Ca dao nhi đồng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Trà
Ngày gửi: 15h:25' 27-08-2025
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Trà
Ngày gửi: 15h:25' 27-08-2025
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Tên sách : CA DAO NHI ĐỒNG Q.1
Tác giả : DOÃN QUỐC SỸ sưu tập
Nhà xuất bản : SÁNG TẠO
Năm xuất bản : 1969
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : Nguyễn Thị Kiều Tiên
Kiểm tra chính tả : Trần Thị Kim Duyên,
Lê Thị Phương Hiền, Nguyễn Văn Ninh, anfat3
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 11/11/2018
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
I. TÁC DỤNG CỦA CA DAO NHI ĐỒNG
II. PHÂN LOẠI CA DAO NHI ĐỒNG
A) Những bài hát luân lý
B) Những bài hát vui
C) Con cò trong ca dao Việt-Nam
D) Những bài nói về nếp sống nông nghiệp và những tập
tục xưa
E) Linh tinh
F) Những trò chơi nhi đồng
G) Những câu đố
II. BÀI HÁT TRẺ EM NAM HƯƠNG
III. TÀI LIỆU THAM KHẢO
IV. NHAN ĐỀ VÀ CHÚ THÍCH
V. CÁCH SỬ DỤNG CA DAO NHI ĐỒNG TRONG LỚP HỌC
VI. GHI CHÚ VỀ TOÀN BỘ TUYỂN TẬP VĂN CHƯƠNG NHI
ĐỒNG
PHẦN MỘT : CA DAO NHI ĐỒNG VIỆT NAM
I. LUÂN LÝ
II. NHỮNG BÀI HÁT VUI
III. CON CÒ TRONG CA DAO
IV. ĐỜI SỐNG NÔNG NGHIỆP – CÁC TẬP TỤC CŨ
V. LINH TINH
VI. TRÒ CHƠI NHI ĐỒNG
A) Ý NGHĨA CÁC TRÒ CHƠI
B) VÀI CÁCH BẮT THĂM
Ò
Ổ
Ô
Ủ
Á
Ẻ
Ệ
C) TRÒ CHƠI PHỔ THÔNG CỦA CÁC TRẺ EM VIỆT
VII. CÂU ĐỐ
VIII. NHỮNG BÀI HÁT TRẺ EM CỦA NAM-HƯƠNG
PHẦN HAI : CA DAO NHI ĐỒNG QUỐC TẾ
1. MÈO PUS-SY (Anh, Mỹ)
2. ANH TƯ (Anh, Mỹ)
3. MỘT, HAI… (Anh, Mỹ)
4. ÔNG MẬP HÂM-TY ĐÂM-TY (Anh, Mỹ)
5. BÉ MAI VỚI CON CỪU CON (Anh, Mỹ)
6. HỠI NÀNG KIỀU NỮ (Anh, Mỹ)
7. ĐI CHƠI PHỐ (Tây-Ban-Nha)
8. CHÚ GIÔN (Hoà Lan)
9. ĐI CÂU (Đan Mạch)
10. EM BÉ (Ả Rập)
11. MỘT VỊ THIÊN THẦN (Do-Thái)
12. ĐÊM THỨ MƯỜI HAI (Ý-đại-lợi)
13. MẶT TRĂNG (Mễ-Tây-Cơ)
14. CON MA (Pháp)
15. NGỰA CÂU (Welsh)
16. CÁI NẤM (Nga)
17. CON HÃY NHẢY TỚI (Tô-Cách-Lan)
18. HAILY PAILY (Tô-Cách-Lan)
19. VÀ TÔI SẼ… (Tô-Cách-Lan)
20. JOHN SMITH (Tô-Cách-Lan)
21. CÔ BÉ TRADJA (Na-Uy)
22. HUSKY HI (Na-Uy)
23. NGÀY TẾT (Nhật-Bản)
Ả
24. HẠT THẢO NHI (Trung-Hoa)
25. NĂM NGÓN CHÂN (Trung-Hoa)
26. NÀNG BỌ (Trung-Hoa)
TUYỂN TẬP VĂN CHƯƠNG NHI ĐỒNG
CA DAO NHI ĐỒNG
QUYỂN MỘT
DOÃN QUỐC SỸ sưu tập
SÁNG TẠO
Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng quyển một ca dao
Doãn Quốc Sỹ sưu tập Ngọc Dũng trình bày bìa và nội dung
các minh hoạ khác là của Priscilla-Meredith Phạm-Thị-Loan,
Tăng-Kim-Trâm ngoài những bản thường còn in thêm 50
bản trên giấy quý.
Tặng cô DOÃN-THỊ-QUÝ đã giúp anh nhiều trong việc
san nhuận phần văn chương nhi đồng quốc tế.
Cái cò trắng bạch như vôi…
(Nét vẽ của Priscilla Meredith)
LỜI MỞ ĐẦU
Quyển một này sẽ gồm hai phần. Phần đầu giới thiệu ca
dao nhi đồng Việt-Nam, và phần hai giới thiệu ca dao nhi
đồng quốc tế.
Trẻ nhỏ Việt nào mà chẳng thuộc, không ít thì nhiều, vài
bài ca dao mà các em cảm thấy thích thú. Ca dao đã đóng
góp một phần không nhỏ vào đời sống tươi vui hồn nhiên
của các em. Hầu hết trò chơi của các em đều là ca dao.
Trường Sư-Phạm Saigon niên khoá 1968-69 thày trò
chúng tôi đã có dịp bàn nhiều về môn này mà chúng tôi gọi
chung là Văn-Chương Nhi-Đồng gồm ca dao, ngụ ngôn,
truyện thần thoại, truyện cổ tích, v.v… Quyển một dành
riêng cho ca-dao.
I. TÁC DỤNG CỦA CA DAO NHI ĐỒNG
Bàn về tác dụng của ca dao nhi đồng, nữ giáo sinh LýĐức-Mỹ lớp Đệ Nhất-5 niên khoá 1968-69 trường Sư Phạm
Saigon có ghi :
« Khi đọc những ca dao nhi đồng, bao giờ chúng ta cũng
cảm thấy mình như trẻ lại, và những ảnh tượng xa xưa của
thời thơ ấu tự nhiên xuất hiện, nó dàn cảnh trước mắt ta,
gây cho ta một cảm giác lâng lâng yêu đời, và để lại trong
lòng ta một nuối tiếc về thời vàng son của tuổi trẻ mà
chẳng bao giờ ta còn trở lại được nữa.
Tuy thời gian mang đi mất tuổi thơ ngây hồn nhiên,
nhưng cũng chính thời gian làm cho sự hiểu biết trưởng
thành và nhờ đó ta hiểu được và tìm về tuổi thơ với tất cả
chân tình trìu mến. Và nhất là vào những lúc nhàn hạ, bỗng
dưng tự đáy lòng ta dường như thoát ra tiếng hát trong trẻo
ngây-thơ đáng yêu vô cùng. Tiếng hát ấy mang hồn ta ra
khỏi cái thực tại đầy ưu-tư mệt-nhọc đang bám sát người
ta. Thế là ta hoà mình với trẻ và cùng nô đùa với chúng.
Trong giây phút tươi trẻ lại này, ta không còn là chính ta
nữa, mà là một đứa bé như muôn ngàn đứa bé đang cười
rỡn trên khắp vùng quê hương ; ta cũng bầy trò, cũng hành
động như chúng thôi ; và chính ta cũng không hiểu tại sao
ta lại có thể làm được như thế khi mà thực tế dằng-dặc ưutư luôn-luôn níu kéo ta lại với nó.
Xét cho kỹ, ta được tận hưởng những giây phút có thể
nói là thần tiên ấy là do trí khôn ngoan của ta đã biết tích
trữ những tinh hoa : tinh hoa đó chính là những bài hát thơ
ngây sống mãi muôn đời, vì chỉ những gì người ta thích, cái
đó mới gây được hạnh phúc mà thôi ».
Nữ giáo sinh Nguyễn-thị-Vãng lớp Đệ Nhị x cũng ghi như
sau :
« Tự ngàn xưa trên mảnh đất hiền hoà này, những bà
mẹ, những người chị thường vẫn cất cao giọng ngọt-ngào ru
ngủ con thơ, em thơ bằng những câu hát êm đềm có ngụ ý
về luân lý, phong tục trẻ trung, hồn nhiên, đôi khi có tính
cách trữ tình lãng mạn. Những bài hát câu hò đó thấm vào
giấc ngủ của trẻ Việt như mưa xuân tưới thấm đất mầu và
kho tàng thi ca của ta như hoa lá mùa xuân kia phồn thịnh
biết chừng nào. Há chẳng đã có người cho rằng mỗi người
Việt là một thi nhân, và tình yêu gia đình, tổ quốc, dân tộc
và nhất là tình mẫu tử thiêng-liêng thể hiện trong văn
chương Việt Nam thật đã dạt-dào và sâu đậm hơn bất cứ
dân tộc nào trên thế giới.
Khi lớn lên ai mà chẳng thấy lòng xúc động khi nghe
những câu đồng dao ngộ-nghĩnh, những bài hát trò chơi của
trẻ em ! Trong dịp đó tâm hồn ta tìm về thời thơ ấu trọn
vẹn, đó là thuở vàng son đầy nắng ấm và hoa hồng, nụ cười
điểm trên môi ta lúc bấy giờ nhuộm trọn màu thánh thiện
vô tư.
Ôi ! tuổi ngọc thực đã xa vời, nhưng tiếng hát mẹ hiền
ngày nào vẫn còn vang mãi. Những kỷ niệm thời thơ dại đã
sống lại bởi dư âm của bài đồng dao êm-đềm trong ký ức.
Âm thanh sâu thẳm đó đã tháp cho ta đôi cánh thiên thần
bay ra khỏi vùng ưu tư thực tại để đến một cõi nào có toàn
trăng sao, hoa bướm, với một lũ trẻ áo màu rực-rỡ, ngày
tháng tung-tăng ».
Chính vì trẻ Việt đã sớm được hưởng trọn vẹn tác dụng
nhiệm-mầu của ca dao ngay từ thuở trứng nước, giữa bầu
không khí đùm bọc của gia đình như vậy, nên vấn đề chỉ
còn đặt lên là chúng ta sẽ sử dụng những bài đồng-dao ra
sao đây ở nhà trường. Vấn đề sẽ được đề cập tới kỹ càng
hơn ở cuối bài này.
II. PHÂN LOẠI CA DAO NHI ĐỒNG
Ca dao nhi đồng Việt-Nam có thể chia làm mấy loại
chính sau đây :
A) Những bài hát luân lý
Đây thường là những bài hát ru mộc-mạc mà xâu-sắc.
Vào những trưa hè oi nồng, hay trong đêm thanh tịch-mịch
có tiếng các bà mẹ, các người chị vừa đưa võng kẽo-kẹt vừa
cất tiếng hát ru êm-ái ngọt-ngào. Những lời nhắn nhủ hiềnhoà đó vang lên êm đềm, nỉ-non, theo nhịp điệu, thật là cả
một phương pháp giáo dục tuyệt hảo. Em bé thoạt tuy
không hiểu, nhưng nghe mãi dần-dà thấm thía, nhất là khi
em đã lớn, tới tuổi cắp sách đến trường, em vẫn có thể
nghe lại những bài đó hát ru em bé của mình, do đấy em đã
được thấm nhuần tới tiềm thức những lời mẹ hay chị
khuyên-răn nhắc-nhở.
B) Những bài hát vui
Tối đại đa số những bài ca dao nhi đồng đều có tính
cách vui tươi ngộ-nghĩnh để trẻ em đọc lên thấy thích thú
ngay. Thuộc vào loại này có thể là những bài :
1. Kể một câu chuyện vui như bài « Thằng Bờm có cái
quạt mo », hoặc những bài nhân cách hoá các loài vật, đồ
vật. Ở tuổi này trí tưởng tượng của các em đương đà phồn
thịnh nên chúng ta thực không ai ngạc nhiên khi thấy các
em ưa thích loại này vô cùng.
2. Kể một câu chuyện ngược đời để chọc cười như bài :
Bao giờ cho đến tháng ba
Ếch cắn cổ rắn mang ra ngoài đồng.
Loại này tương ứng với loại mà Anh Mỹ mệnh danh là
Contradiction.
3. Có thể bài hát không thành câu chuyện gì hết mà chỉ
cốt có vần có điệu một cách ngộ-nghĩnh, làm nở trên môi
các em những nụ cười, gieo vào lòng các em cái vui tươi.
Loại này tương ứng với loại mà Anh Mỹ mệnh danh là
Nonsense. Suy cho kỹ những bài hát này còn tác dụng làm
giàu ngữ vựng cho các em nữa ; thật cũng đúng với câu
trong sách Luận Ngữ : « Bất học thi vô dĩ ngôn ! »
C) Con cò trong ca dao Việt-Nam
Nước Việt-Nam nhà là một nước nông nghiệp, trên 90%
dân chúng sống và làm lụng giữa thiên nhiên đồng nội, thì
việc những luỹ tre xanh, những đàn cò trắng xuất hiện
trong ca dao chẳng có chi là lạ. Thật ra trên thế giới thiếu gì
những nước căn bản nông nghiệp ; đặc biệt những nước
thuộc Á-châu với những nét văn hoá tương đồng với nước
ta, vậy mà trong suốt khoảng thời gian hai năm – từ 1966
đến 1968 – trong công việc nghiên cứu về văn chương nhi
đồng quốc tế, phải tìm đọc tài liệu ca dao, truyện cổ tích
quốc tế tại nhiều thư viện lớn Hoa Kỳ, kể cả Library of
Congress tại Hoa-Thịnh-Đốn, soạn giả nhận thấy rằng hình
ảnh con cò được nhân cách hoá một cách gần gũi, thân-mật
nhường kia quả là một sự kiện độc đáo của riêng ca dao
Việt-Nam, khi thì tượng trưng người mẹ quê, khi là cô gái
quê, khi là em bé quê, khi thì chỉ dùng làm một hình ảnh
khởi hứng…
Chính vì tính cách vừa trong sáng vừa ngộ-nghĩnh của
hình ảnh đó mà tất cả những bài ca dao nói tới con cò, hoặc
một vài loài điểu tương tự đều được soạn giả xếp thành một
đề mục riêng của ca dao nhi đồng Việt-Nam.
Sau con cò, trong những bài ca dao nhi đồng Việt-Nam,
nhiều lần ta còn bắt gặp hình ảnh một loài cá nhỏ cũng
được nhân cách hoá, đó là cá bống. Tục ngữ có câu : «
Bống có gan bống ». Truyện cổ tích Tấm Cám của ta cũng
có bóng dáng cá bống xuất hiện : « Tấm nghe lời bụt mang
con cá bống còn sót ở giỏ về thả xuống giếng nhà, ngày
ngày hai bữa bớt phần cơm của mình mang ra giếng gọi
bống lên ăn. Gọi rằng :
« Bống ơi bống !
Bống lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta,
Đừng ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người… »
Và ca dao nhi đồng có những bài : « Cái bống là cái
bống bang », « Cái bống là cái bống binh », v.v…
Soạn giả có ý nghĩ cho rằng « cái bống » sở dĩ được
nhân cách hoá trong một số bài không phải vì hình ảnh «
cái bống » cũng gần-gũi quen thuộc với người dân quê như
hình ảnh « cái cò bay bổng bay la », mà vì âm thanh của «
cái bống » gần-gũi âm thanh tiếng ru hời… Các bà mẹ Việt
khi ôm con vỗ-về tìm câu hát ru thường vẫn khởi sự bằng
tiếng ru hời : « ạ ơi à ời » hay « bồng bống bông bang… ».
Có thể thoạt chỉ là :
Ạ ơi à ời…
Bồng bồng mà nấu canh khoai,
Ăn cho mát ruột đến mai lại bồng.
hay : Ạ ơi à ơi…
Bồng bồng mà nấu canh tôm,
Ăn cho mát ruột đến hôm lại bồng.
Rồi do sức hút của vần điệu « cái bống » đi vào ca dao
lúc nào không biết :
Cái bống là cái bống bàng,
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.
Trong ca dao của trẻ Việt có lần ta còn thấy con (chuột)
cống và con ong được nhân cách hoá, rồi một bài khác là
con cáo. Thật ngộ-nghĩnh !
Nu-na nu-nống.
Cái cống nằm trong.
Cái ong nằm ngoài.
Củ khoai chấm mật.
Cái cáo, mặc áo em tao,
Làm tổ cây cà,
Làm nhà cây chanh,
Đọc canh bờ giếng,
Mỏi miệng thổi kèn.
D) Những bài nói về nếp sống nông nghiệp và
những tập tục xưa
Những bài này được giới thiệu để các em cảm thấy hết
cái đẹp của nếp sống gần thiên nhiên của nhà nông xưa
cùng một số tập tục ngộ-nghĩnh có thể là xa lạ với các em
ngày nay. Riêng ở điểm này, ca dao đã là một viện bảo tàng
văn hoá giúp các em không bị cắt lìa khỏi dĩ vãng.
E) Linh tinh
Phần này gồm những bài ca dao không thuộc bốn loại
trên, nhưng lời và ý ngộ-nghĩnh đẹp vẫn thích hợp với các
em.
F) Những trò chơi nhi đồng
Đây là những bài hát áp dụng trong trò chơi của các em.
G) Những câu đố
Tuổi này vốn là tuổi hiếu thắng, tuổi ganh đua. Những
câu đố sẽ vừa khích động trí thông minh, vừa tôi luyện trí
suy đoán của các em.
II. BÀI HÁT TRẺ EM NAM HƯƠNG
Sau cùng trước khi sang phần giới thiệu Ca-dao Nhiđồng Quốc-tế, soạn giả còn sưu tầm được một số ca-dao
của Nam Hương viết vào khoảng năm 1936.
III. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Về những bài ca dao nhi đồng Việt-Nam, ngoài những
bài ghi lại do trí nhớ, hoặc ghi theo lời các bậc lão thành
trong gia đình, còn lại soạn giả căn cứ theo cuốn Tục Ngữ
Phong Dao của Nguyễn-Văn-Ngọc, Saigon : Nhà xuất bản
Bốn Phương, 1952.
Những bài hát trẻ em của Nam Hương được trích dẫn
trong Nguyệt San Tứ Dân Văn Uyển, số 25 (tháng 7, 1936).
Phần viết về những trò chơi nhi đồng, soạn giả có tham
khảo những bài của các ông Ngô-Quý-Sơn, Nguyễn-Văn-Tố
và Nguyễn-Văn-Huyên đăng trong tập IIEH 1943. Tome VI
(Institut Indochinois pour l'Etude de l'Homme. Bulletins et
Travaux pour 1944) Hanoi : 1944.
Sang phần giới thiệu một số ca dao các nước Âu Á khác
soạn giả sẽ tuỳ nghi khi thì dịch thoát thành các thể thơ
Việt-Nam, khi thì chỉ cốt dịch sát nghĩa. Đây cũng là một
cách giúp các em làm quen dần với một khía cạnh văn hoá
quốc tế, và cũng để các em khi trở lại so-sánh càng cảm
thấy ca dao nhi đồng của nước Việt nhà ý vị biết chừng nào.
Tất cả những bài ca-dao nhi-đồng quốc tế này đều được
trích dịch tự pho Anthology of Children's Literature của Edna
Johnson, Evelyn R Sickels và Frances Clarke Sayers, Boston
: Houghton Mifflin Company, 1959.
IV. NHAN ĐỀ VÀ CHÚ THÍCH
Trừ một vài trường hợp đặc biệt, các nhan đề đều được
đặt bằng cách lấy ngay câu đầu của bài ca dao.
Trường hợp có những từ ngữ cổ, hoặc muốn nhấn mạnh
ý nghĩa toàn bài, soạn giả có ít dòng ghi chú ngay dưới bài
ca dao.
V. CÁCH SỬ DỤNG CA DAO NHI ĐỒNG TRONG LỚP
HỌC
Soạn giả chỉ xin ghi nơi đây một vài đề nghị.
Quý vị giáo sư có thể khởi đầu lớp học bằng cách đọc
một bài ca dao ngộ-nghĩnh nào đó để tập trung sự chú ý
của các em và gây niềm hứng khởi trước khi vào bài chính.
Gần tới giờ tan, nếu còn thừa thì giờ quý vị cũng có thể làm
như vậy giúp các em cảm thấy thoải-mái trước khi ra về.
Cách sử dụng ca dao nên luôn luôn giữ tính cách hồn nhiên
như vậy.
Cũng có thể trong giờ tập đọc quốc văn tại các lớp lớn,
nhân đọc một bài ca dao, quý vị khuyến khích các em cùng
nhau bàn-bạc trong hàng đội tự trị về ý nghĩa bài đó. Chẳng
hạn bài ca dao :
Ông trăng mà bảo ông trời,
Những người hạ giới là người như tiên.
Ông trời mà bảo ông trăng,
Những người hạ giới mặt nhăn như tiều.
Bài trên có thể khiến các em khám phá ra ý nghĩa luân
lý là ở gần người nóng-nảy, gay-gắt, tính tình mình dễ bị
bực-bội lây, trái lại ở gần người hiền từ, mình cũng dễ cảm
thấy tâm hồn thảnh-thơi thoải-mái.
Bài « Thằng Bờm có cái quạt mo » có thể được dựng
thành vở kịch ngắn thật ngộ-nghĩnh. Đây cũng là cách
hướng dẫn dần các em trên con đường thưởng ngoạn và
trình diễn văn nghệ.
Chúng ta hãy thực hiện những cuộc thảo luận theo từng
hàng đội tự trị như đã nói trên. Hoặc chúng ta theo phương
pháp tập họp các em thành hai hình vòng tròn trong và
ngoài. Trong khi vòng trong thảo luận, vòng ngoài nghe và
quan sát để phát biểu phê bình sau. Cứ thế luân phiên,
vòng trong hết phận sự thảo luận thì chuyển ra vòng ngoài,
đến lượt vòng ngoài vào trong tiếp tục thảo luận cùng đề
tài. Phương pháp này có những lợi điểm sau :
1. Cũng là một biến cách của hàng đội tự trị để các em
tiến dần trên con đường kỷ luật tự giác.
2. Giúp trẻ có óc quan sát, tăng trưởng sáng kiến phê
bình, và chí ganh đua, bởi các em đều tuần tự khi ở địa vị
chủ, khi ở địa vị khách để dễ thấy cái hay, cái dở ở người và
ở mình mà giữ cái hay, sửa cái dở (đặc biệt cái dở rụt-rè của
những em nhút-nhát hay ngập-ngừng trong việc phát biểu ý
kiến).
3. Trong khi điều khiển, chúng ta luôn luôn giữ cho bầu
không khí thảo luận được cởi mở, điều này dạy cho các em
biết chấp nhận ý kiến của kẻ khác, tức nếp sống hoà đồng,
nếp sống truyền thống của dân tộc nhà.
Khi đem một bài ca dao ra diễn thành vở kịch nhỏ như
bài « Thằng Bờm có cái quạt mo » chẳng hạn, chúng ta có
thể tổ chức các em thành nhiều toán : một toán làm diễn
viên thì những toán còn lại làm khán giả ngồi theo hình bán
nguyệt.
Với hình thức tổ chức tương tự chúng ta cũng có thể áp
dụng vào việc học các môn khác ngoài môn văn chương nhi
đồng.
Và riêng về ca dao nhi đồng, nếu được sử dụng như
chúng ta đã sơ lược trình bày trên, sẽ giúp ích các em
không nhỏ về cách ăn-nói trôi-chảy, viết luận trôi-chảy.
VI. GHI CHÚ VỀ TOÀN BỘ TUYỂN TẬP VĂN CHƯƠNG
NHI ĐỒNG
Các em nhi đồng đây là bao gồm từ cỡ tuổi mẫu giáo
(năm, sáu tuổi) tới đệ thất, đệ lục (mười hai, mười ba tuổi).
Vậy nội dung của từng bài ca dao, ngụ ngôn hay truyện cổ
tích, v.v… trong toàn bộ tuyển tập này, chúng ta sẽ tuỳ nghi
đem ra sử dụng sao cho thích hợp với từng lứa tuổi.
Các em đương ở tuổi khao-khát tìm hiểu những cái mới
lạ, không riêng gì các trẻ em Việt-Nam, mà là toàn thể các
trẻ em trên thế giới ! Hãy nhìn các em nằm thu mình trong
một góc giường, hay ngồi thu mình trong một góc khuất,
đôi tay khư-khư giữ lấy quyển sách, đôi mắt chăm-chú dõi
theo những dòng chữ, bàn tay hối-hả lúc sang trang…
Những trang sách tốt đã mở cho các em thấy biết bao
chân trời mới lạ ! Nhiều khi các em vẫn ham-hố đọc mà vẫn
chưa hiểu rõ nhu cầu nào của mình sẽ được thoả mãn ; các
em chỉ cảm thấy mình đương được phiêu lưu một cách thích
thú trên những trang sách ; sự thích thú đó liên tiếp gia
tăng cường độ, tới một lúc nào các em chợt phát hiện ra
một ý niệm mới, chẳng khác một mầm non được liên-tiếp
nuôi dưỡng tràn căng nhựa sống vừa phá vỡ vỏ cây để nhú
ra chào đón ánh sáng mặt trời.
Lòng khát-khao cái hay, cái đẹp, cái lạ vẫn ngầm có nơi
các em, các em ham đọc vì các em thấy rằng sách đọc mở
rộng chân trời hiểu biết cho các em. Thoạt các em muốn
hiểu chính mình, mà muốn hiểu mình thì phải lần mò tìm
hiểu kinh nghiệm ở nơi người : tha nhân khi đó chính là tấm
gương để các em tự soi thấy mình.
Sau đó sách vở giúp các em hiểu bao nhiêu điều thường
thức khác, trong đó có những điều hay lẽ phải nơi xã hội các
em đương sống, điều này chuẩn bị cho các em sau này có
căn bản mà tiến tới tìm hiểu điều hay lẽ phải đại đồng của
cả thế giới nhân loại.
Sách viết mà không gây được niềm thích thú cho các em
khi đọc thì làm sao chu toàn được nhiệm vụ thoạt tưởng
như đơn giản mà kỳ thực thật là lớn lao đó !
Khi soạn thảo « Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng » này,
soạn giả chỉ có tham vọng nhỏ-nhoi là giúp tài liệu giảng
dạy cho gia đình giáo giới của soạn giả.
Tuy nhiên « Tuyển-Tập Văn-Chương Nhi Đồng » được in
thành nhiều tập nhỏ theo từng đề mục (ca dao, ngụ ngôn,
thần thoại, cổ tích…) cũng là để tiện thể trực tiếp cung cấp
tài liệu đọc cho các em, trong khi chờ đợi có những tập sách
in riêng trên giấy tốt, có hình vẽ đẹp, với nội dung tuyển lựa
thích ứng cho từng lứa tuổi.
Đây là lần ấn hành đầu tiên. Tuyển Tập Văn Chương Nhi
Đồng (Việt-Nam và quốc-tế), chắc chắn chẳng sao tránh
khỏi những điều thiếu sót, dám mong quí vị độc giả lượng
thứ và chỉ giáo cho để kịp thời sửa chữa vào kỳ ấn hành
sau.
Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1969)
D. Q. S.
PHẦN MỘT : CA DAO NHI ĐỒNG VIỆT NAM
I. LUÂN LÝ
1. DẠY CON TỪ THUỞ TIỂU SINH
Dạy con từ thuở tiểu sinh,
Gần thầy gần bạn tập-tành lễ nghi.
Học hành cách vật chí tri,
Văn chương chữ nghĩa nghĩ gì cũng thông.
2. CÔNG ĐỨC SINH THÀNH
Mẹ cha công đức sinh thành,
Ra trường thầy dạy, học-hành cho hay.
Muốn khôn thì phải có thầy,
Không thầy dạy dỗ đố mày làm nên.
Mười năm luyện tập sách đèn,
Công danh gặp bước chớ quên ơn thầy.
Yêu kính thầy mới làm thầy,
Những phường bội-bạc sau này ra chi.
3. CÂY XANH THÌ LÁ CŨNG XANH
Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Mừng cây rồi lại mừng cành,
Cây đức lắm chồi, người đức lắm con.
Ba vuông sánh với bảy tròn,
Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu.
4. CÂY KHÔ CHƯA DỄ MỌC CHỒI
Cây khô chưa dễ mọc chồi,
Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta.
Non xanh bao tuổi mà già,
Bởi vì sương tuyết hoá ra bạc đầu.
5. CÔNG CHA NGHĨA MẸ
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
6. NGÀY NÀO EM BÉ CỎN CON
Ngày nào em bé cỏn con
Bây giờ em đã lớn khôn thế này.
Cơm cha áo mẹ công thầy,
Lo sao cho đáng những ngày ước mong.
7. THỜ CHA MẸ Ở HẾT LÒNG
Thờ cha mẹ ở hết lòng,
Ấy là chữ hiếu ở trong luân thường.
Chữ đễ nghĩa là nhường,
Nhường anh, nhường chị, lại nhường người trên.
Ghi lòng tạc dạ chớ quên,
Con em phải giữ lấy nền con em.
8. EM THỜI ĐI CẤY RUỘNG BÔNG
Em thời đi cấy ruộng bông,
Anh đi cắt lúa để chung một nhà.
Đem về phụng dưỡng mẹ cha,
Muôn đời tiếng hiếu người ta còn truyền.
9. CÔNG CHA NHƯ NÚI NGẤT TRỜI
Ru ơi ru hỡi ru hời,
Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông.
Núi cao, biển rộng mênh-mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi.
10. ANH EM NÀO PHẢI NGƯỜI XA
Anh em nào phải người xa,
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.
Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hoà thuận hai thân vui-vầy.
11. CON ƠI MUỐN NÊN THÂN NGƯỜI
Con ơi muốn nên thân người,
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.
Gái thời chăm-chỉ trong nhà,
Khi vào canh củi, khi ra thêu-thùa.
Trai thì đọc sách ngâm thơ,
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.
Nữa mai nối được nghiệp nhà,
Trước là đẹp mặt sau là hiển thân.
12. LÀM TRAI QUYẾT CHÍ TU THÂN
Làm trai quyết chí tu thân,
Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo.
Khi nên trời giúp công cho,
Làm trai năm liệu, bảy lo mới hào.
Trời sinh, trời chẳng phụ nào,
Công danh gặp hội, anh hào ra tay.
Trí khôn sắp để dạ này,
Có công mài sắt, có ngày nên kim.
13. LÀM TRAI NẾT ĐỦ TRĂM ĐƯỜNG
Làm trai nết đủ trăm đường,
Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay.
Công cha, đức mẹ cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.
Thức khuya, dậy sớm cho cần,
Quạt nồng, ấp lạnh giữ phần đạo con.
14. CON ƠI MẸ BẢO ĐÂY NÀY
Con ơi mẹ bảo đây này,
Học buôn học bán cho tày người ta.
Con đừng học thói chua ngoa,
Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười.
Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn, bớt ngủ, liệu bài lo toan.
Phòng khi đóng góp việc làng,
Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.
Trước là đắc nghĩa cùng chồng,
Sau là họ mạc cũng không chê cười.
Con ơi, nhớ bấy nhiêu lời !
15. LÀM NGƯỜI CHO BIẾT TIỆN TẦN
Làm người cho biết tiện tần,
Đồ ăn thức mặc có ngần thì thôi.
Những người đói rách rạc rời,
Bởi phụ của trời làm chẳng nên ăn.
16. TRỨNG RỒNG LẠI NỞ RA RỒNG
Trứng rồng lại nở ra rồng,
Hạt thông lại nở cây thông rườm-rà.
Có cha sinh mới ra ta,
Làm nên thời bởi mẹ cha vun trồng.
Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,
Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ.
Đạo làm con, chớ hững hờ,
Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm.
17. TRẮNG NHƯ THỦY TINH
Trắng như thủy tinh
Trắng như giá lọc,
Nhún mình như đồng đen.
Ai ơi chớ nghĩ rằng hèn,
Kìa như nước đục đánh phèn lại trong.
18. TRỜI SINH RA ĐÃ LÀM NGƯỜI
Trời sinh ra đã làm người
Hay ăn, hay nói, hay cười hay chơi.
Khi ăn thời phải lựa mùi,
Khi nói, thì phải lựa lời chớ sai.
Cả vui chớ có vội cười,
Nơi không lễ phép chớ chơi làm gì.
19. BỒNG BỐNG BỒNG BÔNG
Bồng bống bồng bông.
Giai ơn vua chầu chực sân rồng,
Gái ơn chồng ngồi võng ru con.
Ơn vua xem nặng bằng non,
Ơn chồng đội đức tổ tôn giỏi truyền.
Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền lấy được của ngon.
Phận gái lấy được chồng khôn,
Xem bằng cá vượt Vũ-môn hoá rồng,
Bồng bống bồng bông.
20. BỒNG BỒNG MẸ BẾ CON SANG
Bồng bồng mẹ bế con sang,
Đò dọc quan cấm đò ngang không chèo.
Muốn sang thì bắc cầu Kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
II. NHỮNG BÀI HÁT VUI
21. CHÈ LA, CHÈ LÍT
Chè la, chè lít,
Bà cho ăn quýt.
Bà đánh đau tay,
Chắp tay lạy bà.
22. KÉO CƯA LỪA XẺ
Kéo cưa lừa xẻ,
Thợ khoẻ cơm vua,
Thợ thua cơm làng.
Thợ nào dẻo-dang
Về nhà bú tí.
23. KÉO CƯA KÉO KÍT
Kéo cưa kéo kít,
Làm ít ăn nhiều,
Nằm đâu ngủ đấy,
Nó lấy mât cưa,
Lấy gì mà kéo ? !
24. XU XOA XU XUÝT
Xu-xoa xu-xuýt
Bán quýt chợ đông,
Bán hồng chợ tây,
Ba đồng một quả,
Mua vậy thì mua.
25. VUÔN VẢI VUÔN VAI
Vuôn vải vuôn vai,
Chóng lớn chóng dài.
Đi chơi với trẻ,
Sức khoẻ sống lâu,
Bạc đầu cồi cội.
26. NAM MÔ BỒ TÁT
Nam mô bồ tát,
Chẻ lạt đứt tay,
Đi cày trâu húc,
Đi xúc phải cọc,
Đi học thày đánh,
Đi gánh đau vai,
Nằm dài nhịn đói.
27. CHIỀU CHIỀU CON QUẠ LỢP NHÀ
Chiều chiều con quạ lợp nhà,
Con cu chẻ lạt con gà đưa tranh.
1
Chèo-bẻo nấu cơm nấu canh,
Chìa vôi đi chợ mua hành về nêm.
28. CÁI BỐNG LÀ CÁI BỐNG BANG (I)
Cái bống là cái bống bang.
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.
Ngày sau bống đỗ ông đồ,
Đi võng lá sắn, đi dù lá khoai.
29. CÁI BỐNG LÀ CÁI BỐNG BANG (II)
Cái bống là cái bống bang,
Cơm ăn bằng sàng, bốc muôi bằng vung.
Mẹ giận mẹ giẩy xuống sông,
Con ra đường biển lấy chồng lái buôn.
Khát nước thì uống nước nguồn,
Lạc đường thì bảo lái buôn đưa về.
30. CÁI BỐNG LÀ CÁI BỐNG BÌNH
Cái bống là cái bống bình,
Thổi cơm nấu, nướng một mình mồ hôi.
Sáng ngày có khách đến chơi,
Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng.
Rạng ngày ăn uống vừa xong,
Tay nhắc mâm đồng, tay giải chiếu hoa.
Nhịn miệng đãi khách đàng xa,
Ấy là của gửi chồng ta ăn đàng.
2
31. CÁI BỐNG ĐI CHỢ CẦU CANH
Cái Bống đi chợ Cầu Canh,
Con tôm đi trước củ hành theo sau.
Con cua lạch đạch theo hầu,
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.
32. CÁI BỐNG CÒN Ở TRONG HANG
Cái bống còn ở trong hang
3
Cái rau tập tàng còn ở ruộng dâu.
Ta về ta sắm cần câu
Câu lấy cá bống nấu rau tập-tàng.
33. BỒ CU BỒ CÁC
Bồ-cu, bồ các,
Tha rác lên cây.
Gió đánh lung lay,
Là vua Cao-tổ.
Những người mặt rỗ,
Là ông Tiêu-Hà.
Nước chảy qua đường
Là giượng Tào Tháo.
Đánh bạc cố áo,
Là anh Trần Bình.
34. CÓC CHẾT BỎ NHÁI BỒ CÔI
Cóc chết bỏ nhái bồ côi,
Chẫu ngồi, chẫu khóc : « Chàng ôi là chàng ! »
Ễnh ương đánh lệnh đã vang,
Tiền đâu mà trả nợ làng ngoé ơi !
35. CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
Con cóc là cậu ông trời
Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho.
Con cóc là cậu thầy nho,
Hễ ai đánh chết trời cho quan tiền.
36. TÌNH TÍNH TANG TANG TÌNH TANG
Tình tính tang, tang tình tang,
Súng vác vai, hoả mai tọng nạp,
Gươm tuốt trần, giáo cắp, mộc mang.
Tang tình tang.
Giương cung mà bắn con cò,
Con cốc nó lội con cò nó bay.
Tính tình tang, tang tình tang.
37. CON GÀ CỤC TÁC LÁ CHANH
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.
Con chó khóc đứng khóc ngồi,
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.
38. CON KIẾN MÀY KIỆN CỦ KHOAI
Con kiến mày kiện củ khoai,
Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.
Nhà tao chín đụn mười trâu,
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân.
39. SAO HÔM LÓNG LÁNH
Sao hôm lóng lánh,
Sao mai lóng lánh,
Cuốc đã sang canh,
Gà kia gáy rúc.
Chích choè lìa tổ,
Trời đã rạng đông.
40. HỒ KHOAN, HỒ UẨY !
Hồ khoan, hồ uẩy !
Hồ khoan, hồ uẩy !
Ăn đã vậy,
Múa gậy làm sao ?
Chân thấp chân cao,
Cho mau cho chóng.
Năng khiếp năng dũng,
Hữu khuất hữu thân
Cao-tổ thời nhận,
4
Hạng-vương thời bạo,
Nhân hiền tại mạo,
Trắng gạo ngon cơm.
Hồ khoan, hồ uẩy !
Hồ khoan, hồ uẩy !
41. CON CHÓ CHÊ KHỈ LẮM LÔNG
Con chó chê khỉ lắm lông,
Khỉ lại chê chó ăn dông ăn dài.
Lươn ngắn lại chê trạch dài,
Thờn bơn méo miệng chê chai lệch mồm.
42. RÉT NÀNG BÂN
5
Tháng giêng rét đài,
Tháng hai rét lộc.
Tháng ba rét nàng Bân.
Nàng Bân may áo cho chồng,
May ba tháng ròng, mới được cửa tay.
43. THẰNG CUỘI NGỒI GỐC CÂY ĐA
Thằng cuội ngồi gốc cây đa,
Để trâu ăn lúa gọi cha lời ời.
Cha còn cắt cỏ trên trời,
Mẹ còn cưỡi ngựa đi chơi cầu vồng.
44. THẰNG BỜM CÓ CÁI QUẠT MO
Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy trâu !
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mè !
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy lim !
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mồi !
Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười.
45. TAY CẦM CON DAO
Tay cầm con dao.
Làm sao cho sắc.
Để mà dễ cắt,
Để mà dễ chặt.
Chặt lấy củi cành,
Trèo lên rừng xanh,
Chạy quanh sườn núi.
Một mình thui-thủi,
Chặt cây chặt củi.
Tìm chốn mà ngồi,
Ngồi mát thảnh-thơi.
Kìa một đàn chim,
Ở đâu bay đến,
Ở đâu bay lại.
Con đang cắn trái,
Con đang tha mồi,
Qua lối nọ nó ăn.
Cái con hươu kia,
Mày đang ăn lộc,
Lộc vả lộc sung.
Mày trông thấy tớ,
Tớ không đuổi mày,
Mày qua lối nọ làm chi ?
46. ÔNG TRĂNG MÀ LẤY BÀ TRỜI
6
Ông Trăng mà lấy bà Trời,
Tháng năm đi cưới, tháng mười nộp cheo.
Sỏ lợn lớn hơn sỏ mèo,
Làng ăn chẳng hết đem treo cột đình.
Ông Xã đánh trống thình-thình,
Quan viên mũ áo ra đình xem cheo.
47. ÔNG GIĂNG MÀ LẤY BÀ SAO
Ông Giăng mà lấy bà Sao,
Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.
Có cưới thì cưới con trâu,
Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.
48. CON NHỆN Ở TRÊN MÁI NHÀ
Con nhện ở trên mái nhà,
Nó đương làm cỗ cúng bà nó mai.
Nó rằng nó chẳng mời ai,
Mời một ông chú với hai bà dì.
49. THÌA LA THÌA LẢY
Thìa-la thìa lảy !
Con gái bảy nghề :
7
Ngồi lê là một,
Dựa cột là hai,
Theo trai là ba,
Ăn quà là bốn,
Chốn việc là năm,
Hay nằm là sáu,
Láu táu là bảy.
50. XẤU HỔ
8
Xấu hổ,
Lấy rổ mà che
Lấy nong mà đè,
Lấy đấu mà đậy,
Lấy chầy đâm bong.
51. GIÓ ĐẬP CÀNH ĐA
Gió đập cành đa,
Gió đánh cành đa,
Thầy nghĩ là ma,
Thầy ù thầy chạy.
Ba thằng ba gậy,
9
Đi đón thầy về.
52. SỐ CÔ CHẲNG GIÀU THÌ NGHÈO
Số cô chẳng giàu thì nghèo,
Ba mươi tết có thịt treo trong nhà.
Số cô có mẹ có cha,
Mẹ cô đàn bà, bố cô đàn ông.
Số cô có vợ có chồng,
Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.
53. NHẤT HÀO NHỊ HÀO TAM HÀO
Nhất hào, nhị hào, tam hào…
Chó chạy bờ ao.
Chuột chạy bờ rào.
Quẻ này có động.
Nhà này có quái trong nhà,
Có con chó đực cắn ra đằng mồm
54. CON CHIM SÁO SẬU
Con chim sáo-sậu
Ăn cơm nhà cậu
Uống nước nhà cô
Đánh vỡ bát ngô
Bà cô phải đền.
55. LÚA NGÔ LÀ CÔ ĐẬU NÀNH
Lúa ngô là cô đậu nành.
Đậu nành là anh dưa chuột.
10
Dưa chuột là ruột dưa gang.
Dưa gang là nàng dưa hấu.
Dưa hấu là cậu lúa ngô.
Lúa ngô là cô đậu nành…
56. CON CHIM CHÍCH CHOÈ
Con chim chích-choè
Nó đậu cành chanh.
Tôi ném hòn sành,
Nó quay lông-lốc.
Tôi làm một chốc,
Được ba mâm đầy
Ông thầy ăn một,
Bà cốt ăn hai.
Còn cái thủ, cái tai,
Tôi đem biếu chúa.
Chúa hỏi chim gì ?
Con chim chích-choè.
57. CON CÔNG HAY MÚA
Con công hay múa,
Nó múa làm sao ?
Nó rụt cổ vào,
Nó xoè cánh ra.
Nó đậu cành đa,
Nó kêu ríu-rít.
Nó đậu cành mít,
Nó kêu vịt chè.
Nó đậu cành tre,
Nó kêu bè muông,
Nó đáp xuống ruộng
Nó kêu tầm vông.
Con công hay múa…
58. CÁI KIẾN MÀY ĐẬU CÀNH ĐÀO
Cái kiến mày đậu cành đào
Leo phải cành cộc leo vào leo ra.
Con kiến mày đậu cành đa
Leo phải cành cộc, leo ra leo vào…
59. BA BÀ ĐI BÁN LỢN CON
Ba bà đi bán lợn con,
Bán đi chẳng được lon-xon chạy về.
Ba bà đi bán lợn sề
Bán đi chẳng được chạy về lon-xon.
60. MẸ EM ĐI CHỢ ĐƯỜNG NGOÀI
Mẹ em đi chợ đường ngoài,
Mua em cây mía vừa dài vừa cong.
Mẹ em đi chợ đường trong,
Mua em cây mía vừa cong vừa dài…
61. GIÃ ƠN CÁI CỐI CÁI CHÀY
Giã ơn cái cối cái chày,
Nửa đêm gà gáy có mày có tao.
Giã ơn cái cọc cầu ao.
Nửa đêm gà gáy có tao có mày…
62. CON VỎI CON VOI
Con vỏi con voi !
Cái vòi đi trước,
Hai chân trước đi trước,
Hai chân sau đi sau,
Cái đuôi đi sau rốt.
Tôi xin kể nốt
Cái chuyện con voi…
63. ÔNG NỈNH ÔNG NINH
Ông Nỉnh ông Ninh,
Ông ra đầu đình ông gặp ông Nảng ông Nang.
Ông Nảng ông Nang,
Ông ra đầu làng ông gặp ông Nỉnh ông Ninh.
64. CÁI NGỦ MÀY NGỦ CHO LÂU
11
Cái ngủ mày ngủ cho lâu,...
Tác giả : DOÃN QUỐC SỸ sưu tập
Nhà xuất bản : SÁNG TẠO
Năm xuất bản : 1969
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : Nguyễn Thị Kiều Tiên
Kiểm tra chính tả : Trần Thị Kim Duyên,
Lê Thị Phương Hiền, Nguyễn Văn Ninh, anfat3
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 11/11/2018
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
I. TÁC DỤNG CỦA CA DAO NHI ĐỒNG
II. PHÂN LOẠI CA DAO NHI ĐỒNG
A) Những bài hát luân lý
B) Những bài hát vui
C) Con cò trong ca dao Việt-Nam
D) Những bài nói về nếp sống nông nghiệp và những tập
tục xưa
E) Linh tinh
F) Những trò chơi nhi đồng
G) Những câu đố
II. BÀI HÁT TRẺ EM NAM HƯƠNG
III. TÀI LIỆU THAM KHẢO
IV. NHAN ĐỀ VÀ CHÚ THÍCH
V. CÁCH SỬ DỤNG CA DAO NHI ĐỒNG TRONG LỚP HỌC
VI. GHI CHÚ VỀ TOÀN BỘ TUYỂN TẬP VĂN CHƯƠNG NHI
ĐỒNG
PHẦN MỘT : CA DAO NHI ĐỒNG VIỆT NAM
I. LUÂN LÝ
II. NHỮNG BÀI HÁT VUI
III. CON CÒ TRONG CA DAO
IV. ĐỜI SỐNG NÔNG NGHIỆP – CÁC TẬP TỤC CŨ
V. LINH TINH
VI. TRÒ CHƠI NHI ĐỒNG
A) Ý NGHĨA CÁC TRÒ CHƠI
B) VÀI CÁCH BẮT THĂM
Ò
Ổ
Ô
Ủ
Á
Ẻ
Ệ
C) TRÒ CHƠI PHỔ THÔNG CỦA CÁC TRẺ EM VIỆT
VII. CÂU ĐỐ
VIII. NHỮNG BÀI HÁT TRẺ EM CỦA NAM-HƯƠNG
PHẦN HAI : CA DAO NHI ĐỒNG QUỐC TẾ
1. MÈO PUS-SY (Anh, Mỹ)
2. ANH TƯ (Anh, Mỹ)
3. MỘT, HAI… (Anh, Mỹ)
4. ÔNG MẬP HÂM-TY ĐÂM-TY (Anh, Mỹ)
5. BÉ MAI VỚI CON CỪU CON (Anh, Mỹ)
6. HỠI NÀNG KIỀU NỮ (Anh, Mỹ)
7. ĐI CHƠI PHỐ (Tây-Ban-Nha)
8. CHÚ GIÔN (Hoà Lan)
9. ĐI CÂU (Đan Mạch)
10. EM BÉ (Ả Rập)
11. MỘT VỊ THIÊN THẦN (Do-Thái)
12. ĐÊM THỨ MƯỜI HAI (Ý-đại-lợi)
13. MẶT TRĂNG (Mễ-Tây-Cơ)
14. CON MA (Pháp)
15. NGỰA CÂU (Welsh)
16. CÁI NẤM (Nga)
17. CON HÃY NHẢY TỚI (Tô-Cách-Lan)
18. HAILY PAILY (Tô-Cách-Lan)
19. VÀ TÔI SẼ… (Tô-Cách-Lan)
20. JOHN SMITH (Tô-Cách-Lan)
21. CÔ BÉ TRADJA (Na-Uy)
22. HUSKY HI (Na-Uy)
23. NGÀY TẾT (Nhật-Bản)
Ả
24. HẠT THẢO NHI (Trung-Hoa)
25. NĂM NGÓN CHÂN (Trung-Hoa)
26. NÀNG BỌ (Trung-Hoa)
TUYỂN TẬP VĂN CHƯƠNG NHI ĐỒNG
CA DAO NHI ĐỒNG
QUYỂN MỘT
DOÃN QUỐC SỸ sưu tập
SÁNG TẠO
Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng quyển một ca dao
Doãn Quốc Sỹ sưu tập Ngọc Dũng trình bày bìa và nội dung
các minh hoạ khác là của Priscilla-Meredith Phạm-Thị-Loan,
Tăng-Kim-Trâm ngoài những bản thường còn in thêm 50
bản trên giấy quý.
Tặng cô DOÃN-THỊ-QUÝ đã giúp anh nhiều trong việc
san nhuận phần văn chương nhi đồng quốc tế.
Cái cò trắng bạch như vôi…
(Nét vẽ của Priscilla Meredith)
LỜI MỞ ĐẦU
Quyển một này sẽ gồm hai phần. Phần đầu giới thiệu ca
dao nhi đồng Việt-Nam, và phần hai giới thiệu ca dao nhi
đồng quốc tế.
Trẻ nhỏ Việt nào mà chẳng thuộc, không ít thì nhiều, vài
bài ca dao mà các em cảm thấy thích thú. Ca dao đã đóng
góp một phần không nhỏ vào đời sống tươi vui hồn nhiên
của các em. Hầu hết trò chơi của các em đều là ca dao.
Trường Sư-Phạm Saigon niên khoá 1968-69 thày trò
chúng tôi đã có dịp bàn nhiều về môn này mà chúng tôi gọi
chung là Văn-Chương Nhi-Đồng gồm ca dao, ngụ ngôn,
truyện thần thoại, truyện cổ tích, v.v… Quyển một dành
riêng cho ca-dao.
I. TÁC DỤNG CỦA CA DAO NHI ĐỒNG
Bàn về tác dụng của ca dao nhi đồng, nữ giáo sinh LýĐức-Mỹ lớp Đệ Nhất-5 niên khoá 1968-69 trường Sư Phạm
Saigon có ghi :
« Khi đọc những ca dao nhi đồng, bao giờ chúng ta cũng
cảm thấy mình như trẻ lại, và những ảnh tượng xa xưa của
thời thơ ấu tự nhiên xuất hiện, nó dàn cảnh trước mắt ta,
gây cho ta một cảm giác lâng lâng yêu đời, và để lại trong
lòng ta một nuối tiếc về thời vàng son của tuổi trẻ mà
chẳng bao giờ ta còn trở lại được nữa.
Tuy thời gian mang đi mất tuổi thơ ngây hồn nhiên,
nhưng cũng chính thời gian làm cho sự hiểu biết trưởng
thành và nhờ đó ta hiểu được và tìm về tuổi thơ với tất cả
chân tình trìu mến. Và nhất là vào những lúc nhàn hạ, bỗng
dưng tự đáy lòng ta dường như thoát ra tiếng hát trong trẻo
ngây-thơ đáng yêu vô cùng. Tiếng hát ấy mang hồn ta ra
khỏi cái thực tại đầy ưu-tư mệt-nhọc đang bám sát người
ta. Thế là ta hoà mình với trẻ và cùng nô đùa với chúng.
Trong giây phút tươi trẻ lại này, ta không còn là chính ta
nữa, mà là một đứa bé như muôn ngàn đứa bé đang cười
rỡn trên khắp vùng quê hương ; ta cũng bầy trò, cũng hành
động như chúng thôi ; và chính ta cũng không hiểu tại sao
ta lại có thể làm được như thế khi mà thực tế dằng-dặc ưutư luôn-luôn níu kéo ta lại với nó.
Xét cho kỹ, ta được tận hưởng những giây phút có thể
nói là thần tiên ấy là do trí khôn ngoan của ta đã biết tích
trữ những tinh hoa : tinh hoa đó chính là những bài hát thơ
ngây sống mãi muôn đời, vì chỉ những gì người ta thích, cái
đó mới gây được hạnh phúc mà thôi ».
Nữ giáo sinh Nguyễn-thị-Vãng lớp Đệ Nhị x cũng ghi như
sau :
« Tự ngàn xưa trên mảnh đất hiền hoà này, những bà
mẹ, những người chị thường vẫn cất cao giọng ngọt-ngào ru
ngủ con thơ, em thơ bằng những câu hát êm đềm có ngụ ý
về luân lý, phong tục trẻ trung, hồn nhiên, đôi khi có tính
cách trữ tình lãng mạn. Những bài hát câu hò đó thấm vào
giấc ngủ của trẻ Việt như mưa xuân tưới thấm đất mầu và
kho tàng thi ca của ta như hoa lá mùa xuân kia phồn thịnh
biết chừng nào. Há chẳng đã có người cho rằng mỗi người
Việt là một thi nhân, và tình yêu gia đình, tổ quốc, dân tộc
và nhất là tình mẫu tử thiêng-liêng thể hiện trong văn
chương Việt Nam thật đã dạt-dào và sâu đậm hơn bất cứ
dân tộc nào trên thế giới.
Khi lớn lên ai mà chẳng thấy lòng xúc động khi nghe
những câu đồng dao ngộ-nghĩnh, những bài hát trò chơi của
trẻ em ! Trong dịp đó tâm hồn ta tìm về thời thơ ấu trọn
vẹn, đó là thuở vàng son đầy nắng ấm và hoa hồng, nụ cười
điểm trên môi ta lúc bấy giờ nhuộm trọn màu thánh thiện
vô tư.
Ôi ! tuổi ngọc thực đã xa vời, nhưng tiếng hát mẹ hiền
ngày nào vẫn còn vang mãi. Những kỷ niệm thời thơ dại đã
sống lại bởi dư âm của bài đồng dao êm-đềm trong ký ức.
Âm thanh sâu thẳm đó đã tháp cho ta đôi cánh thiên thần
bay ra khỏi vùng ưu tư thực tại để đến một cõi nào có toàn
trăng sao, hoa bướm, với một lũ trẻ áo màu rực-rỡ, ngày
tháng tung-tăng ».
Chính vì trẻ Việt đã sớm được hưởng trọn vẹn tác dụng
nhiệm-mầu của ca dao ngay từ thuở trứng nước, giữa bầu
không khí đùm bọc của gia đình như vậy, nên vấn đề chỉ
còn đặt lên là chúng ta sẽ sử dụng những bài đồng-dao ra
sao đây ở nhà trường. Vấn đề sẽ được đề cập tới kỹ càng
hơn ở cuối bài này.
II. PHÂN LOẠI CA DAO NHI ĐỒNG
Ca dao nhi đồng Việt-Nam có thể chia làm mấy loại
chính sau đây :
A) Những bài hát luân lý
Đây thường là những bài hát ru mộc-mạc mà xâu-sắc.
Vào những trưa hè oi nồng, hay trong đêm thanh tịch-mịch
có tiếng các bà mẹ, các người chị vừa đưa võng kẽo-kẹt vừa
cất tiếng hát ru êm-ái ngọt-ngào. Những lời nhắn nhủ hiềnhoà đó vang lên êm đềm, nỉ-non, theo nhịp điệu, thật là cả
một phương pháp giáo dục tuyệt hảo. Em bé thoạt tuy
không hiểu, nhưng nghe mãi dần-dà thấm thía, nhất là khi
em đã lớn, tới tuổi cắp sách đến trường, em vẫn có thể
nghe lại những bài đó hát ru em bé của mình, do đấy em đã
được thấm nhuần tới tiềm thức những lời mẹ hay chị
khuyên-răn nhắc-nhở.
B) Những bài hát vui
Tối đại đa số những bài ca dao nhi đồng đều có tính
cách vui tươi ngộ-nghĩnh để trẻ em đọc lên thấy thích thú
ngay. Thuộc vào loại này có thể là những bài :
1. Kể một câu chuyện vui như bài « Thằng Bờm có cái
quạt mo », hoặc những bài nhân cách hoá các loài vật, đồ
vật. Ở tuổi này trí tưởng tượng của các em đương đà phồn
thịnh nên chúng ta thực không ai ngạc nhiên khi thấy các
em ưa thích loại này vô cùng.
2. Kể một câu chuyện ngược đời để chọc cười như bài :
Bao giờ cho đến tháng ba
Ếch cắn cổ rắn mang ra ngoài đồng.
Loại này tương ứng với loại mà Anh Mỹ mệnh danh là
Contradiction.
3. Có thể bài hát không thành câu chuyện gì hết mà chỉ
cốt có vần có điệu một cách ngộ-nghĩnh, làm nở trên môi
các em những nụ cười, gieo vào lòng các em cái vui tươi.
Loại này tương ứng với loại mà Anh Mỹ mệnh danh là
Nonsense. Suy cho kỹ những bài hát này còn tác dụng làm
giàu ngữ vựng cho các em nữa ; thật cũng đúng với câu
trong sách Luận Ngữ : « Bất học thi vô dĩ ngôn ! »
C) Con cò trong ca dao Việt-Nam
Nước Việt-Nam nhà là một nước nông nghiệp, trên 90%
dân chúng sống và làm lụng giữa thiên nhiên đồng nội, thì
việc những luỹ tre xanh, những đàn cò trắng xuất hiện
trong ca dao chẳng có chi là lạ. Thật ra trên thế giới thiếu gì
những nước căn bản nông nghiệp ; đặc biệt những nước
thuộc Á-châu với những nét văn hoá tương đồng với nước
ta, vậy mà trong suốt khoảng thời gian hai năm – từ 1966
đến 1968 – trong công việc nghiên cứu về văn chương nhi
đồng quốc tế, phải tìm đọc tài liệu ca dao, truyện cổ tích
quốc tế tại nhiều thư viện lớn Hoa Kỳ, kể cả Library of
Congress tại Hoa-Thịnh-Đốn, soạn giả nhận thấy rằng hình
ảnh con cò được nhân cách hoá một cách gần gũi, thân-mật
nhường kia quả là một sự kiện độc đáo của riêng ca dao
Việt-Nam, khi thì tượng trưng người mẹ quê, khi là cô gái
quê, khi là em bé quê, khi thì chỉ dùng làm một hình ảnh
khởi hứng…
Chính vì tính cách vừa trong sáng vừa ngộ-nghĩnh của
hình ảnh đó mà tất cả những bài ca dao nói tới con cò, hoặc
một vài loài điểu tương tự đều được soạn giả xếp thành một
đề mục riêng của ca dao nhi đồng Việt-Nam.
Sau con cò, trong những bài ca dao nhi đồng Việt-Nam,
nhiều lần ta còn bắt gặp hình ảnh một loài cá nhỏ cũng
được nhân cách hoá, đó là cá bống. Tục ngữ có câu : «
Bống có gan bống ». Truyện cổ tích Tấm Cám của ta cũng
có bóng dáng cá bống xuất hiện : « Tấm nghe lời bụt mang
con cá bống còn sót ở giỏ về thả xuống giếng nhà, ngày
ngày hai bữa bớt phần cơm của mình mang ra giếng gọi
bống lên ăn. Gọi rằng :
« Bống ơi bống !
Bống lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta,
Đừng ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người… »
Và ca dao nhi đồng có những bài : « Cái bống là cái
bống bang », « Cái bống là cái bống binh », v.v…
Soạn giả có ý nghĩ cho rằng « cái bống » sở dĩ được
nhân cách hoá trong một số bài không phải vì hình ảnh «
cái bống » cũng gần-gũi quen thuộc với người dân quê như
hình ảnh « cái cò bay bổng bay la », mà vì âm thanh của «
cái bống » gần-gũi âm thanh tiếng ru hời… Các bà mẹ Việt
khi ôm con vỗ-về tìm câu hát ru thường vẫn khởi sự bằng
tiếng ru hời : « ạ ơi à ời » hay « bồng bống bông bang… ».
Có thể thoạt chỉ là :
Ạ ơi à ời…
Bồng bồng mà nấu canh khoai,
Ăn cho mát ruột đến mai lại bồng.
hay : Ạ ơi à ơi…
Bồng bồng mà nấu canh tôm,
Ăn cho mát ruột đến hôm lại bồng.
Rồi do sức hút của vần điệu « cái bống » đi vào ca dao
lúc nào không biết :
Cái bống là cái bống bàng,
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.
Trong ca dao của trẻ Việt có lần ta còn thấy con (chuột)
cống và con ong được nhân cách hoá, rồi một bài khác là
con cáo. Thật ngộ-nghĩnh !
Nu-na nu-nống.
Cái cống nằm trong.
Cái ong nằm ngoài.
Củ khoai chấm mật.
Cái cáo, mặc áo em tao,
Làm tổ cây cà,
Làm nhà cây chanh,
Đọc canh bờ giếng,
Mỏi miệng thổi kèn.
D) Những bài nói về nếp sống nông nghiệp và
những tập tục xưa
Những bài này được giới thiệu để các em cảm thấy hết
cái đẹp của nếp sống gần thiên nhiên của nhà nông xưa
cùng một số tập tục ngộ-nghĩnh có thể là xa lạ với các em
ngày nay. Riêng ở điểm này, ca dao đã là một viện bảo tàng
văn hoá giúp các em không bị cắt lìa khỏi dĩ vãng.
E) Linh tinh
Phần này gồm những bài ca dao không thuộc bốn loại
trên, nhưng lời và ý ngộ-nghĩnh đẹp vẫn thích hợp với các
em.
F) Những trò chơi nhi đồng
Đây là những bài hát áp dụng trong trò chơi của các em.
G) Những câu đố
Tuổi này vốn là tuổi hiếu thắng, tuổi ganh đua. Những
câu đố sẽ vừa khích động trí thông minh, vừa tôi luyện trí
suy đoán của các em.
II. BÀI HÁT TRẺ EM NAM HƯƠNG
Sau cùng trước khi sang phần giới thiệu Ca-dao Nhiđồng Quốc-tế, soạn giả còn sưu tầm được một số ca-dao
của Nam Hương viết vào khoảng năm 1936.
III. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Về những bài ca dao nhi đồng Việt-Nam, ngoài những
bài ghi lại do trí nhớ, hoặc ghi theo lời các bậc lão thành
trong gia đình, còn lại soạn giả căn cứ theo cuốn Tục Ngữ
Phong Dao của Nguyễn-Văn-Ngọc, Saigon : Nhà xuất bản
Bốn Phương, 1952.
Những bài hát trẻ em của Nam Hương được trích dẫn
trong Nguyệt San Tứ Dân Văn Uyển, số 25 (tháng 7, 1936).
Phần viết về những trò chơi nhi đồng, soạn giả có tham
khảo những bài của các ông Ngô-Quý-Sơn, Nguyễn-Văn-Tố
và Nguyễn-Văn-Huyên đăng trong tập IIEH 1943. Tome VI
(Institut Indochinois pour l'Etude de l'Homme. Bulletins et
Travaux pour 1944) Hanoi : 1944.
Sang phần giới thiệu một số ca dao các nước Âu Á khác
soạn giả sẽ tuỳ nghi khi thì dịch thoát thành các thể thơ
Việt-Nam, khi thì chỉ cốt dịch sát nghĩa. Đây cũng là một
cách giúp các em làm quen dần với một khía cạnh văn hoá
quốc tế, và cũng để các em khi trở lại so-sánh càng cảm
thấy ca dao nhi đồng của nước Việt nhà ý vị biết chừng nào.
Tất cả những bài ca-dao nhi-đồng quốc tế này đều được
trích dịch tự pho Anthology of Children's Literature của Edna
Johnson, Evelyn R Sickels và Frances Clarke Sayers, Boston
: Houghton Mifflin Company, 1959.
IV. NHAN ĐỀ VÀ CHÚ THÍCH
Trừ một vài trường hợp đặc biệt, các nhan đề đều được
đặt bằng cách lấy ngay câu đầu của bài ca dao.
Trường hợp có những từ ngữ cổ, hoặc muốn nhấn mạnh
ý nghĩa toàn bài, soạn giả có ít dòng ghi chú ngay dưới bài
ca dao.
V. CÁCH SỬ DỤNG CA DAO NHI ĐỒNG TRONG LỚP
HỌC
Soạn giả chỉ xin ghi nơi đây một vài đề nghị.
Quý vị giáo sư có thể khởi đầu lớp học bằng cách đọc
một bài ca dao ngộ-nghĩnh nào đó để tập trung sự chú ý
của các em và gây niềm hứng khởi trước khi vào bài chính.
Gần tới giờ tan, nếu còn thừa thì giờ quý vị cũng có thể làm
như vậy giúp các em cảm thấy thoải-mái trước khi ra về.
Cách sử dụng ca dao nên luôn luôn giữ tính cách hồn nhiên
như vậy.
Cũng có thể trong giờ tập đọc quốc văn tại các lớp lớn,
nhân đọc một bài ca dao, quý vị khuyến khích các em cùng
nhau bàn-bạc trong hàng đội tự trị về ý nghĩa bài đó. Chẳng
hạn bài ca dao :
Ông trăng mà bảo ông trời,
Những người hạ giới là người như tiên.
Ông trời mà bảo ông trăng,
Những người hạ giới mặt nhăn như tiều.
Bài trên có thể khiến các em khám phá ra ý nghĩa luân
lý là ở gần người nóng-nảy, gay-gắt, tính tình mình dễ bị
bực-bội lây, trái lại ở gần người hiền từ, mình cũng dễ cảm
thấy tâm hồn thảnh-thơi thoải-mái.
Bài « Thằng Bờm có cái quạt mo » có thể được dựng
thành vở kịch ngắn thật ngộ-nghĩnh. Đây cũng là cách
hướng dẫn dần các em trên con đường thưởng ngoạn và
trình diễn văn nghệ.
Chúng ta hãy thực hiện những cuộc thảo luận theo từng
hàng đội tự trị như đã nói trên. Hoặc chúng ta theo phương
pháp tập họp các em thành hai hình vòng tròn trong và
ngoài. Trong khi vòng trong thảo luận, vòng ngoài nghe và
quan sát để phát biểu phê bình sau. Cứ thế luân phiên,
vòng trong hết phận sự thảo luận thì chuyển ra vòng ngoài,
đến lượt vòng ngoài vào trong tiếp tục thảo luận cùng đề
tài. Phương pháp này có những lợi điểm sau :
1. Cũng là một biến cách của hàng đội tự trị để các em
tiến dần trên con đường kỷ luật tự giác.
2. Giúp trẻ có óc quan sát, tăng trưởng sáng kiến phê
bình, và chí ganh đua, bởi các em đều tuần tự khi ở địa vị
chủ, khi ở địa vị khách để dễ thấy cái hay, cái dở ở người và
ở mình mà giữ cái hay, sửa cái dở (đặc biệt cái dở rụt-rè của
những em nhút-nhát hay ngập-ngừng trong việc phát biểu ý
kiến).
3. Trong khi điều khiển, chúng ta luôn luôn giữ cho bầu
không khí thảo luận được cởi mở, điều này dạy cho các em
biết chấp nhận ý kiến của kẻ khác, tức nếp sống hoà đồng,
nếp sống truyền thống của dân tộc nhà.
Khi đem một bài ca dao ra diễn thành vở kịch nhỏ như
bài « Thằng Bờm có cái quạt mo » chẳng hạn, chúng ta có
thể tổ chức các em thành nhiều toán : một toán làm diễn
viên thì những toán còn lại làm khán giả ngồi theo hình bán
nguyệt.
Với hình thức tổ chức tương tự chúng ta cũng có thể áp
dụng vào việc học các môn khác ngoài môn văn chương nhi
đồng.
Và riêng về ca dao nhi đồng, nếu được sử dụng như
chúng ta đã sơ lược trình bày trên, sẽ giúp ích các em
không nhỏ về cách ăn-nói trôi-chảy, viết luận trôi-chảy.
VI. GHI CHÚ VỀ TOÀN BỘ TUYỂN TẬP VĂN CHƯƠNG
NHI ĐỒNG
Các em nhi đồng đây là bao gồm từ cỡ tuổi mẫu giáo
(năm, sáu tuổi) tới đệ thất, đệ lục (mười hai, mười ba tuổi).
Vậy nội dung của từng bài ca dao, ngụ ngôn hay truyện cổ
tích, v.v… trong toàn bộ tuyển tập này, chúng ta sẽ tuỳ nghi
đem ra sử dụng sao cho thích hợp với từng lứa tuổi.
Các em đương ở tuổi khao-khát tìm hiểu những cái mới
lạ, không riêng gì các trẻ em Việt-Nam, mà là toàn thể các
trẻ em trên thế giới ! Hãy nhìn các em nằm thu mình trong
một góc giường, hay ngồi thu mình trong một góc khuất,
đôi tay khư-khư giữ lấy quyển sách, đôi mắt chăm-chú dõi
theo những dòng chữ, bàn tay hối-hả lúc sang trang…
Những trang sách tốt đã mở cho các em thấy biết bao
chân trời mới lạ ! Nhiều khi các em vẫn ham-hố đọc mà vẫn
chưa hiểu rõ nhu cầu nào của mình sẽ được thoả mãn ; các
em chỉ cảm thấy mình đương được phiêu lưu một cách thích
thú trên những trang sách ; sự thích thú đó liên tiếp gia
tăng cường độ, tới một lúc nào các em chợt phát hiện ra
một ý niệm mới, chẳng khác một mầm non được liên-tiếp
nuôi dưỡng tràn căng nhựa sống vừa phá vỡ vỏ cây để nhú
ra chào đón ánh sáng mặt trời.
Lòng khát-khao cái hay, cái đẹp, cái lạ vẫn ngầm có nơi
các em, các em ham đọc vì các em thấy rằng sách đọc mở
rộng chân trời hiểu biết cho các em. Thoạt các em muốn
hiểu chính mình, mà muốn hiểu mình thì phải lần mò tìm
hiểu kinh nghiệm ở nơi người : tha nhân khi đó chính là tấm
gương để các em tự soi thấy mình.
Sau đó sách vở giúp các em hiểu bao nhiêu điều thường
thức khác, trong đó có những điều hay lẽ phải nơi xã hội các
em đương sống, điều này chuẩn bị cho các em sau này có
căn bản mà tiến tới tìm hiểu điều hay lẽ phải đại đồng của
cả thế giới nhân loại.
Sách viết mà không gây được niềm thích thú cho các em
khi đọc thì làm sao chu toàn được nhiệm vụ thoạt tưởng
như đơn giản mà kỳ thực thật là lớn lao đó !
Khi soạn thảo « Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng » này,
soạn giả chỉ có tham vọng nhỏ-nhoi là giúp tài liệu giảng
dạy cho gia đình giáo giới của soạn giả.
Tuy nhiên « Tuyển-Tập Văn-Chương Nhi Đồng » được in
thành nhiều tập nhỏ theo từng đề mục (ca dao, ngụ ngôn,
thần thoại, cổ tích…) cũng là để tiện thể trực tiếp cung cấp
tài liệu đọc cho các em, trong khi chờ đợi có những tập sách
in riêng trên giấy tốt, có hình vẽ đẹp, với nội dung tuyển lựa
thích ứng cho từng lứa tuổi.
Đây là lần ấn hành đầu tiên. Tuyển Tập Văn Chương Nhi
Đồng (Việt-Nam và quốc-tế), chắc chắn chẳng sao tránh
khỏi những điều thiếu sót, dám mong quí vị độc giả lượng
thứ và chỉ giáo cho để kịp thời sửa chữa vào kỳ ấn hành
sau.
Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1969)
D. Q. S.
PHẦN MỘT : CA DAO NHI ĐỒNG VIỆT NAM
I. LUÂN LÝ
1. DẠY CON TỪ THUỞ TIỂU SINH
Dạy con từ thuở tiểu sinh,
Gần thầy gần bạn tập-tành lễ nghi.
Học hành cách vật chí tri,
Văn chương chữ nghĩa nghĩ gì cũng thông.
2. CÔNG ĐỨC SINH THÀNH
Mẹ cha công đức sinh thành,
Ra trường thầy dạy, học-hành cho hay.
Muốn khôn thì phải có thầy,
Không thầy dạy dỗ đố mày làm nên.
Mười năm luyện tập sách đèn,
Công danh gặp bước chớ quên ơn thầy.
Yêu kính thầy mới làm thầy,
Những phường bội-bạc sau này ra chi.
3. CÂY XANH THÌ LÁ CŨNG XANH
Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Mừng cây rồi lại mừng cành,
Cây đức lắm chồi, người đức lắm con.
Ba vuông sánh với bảy tròn,
Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu.
4. CÂY KHÔ CHƯA DỄ MỌC CHỒI
Cây khô chưa dễ mọc chồi,
Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta.
Non xanh bao tuổi mà già,
Bởi vì sương tuyết hoá ra bạc đầu.
5. CÔNG CHA NGHĨA MẸ
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
6. NGÀY NÀO EM BÉ CỎN CON
Ngày nào em bé cỏn con
Bây giờ em đã lớn khôn thế này.
Cơm cha áo mẹ công thầy,
Lo sao cho đáng những ngày ước mong.
7. THỜ CHA MẸ Ở HẾT LÒNG
Thờ cha mẹ ở hết lòng,
Ấy là chữ hiếu ở trong luân thường.
Chữ đễ nghĩa là nhường,
Nhường anh, nhường chị, lại nhường người trên.
Ghi lòng tạc dạ chớ quên,
Con em phải giữ lấy nền con em.
8. EM THỜI ĐI CẤY RUỘNG BÔNG
Em thời đi cấy ruộng bông,
Anh đi cắt lúa để chung một nhà.
Đem về phụng dưỡng mẹ cha,
Muôn đời tiếng hiếu người ta còn truyền.
9. CÔNG CHA NHƯ NÚI NGẤT TRỜI
Ru ơi ru hỡi ru hời,
Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông.
Núi cao, biển rộng mênh-mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi.
10. ANH EM NÀO PHẢI NGƯỜI XA
Anh em nào phải người xa,
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.
Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hoà thuận hai thân vui-vầy.
11. CON ƠI MUỐN NÊN THÂN NGƯỜI
Con ơi muốn nên thân người,
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.
Gái thời chăm-chỉ trong nhà,
Khi vào canh củi, khi ra thêu-thùa.
Trai thì đọc sách ngâm thơ,
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.
Nữa mai nối được nghiệp nhà,
Trước là đẹp mặt sau là hiển thân.
12. LÀM TRAI QUYẾT CHÍ TU THÂN
Làm trai quyết chí tu thân,
Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo.
Khi nên trời giúp công cho,
Làm trai năm liệu, bảy lo mới hào.
Trời sinh, trời chẳng phụ nào,
Công danh gặp hội, anh hào ra tay.
Trí khôn sắp để dạ này,
Có công mài sắt, có ngày nên kim.
13. LÀM TRAI NẾT ĐỦ TRĂM ĐƯỜNG
Làm trai nết đủ trăm đường,
Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay.
Công cha, đức mẹ cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.
Thức khuya, dậy sớm cho cần,
Quạt nồng, ấp lạnh giữ phần đạo con.
14. CON ƠI MẸ BẢO ĐÂY NÀY
Con ơi mẹ bảo đây này,
Học buôn học bán cho tày người ta.
Con đừng học thói chua ngoa,
Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười.
Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn, bớt ngủ, liệu bài lo toan.
Phòng khi đóng góp việc làng,
Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.
Trước là đắc nghĩa cùng chồng,
Sau là họ mạc cũng không chê cười.
Con ơi, nhớ bấy nhiêu lời !
15. LÀM NGƯỜI CHO BIẾT TIỆN TẦN
Làm người cho biết tiện tần,
Đồ ăn thức mặc có ngần thì thôi.
Những người đói rách rạc rời,
Bởi phụ của trời làm chẳng nên ăn.
16. TRỨNG RỒNG LẠI NỞ RA RỒNG
Trứng rồng lại nở ra rồng,
Hạt thông lại nở cây thông rườm-rà.
Có cha sinh mới ra ta,
Làm nên thời bởi mẹ cha vun trồng.
Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,
Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ.
Đạo làm con, chớ hững hờ,
Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm.
17. TRẮNG NHƯ THỦY TINH
Trắng như thủy tinh
Trắng như giá lọc,
Nhún mình như đồng đen.
Ai ơi chớ nghĩ rằng hèn,
Kìa như nước đục đánh phèn lại trong.
18. TRỜI SINH RA ĐÃ LÀM NGƯỜI
Trời sinh ra đã làm người
Hay ăn, hay nói, hay cười hay chơi.
Khi ăn thời phải lựa mùi,
Khi nói, thì phải lựa lời chớ sai.
Cả vui chớ có vội cười,
Nơi không lễ phép chớ chơi làm gì.
19. BỒNG BỐNG BỒNG BÔNG
Bồng bống bồng bông.
Giai ơn vua chầu chực sân rồng,
Gái ơn chồng ngồi võng ru con.
Ơn vua xem nặng bằng non,
Ơn chồng đội đức tổ tôn giỏi truyền.
Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền lấy được của ngon.
Phận gái lấy được chồng khôn,
Xem bằng cá vượt Vũ-môn hoá rồng,
Bồng bống bồng bông.
20. BỒNG BỒNG MẸ BẾ CON SANG
Bồng bồng mẹ bế con sang,
Đò dọc quan cấm đò ngang không chèo.
Muốn sang thì bắc cầu Kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
II. NHỮNG BÀI HÁT VUI
21. CHÈ LA, CHÈ LÍT
Chè la, chè lít,
Bà cho ăn quýt.
Bà đánh đau tay,
Chắp tay lạy bà.
22. KÉO CƯA LỪA XẺ
Kéo cưa lừa xẻ,
Thợ khoẻ cơm vua,
Thợ thua cơm làng.
Thợ nào dẻo-dang
Về nhà bú tí.
23. KÉO CƯA KÉO KÍT
Kéo cưa kéo kít,
Làm ít ăn nhiều,
Nằm đâu ngủ đấy,
Nó lấy mât cưa,
Lấy gì mà kéo ? !
24. XU XOA XU XUÝT
Xu-xoa xu-xuýt
Bán quýt chợ đông,
Bán hồng chợ tây,
Ba đồng một quả,
Mua vậy thì mua.
25. VUÔN VẢI VUÔN VAI
Vuôn vải vuôn vai,
Chóng lớn chóng dài.
Đi chơi với trẻ,
Sức khoẻ sống lâu,
Bạc đầu cồi cội.
26. NAM MÔ BỒ TÁT
Nam mô bồ tát,
Chẻ lạt đứt tay,
Đi cày trâu húc,
Đi xúc phải cọc,
Đi học thày đánh,
Đi gánh đau vai,
Nằm dài nhịn đói.
27. CHIỀU CHIỀU CON QUẠ LỢP NHÀ
Chiều chiều con quạ lợp nhà,
Con cu chẻ lạt con gà đưa tranh.
1
Chèo-bẻo nấu cơm nấu canh,
Chìa vôi đi chợ mua hành về nêm.
28. CÁI BỐNG LÀ CÁI BỐNG BANG (I)
Cái bống là cái bống bang.
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.
Ngày sau bống đỗ ông đồ,
Đi võng lá sắn, đi dù lá khoai.
29. CÁI BỐNG LÀ CÁI BỐNG BANG (II)
Cái bống là cái bống bang,
Cơm ăn bằng sàng, bốc muôi bằng vung.
Mẹ giận mẹ giẩy xuống sông,
Con ra đường biển lấy chồng lái buôn.
Khát nước thì uống nước nguồn,
Lạc đường thì bảo lái buôn đưa về.
30. CÁI BỐNG LÀ CÁI BỐNG BÌNH
Cái bống là cái bống bình,
Thổi cơm nấu, nướng một mình mồ hôi.
Sáng ngày có khách đến chơi,
Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng.
Rạng ngày ăn uống vừa xong,
Tay nhắc mâm đồng, tay giải chiếu hoa.
Nhịn miệng đãi khách đàng xa,
Ấy là của gửi chồng ta ăn đàng.
2
31. CÁI BỐNG ĐI CHỢ CẦU CANH
Cái Bống đi chợ Cầu Canh,
Con tôm đi trước củ hành theo sau.
Con cua lạch đạch theo hầu,
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.
32. CÁI BỐNG CÒN Ở TRONG HANG
Cái bống còn ở trong hang
3
Cái rau tập tàng còn ở ruộng dâu.
Ta về ta sắm cần câu
Câu lấy cá bống nấu rau tập-tàng.
33. BỒ CU BỒ CÁC
Bồ-cu, bồ các,
Tha rác lên cây.
Gió đánh lung lay,
Là vua Cao-tổ.
Những người mặt rỗ,
Là ông Tiêu-Hà.
Nước chảy qua đường
Là giượng Tào Tháo.
Đánh bạc cố áo,
Là anh Trần Bình.
34. CÓC CHẾT BỎ NHÁI BỒ CÔI
Cóc chết bỏ nhái bồ côi,
Chẫu ngồi, chẫu khóc : « Chàng ôi là chàng ! »
Ễnh ương đánh lệnh đã vang,
Tiền đâu mà trả nợ làng ngoé ơi !
35. CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
Con cóc là cậu ông trời
Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho.
Con cóc là cậu thầy nho,
Hễ ai đánh chết trời cho quan tiền.
36. TÌNH TÍNH TANG TANG TÌNH TANG
Tình tính tang, tang tình tang,
Súng vác vai, hoả mai tọng nạp,
Gươm tuốt trần, giáo cắp, mộc mang.
Tang tình tang.
Giương cung mà bắn con cò,
Con cốc nó lội con cò nó bay.
Tính tình tang, tang tình tang.
37. CON GÀ CỤC TÁC LÁ CHANH
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.
Con chó khóc đứng khóc ngồi,
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.
38. CON KIẾN MÀY KIỆN CỦ KHOAI
Con kiến mày kiện củ khoai,
Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.
Nhà tao chín đụn mười trâu,
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân.
39. SAO HÔM LÓNG LÁNH
Sao hôm lóng lánh,
Sao mai lóng lánh,
Cuốc đã sang canh,
Gà kia gáy rúc.
Chích choè lìa tổ,
Trời đã rạng đông.
40. HỒ KHOAN, HỒ UẨY !
Hồ khoan, hồ uẩy !
Hồ khoan, hồ uẩy !
Ăn đã vậy,
Múa gậy làm sao ?
Chân thấp chân cao,
Cho mau cho chóng.
Năng khiếp năng dũng,
Hữu khuất hữu thân
Cao-tổ thời nhận,
4
Hạng-vương thời bạo,
Nhân hiền tại mạo,
Trắng gạo ngon cơm.
Hồ khoan, hồ uẩy !
Hồ khoan, hồ uẩy !
41. CON CHÓ CHÊ KHỈ LẮM LÔNG
Con chó chê khỉ lắm lông,
Khỉ lại chê chó ăn dông ăn dài.
Lươn ngắn lại chê trạch dài,
Thờn bơn méo miệng chê chai lệch mồm.
42. RÉT NÀNG BÂN
5
Tháng giêng rét đài,
Tháng hai rét lộc.
Tháng ba rét nàng Bân.
Nàng Bân may áo cho chồng,
May ba tháng ròng, mới được cửa tay.
43. THẰNG CUỘI NGỒI GỐC CÂY ĐA
Thằng cuội ngồi gốc cây đa,
Để trâu ăn lúa gọi cha lời ời.
Cha còn cắt cỏ trên trời,
Mẹ còn cưỡi ngựa đi chơi cầu vồng.
44. THẰNG BỜM CÓ CÁI QUẠT MO
Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy trâu !
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mè !
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy lim !
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mồi !
Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười.
45. TAY CẦM CON DAO
Tay cầm con dao.
Làm sao cho sắc.
Để mà dễ cắt,
Để mà dễ chặt.
Chặt lấy củi cành,
Trèo lên rừng xanh,
Chạy quanh sườn núi.
Một mình thui-thủi,
Chặt cây chặt củi.
Tìm chốn mà ngồi,
Ngồi mát thảnh-thơi.
Kìa một đàn chim,
Ở đâu bay đến,
Ở đâu bay lại.
Con đang cắn trái,
Con đang tha mồi,
Qua lối nọ nó ăn.
Cái con hươu kia,
Mày đang ăn lộc,
Lộc vả lộc sung.
Mày trông thấy tớ,
Tớ không đuổi mày,
Mày qua lối nọ làm chi ?
46. ÔNG TRĂNG MÀ LẤY BÀ TRỜI
6
Ông Trăng mà lấy bà Trời,
Tháng năm đi cưới, tháng mười nộp cheo.
Sỏ lợn lớn hơn sỏ mèo,
Làng ăn chẳng hết đem treo cột đình.
Ông Xã đánh trống thình-thình,
Quan viên mũ áo ra đình xem cheo.
47. ÔNG GIĂNG MÀ LẤY BÀ SAO
Ông Giăng mà lấy bà Sao,
Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.
Có cưới thì cưới con trâu,
Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.
48. CON NHỆN Ở TRÊN MÁI NHÀ
Con nhện ở trên mái nhà,
Nó đương làm cỗ cúng bà nó mai.
Nó rằng nó chẳng mời ai,
Mời một ông chú với hai bà dì.
49. THÌA LA THÌA LẢY
Thìa-la thìa lảy !
Con gái bảy nghề :
7
Ngồi lê là một,
Dựa cột là hai,
Theo trai là ba,
Ăn quà là bốn,
Chốn việc là năm,
Hay nằm là sáu,
Láu táu là bảy.
50. XẤU HỔ
8
Xấu hổ,
Lấy rổ mà che
Lấy nong mà đè,
Lấy đấu mà đậy,
Lấy chầy đâm bong.
51. GIÓ ĐẬP CÀNH ĐA
Gió đập cành đa,
Gió đánh cành đa,
Thầy nghĩ là ma,
Thầy ù thầy chạy.
Ba thằng ba gậy,
9
Đi đón thầy về.
52. SỐ CÔ CHẲNG GIÀU THÌ NGHÈO
Số cô chẳng giàu thì nghèo,
Ba mươi tết có thịt treo trong nhà.
Số cô có mẹ có cha,
Mẹ cô đàn bà, bố cô đàn ông.
Số cô có vợ có chồng,
Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.
53. NHẤT HÀO NHỊ HÀO TAM HÀO
Nhất hào, nhị hào, tam hào…
Chó chạy bờ ao.
Chuột chạy bờ rào.
Quẻ này có động.
Nhà này có quái trong nhà,
Có con chó đực cắn ra đằng mồm
54. CON CHIM SÁO SẬU
Con chim sáo-sậu
Ăn cơm nhà cậu
Uống nước nhà cô
Đánh vỡ bát ngô
Bà cô phải đền.
55. LÚA NGÔ LÀ CÔ ĐẬU NÀNH
Lúa ngô là cô đậu nành.
Đậu nành là anh dưa chuột.
10
Dưa chuột là ruột dưa gang.
Dưa gang là nàng dưa hấu.
Dưa hấu là cậu lúa ngô.
Lúa ngô là cô đậu nành…
56. CON CHIM CHÍCH CHOÈ
Con chim chích-choè
Nó đậu cành chanh.
Tôi ném hòn sành,
Nó quay lông-lốc.
Tôi làm một chốc,
Được ba mâm đầy
Ông thầy ăn một,
Bà cốt ăn hai.
Còn cái thủ, cái tai,
Tôi đem biếu chúa.
Chúa hỏi chim gì ?
Con chim chích-choè.
57. CON CÔNG HAY MÚA
Con công hay múa,
Nó múa làm sao ?
Nó rụt cổ vào,
Nó xoè cánh ra.
Nó đậu cành đa,
Nó kêu ríu-rít.
Nó đậu cành mít,
Nó kêu vịt chè.
Nó đậu cành tre,
Nó kêu bè muông,
Nó đáp xuống ruộng
Nó kêu tầm vông.
Con công hay múa…
58. CÁI KIẾN MÀY ĐẬU CÀNH ĐÀO
Cái kiến mày đậu cành đào
Leo phải cành cộc leo vào leo ra.
Con kiến mày đậu cành đa
Leo phải cành cộc, leo ra leo vào…
59. BA BÀ ĐI BÁN LỢN CON
Ba bà đi bán lợn con,
Bán đi chẳng được lon-xon chạy về.
Ba bà đi bán lợn sề
Bán đi chẳng được chạy về lon-xon.
60. MẸ EM ĐI CHỢ ĐƯỜNG NGOÀI
Mẹ em đi chợ đường ngoài,
Mua em cây mía vừa dài vừa cong.
Mẹ em đi chợ đường trong,
Mua em cây mía vừa cong vừa dài…
61. GIÃ ƠN CÁI CỐI CÁI CHÀY
Giã ơn cái cối cái chày,
Nửa đêm gà gáy có mày có tao.
Giã ơn cái cọc cầu ao.
Nửa đêm gà gáy có tao có mày…
62. CON VỎI CON VOI
Con vỏi con voi !
Cái vòi đi trước,
Hai chân trước đi trước,
Hai chân sau đi sau,
Cái đuôi đi sau rốt.
Tôi xin kể nốt
Cái chuyện con voi…
63. ÔNG NỈNH ÔNG NINH
Ông Nỉnh ông Ninh,
Ông ra đầu đình ông gặp ông Nảng ông Nang.
Ông Nảng ông Nang,
Ông ra đầu làng ông gặp ông Nỉnh ông Ninh.
64. CÁI NGỦ MÀY NGỦ CHO LÂU
11
Cái ngủ mày ngủ cho lâu,...
 









Các ý kiến mới nhất