trước đến nay
đã có nhiều cơ quan, tồ chức và các tác giả ờ trong nước và nước
ngoài quan tâm nghiên cứu về lịch sử Việt Nam dưới nhiều khía
cạnh khác nhau. Nhiều công trình lịch sử đã xuất bản và được công
bố rộng rãi, giúp cho nhân dân Việt Nam và bạn bè trên thế giới
hiểu biết về lịch sử, đất nước và con người Việt Nam. Tuy nhiên,
hầu hết các công trình đó đều là những công trình lịch sử vẫn còn
khá giản lược, chưa phản ánh hết được toàn bộ quá trình lịch sử cùa
dân tộc Việt Nam từ khởi thủy đến ngày nay một cách toàn diện, có
hệ thống; Một số công trình lịch sử khác lại mang tính chất quá
chuyên sâu về từng lĩnh vực, từng thời kỳ, hoặc từng vấn đề lịch sử
cụ thể, nên chưa thu hút được sự quan tâm rộng rãi cùa mọi đối
tượng trong xã hội. Do đó chưa đáp ứng được sự hiểu biết về lịch sử
và văn hóa dân tộc Việt Nam của quảng đại quần chúng nhân dân.
Hom nữa trong xã hội Việt Nam hiện nay, rất nhiều người dân,
thậm chí có cả học sinh các trường phổ thông cơ sở và phổ thông
trung học, kể cả một số sinh viên của các trường cao đẳng và đại
học không thuộc các trường khối Khoa học xã hội và Nhân văn
có sự hiểu biết rất hạn chế về lịch sử dân tộc. Thực trạng trên đây
do nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân

9

LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 1

khách quan, trong đó phải kể đến một trong những nguyên nhân
chính là do chua có được một bộ Lịch sử Việt Nam hoàn chỉnh được
trinh bày một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống và thật sâu sắc về
đất nước, con người, về truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước,
giữ nước rất đỗi oai hùng và nền văn hóa hết sức phong phú, đặc
sắc của dân tộc Việt Nam từ khởi thủy đến nay.
Để góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng, bào vệ và phát triển
đất nước, góp phần truyền bá tri thức lịch sử tới các tầng lóp nhân
dân và bạn bè trên thế giới mong muốn hiểu biết về lịch sử và văn
hóa Việt Nam, trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của thời kỳ
trước, bổ sung các kết quà nghiên cứu mới gần đây và những tư
liệu mới công bố, tập thể các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà
nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học đã dày công biên soạn bộ sách
Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập.
Bộ sách Lịch sử Việt Nam là bộ Thông sử Việt Nam lớn nhất từ
trước đến nay; là bộ sách có giá trị lớn về học thuật (lý luận), thực
tiễn và xã hội, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập
hiện nay. Bộ sách đã được Viện Sử học phối hợp với Nhà xuất bản
Khoa học xã hội xuất bản trọn bộ 15 tập Lịch sử Việt Nam từ khởi
thủy đến năm 2000 vào năm 2013-2014. Trong lần tái bản thứ nhất
này, Viện Sử học đã bổ sung, chinh sửa một số điểm và chức danh
khoa học của tác giả cho cập nhật và chính xác hơn.
Đây là một công trình lịch sử đồ sộ, nội dung hết sức phong
phú, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa - xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng... nên chắc chắn
khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong tiếp tục nhận
được ý kiến đóng góp của bạn đọc.
Hà Nội, tháng 8 năm 2016

PGS.TS. Đinh Quang Hải
Viện trường Viện Sử học

10

LỜI NH À XU ẤT BẢN

Theo dòng thời gian, Việt Nam đã có một nền sử học truyền thống
với những bộ quốc sử và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn đồ
sộ như: Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử,
Phù biên tạp lục, Gia Định thành thông chí, Lịch triều hiến chưcmg
loại chí, Đại Nam hội điển sự lệ, Khâm định Việt sứ thông giám
cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất
thong chí,...
Trong thời kỳ cận đại, nền sử học Việt Nam vẫn tiếp tục phát
triển dù đất nước rơi vào ách thống trị cùa chù nghĩa thực dân. Đe
phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong khoảng thời gian cuối
thế kỳ XIX đầu thế kỷ XX, sử học được nhiều nhà cách mạng Việt
Nam coi là vũ khí sắc bén nhằm thức tỉnh lòng yêu nước cùa nhân
dân và coi việc viết sử là đế cho người dân đọc, từ đó nhận thức đúng
đan về lịch sử mà thấy rõ trách nhiệm cùa mình đối với đất nước,
tiêu biẻu như Phan Bội Cháu VỚI ỉ rùng Quang tăm sứ, Việt Nam
quốc sử khảo\ Nguyễn Ái Quốc với Bản án ché độ thực dân Pháp,
Lịch sử nước ta (gồm 210 câu lục bát).
Sau thang lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 nước Việt
Nam Dân chù Cộng hòa ra đời, nền sử học đương đại Việt Nam
bước sang trang mới vừa kế thừa và phát huy những giá trị của sử
học truyền thống, đồng thời tiếp thu những yếu tố khoa học và cách
mạng cùa thời đại mới. Nhiệm vụ cùa sử học là tìm hiểu và trình
bày một cách khách quan, trang thực quá trình hình thành, phát
triển của lịch sử đất nước, tổng kết những bài học lịch sừ về quá
trình dụng nước và giữ nước của dân tộc. Trên thực tế, sử học đã
11

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 1

phục vụ đắc lực sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta trong
cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.
Bước vào thời kỳ Đổi mới, sử học đã góp phần vào việc đổi
mới tư duy và xây dựng luận cứ khoa học cho việc xác định con
đường phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Sử học đã phát huy
được vị thế của mình nhằm nhận thức đúng quá khứ, tìm ra quy
luật vận động của lịch sử để hiểu hiện tại và góp phần định hướng
cho tương lai. Đồng thòi, sử học, nhất là khoa học nghiên cứu về
lịch sử dân tộc, có vị trí nổi bật trong việc giáo dục chủ nghĩa yêu
nước, lòng tự hào dân tộc và rèn luyện nhân cách cho thế hệ trẻ...
Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sử học, các nhà sử
học nước ta đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội, các vấn đề dân tộc và tôn giáo, về đặc điểm và vai
trò của trí thức và văn hóa trong lịch sử Việt N am ... Kết quả là đã
có nhiều cuốn sách, nhiều tác phẩm của tập thể tác giả hoặc của cá
nhân các nhà nghiên cứu ra đời. Các công trình được biên soạn
trong thời gian qua đã làm phong phú thêm diện mạo nền sử học
Việt Nam, góp phần vào việc truyền bá tri thức lịch sử tới các tầng
lớp nhân dân.
Để phục vụ tốt hom sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước,
cần có những công trinh lịch sử hoàn chinh hơn về cấu trúc, phạm
vi, tư liệu và có sự đổi mới về phương pháp nghiên cứu, biên soạn,
mang tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện với chất lượng cao hơn,
thể hiện khách quan, trung thực và toàn diện về quá trình dựng
nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trước đòi hỏi đó, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội phối hợp với Viện Sử học giới thiệu đến
bạn đọc bộ Lịch sử Việt Nam từ thời tiền sử đến ngày nay. Đây là
kết quả của Chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ (cấp Viện
Khoa học xã hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam) do Viện Sử học chủ trì, PGS.TS. Trần Đức Cường làm
Chủ nhiệm đồng thời là Tổng Chủ biên.

12

Lời Nhà xuất bản

v ề phân kỳ lịch sử và phân chia các tập: Bộ Lịch sử Việt Nam
được kết cấu theo các thời kỳ: Thời kỳ cồ - trung đại (từ thời tiền sử
đến năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam);
Thời kỳ cận đại (thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và biến Việt Nam
thành thuộc địa đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công)
và Thời kỳ hiện đại (cũng có thể gọi là thời kỳ đương đại, kể từ khi
đất nước giành được độc lập và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời cho đến nay). Việc phân chia các tập chủ yếu theo các giai
đoạn lịch sử cụ thể và ứng với các nội dung chính được thể hiện
trong giai đoạn ấy.
Bộ Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập, như sau:
T ập 1: Lịch sử Việt Nam từ khới thủy đến thế kỷ X
T ập 2: Lịch sứ Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV
T ập 3: Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X V đến thế kỷ XVI
T ập 4: Lịch sứ Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỳ XVIII
T ập 5: Lịch sử Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1858
T ập 6: Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1896
T ập 7: Lịch sử Việt Nam từ năm 1897 đến năm 1918
T ập 8: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930
T ập 9: Lịch sứ Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945
T ập 10: Lịch sử Việt Nam

từ năm 1945 đến năm 1950

T ập 11: Lịch sừ Việt Nam

từ năm 1951 đến năm 1954

T ập 12: Lịch sử Việt Nam

từ năm 1954 đến năm 1965

T ập 13: Lịch sử Việt Nam

từ nám 1965 đến năm 1975

Tập 14: Lịch sử Việt Nam

từ năm 1975 đến năm 1986

T ập 15: Lịch sử Việt Nam

từ năm 1986 đến năm 2000

13

LỊCH SỬ VIỆT NAM - TẬP 1

Hy vọng bộ Lịch sử Việt Nam sẽ cung cấp nhiều thông tin hữu
ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy và truyền bá lịch sử nước nhà.
Tuy nhiên, trong quá trinh thực hiện, do những khỏ khăn chù
quan và khách quan, với một khối lượng công việc đồ sộ lại đòi hỏi
chất lượng cao, Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Viện Sử học
trong khả năng có thể đã làm hết sức minh, nhưng công trinh khó
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc góp ỷ để khi có dịp
tái bản, công trình được sủa chữa, bổ sung và hoàn thiện hom.
Xin trân bọng giới thiệu!
Hà Nội, tháng 9 năm 2013

Nhà xuất bản Khoa học xã hội

14

LỜ I M Ở ĐẦU

Sử học là khoa học nghiên cứu về quá trình phát triển của xã
hội loài người nói chung hay của một quốc gia, một dân tộc nói
riêng. Nghiên cứu lịch sử là nhằm tìm hiểu những sự kiện xảy ra
trong quá khứ để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho hiện tại
và tương lai. Nghiên cứu và biên soạn lịch sử, vì vậy, trờ thành một
yêu cầu bức thiết của mọi quốc gia, dân tộc. Phạm Công Trứ, nhà
chính trị danh tiếng, nhà sử học sống ở thể kỷ XVII, trong bài Tựa
sách Đại Việt sử ký bản kỳ tục biên viết: "Vì sao mà làm quốc sử?
Vì sử chủ yếu là đế ghi chép sự việc. Có chính trị của một đời tất
phải có sứ cùa một đời. Mà ngòi bút chép sử giữ nghị luận rất
nghiêm, ca ngợi đời thịnh trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt
trăng, lên án kẻ loạn tặc thì gay gắt như sương thu lạnh buốt,
người thiện biết có thế bắt chước, người ác biết có the tự răn, quan
hệ đen việc chính trị không phải là không nhiều. Cho nên làm sử là
cốt để cho được như thế"1.
Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời. Việt Nam cũng là
một dân tộc yêu sử và có rất nhiều người ham thích tìm tòi, nghiên
cứu và biên soạn lịch sử. Đã có nhiều công trình lịch sừ được công
bố, không chỉ do các cơ quan, tổ chức chuyên nghiên cứu biên
soạn, mà còn do cá nhân người yêu sử thực hiện... Điều này vừa có
mặt tích cực, lại có mặt tiêu cực. Tích cực vì sẽ góp phần giúp nhân
dân hiểu thêm về lịch sử nước nhà, nhưng cũng chứa đựng yếu tố
tiêu cực là dễ dẫn tới những hiểu biết phiến diện, sai lầm về lịch
sử... đôi khi đồng nhất truyền thuyết với lịch sử?

1. Đại Việt sứ ký toàn thu, tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 96.

LịCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 1

Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,
trong gần 60 năm xây dựng và phát triển, đã tổ chức sưu tầm, nghiên
cứu, dịch thuật và công bố nhiều tư liệu lịch sử; đồng thời tập trung
công sức nghiên cứu những vấn đề cơ bản của lịch sử Việt Nam trên
tất cả các phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại... Việc nghiên cứu, làm sáng rõ những vấn đề cơ
bản trong lịch sử Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, đồng thời chuẩn bị điều kiện cần thiết về nội dung khoa
học tiến tới biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam từ tiền sử đến ngày nay.
Trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, dưới sự chi đạo trực
tiếp của Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, Chủ nhiệm ủ y ban
Khoa học xã hội kiêm Viện trưởng Viện Sử học, Viện Sử học đã tổ
chức biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam gồm ba tập, Tập I xuất bản
năm 1971, Tập II xuất bản lần đầu năm 1985, tái bản có sửa chữa,
bổ sung năm 2004.
Đen thập niên 90, Viện Sử học tổ chức biên soạn và công bố
một số tập Lịch sử Việt Nam, gồm: Lịch sứ Việt Nam từ khởi thuỳ
đến thế kỳ X, Lịch sử Việt Nam thế kỷ X và XV, Lịch sử Việt Nam
1858-1896, Lịch sử Việt Nam 1897-1918, Lịch sử Việt Nam 1954-1965
và Lịch sử Việt Nam ì 965-1975.
Kế thừa thành quả nghiên cứu của thời kỳ trước, bố sung các
kết quả nghiên cứu trên tất cả các lĩnh vực, trong khoảng 10 năm
gần đây, Viện Sử học tổ chức biên soạn và nay cho xuất bản bộ
sách Lịch sử Việt Nam 15 tập trên cơ sở kết quả Chương trinh
nghiên cứu cấp Bộ của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, nay là
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Để biên soạn bộ sách này, Viện Sử học xác định Lịch sử
Việt Nam phải được nhận thức là lịch sử của các cộng đồng quốc
gia và tộc người đã từng sinh sống trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam
hiện nay, đóng góp vào sự phát triển của văn hóa và văn minh Việt
Nam, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
16

Lời mở đầu

Viết về tiến trình lịch sử Việt Nam cần phải có cái nhìn đa tuyến
với điểm xuất phát là sự tồn tại trong thời kỳ cổ đại của ba trung tâm
văn hóa dẫn đến sự hỉnh thành những nhà nước sơ khai: trung tâm văn
hóa Đ ông Sơn và nước Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc, trung tâm văn
hóa Sa Huỳnh và nước Lâm Áp (Champa) ở miền Trung, trung tâm
văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam ở miền Nam.
Chính sự hội nhập của ba dòng văn hóa ấy, mà dòng chủ lưu
thuộc về văn hóa Đông Sơn và nước Văn Lang - Âu Lạc, đã tạo nền
tàng phong phú, thống nhất trong đa dạng của lịch sử văn hóa Việt
Nam ngày nay.
Trong quá trình biên soạn, những đặc điểm khác của lịch sử
Việt Nam cũng được chú ý đến. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của
một quốc gia đa tộc người, trong đó người Kinh chiếm đa số (hơn
86% dân số). Đây cũng là lịch sử của một dân tộc luôn thực hiện
đồng thời hai nhiệm vụ: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì vậy bên
cạnh các trang viết về lịch sử chống ngoại xâm như một đặc điểm
nổi bật và xuyên suốt của lịch sử Việt Nam, thì lịch sử xây dựng
đất nước, lịch sử chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng được coi
trọng. Đồng thời, lịch sừ Việt Nam được đặt vào bối cảnh khu vực
và quốc tế trong mỗi thời kỳ. Mục tiêu của chúng tôi là cố gắng
dựng lại trung thực, khách quan bức tranh toàn cảnh về lịch sử Việt
Nam qua từng thời ký lịch sứ cụ thể.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song với một công trình lớn như vậy,
chắc chắn các tác giả sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong bạn đọc góp ý để công trình đạt chất lượng tốt hơn khi có dịp
tái bản.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 8 năm 2013

PGS.TS. Trần Đức Cường
Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Sừ học,
Tổng Chủ biên công trình

17

LỜ I N Ó I ĐÀU

Trước nhu cầu của xã hội cần có một bộ sử Việt Nam đầy đủ
và phong phú; năm 2002, Viện Sừ học đã xác lập một kế hoạch
khoa học (Chương trình trọng điểm cấp Bộ được Viện Khoa học
xã hội Việt Nam phê duyệt) biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập,
từ khởi thủy đến ngày nay. Với một yêu cầu nâng cao hơn chất
lượng và phương pháp nghiên cứu, sách Lịch sử Việt Nam từ
khởi thủy đến thế kỳ X do nhóm chúng tôi biên soạn nằm trong
chương trình đó.
Quá trình tiến hành đề tài Lịch sử Việt Nam từ khới thủy đến
thế kỳ X vốn đặt ra quá nhiều vấn đề đòi hỏi nhóm nghiên cứu cần
góp phần làm sáng tỏ. Khó khăn gai góc đầu tiên mà chúng tôi đối
diện chính là những sự kiện lịch sử của con người thời tiền sử và sơ
sử diễn ra trên một địa bàn mà cương vực chưa được xác định rõ
ràng như nước ta ngày nay; theo một trục thời gian quá dài hàng mấy
chục vạn năm, có khi sai số tới cả ngàn năm!
Liên quan đến thời kỳ này, các van tự ghi chép vô cùng ÍL Thời kỳ
nguyên thủy chưa có tư liệu chữ viết, khi nghiên cứu hoàn toàn
phải dựa vào tư liệu khảo cổ học (tư liệu không biết nói), cổ sinh
học... Thời lcỳ Hùng Vương dựng nước, nhóm nghiên cứu tuy có dựa
vào truyền thuyết, nhưng lại là của người đời sau ghi chép, sáng tác.
Thòi kỳ Bắc thuộc, tư liệu chữ Hán cổ cũng rất tản mạn, nghèo nàn;
đôi khi thiếu độ tin cậy, khách quan.
Từ trước đến nay có nhiều người nghiên cứu lịch sử Việt Nam
từ khởi thủy đến thế kỷ X và có nhiều công trinh đã được công bố.
Chính từ các công trình đó, nhiều vấn đề lịch sử được đánh giá
khách quan, nhất quán. Nhưng vẫn còn quá nhiều vấn đề gây tranh cãi;
19

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 1

thậm chí đánh giá khác nhau, trái ngược nhau; khiến vấn đề đã
khó, lại càng khó khăn và phức tạp thêm; ít nhiều gây quan ngại
cho người nghiên cứu... Mặc dù vậy, chính những khó khăn đó lại
có điều hấp dẫn chúng tôi.
Tuy nhiên, nhóm biên soạn cũng có những thuận lợi nhất định.
Trước hết là sự thừa hưởng thành tựu của những thế hệ trước về
phương pháp tiếp cận nghiên cứu; về khối tư liệu bao gồm tài liệu
khảo cổ học, tài liệu văn tự Hán Nôm, tài liệu chữ phạn (Sanskrit),
chữ Quốc ngữ, tài liệu nghiên cứu của người nước ngoài - Trung Quốc,
Pháp, Nga, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc... và quan trọng hơn là những
kết luận khoa học liên quan.
Hơn nữa, nhóm biên soạn nhận được sự quan tâm của Lãnh
đạo Viện Khoa học xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt N am ) và Viện Sử học tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện
đề tài.
Nhưng người tham gia biên soạn đều đã kinh qua nghiên cứu,
có thời gian tích lũy, có tâm huyết và trách nhiệm cao.
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi sử dụng kết quả của phương
pháp liên ngành: bao gồm kết quả một số phương pháp nghiên cứu
của Khoa học tự nhiên như địa tầng - sinh quyển - phóng xạ các
bon C14, cổ sinh...; phưưng pháp của ngành Khoa học xa hội: nhân
học - khảo cổ học - dân tộc học - íolklore - văn học - văn hóa học văn bản học - chuyên gia..., mà nòng cốt là phương pháp lịch sử cụ
thể và phương pháp lô gich. Thông qua việc áp dụng nhiều phương
pháp, chúng tôi hướng tới sự đổi mới và nâng cao hơn chất lượng
nghiên cứu.
Để thu thập, bổ sung tài liệu, nhóm biên soạn đã tiến hành nhiều
đợt điều tra điền dã, sưu tầm tài liệu ở trong nước và nước ngoài.
Chúng tôi đã thực hiện khảo sát Văn hóa Chăm tại Đà Năng
(năm 2008); Văn hóa Óc Eo - Văn hóa Phù Nam tại một số địa điểm
20

Lời nói đầu

thuộc miền Đông, miền Tây Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh
(năm 2 008 - 2011).

Ngoài ra, quá trình khảo sát còn được chúng tôi tiến hành tại
thành Cổ Loa, huyện Đông Anh; đền Chèm, huyện Từ Liêm; đền Hai
Bà Trưng, huyện Mê Linh; làng Đường Lâm (đất Hai Vua - Phùng
Hưng - Ngô Quyền), Hà Nội; đền Cờn, huyện Diễn Châu, Nghệ An
(năm 2009), và đền Hùng (năm 2011).
Một số thành viên trong nhóm đã sưu tầm thêm tài liệu tại
Quảng Châu (năm 2008); Bắc Kinh, Thượng Hải, Ninh Ba, Trung Quốc
(năm 2010).
Cuốn sách Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỳ X được
biên soạn công phu, nghiêm túc (2007 - 2011), với 9 chương; phần
Phụ lục; và 435 đơn vị Tài liệu tham khảo.
Cuốn sách trình bày một cách khách quan về lịch sừ nước ta từ
khi xuất hiện con người đứng thẳng khôn ngoan (Homo Erectus),
với quá trình chế tác công cụ lao động gian khổ kéo dài hàng vạn
năm, con người dần dần hoàn thiện chính mình, chuyển từ trạng thái
dã man sang văn minh.
Từ sự phát triển liên tục của các nền văn hóa bản địa thuộc ba
trung tâm: Văn hóa Đ ôn g Scm ở châu thổ sôn g H ồng, sôn g Mã.

sông Cả, đã hình thành nên Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc đầu tiên
thời Hùng Vương. Văn hóa Sa Huỳnh hình thành nên Quốc gia
Lâm Áp - Champa cổ đại ở miền Trung. Văn hóa Đồng Nai - Văn
hóa Tiền Óc Eo Nam Bộ là nền tảng của sự ra đời Vương quốc cổ
Phù Nam - Chân Lạp. Giữa ba trung tâm văn hóa - ba quốc gia đó
tùy thời mà ít nhiều có sự giao lưu, ảnh hưởng qua lại; thậm chí có
cả sự xung đột, xâm chiếm nhau. Đây chính là cơ sở của sự tích
hợp và thống nhất lãnh thổ đất nước sau này.
Văn hóa Đông Sơn - Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc sơ khai là
trung tâm của tộc Việt - trong quá trinh phát triển, luôn là lực lượng
nòng cốt để duy trì, tiếp nối văn hóa truyền thống, tiếp biến văn hóa
21

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 1

khu vực Đông Nam Á, Văn hóa Hoa - Án; thu hút, đoàn kết lực
lượng đấu ừanh bền bi, lâu dài, nhiều hy sinh gian khổ chống Bắc
thuộc, chống Hán hóa thắng lợi, giành lại quyền độc lập, tự chủ,
mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước ta...
Mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gắng, song cuốn sách khó tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
quý báu của bạn đọc, để lần xuất bản sau chất lượng cuốn sách sẽ
tốt hom.
Hà Nội, ngày 8 tháng 6 năm 2012

Chủ biên
PGS.TS. VŨ DUY MỀN

22

BẢNG CHỬVIẾT TẮT

ANCL

An Nam chí lược

BC - TCN

Trước Công nguyên (cách tính niên đại của
Khảo cổ học)

BP

Cho đến nay (cách tính niên đại của Khảo
cổ học)

CM

Khâm định Việt sử thông giám cương mục

CN

Cử nhân

CTQG

Chính trị Quốc gia

GD

Giáo dục

GS.TSKH

Giáo sư. Tiến sĩ khoa học

ĐHQGHN

Đại học Quốc gia Hà Nội

ĐHSP

Đại học Sư phạm

ĐCN

Đầu Công nguyên

SCN

Sau Công nguyên

HĐND

Hội đồng nhân dân

UBND

ủ y ban nhân dân

HI

Chi trống đồng loại I, theo phân loại của
F. Heger

KHKT

Khoa học kỹ thuật

KHLS

Khoa học lịch sử

KHXH & NVQG

Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia

KCH VN

Khảo cổ học Việt Nam

23

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 1

Nxb-NXB

Nhà xuất bản

KHXH

Khoa học xã hội

H

Hà Nội

NPHMKCH

Những phát hiện mới Khảo cổ học

PGS.TS

Phó Giáo sư. Tién sĩ

Q-q

quyển

SG

Sài Gòn

TCN

Trước Công nguyên

TC. NCLS

Tạp chí Nghiên cứu lịch sử

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

TG

Thế giới

TT

Đại Việt sử ký toàn thư

TTKHXH

Thông tin Khoa học xã hội

TT UNESCO

Trung tâm UNESCO

TTTLLS

Thông tin tư liệu Lịch sử

VHDT

Văn hóa dân tộc

VHTT

Văn hóa Thông tin

VSH

Viện Sử học

24

Chương I

V IỆ T N A M T H Ờ I KỲ N G U Y Ê N T H Ủ Y

I. DÁU TÍCH NGƯỜI VƯỢN Ở VIỆT NAM
Trong buổi bình minh của lịch sừ nhân loại, con người còn mang
những đặc tính giống như loài vượn. Vì thế mà giới c ổ sinh học
thường gọi người tiền sử là Người vượn. Các nhà khoa học cho biết
Người vượn sống cách ngày nay 30 - 40 vạn năm đến 2 triệu năm.
Năm 1891, các nhà khoa học phát hiện Người vượn Giava (Inđônêxia)
(Pithecanthropus Erectus - Người đứng thảng) sống cách ngày nay
khoảng 80 vạn năm. Năm 1927, Người vượn ờ Chu Khẩu Điếm, cách
Bắc Kinh 18 km nên gọi là Người vượn Bắc Kinh (Sinanthropus
Pekinensis) được phát hiện. Người đứng thẳng Bắc Kinh có niên đại
tuyệt đối là 40 vạn năm 1.
Vậy ở Việt Nam, Người vượn xuất hiện từ bao giờ? Các nhà
khoa học liên ngành đã cùng phối hợp nghiên cứu vấn đề đó. Kết quả
ch o thay hức màn hí ấn cồ xira đang dần dần được làm sáng tò.

Việc phát hiện một số di tích mà tiêu biểu là Núi Đọ vào cuối
năm 1960, đã xuất lộ những công cụ đá thô sơ đầu tiên của con người.
Các nhà Khảo cổ học Việt Nam cùng với GS. P.I.Boriskovski đã
nghiên cứu và chứng minh rằng ở Núi Đọ từng tồn tại một nền văn
hóa sơ kỳ thời đại đá cũ2.

t . Hán Văn Khẩn (Chủ biên), Cơ sở Khào cổ học, Nxb ĐHỌGHN, Hà Nội
2008, tr. 80.

2. v ề di tích Núi Đọ hiện còn nhiều ý kiến khác nhau:
- Đa số cho rằng công cụ tìm thấy ờ Núi Đọ thuộc niên đại sơ kỳ đá cũ. Do
công cụ được tìm thấy trên sườn núi không thuộc tầng văn hóa nào; thiếu

25

LỊCH SỪ VIỆT NAM - TẬP 1

Theo xác định của các nhà khoa học, tọa độ địa lý của Núi Đọ
là 19° 51' 16 ” độ vĩ Bắc và 105° 43' 35''độ kinh Đông.
Di tích Núi Đọ thuộc địa phận hai xã Thiệu Tân và Thiệu Khánh,
huyện Đông Sơn, Thanh Hóa. Núi Đọ là một quả núi thấp, sườn núi
dốc thoai thoải từ 20° đến 25°, cao 158 m so với mặt nước biển,
nằm ngay bên bờ hữu ngạn sông Chu; chỗ hợp lưu của hai dòng
sông Mã và sông Chu (cách Thành phố Thanh Hóa 7 km về phía
bắc - tây bắc).
Đá núi thuộc loại đá bazan, màu xanh xám, cứng, rất khó ghè.
Nhưng khi đá được ghè vỡ lại tạo ra những cạnh khá sắc. Người vượn
đến đó dùng đá ghè vỡ đá núi để chế tác công cụ. Nhừng mảnh vỡ gọi
là mảnh tước (Clăctơn)1 còn lại vô số, "chiếm... (95%) số di vật mà
người ta đã tìm thấy"2 trên sườn phía đông và tây nam, ở độ cao
khoảng 30 m đến 40 m của Núi Đọ. Những mảnh tước này chính là
những công cụ thô sơ đầu tiên của Người vượn dùng để cắt hay
nạo. Hiện các nhà Khảo cổ còn tìm được nhiều hạch đá (hòn đá
dùng để ghè tạo ra mảnh tước); trốp pơ (chopper) công cụ đá được
ghè đẽo qua loa, tạo nên rìa lưỡi dày, làm công cụ chặt thô3 và 8 chiếc
các yếu tố địa tầng, cổ sinh nên việc định niên đại ưên chưa có tính thuyết
phục cao.
- Có ý kiến khác lại c h o rằng, N úi Đ ọ thuộc niên đại kim khí, vì ngiròri ở

thời đại sau tuy tiến bộ hơn nhưng vẫn có thể làm ra các công cụ của thời
đại trước để sử dụng.
- Tuy ý kiến còn khác nhau, song niên đại khảo cổ của Núi Đọ cần tiếp tục

được nghiên cứu. Việc tìm ra dấu vết người nguyên thủy đã đánh dấu
bước tien mới của giới Sử học Việt Nam trong nghiên cứu về thời kỳ tiền
sử trên đất nước ta.
1. Ban Nghiên cứu và biên soạn Lịch sử Thanh Hóa, Lịch sù Thanh Hóa,
Tập 1, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1990, tr. 22. "Mảnh tước Clăctơn: lấy tên địa
điem Clăctơn ở nước Anh, nơi đã tìm được những mảnh tước mang dấu
vết kỹ thuật này nhiều nhất."
2. Lịch sứ Thanh Hóa, Sđd, tr. 23.
3. Lịch sứ Thanh Hóa, Sđd, tr. 24: "Ở Núi Đọ còn khá nhiều công cụ (đá)
được ghè đẽo qua loa... Các nhà Khảo cổ học gọi chúng là những công cụ
26

Chưcmg /. Việt Nam thời kỳ nguyên thủy
riu tay' - công cụ sắc bén nhất của Người Núi Đọ. Rìu tay được ghè
đẽo nhiều nhát hơn ở cả hai mặt, một đầu gần nhọn tạo thành lưỡi,
một đầu tròn làm đốc cầm. Rìu tay dùng để cắt, chặt. Những công
cụ Núi Đọ về mặt kỹ thuật chế tác so với nhiều nơi trên thế giới ở
vào trình độ thấp thuộc giai đoạn sơ kỳ thời đại đá cũ; niên đại cách
ngày nay khoảng 30 vạn năm. Công cụ Núi Đọ đã giúp ích đác lực
cho cuộc sống hái lượm, săn bắt của Người vượn. Mảnh tước để cắt
thịt, nạo thịt, cắt củ, cắt dây. Rìu để chặt cây, chặt thịt, xương, săn
thú rừng. Đá núi để đập củ quả, săn thú.... Đấy là cách kiếm sống
sơ khai nhất trong lịch sử loài người.
Cách Núi Đọ khoảng 3 km đường chim bay là núi Quan Yên,
thuộc địa phận hợp tác xã Định Công, huyện Thiệu Yên; nơi hợp
lưu của sông Mã và sông c ầ u Chày. Cách Núi Đọ 3,5 km về phía
tây là Núi Nuông, thuộc địa phận hợp tác xã Định Thành, xã Công
Thành, huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa. Đây cũng là những núi đá
bazan thấp. Các nhà Khảo cổ học đã tìm thấy ở núi Quan Yên và
Núi Nuông những công cụ đá như công cụ chặt thô, mảnh tước,
hạch đá, rìu tay, giống như trên Núi Đọ. Những công cụ đó được
đoán định có thể cùng một niên đại sơ kỳ đá cũ.
Người nguyên thủy ở Núi Đọ, Quan Yên và Núi Nuông chủ
yếu sống bằng hái lượm và săn bắt. Những công cụ đá dẫu rằng còn
thô sơ trên cũng đa giúp ích rất nhiều cho cuộc sống còn hoang dẵ,

nhiều thử thách đối với họ.
chặt thô hay trốp pơ... Đây là loại công cụ chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số
công cụ của người nguyên thủy ờ Núi Đọ... Chúng không có hình dáng ổn...
 
Gửi ý kiến