Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

GIA ĐÌNH DƯỚI CHÂN CẦU

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:02' 19-02-2024
Dung lượng: 314.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
13992

Mục lục
1. Chương một
2. Chương hai
3. Chương ba
4. Chương bốn
5. Chương năm
6. Chương sáu
7. Chương bảy
8. Chương tám
9. Chương chín

Chương một
Xưa có một lão lang thang tên là Armand, lão chẳng chịu ở đâu khác ngoài
Paris. Thế nên đó chính là nơi lão sống.
Toàn bộ tài sản của mình, lão chất cả lên một chiếc xe nôi cũ kĩ không mui
mà kéo đi khắp nơi, khỏi lo gì chuyện tiền nhà hay bị đào tường khoét
ngạch. Toàn bộ số quần áo rách rưới mà lão có cũng đều ở cả trên người
rồi nên cũng chả cần đến rương hòm hay máy giặt khô.
Với lão Armand thì chuyện chuyển từ xó này sang xó kia thật dễ ợt, thế
nên buổi sáng muộn tháng chạp ấy lão nhổ giò lên đường. Trời lạnh, bầu
trời xám sà xuống tận các chóp ống khói của Paris nhưng lão Armand
chẳng để ý vì trong lòng lão đang nhoi nhói một cảm giác, rằng có một
điều gì đó mới mẻ đầy háo hức sắp sửa xảy đến với mình hôm nay.
Lão ư ử trong mồm một giai điệu vui và đẩy xe qua chợ hoa bên hông nhà
thờ Ðức Bà. Những bông hoa nhắc lão nhớ rằng rồi mùa xuân sẽ về, dù
mùa đông cũng không hẳn đã tệ.
Những chậu dạ lan hương mỏng manh cùng tulip chen chúc nhau trên giá
phía trước các dãy kệ. Những bông cẩm chướng và trúc đào hồng đựng
trong mấy cái xô thiếc lớn. Ở đây nhiều nhất là những bó hoa nhựa ruồi
chấm đỏ, những chùm tầm gửi trân châu và những cây thông non bé nhỏ,
sắp Giáng sinh rồi mà.
Cặp mắt còn tinh tường của lão Armand nhận ra một đống cành gãy với
hoa héo vứt lỏng chỏng gần cái kệ có đề chữ “Anabel”.

Thế là lão bèn đưa tay lên chiếc mũ bê rê đen của mình, hướng về phía
người đàn bà mập mạp mặc tạp dề xanh bên ngoài áo len.
“Xin phép bà và hết sức biết ơn lòng tốt của bà, thưa bà,” lão nói với cái
bà chắc hẳn tên là Anabel ấy, đoạn nhặt những cành gãy xếp lên đống đồ

của mình trên chiếc xe nôi. Sau đó lão lựa một nhánh nhựa ruồi héo và
luồn vào khuyết áo rách bươm của mình. Lão muốn phải trông thật tươm
tất cho điều bất ngờ vui vẻ sắp đến với mình hôm nay.
Cái bà chắc hẳn tên là Anabel chỉ sầm mặt ngó lão đẩy chiếc xe nôi về
hướng Rue de Corse. Lão lê bước đẩy chiếc xe qua những tòa nhà cổ,
hướng ra bờ bên kia sông Seine.
Nhưng vừa ra đến quảng trường trước nhà thờ Ðức Bà thì lão đã bị một
bàn tay từ phía sau túm lấy.
“Xem tương lai đi, thưa ông,” một giọng véo von cất lên. “Hôm nay ông sẽ
có một chuyến phiêu lưu đấy.”
Lão Armand buông tay nắm chiếc xe nôi và quay lại giáp mặt với một phụ
nữ gypsy mặc áo lông ngắn và chiếc váy hoa dài quét đất.
Lão nhe hàm răng lưa thưa cười với bà kia. “A, cô Mireli,” lão chào. “Bọn
cô trở lại Paris trú đông rồi cơ à?”
Khuôn mặt đen đúa của bà gypsy sáng lên bên dưới tấm khăn choàng
xanh. “Còn có người chẳng phải bao nhiêu mùa đông rồi vẫn bám lấy
Paris đó sao?” bà hỏi, cứ như một mệnh phụ. “Nhưng có việc gì mà ông ra
ngoài sớm thế?”
Lão Armand nhún đôi vai bên dưới chiếc áo choàng dài gần chấm gót.
“Tôi lại ra chân cầu đây,” lão đáp. “Chịu hết nổi mấy cái góc đường nhốn
nháo với mấy con hẻm chật chội ở Place Maubert rồi. Cả trò lượm rác bán
ve chai cũng phát mệt. Tôi đã sẵn sàng cho cuộc phiêu lưu mà cô hứa hẹn
rồi đây.”
Bà Mireli thông cảm lắm. “Sau những chuyến đi tự do thoải mái trên
những chặng đường dài quanh co thì cái sân mà bọn tôi ở đậu đúng thật
chẳng khác nào cái chuồng,” bà nói, “nhưng được cái cánh đàn ông kiếm
được nhiều việc để làm trong mùa đông. Một thành phố có lắm tiệm ăn
như Paris thì chả thiếu gì xoong nồi cần sửa sang. Mặc dù vậy, tất nhiên,
bọn trẻ chẳng nói chuyện gì khác ngoài những cánh đồng với những cánh
rừng mùa xuân.”

“Tôi không tài nào chịu nổi cái bọn nhóc ấy,” lão Armand lầu bầu. “Một lũ
sáo đá. Một lũ chim con ngốc ngếch, ríu rít luôn mồm.”
Bà Mireli giơ ngón tay chĩa vào lão mà lắc lắc. “Ông nghĩ mình ghét trẻ
con,” bà nói, “nhưng chẳng qua là ông sợ chúng đó thôi. Ông sợ bọn nhóc
láu lỉnh đó sẽ thó mất trái tim của ông nếu chúng biết ông có một trái tim.”
Lão Armand càu nhàu nắm lấy tay đẩy của chiếc xe nôi. Bà Mireli vẫy tay
chào lão, nhún nhẩy đôi chân trần xỏ dép sandal màu bạc đã sờn cũ. “Nếu
ông nghĩ lại về chuyện chân cầu thì cứ đến sống với chúng tôi,” bà mời.
“Bọn tôi ở phía sau Halles - ngay chỗ người ta đang phá mấy cái nhà cạnh
điện Thần Diệu1 cũ ấy mà.”
Lão Armand nặng nề lách dưới một thân cây đen thui trơ trụi và vòng qua
nhà thờ về phía bờ sông mà không thèm liếc nhìn nó lấy một cái.
Trong cái công viên xanh đằng sau hàng cột chống có mấy đứa trẻ đường
phố đang tha thẩn. Hai đứa trong bọn đang chơi đấu kiếm, trong khi đứa
thứ ba nhỏ hơn thì nhấm nháp một quả táo đỏ ngồi xem. Hai tay kiếm lăm
lăm thanh kiếm tưởng tượng mà vờn quanh nhau. Những bàn tay chém
mỗi lúc một gần, rồi cả hai cùng quên luôn thanh kiếm tưởng tượng mà cứ
thế thụi nhau huỳnh huỵch.
Chúng ngừng chơi lúc lão Armand đi ngang qua. “Nhìn ông già ăn mày
buồn cười chưa kìa!” một trong hai kiếm sĩ hét tướng lên.
Lão Armand ngó quanh, lão cũng muốn xem cái ông già ăn mày buồn cười
kia. Hẳn lại lão hề Louis với cái mũ đen cao ngất ngưởng và cái quần rộng
thùng thình đây mà. Rồi thì lão nhận ra mình chính là ông già ăn mày buồn
cười mà thằng bé đang nói đến.
“Liệu hồn mà ăn nói cho đàng hoàng, đồ sáo đá,” lão đe, đưa tay sờ nhánh
nhựa ruồi trên ve áo. “Không ta mách lão Cha Giáng sinh bạn ta về thói hư
của chúng bay bây giờ. Lúc đó đừng có kêu là không được quà gì ngoài
một bó roi giống như bó trên xe ta đây.”
Bọn nhóc có vẻ hoảng. Ở bên Pháp người ta gọi Santa Claus là Cha Giáng
sinh. Ông cưỡi một con lừa xám nhỏ từ phương bắc xuống và phát quà cho

những trẻ ngoan.
Ðứa bé nhất chìa cho lão quả táo đang ăn dở. “Ông ơi, ông có đói không?”
nó hỏi. “Ông có muốn ăn chỗ táo này không ạ?”
Nhưng thằng lớn nhất trong bọn đã đấm tay lên trời, vẻ nhạo báng. “Dào
ôi!” nó dè bỉu. “Làm gì có Cha Giáng sinh. Toàn chuyện bịa.”
“Nếu không tin lời ta,” lão Armand nghiêm giọng nói, “thì cứ vào cửa
hàng Louvre mà xem. Ở ngay gác lửng ấy.”
Lão nhăn nhở cười, trông như một trong những quái vật nhăn nhở trên
mấy cái đầu máng xối nhà thờ Ðức Bà. Ở đó đúng là có một Cha Giáng
sinh, và đó là ông bạn Camille của lão, người vẫn thường ngứa ngáy muốn
làm việc mỗi khi trời trở rét.
“Cháu tin ông ạ, thưa ông,” thằng bé có quả táo nói. “Hôm qua cháu đã
thấy Cha Giáng sinh bên ngoài cửa hàng. Ông ấy đang ăn hạt dẻ rang
ngoài đường.”
Lão Armand nhún vai rồi vội vã quay lưng rảo bước về phía cầu. Mireli
nói đúng. Trái tim lão, không lo mà giấu đi cho kỹ thì lũ sáo đá sẽ thó mất.
Lão chả muốn dây dưa gì với bọn chúng. Trẻ con đồng nghĩa với nhà cửa,
trách nhiệm cùng một công việc ổn định... tất cả những gì lão đã quay lưng
lại từ lâu. Mà lão thì đang mong phiêu lưu.
Xuôi xuống vài dãy nhà nữa là đến cây cầu nơi lão sống khi thời tiết
không quá khắc nghiệt. Và nhiều người trong số những kẻ vô gia cư của
Paris mà lão thường bù khú trong mùa hè đều đã xí chỗ này chỗ kia cho
mình.
“Nhưng trước tiên phải ăn tối cái đã,” lão Armand tự nhủ, mắt nhìn sang
nhà hàng bên kia đường. Lão liếm ngón tay cái và giơ lên trời. “Ðúng gió
rồi,” lão nghĩ.
Thế là lão tấp cái xe nôi của mình vào cạnh bức tường thấp và ngồi xuống
đón làn hơi thoảng đến từ phía nhà hàng. Lão hít thật đầy vào phổi tất cả

hương vị của nhà bếp. “Chà, thịt bò nướng than củi,” lão thốt lên thèm
thuồng. “Nước sốt cũng đúng điệu đấy. Nhưng khoai tây quá lửa mất rồi.”
Lão Armand cứ ngồi trên vỉa hè như vậy hai giờ liền để thưởng thức mùi
đồ ăn, vì đó là khoảng thời gian mà một người đàn ông Pháp cho phép
mình dùng để ăn trưa.
Rồi lão điệu đàng vén tay áo lau cái miệng râu ria và đứng dậy trên đôi
giầy u u của mình. “Cứ giữ tiền lẻ đi, chú bồi,” lão hào phóng nói mặc dù
chả có anh bồi bàn mặc đồng phục trắng nào ở đấy cả. “Chú sẽ cần để tiêu
Giáng sinh đấy.”
Lão theo bậc cấp từ mặt đường dẫn xuống mép sông Seine, thả hai bánh
sau chiếc xe nôi nảy tưng tưng trên mỗi bậc. “Hơi bị no,” lão tự nhủ,
“nhưng giá mình cứ lấy quả táo lúc nãy thì hay. Ðó sẽ là một món tráng
miệng đúng điệu sau cái thứ nước sốt ngậy như vừa rồi.”
Xuống mép sông, lão đẩy chiếc xe nôi về phía vòm gầm cầu chạy dọc bờ
sông. Trên bờ sỏi có một ông đang rửa xe bằng nước miễn phí của sông
Seine. Một bà mặc áo lông đang cho con chó xù nòi Pháp hóng gió. Một
chiếc xà lan dài bóng nhẫy như con hải cẩu đang trôi trên sông. Ðúng là
như được về quê sau một thời gian dài đi xa, lão Armand nghĩ bụng. Mà
dưới một cây cầu Paris lại chẳng có thiếu gì chuyện hồi hộp nữa chứ.
Khi đến gần lão mới trợn mắt vì ngạc nhiên và tức giận. Một cái lều bạt
màu xám nằm chình ình ở hốc tường xưa nay vốn là của lão. Và một cái
xe đẩy kiểu trong chợ dựng ngay bên cây cột.
Lão đẩy xe nôi chạy vội trên lớp sỏi đến hốc vòm. Ðến nơi, lão hùng hổ
thò tay giật tung cái lều. Thế rồi hoảng hốt nhảy lui.
“Ô là la!” lão hét toáng lên. “Lũ sáo đá! Cả ổ sáo đá!”
Bởi vì có ba đứa trẻ đang khiếp vía rúc vào cái mền rách, ngước nhìn lên
bằng ánh mắt thảng thốt chẳng kém gì lão. Một con bé và một thằng bé
nhủi sâu trong mền. Còn con bé lớn hơn liền nhảy phắt dậy. Nó có cặp mắt
xanh ngay thẳng, rất hợp với cái cằm quyết đoán, cái mũi hếch cùng mái
tóc đỏ hoe.

“Ông không được bắt chúng tôi đi,” nó hét lên, nắm tay vung vẩy. “Chúng
tôi sẽ ở lại với nhau vì chúng tôi là một gia đình, mà gia đình thì phải gắn
bó với nhau. Mẹ chúng tôi dặn thế.”

Chương hai
Lão Armand đang nhìn bọn nhóc trừng trừng thì một con chó lông lá bờm
xờm, chắc vốn có màu trắng, băng qua bờ sỏi lao đến. Nó nhảy ngay vào
giữa lão lang thang và bọn trẻ, cứ nhè lão mà sủa như điên. Lão vội vàng
đẩy tới đẩy lui chiếc xe nôi che chắn giữa mình và con chó.
“Nếu cái con quái này mà cắn ta,” lão kêu lên, “ta sẽ đi thưa các người và
đòi bồi thường mười nghìn franc đấy.”

Con bé gọi con chó. “Lại đây. Jojo! Thôi nào, Jojo! Ông ấy không bắt mình
đâu. Chỉ là một ông già ăn xin thôi mà.”
Con chó ngừng sủa và hít hít mấy cái bánh xe chiếc xe nôi.
Lão lang thang bực lắm. “Nói cho mà biết, ta không phải ông già ăn xin vớ
vẩn nào hết,” lão lên tiếng. Mà đúng thế thật. “Ta không phải kẻ thân cô
thế cô, và muốn làm việc gì là ta làm được ngay. Nhưng cha mẹ chúng bay
đâu và chúng bay đang trốn ai ở đây? Cảnh sát hả?”
Lão nhìn kĩ bọn nhóc. Rặt tóc đỏ, cả ba đứa, quần áo chắp vá, vẻ nghèo
túng không lẫn đi đâu được.
Cặp mắt con bé lớn nhất sáng bừng một màu xanh lơ sâu thẳm. “Chủ nhà
đuổi chúng cháu ra vì từ khi bố mất mà nhà cháu không có đủ tiền trọ,” nó
kể. “Cho nên mẹ phải mang chúng cháu ra đây vì không còn chỗ ở nữa. Mẹ
dặn phải trốn sau tấm bạt để không ai thấy, không thì người ta sẽ bắt
chúng cháu đem vào nhà nuôi trẻ nghèo, không được ở với mẹ. Nhưng
chúng cháu là một gia đình nên chúng cháu muốn ở với nhau. Cháu là
Suzy, còn đây là Paul và Evelyne.”
Thằng bé cũng đã lại hồn một chút. “Cháu mà lớn hơn tí nữa thì cháu sẽ
tìm chỗ mới cho cả nhà,” nó vênh váo.

“Ta thấy chúng bay đã tìm được chỗ mới rồi,” lão Armand nói, “và đó là
chỗ cũ của ta. Chúng bay đuổi ta ra khỏi nhà ta cũng hệt như bà chủ nhà kia
đã làm với chúng bay vậy.”
Suzy có vẻ ái ngại. Nó kéo cái xe đẩy ra và nheo một mắt áng chừng lão
Armand. Rồi nó lấy cục than mềm vẽ một hình chữ nhật dài trên nền bê
tông.
“Ðây là phòng của ông,” nó nói. “Ông cứ ở đây với chúng cháu.” Ngẫm
nghĩ thêm một lát, nó nghệch ngoạc vẽ thêm một hình vuông nhỏ có kẻ ô
phía dưới hình chữ nhật. “Ðây là cửa sổ,” nó trịnh trọng nói, “để ông còn
nhìn ra ngắm sông.”
Lão Armand hậm hự trong họng, kéo áo choàng che kín ngực như thể
muốn giấu đi trái tim. Chà, con bé sáo đá này đáng gờm đây. Lão phải
cuốn gói sớm thì hơn. Paris thiếu gì cầu, sông Seine chẳng chảy qua Paris
ngoằn ngoèo lắm đấy sao. Tìm một cây cầu khác đâu có gì khó nhọc.
Nhưng đúng lúc lão dợm bước đi thì con bé đã chạy theo tóm lấy ống tay
áo rách bươm của lão.
“Ông ở lại đi ạ,” nó nài. “Chúng cháu sẽ giả vờ ông là ông ngoại chúng
cháu.”
Lão Armand khịt mũi. “Này, bé con,” lão nói, “thứ nhất là triệu phú, thứ
nhì là ông ngoại, đó là những việc cuối cùng mà ta muốn làm trên đời.”
Làu bàu thì làu bàu vậy nhưng lão cũng bắt đầu dỡ đồ ra.
Lão chụm các thân và cành cây lại rồi vun hết lá vào. Lão lôi ra một tấm
bạt dơ dáy và một cái móc sắt han rỉ, đặt cái lon sắt nhọ nhem có quai cầm
bên cạnh đám lá, bày ra mấy cái dao muỗng cong queo. Cuối cùng, lão lôi
ra một chiếc giày cũ đã thủng đế.
“Chưa biết chừng lại sắp vớ được chiếc cùng đôi của nó cũng nên,” lão
phân trần với bọn trẻ. “Mà nó cũng vừa in chân ta.”
Bọn trẻ muốn giúp lão một tay. Ôi, cái lũ sáo đá này mới khôn chứ. Chúng
thật biết cách xỏ mũi một lão già. May mà lão chẳng phải ông nội ông

ngoại gì của chúng cả. Tuy nhiên, lão vẫn trải tấm bạt của mình lên chỗ
hình chữ nhật mà Suzy đã vẽ.
Lão Armand nhóm lửa với chỗ cành lá khô. Sau đó treo cái lon sắt to lên
ngọn lửa, lão đổ vào đó các mảnh vụn đồ ăn mà lão gói sẵn trong một
miếng báo.
“Vào cái thời huy hoàng ngày xưa ở Paris,” lão bảo với bọn trẻ, “người ta
thường gióng chuông ở các chợ vào lúc cuối ngày để cánh ăn mày biết mà
đến lượm các thứ còn thừa. Nhưng hết rồi. Nay thì cứ phải tự đi mà lo cho
mình thôi.”

Bọn nhóc nhìn lão ăn. Ngay cả con chó vốn có màu trắng cũng nhìn theo
từng miếng lão đút vào miệng mà nhểu nước dãi xuống mặt sàn bê tông.
Lão Armand ngọ nguậy khó chịu. “Chuyện gì?” lão hỏi gằn. “Chúng bay
chưa thấy ai ăn bao giờ hay sao?” Chúng lặng thinh không nói gì, nhưng cả
bốn cặp mắt thì cứ dõi theo từng chuyển động của cái muỗng trên tay lão
Armand. “Ta đoán là chúng bay đang đói,” lão lầu bầu. “Lũ sáo đá cứ phải
ăn luôn mồm thôi. Lấy chén bát ra đây.”
Suzy lôi từ xe đẩy ra mấy cái bát nhom nhem méo mó cùng mấy cái
muỗng cong queo. Lão Armand cẩn thận chia đồ ăn, thậm chí còn tính cả
phần cho con chó.
Lúc mẹ bọn trẻ về thì trời đã tối. Ánh đèn của Paris đã trôi lững lờ trên
sông Seine, nhưng dưới chân cầu chỉ có ánh sáng từ đống lửa nhỏ của lão
Armand. Lão không nhìn thấy rõ mặt người phụ nữ nhưng cảm nhận được
cái gay gắt trong giọng nói của chị.
“Ông đang làm gì ở đây?” chị hỏi lão lang thang.
Lão Armand nổi nóng. “Tôi cũng có thể hỏi cô câu đó đấy, thưa cô,” lão
vặc lại. “Mẹ con cô đã chiếm khúc cầu của tôi.”

“Cầu đâu phải của riêng ai,” người phụ nữ nói. “Ðấy là chỗ trú miễn phí
duy nhất ở Paris này mà.”
Suzy cố đứng ra hòa giải. “Ông là một ông già ăn xin thân thiện dễ thương
lắm, mẹ ạ,” nó nói, “ông sẽ ở cùng chúng ta.”
“Ta không phải lão ăn mày thân thiện đâu nhé,” lão Armand tức tối kêu
lên, “ta là lão ăn mày keo kiệt, gàn dở, ghét trẻ con, chó và cả đàn bà.”
“Ông ghét chúng cháu,” Paul nói, “thế sao lại còn cho chúng cháu ăn
cùng?”
“Vì ta là một lão ăn mày ngu ngốc,” lão đáp. “Vì ta là lão ăn mày ngu ngốc
có trái tim mềm yếu.” Ô là la! Chết dở rồi. Lão đã lỡ miệng để lộ là mình
có trái tim. Bây giờ thì cả cái gia đình không nhà không cửa này chắc chắn
sẽ rình rập nó đây.
Bà mẹ không vui tí nào khi nghe lũ con ăn chực của lão lang thang. “Nhà ta
đâu phải ăn mày,” chị nhắc chúng. “Mẹ có công việc ổn định ở tiệm giặt,
thế là hơn đứt ông ta rồi.”
Chị lăng xăng hâm nóng súp và cắt ổ bánh mì dài vừa mang về. Lão
Armand ngồi trong cái hình chữ nhật Suzy vẽ cho, nghĩ bụng rắc rối của
người phụ nữ này chính là sự kiêu hãnh, mà sự kiêu hãnh với một cuộc
sống dưới chân cầu thật khó có thể đi chung với nhau.
Lửa gần tàn, người phụ nữ chạy đi chạy lại đến chiếc xe đẩy lấy ra những
tấm mền bị nhậy cắn thủng lỗ chỗ để trải làm chỗ nằm trên sàn bê tông.
Ngay trên đầu là xe cộ rú rít, ánh đèn phả xuống cây cầu và khách bộ hành
qua lại trên phía bờ cao buông tiếng cười vẳng xuống. Nhưng tất cả
dường như ở cách xa nhóm người nho nhỏ dưới chân cầu cả triệu dặm.
“Cô phải đưa bọn sáo đá vào một nhà tế bần nào đó cho đến khi tìm được
chỗ ở mới cho mình, cô ạ,” lão Armand đề xuất sau khi bọn trẻ đi ngủ.
“Cuộc sống như thế này không phải dành cho chúng. Nghe này, cô không
muốn chúng đến nông nỗi như tôi chứ, đúng không?”

“Một gia đình thì phải gắn bó với nhau cả lúc sướng cũng như lúc khổ,”
người phụ nữ đáp. “Mà tôi cũng có nhiều hi vọng. Sắp tới tôi sẽ đến chỗ
chị dâu tôi. Có thể chị ấy sẽ tìm một chỗ cho chúng tôi bên mạn Clichy.”
Lão Armand nằm duỗi dài trên tấm bạt, chả cần đắp gì. Lão chịu lạnh đã
quen, không còn cảm thấy nó nữa. Nhưng lão biết chắc bọn nhóc tì này thể
nào cũng lạnh. Nằm trên sàn cứng mà một ý nghĩ khó chịu cứ cắn rứt lão,
cứ như có con chuột đang dứt dứt dây giày. Bây giờ đã lỡ làm quen với
với lũ sáo đá kia rồi, cuộc đời lão sẽ không hoàn toàn là của riêng lão nữa.
Buổi sáng mờ mờ len dần vào bóng tốt dưới chân cầu, lão Armand thức
giấc thì thấy người phụ nữ đã đi rồi, còn ba đứa trẻ đang cho con Jojo ăn
một miếng bánh mì cũ.
“Chúng bay vẫn còn ở đây sao?” lão hỏi. “Chẳng phải hôm nay phải đi học
hay gì sao?”
Suzy lắc mái tóc đỏ. “Chưa có chỗ ở thì bọn cháu chưa đi học lại được. Mẹ
bảo không khéo thầy cô sẽ hỏi đến, rồi thì người ta tách mẹ con bọn cháu
ra mà đưa bọn cháu vào nhà nuôi trẻ mất.”
“Mẹ chúng bay muốn có chúng bay ở bên hơn ta,” lão nói. “Nhưng con nít
thì phải đi học chứ. Liệu ta có ở đây không nếu hồi nhỏ ta đi học?”
“Ồ, cháu thích đi học lắm,” Suzy nói, đôi mắt xanh lơ sáng lên. “Cháu
thích đọc với thích viết. Cháu ước lớn lên làm cô giáo. Ông coi này, có
một ông trên xà lan ném cho cháu mẩu than để cháu viết thay bút chì đây
này. Ước gì bọn cháu sớm được đi học lại.”
“Mình khác nhau chỗ đó đấy,” lão Armand thú thực. “Ta chưa bao giờ
thích đi học cả. Nhưng ban ngày chúng bay cũng phải đi đâu đó chứ. Mẹ
chúng bay không thể bắt ta trông coi chúng bay được. Ta cũng có việc phải
đi nữa chứ.”
“A, thế thì bọn cháu đi với ông được không?” Suzy nài. “Bé Evelyne trông
thế chứ đi bộ giỏi lắm ạ. Em ấy không mệt đâu.”

“Không,” lão Armand lo lắng kêu lên. “Không đi theo ta được đâu, đừng
có kèo nhèo.”
“Ði mà, ông ăn xin, cho tụi cháu đi với,” Paul năn nỉ. “Ngồi không dưới
này thì lạnh đến chết mất.”
“Ðừng vô lễ thế, Paul,” Suzy nhắc. “Nếu em không xin lỗi thì ông ấy sẽ
không cho mình đi đâu.”
“Nhưng biết gọi ông ấy thế nào bây giờ?” Paul hỏi lại. “Em có biết tên
ông ấy đâu.”
“Ông ơi, ông tên gì?” Suzy hỏi lão.
“Armand,” lão lang thang đáp.
“Thế còn họ ạ?” Paul hỏi gặng. “Họ của bọn cháu là Calcet.”
Lão Armand nhún vai. “Ta quên rồi,” lão thú thực. “Ta nhớ hình như Pouly
hay Pougy gì đó. Ðại để thế. Gọi Armand là được rồi.”
“Hay quá, thưa ông Armand,” Paul nói. “Cháu xin lỗi vì đã gọi ông là ông
ăn xin. Bây giờ ông cho chúng cháu đi với chứ ạ?”
“Chắc chắn rồi,” Suzy vội nói. “Trông ông ấy bầy hầy thế chứ trái tim ông
tốt lắm. Cả Jojo đi nữa, được không ông?”
Lão Armand sờ lên ngực áo choàng, chỗ che trái tim. Ôi, bọn nhóc này
đúng là đang nhắm vào nó đây, chắc chắn rồi. “Ô là la!” lão kêu lên. “Ði
đâu cũng kéo theo một lũ sáo đá với một con chó thế này thì còn ra thể
thống gì nữa?” lão ngán ngẩm. “Bạn bè nào chịu cho mình tụt tạt với cả
đám ẩm ương này chứ?” Thế rồi một nét ranh mãnh thoáng qua trên khuôn
mặt phong sương của lão. Có lẽ kéo đám nhóc tì thảm hại này ra đường
cũng không đến nỗi dở đâu. Không, thật thế! Lão đã có một ý cực hay. Tất
nhiên đó không phải là thứ mà một bà mẹ kiêu hãnh chấp nhận. “Mấy đứa
có thích lên phố gặp Cha Giáng sinh bạn ta không?” lão hỏi bọn trẻ.
Thằng Paul bàng hoàng không dám tin. “Ông quen cả Cha Giáng sinh cơ
à?” nó hỏi.

“Mẹ bảo năm nay ông ấy sẽ không đem gì đến cho chúng cháu vì không
biết chúng cháu ở đâu,” con bé Evelyne nói.
“Thế thì ta đến thẳng cửa hàng Louvre,” lão Armand tuyên bố. “Cứ đến
thẳng đấy báo cho ông ấy biết chỗ.”

Chương ba
Armand, lão lang thang Paris, dẫn lũ nhóc tóc đỏ leo mấy bậc cấp lên
thành phố nhộn nhịp bên trên. Bộ óc già nua bên dưới chiếc mũ bê rê cũ kĩ
đang bận rộn với những kế hoạch lớn lao cho bọn trẻ và cho chính lão.
Xem ra bọn sáo đá cũng không đến nỗi quá tệ. Chúng cũng có ích đấy chứ.
Lão bước phía trước, dẫn đường băng qua cầu rồi vòng qua nhà thờ Ðức
Bà. Suzy dắt tay con bé Evelyne theo sau. Thằng Paul thì chốc chốc lại tụt
tạt ngó nghiêng cái gì đó, có lúc lại chạy lên trước nói chuyện với lão lang
thang. Con chó hẳn vốn có màu trắng lóc cóc chạy bên đôi giày mòn vẹt
của Suzy.
Cả đám láo nháo đi qua cây cầu nối hòn đảo với bờ phải. Bọn nhóc quay
ngang quay ngửa nhìn ngó những ngọn tháp rồi tháp canh lạ mắt bên trên
nóc Hôtel de Ville.
“Ðó là tòa thị chính, nơi người ta điều hành Paris đấy,” lão Armand giải
thích. “Hừm! Ta đây ngồi dưới gầm cầu điều hành còn giỏi hơn.”
Mấy con bồ câu xanh chấp chới đầy hy vọng quanh mấy ông cháu.
“Ðồ ăn xin!” lão lang thang khịt mũi. “Cứ quấy rầy người ta xin bố thí.”
Jojo cũng cho là thế. Con chim nào láng cháng đến gần lũ trẻ quá là nó
đuổi liền.
“Giá mà có ít bắp cho chúng ăn,” Paul nói.
“Thấy ta nói gì chưa?” lão Armand hỏi. “Ngay cả những kẻ không có gì bỏ
miệng cũng vẫn còn sẵn sàng cho bồ câu ăn cơ đấy. Ước gì ta cũng là
chim.”
Cả nhóm kéo nhau qua con đường rải đá ảm đạm cho đến tận Rue de
Rivoli nhộn nhịp. Nơi này đầy những người đi mua sắm lễ.

Giáng sinh quả thực đã đến rất gần con phố làm ăn. Những người bán
hàng rong đứng sau các quầy trên vỉa hè oang oang rao hàng và nài nỉ
khách qua đường ghé xem. Người ta đang mua nào khuyên tai, nào nịt tất,
nào chất làm mềm nước, nào khăn quàng lụa ở những quầy hàng rong.
Người ta mua bán điên cuồng và ồn ã, như thể chẳng còn bao giờ tìm
được thứ gì như vậy ở Rue de Rivoli nữa không bằng. Và cứ nhìn cái kiểu
mua bán điên rồ như thế, chắc đến mai sẽ chẳng còn gì mà bán nữa thật.
Lão Armand liên tục phải quay lại dỗ bọn trẻ đi tiếp. Thứ gì chúng cũng
muốn đứng lại xem. Chúng dừng lại ngắm chú lính bằng máy mà một ông
kia cho chạy thử trên vỉa hè. Chú lính bước đều và giơ tay chào rõ oai,
phải mất bao nhiêu công mới lôi được thằng Paul ra khỏi chỗ đó.

“Cái thứ đồ chơi rẻ tiền ấy mà,” lão Amand dè bỉu. “Ðem về nhà là khỏi
chạy luôn, không thì chạy một vòng thôi là đứt cót ngay. Ta có ông bạn
chuyên bán mấy thứ này mà lại.”
Vừa dỗ được chúng rời khỏi món đồ chơi thì lại đến tiệm bánh. Có một
cái bánh khúc cây Giáng sinh bày trong quầy kính - cái khúc cây trông đến
là ngon. Nó có màu nâu sô-cô-la với mấy đọt nấm xinh xinh nhú lên từ
khúc thân ngọt lịm. Những đóa hồng bông đường cũng mọc ra từ đó. Lại
còn cả một nhánh thường xuân trông y như thật cuốn quanh khúc thân với
những chiếc lá xanh non vươn dài nữa chứ.
“Ôi, trông đẹp chưa kìa!” Suzy thốt lên và liếm môi.
“Mình em có thể ăn hết cả cái luôn,” Paul kêu lên.
“Em đói,” Evelyne rên rỉ.
Lão Armand lại phải lôi từng đứa ra. “Ăn như ăn thuốc chứ ngon lành gì,”
lão nói. “Tất cả, ngoài cái dây leo kia. Cái thứ đấy ăn thì đúng thật như cây
thường xuân, vừa dai vừa đắng. Ta đã ăn bánh khúc cây Giáng sinh một
lần rồi ta biết.” Xem ra bọn trẻ chẳng có vẻ gì tin lời lão cả. “Ðó là cách
người ta lừa trẻ con uống thuốc đấy,” lão cả quyết.

Cả đám kéo nhau sang đường khi người cảnh sát dừng xe cộ lại. Mấy ông
cháu đến chỗ một cái lò bằng sắt to tướng có một ông đang bán hạt dẻ
nóng, rang đến đâu bán hết veo đến đấy. Không khí ấm sực quanh lò, và
mùi hạt dẻ rang thì cứ trêu ngươi. Bọn trẻ dừng lại, nhìn cái lò hau háu.
“Ði nào, đi nào,” lão Armand sốt ruột giục. “Toàn hạt dẻ sâu thôi. Chúng
bay nghĩ Cha Giáng sinh cứ ngồi đấy chờ mình đến tận nửa đêm chắc? Mà
còn phải đi một đoạn đường dài nữa mới đến được Louvre.”
Nhưng trên đường có quá nhiều thứ để nhìn ngắm nên xem ra cũng khá
gần. Chẳng mấy chốc, cả nhóm đã đi vào dưới các mái che của cửa hàng.
Mà ở phía ngoài này cũng bày bán nhiều thứ chẳng kém trong các cửa
hàng - ngần ấy xe đẩy và người bán rong kia mà.
Lão Armand lùa bầu đoàn bé nhỏ của mình qua một trong những cánh cửa
kính to đùng vốn là niềm kiêu hãnh của cửa hàng. Khi vào tới bên trong, lũ
trẻ và con chó cứ ngỡ mình lạc vào xứ thần tiên. Trong cửa hàng vĩ đại này
vừa ấm áp vừa đẹp đẽ, với ánh đèn sáng trưng và những màu sắc chuyển
động. Lại còn có cả mùi thơm của các loại nước hoa quyện vào nhau, như
thể hoa trên khắp thế gian cùng nở rộ phía sau những quầy hàng phủ vải
mềm và bày đầy nữ trang lóng lánh kia vậy.
“Ta phải lên chỗ gác lửng trên kia,” lão Armand nói. “Có lẽ nên đi thang
máy của họ, giữ chân giữ cẳng để còn đi bộ về.”
Thế là cả bọn bèn đến chiếc thang máy gần nhất. Nhưng không thể nhồi
hết tất cả những người đang chờ vào một lúc được.
“Phải đi thang bộ thôi,” lão Armand quyết định. “Bọn bay có nghĩ các bà
kia nên ở nhà nấu nướng giặt giũ thì hơn không?”
“Mẹ cháu sẽ làm thế ngay nếu có thể,” Suzy nhanh nhảu nói.
Mấy ông cháu lên cầu thang. Mắt đám trẻ càng lúc càng thêm mơ màng.
Chúng trông thấy những cái bàn đồ chơi chất cao chóc ngóc. Chúng đang
lạc vào lãnh địa của Cha Giáng sinh. Chúng cung kính nhón chân theo sau
lão lang thang vào gian phòng nơi trẻ con có thể chụp hình với ông thánh miễn là bố mẹ chúng chịu trả tiền.

Lão Armand nhòm vào. Bọn nhóc nín thở.
“Ông ấy không có đây,” lão lang thang thất vọng nói.
Nhưng đúng lúc đó thì chính Cha Giáng sinh vòng qua dãy quầy bước lại.
Ông mặc chiếc áo choàng đỏ dài tới tận mắt cá chân, còn bộ râu bạc xoăn
xoăn phủ hết cả ngực. Ria mép của ông gợn sóng và được chải sáp. Nhưng
cặp mắt đen của ông thì cáu kỉnh và nắm tay đang hua lên về phía hai thằng
bé chạy đằng trước.
“Ta mà bắt được chúng bay nghịch cái xe lửa chạy điện lần nữa là ta tống
cổ cả hai ra khỏi cửa hàng đấy nghe chưa,” ông đe.
Bọn trẻ nhà Calcet sợ mất vía. Cả ba đứa nép vào sau lưng lão Armand.
Rồi khi Cha Giáng sinh tiến đến thì con bé Evelyne hoảng sợ khóc òa lên,
còn con Jojo thì gừ gừ. Vừa trông thấy lão Armand, những nếp nhăn giận
dữ trên trán Cha Giáng sinh liền biến mất và vô tình cuộn quanh môi ông.
Mắt ông dịu lại ngạc nhiên và thích thú.
“Hô, hô, hô!” ông bật cười theo kiểu Cha Giáng sinh vẫn cười. “Xem ông
cháu quý hóa nhà ai hôm nay tới thăm ta này.” Ðoạn ông lại cười hô hô hô
mãi, đến nỗi bọn trẻ đã sợ là ông bị bùa ho.
Lão Armand kéo bọn trẻ nhà Calcet ra trước mặt mình, lần lượt từng đứa
một. Evelyne đã thôi khóc và Jojo cũng thôi gầm gừ.
“Ông không tin nổi tôi tìm thấy chúng ở đâu đâu,” lão Armand nói, “có
điều chúng cứ muốn tới gặp ông.”
Mắt bọn nhóc lại sáng rỡ. Chúng mừng quá không thốt nổi nên lời.
“Năm nay các cháu có ngoan không nào?” Cha Giáng sinh hỏi.
“Chúng cháu đã cố lắm đấy ạ,” Suzy nói tránh.
“Ðôi khi chúng cháu cũng hơi lẫn lộn việc gì là ngoan và việc gì không
ngoan ạ,” Paul thú thực.

“Cháu đã kéo đuôi Jojo, nhưng từ nay cháu không làm thế nữa ạ,” Evelyne
cũng nhận lỗi.
Cha Giáng sinh có vẻ hài lòng. “Ta thích những đứa trẻ thật thà,” ông nói.
“Bọn khác thì đứa nào cũng khoe mình cả năm ngoan như thiên thần. Nào,
các cháu muốn ta mang quà gì đến nhân dịp Giáng sinh đây?”
“Chúng cháu muốn một cái nhà ạ,” Suzy nói. “Xin ông mang đến cho
chúng cháu một cái nhà, được không, Cha Giáng sinh?”
“Hô, hô, hô!” Cha Giáng sinh cười đáp lại. “Cái này thì bố mẹ các cháu
mới đồng ý được. Nhưng các cháu muốn nhà loại nào? Một cái nhà đồ
chơi?” Ông liếc nhìn Jojo. “Hay một cái nhà cho chó?”
“Một cái nhà thật cơ ạ,” Paul nói. “Nhà mà chúng cháu ở được ấy.”
“Có cả tường, cả mái ấy ạ,” Suzy nói.
“Cả cửa sổ nữa ạ,” Evelyne đế thêm. “Cháu thích nhìn ra cửa sổ đợi chị
Suzy với anh Paul đi học về.”
Cha Giáng sinh thôi không cười hô hô hô vui nhộn nữa mà nhìn chúng
chằm chằm. “Ðã có ai nghe nói trẻ con muốn quà Giáng sinh là một cái nhà
thật bao giờ chưa nhỉ?” ông hỏi lại. “Vậy một cái trống cho cậu nhỏ và búp
bê cho các cô bé, được không nào?”
“Không ạ,” Suzy khăng khăng, “phải một cái nhà thật cơ.”
Cha Giáng sinh đảo cặp mắt đen và vân vê ria mép. “Phải là búp bê hay đồ
chơi cơ, các cháu của ta,” ông nói. “Con lừa nhỏ của ta không thể thồ trên
lưng cả một ngôi nhà được. Các cháu biết mà.”
Bọn trẻ xịu mặt. Nhưng rồi Suzy cũng nhớ lại phép tắc. “Dù sao chúng
cháu cũng cảm ơn ông, thưa Cha Giáng sinh,” nó nói, giọng run run. “Cháu
nghĩ rằng chúng cháu chẳng cần gì khác ngoài ngôi nhà đâu ạ.”
“Cháu thì có,” Paul nói. “Cháu muốn có gì đó để ăn.”
“Còn cháu muốn một con búp bê,” Evelyne thêm vào.

Cha Giáng sinh mở miệng định nói gì đó nhưng một cô bán hàng xinh đẹp
đã chen vào. “Ông nên vào ngay phòng chụp đi, kẻo ngài Latour đuổi việc
ông bây giờ,” cô ấy nói. “Có bốn đứa trẻ đang chờ được chụp hình đấy.”
Cha Giáng sinh vỗ đầu từ biệt từng đứa nhỏ tóc đỏ, rồi nói với lão
Armand, “Ngài Latour này đang tìm một người gác đêm cho một tòa nhà
của bạn ông ta đấy. Ông muốn làm không?”
“Ô là la!” lão Armand kêu lên. “Tôi có đến gặp Cha Giáng sinh để xin việc
đâu. Chào nhé, Camille.”
Lão lại dẫn bọn trẻ xuống cầu thang, nhưng giờ chúng lặng lẽ đến lạ.
Thậm chí tai Jojo còn rũ xuống và đuôi cũng cụp cả vào.
Khi mấy ông cháu đi qua giữa các dãy quầy thì tầng chính đã bớt đông.
Một người trực tầng lịch lãm trông thấy đám bụi đời liền chạy đến. Ông ta
tạo ra một tiếng động khe khẽ khi rút chiếc khăn trắng muốt từ túi áo ra.
“Có phải các người vào nhầm cửa hàng không vậy?” ông ta kiêu kì hỏi.
“Tôi dám chắc là chúng tôi đã vào nhầm cửa hàng,” lão Armand trả lời
cũng kiêu kì không kém. “Chúng tôi mang con chó vào đây để nó đi thang
máy, thế mà thang máy nào cũng chật cứng.” Lão huýt con Jojo. “Lại đây
nào, cậu bé, chúng ta sẽ đưa cậu sang bên Printemps.”
Jojo gầm gừ với người trực tầng ngạo mạn. Cái nhóm nhỏ hướng ra phía
cánh cửa kính to đùng mà cửa hàng này rất lấy làm hãnh diện. Tất cả đều
run lên khi bước ra ngoài trời lạnh cắt da.

Chương bốn
“Có một gian hàng Giáng sinh đẹp lắm dưới này này, mấy đứa phải xem
mới được,” lão Armand bảo bọn trẻ. Lão muốn chúng vui lên một chút vì
trông đứa nào cũng ủ ê và câm lặng.
Lão đưa chúng đến cửa chính trông ra quảng trường Palais Royal. Một
đám đông đã đứng chắn hết cửa sổ nhưng lão Armand cùng lũ nhóc đồng
hành vẫn len lỏi ra được phía trước.
Bọn trẻ mắt tròn mắt dẹt. Một cảnh tượng hoành tráng thế này chúng chưa
từng thấy bao giờ. Một băng rôn gần mặt tiền cửa sổ cho biết đây là cảnh
“Ðám cưới của Tartine”. Ðúng là một đám cưới như trong sách. Hai người
máy, một đàn ông, một đàn bà, mặc đồ trắng lộng lẫy kiểu ngày xưa đứng
trên một rạp cao. Hai người chững chạc cúi chào nhau trong tiếng nhạc du
dương lãng mạn. Nhưng kì diệu hơn nữa là đám rước của những hình
người nhỏ xíu phía dưới đôi tình nhân. Ðó là những đầu bếp đội mũ trắng
bưng các món ngon lành kỳ diệu cho bữa tiệc cưới. Một người bưng một
con công sặc sỡ, cổ thụt lên thụt xuống theo tiếng nhạc. Người khác giơ
cao một con cua bự, cặp càng cua quặp vào mở ra giữ nhịp. Lại một người
nữa bê một cái bánh ngọt trông còn ngon hơn cả cái bánh khúc cây Giáng
sinh ở tiệm bá...
 
Gửi ý kiến