BỈ VỎ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:06' 20-02-2024
Dung lượng: 812.9 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:06' 20-02-2024
Dung lượng: 812.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
BỈ VỎ
Tôi viết "Bỉ vỏ"
Phần thứ nhất
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Phần thứ hai
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Phần thứ ba
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26 (hết)
Tôi viết "Bỉ vỏ"
Năm ấy tôi mười sáu tuổi, hết hạn tù, được tha. Mẹ tôi lên tận nhà
giam tôi, đón tôi. Nhưng chúng tôi không về Nam Định - quê hương
của chúng tôi - mà dắt nhau ra Hải Phòng.
Khi tôi đi tù, đoạn tang cha tôi, mẹ tôi bước đi một bước nữa. Nên
lúc rời bỏ cái tỉnh đã chứng kiến bao nhiêu việc không hay kế tiếp
phá tan gia đình tôi, sự ngậm ngùi của mẹ tôi bắt tôi nghĩ đến lòng
héo hắt của một người đàn bà đã cải giá trước sự khinh bỉ rẻ rúng
của họ hàng nhà chồng và trước sự ghê tởm của mọi người quen
biết đối với con mình, mới một dúm tuổi mà đã trải hết lao này sang
lao khác.
Hôm đó, trời thu trong và sáng. Con tàu chở chúng tôi lướt trên một
dòng sông lặng lẽ giữa những đồng ruộng xanh bát ngát.
Ra Hải Phòng chúng tôi càng khổ sở. Trông vào vài hào làm vốn
buôn trầu cau, mẹ con tôi được bữa sớm mất bữa tối. Lắm phen,
luôn mấy hôm, chỉ một bữa cháo lót lòng.
Bao nhiêu ngày tháng, bị câu thúc thân thể và phải làm những việc
bẩn thỉu, nặng nhọc quá sức mình, tôi tưởng khi thoát khỏi cảnh tù
tội đày ải ấy sẽ sống no ấm...ngờ đâu! Vì thế xác thịt tôi dần suy
nhược; cái ngực thỉnh thoảng đau nhói lên, tôi cảm thấy đời tôi đã bị
rút ngắn đi và một ngày rất gần kia sẽ hết. Chết! Mỗi lần cái chữ đen
tối khủng bố ấy hiện ra, tôi thấy sao mà chung quanh tôi sự vật gì
cũng sáng sủa, tươi đẹp! Hết thảy đều kêu gọi lòng ham sống của
tôi.
Tôi chết đi, mới mười sáu tuổi đầu, sẽ làm cho mẹ tôi đau đớn biết
chừng nào. Và cái phút cuối cùng của một đời sớm tắt ấy, tôi sẽ
quằn quại như con bướm non bị hai ngón tay dữ tợn kẹp chặt vừa
lúc nó mới đánh thấy mùi nhị hoa thơm ngát.
Những lúc lo sợ, bối rối, đau đớn quá, trong tâm trí người ta hay nảy
ra những ước muốn khác thường. Tôi, tôi muốn có một cái gì để mãi
mãi an ủi mẹ tôi và để tỏ lòng tôi mến tiếc và thương nhớ những
người và vật đã làm tôi vui thích đến say mê. Nghĩa là tôi phải để lại
một cái gì tinh khiết nhất của hồn và xác tôi cho cõi đời mà tôi yêu
mến.
ý quyết viết tiểu thuyết thụ thai trong trí tưởng tôi mỗi ngày một
mạnh mẽ thêm, lan rộng mãi ra. Khi ăn, khi chơi, khi ngủ...lúc nào tôi
cũng nghĩ đến viết. ở nhà, ngoài đường, trên vỉa hè, ở ghế vườn
hoa, dưới gốc cây, bờ sông bến tàu, đâu đâu cũng là chỗ tôi mơ
tưởng đến viết. Có một xu một trinh nào tôi cũng mua giấy để viết.
Không có tiền mua sách, báo, tôi cố đón đọc những báo hàng ngày
ở phòng đọc báo của một hội ái hữu kia chỉ mở cửa từ 7 giờ đến 9
giờ tối để xem cách viết của một số nhà văn.
Nhưng, tiền càng ngày càng hiếm, tưởng như không còn bao giờ lọt
vào tay tôi nữa, và trời về tối dạo ấy càng rét dữ dội với những ngọn
gió tê buốt và những trận mưa dầm dài ghê sợ. Mẹ tôi phải đi vào
Vinh(1), cầu cứu một người chị họ tôi, để tôi ở nhà với ông chú
dượng. Trước khi đi, phải vay cho chúng tôi tám ngày gạo và một
món tiền chi tiêu không quá bốn hào để mua củi và thức ăn.
Đã lâu lắm mới sẵn có một thập gạo ở trong nhà ông chú dượng tôi
và tôi bị khiêu khích. Không ngày một bữa nữa. Chúng tôi tin rằng
vào tới Vinh vay mượn được tiền, mẹ tôi thế nào sớm tối chả gửi ra.
Chúng tôi đã thất vọng. Và càng lo sợ, càng khổ sở vì đói. Hơn
mười ngày rồi mà chẳng thấy thư từ gì ở trong đó gửi ra.
Tôi còn nhớ, nhớ rõ ràng lắm, những đêm mưa dầm gió bấc, trong
một căn nhà không đèn lửa gì cả và ran ran tiếng muỗi, trên một cái
phản lung lay, hai thân hình nhọc lả co quắp trong một chiếc chăn
rách mướp, ông chú dượng tôi và tôi không ai nói với ai nửa nhời vì
không đủ sức mà nói và cũng cảm thấy tiếng nói lúc bây giờ chẳng
còn ý nghĩa gì hết, chỉ làm đau tủi thêm hai con người muốn mà
chẳng có việc gì làm để được sống. Sự yên lặng còn là sự đau đớn
xót xa đến cực điểm của chúng tôi trước sự sống của vợ chồng
người thuê nhà bên cạnh.
Người chồng làm thợ quét vôi, hiền lành, thất nghiệp, nghiện rượu.
Người vợ, một người buôn thúng bán mẹt ở các chợ, rất lắm điều.
Họ không còn cha mẹ già nhưng đông con. Chưa đứa nào quá
mười ba tuổi và tinh khôn chút ít để đỡ đần công việc. Bữa có, bữa
không, rách rưới và ốm yếu cũng như chúng tôi. Nhưng vợ chồng
người này luôn luôn cắn cấu, đay nghiến, chửi rủa và đánh đập
nhau. Đã mấy lần, người chồng bị vợ sỉ vả đã uất lên, chực thắt cổ
mình và dìm ao mấy đứa con bé.
Bỗng gần về sáng đêm thứ mười hai, một tiếng người thất thanh gọi
chúng tôi. Chúng tôi bổ choàng dậy. Giời ơi! Mẹ tôi đã về. Mẹ tôi về
với hai sọt hàng trầu vỏ mà ông chú dượng tôi và tôi ưỡn đến gẫy
lưng mới khiêng vào được.
Từ ngày đó bụng tôi không đến nỗi cồn cào quá như trước. Và tôi đã
có tiền mua cả một thếp giấy. Tiền mua giấy đó, mẹ tôi cho tôi
những hôm lãi nhiều. Tôi không cần phải hỏi mẹ tôi cũng đưa. Mẹ tôi
không nỡ trông thấy tôi thẫn thờ trước một ít giấy đã kín chữ.
Mấy truyện ngắn tôi đã viết xong từ lâu, và "Bỉ vỏ", trải bao nhiêu
ngày tháng đã dàn xếp kỹ càng trong đầu óc tôi.
*
Thưa mẹ, người mẹ hiền từ của con, thưa các bạn, những bạn đọc
yêu dấu của tôi, "Bỉ vỏ" đã viết xong rồi.
"Bỉ vỏ" đã viết xong trên một cái bàn kê bên khung cửa trông ra vũng
nước đen ngầu bọt của một bãi đất lấp dở dang và một chuồng lợn
ngập ngụa phân tro; "Bỉ vỏ" đã viết xong trong một căn nhà cứ đến
chập tối là vang lên tiếng muỗi và tiếng trẻ khóc; "Bỉ vỏ" đã viết xong
trong một đêm lạnh lẽo âm thầm mà mọi vật như đều rung lên cùng
với lòng thương yêu của một đứa trẻ ham sống dào dạt trong những
bụi mưa thấm thía.
Thưa mẹ, người mẹ hiền từ của con, con xin dâng "Bỉ vỏ" cho mẹ
với cả tấm lòng kính mến trong sạch của con, và xin tặng nó cho các
bạn với tất cả cảm tình đằm thắm tươi sáng của tôi.
Nguyên Hồng
Tháng 3-1938
Phần thứ nhất
Chương 1
Bữa cơm chiều nay khác hẳn mọi ngày, buồn bã và uể oải lắm.
Bính ngồi sát bức vách lâu ngày đã nứt nẻ loang lổ, cầm bát cơm
đầy nhưng chẳng buồn và. Thằng Cun, cái Cút, hai đứa em nhỏ của
Bính bị sợ lây, lấm lét nhìn đĩa đậu phụ om tương vàng ánh mỡ,
thèm quá mà không dám gắp. Những tiếng ho khàn khàn của bố
chúng và cặp mắt toét nhoèn cau có của mẹ chúng luôn luôn lườm
Bính, làm chúng càng rụt rè kinh hãi. Chúng càng thêm thương
Bính, một người chị hay tươi cười vỗ về các em những ngày các em
bị đánh mắng, bị hắt hủi, bị bắt nhịn đói vì quá nô đùa và cãi cọ với
trẻ con hàng xóm, nhất là những khi nhà túng thiếu, không còn biết
tính toán ra sao, không còn biết chạy vạy ở đâu.
Rồi chúng ngạc nhiên hơn thấy Bính đã gần nửa tháng nay buồn bã,
ít ăn, ít nói. Tại sao? Vì duyên cớ gì? Những khối óc ngây thơ ấy cố
nghĩ mãi không ra.
Nồi tư cơm mới hết non nửa; sự cảm động lo lắng làm khô cả miệng
hai đứa trẻ; chúng há hốc mồm, mặt đờ đẫn, trông vừa buồn cười
vừa thương hại.
- Kìa chúng mày ngồi nhìn nhau đấy à?
Bác lái Thìn cất giọng khàn khàn nói đoạn đưa cặp mắt gườm gườm
nhìn Bính. Thấy vậy Bính vội vàng và mau cho hết bát cơm; hai đứa
trẻ cũng lập cập ăn. Rồi một phút sau, cả ba đều đứng dậy. Thằng
Cun tót ngay ra cổng, cõng cái Cút lên lưng, lẩm bẩm một mình:
- Bố ác ghê! Chửi mắng chị Bính suốt ngày, chắc lại sắp đánh chị ấy
đấy!
Nó cười, khen cho mình mau trí khôn, biết trước mà chuồn khỏi nhà
chứ không thể nào cũng bị đòn lây như chiều qua. Lúc ấy, Bính cắp
rổ bát ra bờ sông ở ngay sau nhà để rửa. Mặt sông lặng lẽ, sương
lam mịt mùng. Cái lạnh man mác của chiều thu gần tàn Bính cảm
thấy rõ rệt lắm. Nhưng, Bính muốn ở mãi đây dù bị mưa rét cũng
cam tâm. Vì hễ động thấy mặt Bính, bố mẹ Bính không mắng mỏ, thì
chìa bỉu, day dứt, đay nghiến Bính chỉ vì sự lầm lỡ đó.
Bính yên lặng nhìn trời, sông một màu xám ngắt, lòng tê tái và buồn
bã. Bỗng có tiếng gọi Bính xáo xác... Rùng mình, Bính nâng vội rổ
bát, cắp ngang lưng lủi thủi về nhà.
Gần đến cái cổng bằng tre bắt khum chằng chịt những dây bìm điểm
hoa tím, Bính còn ngoái cổ trông. Chua xót, Bính thở dài.
Len lét Bính đi qua chỗ bố nằm rồi vào buồng mình. Buồng tối đen.
Cây đèn hoa kỳ vặn nhỏ đặt trên trạn bát ở cuối buồng, mẹ Bính đã
tắt đi ngay lúc Bính bước chân xuống bếp. Lau lau vội tay vào vạt áo
rách, Bính rón rén đến bên cái chõng tre. Bính vừa lật chiếc tã vải
lên, đàn muỗi bay ran ra như ri, náo động cả gian nhà. Bính cúi
xuống bế con, khe khẽ kêu:
- Giời! Muỗi đói đốt chết con tôi còn gì!
Đứa bé thức giấc khóc oa oa. Tiếng khóc càng to, Bính thêm sợ sệt.
Bính vội vàng vạch vú cho nó bú, không có hàng xóm biết thì bố mẹ
Bính sẽ lại không để Bính yên thân đâu. Muỗi bay mỗi phút một
nhiều, tạt vầm vập vào mặt Bính. Những tiếng vo vo trong cái im
lặng mờ tối của gian buồng hôi hám không mấy khi nổi ánh sáng
mặt trời, càng làm Bính bối rối. Bính thấy mình như một người tù
nặng, bị bó buộc mãi mãi nếu đứa con nhỏ này còn trong tay.
- Con ơi!
Bính ôm ghì lấy đứa con vào ngực, nức nở trong bóng tối. Bính lại
thầm thì khóc. Không thể sao ngồi yên được, Bính đi đi lại lại, và đã
ba hôm nay giọng khàn mất rồi, Bính lại phải rung rung cánh tay để
ru con. Thật Bính có ngờ đâu và cũng không bao giờ dám nghĩ tới
nông nỗi này. Lòng người Bính cứ tưởng như lời người nói. Còn sự
phụ bạc Bính đinh ninh một hạng người ăn học như thế không thể
nào có được! Nhưng đến nay Bính mới rõ cái bề ngoài che đậy sự
khốn nạn độc ác thì đã muộn lắm rồi. Chắc Bính phải đau khổ mãi
mãi vì sự lừa dối đó thôi.
Bính như không đủ sức nhấc nổi chân nữa, bèn ngồi xẹp xuống
chõng, dựa lưng vào bức vách, đầu ngả về một bên, mỏi mệt nhìn
bóng tối. Phút chốc trong tâm tưởng Bính lại hiện ra những hình ảnh
không bao xa.
Mới cách đây gần một năm, nhưng tại nhiều sự khác thường đã xẩy
ra, nên ngày giờ dài và thấm thía thêm. Dạo ấy Bính thường gánh
gạo lên chợ huyện bán, lần nào Bính cũng bắt gặp một người vận
quần áo tây, chải chuốt ngắm trông Bính. Có khi Bính còn nghe thấy
tiếng gọi vồn vã, tiếng chòng ghẹo dịu dàng. Nếu đi một mình, Bính
chẳng thẹn mấy, song vì có các bạn gái cười đùa chế giễu thêm vào
khiến Bính hổ thẹn vô cùng.
Và trong sự hổ thẹn ấy Bính dần dần thấy băn khoăn vẩn vơ. Bính
đã phải nghĩ đến người đàn ông sang trọng và trai trẻ nọ. Lâu nay
trai làng vẫn ghẹo đùa Bính. Họ đã không được Bính để ý mà thỉnh
thoảng còn Bính nói nhẹ cho nữa. Cái thứ vóc người cục kịch, quần
áo nâu mồ hôi rách vá kia Bính thấy thế nào ấy, đối với cái thân hình
thanh tú đầu tóc bóng mượt thơm tho kia. Cả cái tên "quan tham đạc
điền" nghe cũng khác lạ sao. Nó hứa với Bính bao nhiêu sự sung
sướng hãnh diện chứ đâu như những cái tên "nhiệu", "khán",
"trương" của những ngôi thứ tầm thường nhỏ mọn ở thôn quê.
Dần dần Bính yêu người ấy mà Bính thấy có thể gửi gắm cả đời
mình. Bính để người ấy gần gũi Bính luôn. Rồi một ngày kia, một
ngày thầm vụng, Bính buông phó cả thân thể cho y.
Bính vùng đứng ngay dậy, nghiến chặt hai hàm răng, rít lên. Ước
vọng của Bính đã nhào đổ hết. Người tỉnh sang trọng và trẻ trai nọ
đã bỏ Bính đi không một lời an ủi. Y đã bỏ Bính lại với một cái kết
quả mà sự thảm khốc chưa bao giờ Bính thấy đến như thế, cũng
như chưa bao giờ Bính lại tưởng mình sẽ phải chịu đựng như thế.
Cả người Bính rung chuyển. Hai cánh tay rời rạc mỏi rã, Bính đặt
đứa con xuống chõng, lấy vạt áo xua xua muỗi. Không chịu nằm,
đứa bé lại khóc thét lên. Lập tức, từ ngoài cửa liếp lại đưa vào
những tiếng rít mắng:
- Con đĩ voi giày kia, mày lại để bố mày khóc rồi. Có mau bắt nó nín
đi không!
Tiếp đến một giọng lanh lảnh cố nói cho nhỏ:
- Đấy, con gái nhớn ông đấy! Đã sung sướng mát lòng mát ruột cho
tôi chưa! Thật là bôi gio chát trấu vào mặt tôi.
Bính rớt nước mắt, phải chùi vội đi, bế con lên, nhè nhẹ đặt vú vào
miệng thằng bé. Cánh tay Bính lại rung rung với những tiếng hát nhỏ
và khàn đặc. Câu hát càng đầm nước mắt nọ của những người đàn
bà nhẹ dạ đã hát mà trước kia khi nghe hát Bính ghê sợ lắm, không
ngờ ngày nay chính Bính lại chịu cái cảnh âm thầm đau đớn trong
câu hát ấy:
"Chót đa mang thì phải đèo bòng,
Chót bế lên bụng phải bồng lấy con".
Đứa trẻ vẫn khóc. Tiếng rít lanh lảnh lại cất nhỏ lên:
- Con quỉ cái kia, bố trẻ mày không nín tắp thì mày nhét giẻ vào
mồm nó cho tao.
- Phải đấy! Hay là vái giời rồi bóp mũi nó đem chôn quách nó đi cho
rứt nợ.
Bính rởn cả người, kinh hãi quá sức. Bố mẹ Bính đối với Bính thật
cạn tàu ráo máng và đến mức độ ác hơn là thú dữ. Bính thật hết hy
vọng nuôi con cho đến khi khôn lớn ở cái nhà này cũng như Bính đã
hết hy vọng được gặp mặt bố đứa trẻ xấu số nọ lần thứ hai vậy.
Gian buồng chật hẹp tối tăm thêm. Không khí càng đè nén vì những
tiếng nghẹn ngào. Và Bính chưa hết buồn sợ, những hình ảnh khác
đã đến, khiến Bính càng bối rối.
Dạo ấy Bính còn bé, độ lên chín hay lên mười, Bính theo người lớn
ra đình xem làng ngả vạ một ả đi hoang.
Một ngày tháng năm, đường đá, sân gạch bỏng rẫy chân, thế mà chị
Minh, người bị làng phạt vạ, phải quỳ ở giữa sân đình, nón không
có, bế đứa con mới được mười ngày, cũng đỏ hon hỏn như con
Bính hiện giờ, giữa trời nắng chang chang.
Bính nhớ kỹ lắm: chị Minh mặt mày tái mét, đẫm mồ hôi, răng cắn
chặt. Mõ làng đứng gần chị Minh, sau cái án thư bày la liệt những
giấy má, bút mực, tay cầm cặp roi mây sơn đỏ bịt đồng, ra bộ
nghêng ngang vô cùng. Thỉnh thoảng y hất hàm nhìn chị Minh rồi đột
nhiên lại lấy đầu roi, lật tà áo che mặt đứa bé lên cho mọi người xem
giống ai trong làng.
Bà già, đàn ông, con gái, trẻ con lại đổ xô cả đến cái lan can bằng
gạch xây ven sân, nghển cổ nom. Một người trong bọn lớn tiếng nói:
- Cứ cái mũi kia thì nó giống khán Thư tây lai đấy.
Em gái khán Thư thấy anh mình vốn có tính trai lơ bị họ bêu riếu,
liền đáp ngay:
- Này chị nhiêu Khuôn xem kỹ lại nó có giống khán Thư không hay là
giống ông Ba Nhòm nhà ta đấy!
Ba Nhòm là ông nội nhiêu Khuôn ngày xưa tằng tịu với một người
đàn bà góa bị em chồng họ bắt quả tang, phải quỳ lạy người em nọ
rồi cởi truồng về nhà.
Thế là hai người lại om sòm lên và đám đông lại được mẻ cười đùa
ầm ĩ, tròng ghẹo nhau, máy móc những cái mắt, cái tai, cái môi, nét
mặt phảng phất giống đứa bé mà ghép lẫn nhau là bố nó.
Chị Minh chỉ càng cúi gằm mặt xuống. Bọn hương lý chức dịch ngồi
chiếu trong đình lại quát vọng ra.
- Mõ! Các cụ truyền bay bắt nó ngẩng đầu lên chứ!
Mãi khi chè chén no nê xong, một người trong bọn mới khệnh khạng
nhè mồm gọi bố chị Minh ra mà phán rằng:
- Thôi bây giờ con bác Nhiêu đã chót dại mà xưa nay bác là người
tử tế, ăn chịu đóng góp với làng đầy đủ, vậy làng thương tình phạt
bác ba đồng bạc, hai trăm cau tươi, tám chai rượu, lập tức tối hôm
nay bác phải thân đưa đến nhà tôi.
Phó hội sẵn có hiềm khích với bác Nhiêu, thấy tiên chỉ xử vậy, bèn
vung tay lên nói:
- Trình cụ, cụ ngả có bằng ấy thật là nhẹ quá. Tôi xin hội đồng phạt
thêm ba đồng nữa và một nửa lợn vì còn cái khoản gia pháp bất
nghiêm nữa kia.
Lại một hồi bàn tán xôn xao, sau cùng Chánh hội kiêm thứ chỉ ra
trước cái bàn ngoài sân, bệ vệ bảo bố con chị Minh:
- Làng ta từ cổ đến giờ có ai dám bậy bạ như nhà các người, bỗng
ngày nay bị phạm lây một sự xấu xa, thành thử danh giá làng thua
kém các làng bên, vậy tội của bố con chị không phải là không to,
nhưng làng thương tình mà phạt từng này thôi: sáu đồng bạc, hai
trăm cau tươi và tám chai rượu.
Không thấy nói đến nửa lợn, nhất là con lợn này đã đẫy niên, em
Phó hội đương nhằm mua rẻ để thịt bán, Phó hội hậm hực mãi mới
thôi. Phải! Mấy khi được món "bở" như thế để các ông chia tay nhau
nhắm nháp cho sướng miệng, còn sống chết mặc ai. Giấy tờ đóng
sẵn dấu lý trưởng và có cả chữ ký cả hội đồng ký mục kia chỉ dùng
để dọa nạt sự ngu đần khiếp nhược của bố con chị Minh, và cả mấy
trăm dân làng dốt nát.
Xong cái cảnh ê chề ấy, sáng hôm sau Bính lại được xem một cảnh
buồn cười và thê thảm hơn.
Không biết ai xúi bẩy bác Nhiêu để tỏ rằng nhà bác không nuông
con dâu, mà bác nỡ nhẫn tâm cạo trọc đầu chị Minh, bôi vôi trắng
hếu, úp rế lên rồi rong chị đi khắp làng.
Mấy ông già bà lão đã nhảy lên mà khen bác và có một bà cụ già nói
rằng:
- Hình phạt đó chưa lấy gì làm đáng tội lắm, chưa đúng y như lề lối
xưa: cứ theo tục lệ trước kia của các cụ thì chị Minh còn phải lột trần
truồng, đeo mo cau vào mặt.
Luôn hai ngày bị hành hạ, chị Minh đã có lần định thắt cổ chết,
nhưng nhờ mấy chị em bạn nghèo hàng xóm giằng giữ lại và
khuyên giải nên chị lại cắn răng chịu đựng. Ngưỡi chị võ hẳn đi, đứa
con cũng đen rạc vì bêu nắng với mẹ. Như mọi khi, hễ nhắc tới cảnh
" gọt gáy bôi vôi" trên kia, Bính không sao không ngạc nhiên và nhịn
được cười, và muốn tấn tuồng lạ lùng đại loại kiểu ấy diễn lại luôn
luôn. Nhưng nay... Bính gai hết cả da thịt và tâm trí. Bính đau đớn
cho Minh và e ngại cho mình không biết có đủ sức chịu đựng những
nỗi bêu riếu nhục nhã như kia không. Chẳng cần suy nghĩ, Bính dằn
giọng nhủ thầm: Nếu lâm phải bước này Bính đành bỏ cha và mẹ,
bỏ hai em, bế con đi tha hương cầu thực cho xong.
Cái ý định liều lĩnh đó vụt sáng lên với một tia hy vọng. Bính sẽ gặp
Chung, bố đứa trẻ. Chung sẽ nghĩ lại tìm cách nuôi nấng mẹ con
Bính, rồi vợ chồng con cái về ăn ở với nhau.
Thốt nhiên ở gian ngoài đèn vặn to lên. Cánh cửa liếp xịch mở. Bính
vội nhỏm người nhìn qua kẽ vách. Phó lý Thưởng và vợ y bước vào.
Bính cuồng lên muốn chạy trốn. Cảnh ngả vạ đã đến. Song chạy lối
nào? Thông từ buồng Bính ra gian nhà ngoài kia chỉ có mỗi một lối
đi thì vợ chồng phó lý và bố mẹ Bính đã ngồi ngay đấy, một Bính
còn chả ra lọt huống hồ lại đèo thêm con. Bính cố dằn lòng, áp mặt
vào bức vách nghe ngóng.
- Này nhà ông lái, bà lái! Tôi thu xếp xong rồi đấy nhà ông bà có ưng
như thế không? - Vợ phó lý nói.
Bố Bính yên lặng một lát, đoạn gãi tai trả lời:
- Bẩm ông bà nghĩ như thế thì vợ chồng con được đội ơn vô cùng.
Phó lý liền dõng dạc nói một thôi dài:
- Nhà ông bà phải biết, tại vợ chồng tôi thương nhà ông bà hiền
lành, ngoan đạo, lại sắp được Cha xứ cắt lên làm trưởng giáo để
trông coi dạy bảo phần hồn cho trẻ mỏ trong họ. Vậy mà chẳng may
nhà ông bà phải đứa con gái bỗng đâm ra hư đốn như thế nên tôi
gỡ giúp tai tiếng cho, chứ tôi hòng gì mà nhờ đứa bé ấy.
Vợ phó lý ngắt nhời:
- ối giời, nòi nào giống nấy, nó lại bắt chước bố nó chứ gì? Ông ạ,
tôi không nuôi đâu, ông có muốn nuôi thì mướn vú về mà nuôi.
Phó lý bèn đưa mắt cho vợ bảo im. Không phải là y rộng lòng nhân
đạo chẳng tưởng đến sự bội bạc sau này của đứa bé đâu. Không! Y
làm việc này là vì có một người em giai buôn bán giàu có lắm ở trên
Hà Nội cũng hiếm hoi như y. Người nọ thường nhắn phó lý xem ở
quê có nhà nào túng đói thì mua cho y một đứa con giai, càng trứng
nước càng hay. Mấy hôm nay, chợp được cơ hội Bính đã đẻ và đẻ
con giai và nhà đương lo lắng khốn đốn không biết thu xếp ra sao,
phó lý đã lên tỉnh lấy thêm của em năm chục đồng bạc nữa bảo phải
mua ngay đứa bé không Bính cho bà xờ mất.
Thấy phó lý cũng là người làng và họ hàng giàu có lại không phải là
người đi đạo nên bố mẹ Bính càng yên tâm.
Muốn lấy lòng bà phó, bố Bính ngọt ngào thưa một câu bâng quơ:
- Thưa vâng, ông bà ăn ở phúc đức thương người như thế con chắc
ông bà còn là giàu sang vinh hiển.
Phó lý mỉm cười vuốt râu, hất hàm hỏi bố Bính :
- Vậy tôi giúp ông bà mười đồng ông bà bằng lòng chứ?
Mẹ Bính vội nhăn mặt:
- Thằng bé kháu khỉnh lắm, mặt mày sáng sủa, chân tay bụ bẫm xin
trả cho hai mươi đồng để nhà cháu lo lót với mấy cụ trong làng.
Bố Bính gãi tai tiếp lời:
- Thật vợ chồng cháu cảm cái ơn ông bà ông phó lắm chứ không nài
xin hơn thiệt gì đâu.
Phó lý cười không đáp, nhìn hỏi ý kiến vợ. Vợ phó lý ngẩng trông xà
nhà, vuốt dài hai ngón tay quệt quýt trầu rồi lúng búng nói:
- Thôi tôi giúp thêm nhà ông bà ba đồng nữa là mười ba đồng có
thuận thì tối mai bế thằng bé sang nhà tôi mà nhận tiền.
Bính càng nín thở lắng tai nghe. Bính như đứt từng khúc ruột. Giời!
Cái ác tâm của bố mẹ Bính.
Luôn mười hôm ròng gìn giữ giam cầm Bính trong gian buồng này
không cho Bính bế con ra khỏi nửa bước, bố mẹ Bính trước hết sợ
hàng xóm thóc mách, sau sợ Bính bế con đi. Nhưng thôi, từ ngày
mai trở đi, sau khi dứt đi khỏi đứa bé và được hàng chục bạc, bố mẹ
Bính sẽ vừa hết cả lo sợ ngã vạ vừa được món tiền mừng chân
Trưởng giáo và ăn tiêu, sự tính toán ấy thật khôn khéo quá chừng!
Bính lại ôm chặt lấy con, thương xót cho thân phận nó bị dằn hắt và
kèo nhèo mặc cả như một con trâu con lợn. Bính ghê sợ cho bố mẹ
Bính và vợ chồng nhà phó lý kia đang tay cắt đứt tình yêu thương
của mẹ con Bính như một khúc dồi, một miếng phèo vậy. Dù sao
Bính cũng không thể cưỡng lại được. Bính đến phải nuốt nước mắt
trao con cho bố mẹ bán đi thì mới tránh thoát những hình phạt quái
ác không biết của ai, từ đời nào đã đặt ra để trừng trị những đàn bà
đẻ hoang, và Bính mới mong được yên thân với cha mẹ.
Bính mím môi lại, cúi gầm mặt nức nở, kéo dài thêm những ý nghĩ:
"Phải! Bính phải cắn răng mà cho con đi khỏi lúc khốn khó này. Rồi
chờ năm ba bữa nửa tháng, Bính thừa cơ trốn đi hoặc Hải Phòng
hoặc Nam Định, chịu khó làm ăn buôn bán, dành dụm một món tiền.
Ba bốn năm qua... chuyện cũ nhạt dấu vết, Bính sẽ trở về làng
chuộc con, rồi có thể thì nói với cha mẹ và hai em lên tỉnh làm ăn, bỏ
hẳn cái nơi quê hương ác nghiệt kia bao đời nay làm ăn đầu tắt mặt
tối mà không cất mặt mở mày lên được.
Bính tê mê nâng đứa con lên tận mặt, rít miệng vào má nó, vào trán
nó, rồi Bính nhìn ngước lên như để phân trần với bóng tối nỗi đau
đớn trong lòng. Sau đó Bính đăm đắm trông con thiêm thiếp ngủ.
Dưới ánh đèn lù mù ở bên ngoài qua kẽ liếp lọt vào, da dẻ nó hồng
hào biến thành xanh trong xanh bóng; mớ tóc đen láy, lơ phơ trở
nên hung hung mốc mác khô cứng. Vệt chàm dài hơi giống hình con
thạch sùng bò từ một bên trán đến mang tai xám ngắt hẳn đi như
một vệt máu. Và cái vết lẹm trên mí mắt cũng ở bên phải thấy
thương như một lốt dao chém vậy.
Hai hàng nước mắt Bính đã lại ròng ròng trên má lã chã đằm đìa
xuống cả mặt đứa bé.
Chương 2
Hải Phòng.
Lần này là lần đầu tiên Bính bước chân đến một tỉnh ồn ào đông
đúc, khác hẳn chốn quê mùa vắng vẻ.
Bính trốn đi, sau đêm ấy đến này đã được bốn hôm. Bốn hôm dài
quá chừng! Bao nỗi đau buồn luôn luôn nhắc nhở Bính nhớ tới con
thơ.
Bây giờ Bính mới hơi quen, quen cái ánh sáng chói lọi của những
ngọn đèn điện. Bính không còn giật mình mỗi khi còi ô tô thét lên.
Các cách đi đứng ăn nói của người hàng phố đối với Bính không
đáng ngờ vực, sợ hãi quá như trước nữa. Bính bớt rụt rè, nhìn
thẳng vào những tủ hàng đồ vật bày la liệt rực rỡ làm Bính hoa cả
mắt. Lắm thứ Bính không thể nhận ra là thứ gì tuy Bính vẫn thường
thấy, nay chỉ khác cái vỏ bọc ngoài bằng giấy bóng màu hay thủy
tinh. Bính đờ người nghĩ mãi trước tá mùi soa lụa gấp trong tờ giấy
bóng, trông như những bông hoa ép khô. Miếng xà phòng bồ dục để
trên chiếc hộp giấy cực kỳ đẹp đẽ, khéo léo, Bính cho là thứ bánh
quí lắm mà sau này nếu Bính có tiền thì thế nào cũng phải mua ăn.
Bính vừa ngắm những bông hoa giả cắm trong lọ pha lê trong vắt,
Bính vừa tấm tắc khen thầm người nào có tài gìn giữ được mãi vẻ
tươi tốt đóa hoa đã nở tung như vậy.
Trong cái phút giây ấy, Bính đặt mình vào một giấc mộng sáng sủa
như gian hàng. Bính đang tê mê ngắm nghía, bỗng giật mình vì thấy
gương mặt mình hốc hác, xanh xao nổi bật trong mảnh gương treo
giữa tủ hàng. Bính vội lấy tấm gương để soi gần cho rõ thì tay đập
choang ngay phải mặt kính. Một người đàn ông trẻ tuổi đứng bên
kêu lên và nhìn Bính:
- Ơ kìa cô này!
Nhưng khi thấy vẻ mặt lo sợ đờ đẫn của Bính, người ấy đưa mắt
một cái rồi phá lên cười. Bính bẽn lẽn rảo bước ra ngay chỗ khác.
Bính rẽ ngoặt về phía tay trái, theo lối xuống Sáu kho.
Bấy giờ trăng thu vừa mới hé ra khỏi dải mây chì tỏa xuống những
chòm cây một làn ánh sáng như hơi sương phảng phất. Đường sá
vắng vẻ ít người qua lại. Hai bên hè lả lướt những cành xoan lăn tăn
lá, rào rào trước gió lạnh thổi từng cơn dài. Bính chợt nghĩ tới ngày
mai, tới một sự sống ở một nơi xa lạ và hiện Bính không còn một
đồng một chữ dính túi.
Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn
tiền tàu từ Nam ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn
uống trong hai hôm nay. Bính hoang mang, cúi gằm mặt trông dải
đường nhựa lấp lánh bóng trăng, nhấc từng bước một.
Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu, miễn cho qua một
đêm. Lúc này Bính bỗng hồi hộp, bối rối lạ thường. Những bụm cọ
đen thẫm, ù ù lộng gió ở vườn hoa sông Lấp gợi trong trí Bính bao
nhiêu hình dung quái gở. Bính tưởng con đường Bính đi tối tăm
hoang vắng như cảnh một bãi tha ma. Những cành xoan xao động
là những cành tre lả ngọn bên những ngôi mộ chơ vơ mới đắp.
Những tàu lá cọ to sùm suề giống những mớ tóc người điên hay thắt
cổ.
Bính bật kêu khe khẽ:
- Biết làm sao đêm nay?!!
Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm, một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ
lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp
những sự không may là thường. Nếu Bính không khéo gìn giữ, biết
đâu đêm nay chẳng sẽ là cái đêm bắt đầu một cuộc đời khốn nạn
nhơ nhuốc khác mà dù cực nhục chừng nào, Bính cũng phải cắn
răng chịu, chứ không thể quay về quê nhà được. Bính thở dài. Mấy
hôm nay tai tiếng chắc đã đồn đi khắp làng trên làng ngoài. Thế nào
họ chẳng bảo lại vì mê giai, theo giai mà bỏ nhà đi. Cái tiếng theo
giai đó là một sự nhơ nhuốc không sự nhơ nhuốc nào bằng. Vì
người ta hiểu rằng: giai là một đứa xỏ xiên chỉ phá hoại trinh tiết
người đàn bà, còn kẻ theo nó phải là một con đĩ thoã vô cùng. Họ
chỉ diếc móc Bính như thế còn là khá đấy. Không may cho Bính, nếu
gặp phải một kẻ không ưa Bính thì Bính sẽ còn bị buộc hàng ức, vạn
tội xấu xa, quá sức tưởng tượng của hạng người nhân hậu.
Bính đã đi qua Sáu kho. Hôm nay các tàu chạy hết. Trên sông chỉ
còn thấp thoáng mấy ánh lửa leo lét, chập chờn của dăm chiếc
thuyền con đỗ đằng xa.
Thốt nhiên Bính dừng bước, trong một phút Bính tưởng như là bến
Sòi quê Bính. Bính ngẩng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc
kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía.
Những giọng đều đều và ngâm nga thoáng nhắc trong tâm trí Bính
hai mắt lờ đờ rầu rĩ, hai cánh tay rã rời giang trên cây thánh giá của
đức Chúa Giê-su khi hấp hối. Sự hồi tưởng ấy làm Bình cảm thấy rõ
rệt bố mẹ mình là giả dối. Bính ghê sợ cho sự "nguyện ngắm" hằng
ngày chỉ dùng che mắt thế gian. Phải, chỉ che mắt thế gian thôi! Nay
đi xưng tội, mai đi chịu lễ, sáng sớm nào cũng có mặt ở nhà thờ,
đêm nào cũng thức tới mười một, mười hai giờ để đọc kinh, hỏi để
làm gì?
Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình
Bính bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực
nhưng thực chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hòa, đạo đức
bên trong.
Cha mẹ Bính cắn rứt nhau luôn, vì thiếu thốn; chửi mắng hành hạ
Bính luôn vì Bính không như ai giảo hoạt, tinh ranh trong sự cạnh
tranh khách đi đò và buôn bán mua rẻ bán đắt tôm cá của các
thuyền chài lưới quen thuộc. Hơn nữa, Bính không biết mưu tính
các cách gian lận với những khách gửi hàng để lo cho mình có cái
bộ cánh mà nhà không sao sắm sửa được vì ruộng đất cày cấy
không có, ngoài mảnh vườn chỉ được cái rau ăn còn đều trông vào
con đò thì phải sinh sống rất khôn ngoan soay giở đủ mặt. Những
điều này đã làm Bính suy nghĩ và đau lòng.
Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm "dấu" đoạn thầm thì cầu kinh.
"Lạy Cha chúng tôi ở trên giời xin Cha cho chúng tôi hằng ngày
dùng đủ và tha nợ cho chúng tôi như chúng tôi đã tha kẻ có nợ
chúng tôi".
...Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau
được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời...".
Gió sông càng ù ù, sương càng mù mịt. Bính đọc hết năm chục kinh,
làm "dấu", đoạn khép chặt tà áo vào người rồi rảo bước. Chợt có
tiếng người gọi:
- Cô kia đi đâu?
Bính không dám quay lại trả lời cứ lùi lũi đi nép vào rặng cây bên
đường. Một chiếc xe tay đâm xô lại, chắn lấy lối đi, tiếp đến những
tiếng cười ran:
- "Săn" kỳ được "mẻng" ấy cho tao.
Bính tránh hẳn sang bên kia, gằm mặt xuống xốc lại cái đẫy vải đeo
sau lưng. Một người đàn ông vận quần áo lót kẻ sòng sọc rất chải
chuốt và tóc bóng lộn, ngồi trên xe nom trõ mặt vào mặt Bính, Bính
quay mặt ra chỗ khác. Người ấy kéo vạt áo Bính, ngọt ngào hỏi:
- Cô định tìm ai ở đây?
Bính hoảng hốt chực chạy. Nhưng chung quanh Bính năm chiếc xe
đã vây kín, Bính kêu lên:
- Ô kìa!
Tên ngồi xe nhại lại, cười sặc sụa. Dáng điệu ngây thơ của Bính bảo
rõ với bọn này rằng Bính là một gái quê mới ra tỉnh lần đầu và là một
gái quê xinh đẹp hẳn hoi. Thật vậy, dưới ánh đèn điện, mắt Bính lấp
lánh chớp luôn, đôi má mũm mĩm ửng hồng chúng trông ngon lành
quá.
Một gã kéo xe nhưng tóc mai cũng xén nhọn và để dài như thằng
ngồi xe, mặc áo trắng là cổ bẻ và ngoài khoác áo tây vàng toan
giằng lấy khăn vuông Bính, song hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại
không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc mượn cớ nhảy xuống
bíu lấy vai Bính. Bính kêu thất thanh. Thừa cơ hai cái xe chạy đi đón
khách dưới thuyền lên, Bính liền lẩn nhanh ra chỗ khác. Đám xe rãn
cả, tản mỗi nơi một chiếc. Còn Bính, Bính đi ngược lên phố vì Bính
nhận thấy nếu cứ lang thang, bơ vơ ở những chỗ đường vắng thì
thế nào cũng còn bị chòng ghẹo.
Được một quãng có nhà cửa thì lại đến quãng vườn hoang. Những
bụi cây lù mù trước những ngọn đèn điện bóng mờ hiện ra trước
mắt Bính làm trống ngực Bính lại đập thình thịnh. Chợt Bính lạnh
toát cả người, quay đầu nhìn về đằng sau; một bóng người đương
rảo gót như đuổi Bính. Bính đi nhanh hơn. Người theo sau cũng
bước gấp, phút chốc hắn đi sát cạnh Bính và khẽ nói:
- Cô! Cô chậm bước chứ để tôi ngỏ câu chuyện này.
Nhời nói êm đềm khiến Bính bớt sợ, Bính đưa mắt nhìn thì đó là
người ngồi trên xe ban nãy nhưng đã thay quần áo khác, Bính im
lặng nhìn bộ y phục lạ lùng của hắn: cái áo dạ tím bó chẹt lấy lưng,
hai ống quần lướt thướt như bằng lụa thì buông chùng quá gót, cái
mũ dạ mới lạ làm sao, lóng lánh một chiếc tên mạ kềm như dấu hiệu
của lính. Bính chợt nhớ đến cái hạng công tử cũng kiểu ăn mặc như
thế này những ngày hội đầu năm vùng Bính bọn chúng thường kéo
về chớt nhả gái làng. Bính vộ...
Tôi viết "Bỉ vỏ"
Phần thứ nhất
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Phần thứ hai
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Phần thứ ba
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26 (hết)
Tôi viết "Bỉ vỏ"
Năm ấy tôi mười sáu tuổi, hết hạn tù, được tha. Mẹ tôi lên tận nhà
giam tôi, đón tôi. Nhưng chúng tôi không về Nam Định - quê hương
của chúng tôi - mà dắt nhau ra Hải Phòng.
Khi tôi đi tù, đoạn tang cha tôi, mẹ tôi bước đi một bước nữa. Nên
lúc rời bỏ cái tỉnh đã chứng kiến bao nhiêu việc không hay kế tiếp
phá tan gia đình tôi, sự ngậm ngùi của mẹ tôi bắt tôi nghĩ đến lòng
héo hắt của một người đàn bà đã cải giá trước sự khinh bỉ rẻ rúng
của họ hàng nhà chồng và trước sự ghê tởm của mọi người quen
biết đối với con mình, mới một dúm tuổi mà đã trải hết lao này sang
lao khác.
Hôm đó, trời thu trong và sáng. Con tàu chở chúng tôi lướt trên một
dòng sông lặng lẽ giữa những đồng ruộng xanh bát ngát.
Ra Hải Phòng chúng tôi càng khổ sở. Trông vào vài hào làm vốn
buôn trầu cau, mẹ con tôi được bữa sớm mất bữa tối. Lắm phen,
luôn mấy hôm, chỉ một bữa cháo lót lòng.
Bao nhiêu ngày tháng, bị câu thúc thân thể và phải làm những việc
bẩn thỉu, nặng nhọc quá sức mình, tôi tưởng khi thoát khỏi cảnh tù
tội đày ải ấy sẽ sống no ấm...ngờ đâu! Vì thế xác thịt tôi dần suy
nhược; cái ngực thỉnh thoảng đau nhói lên, tôi cảm thấy đời tôi đã bị
rút ngắn đi và một ngày rất gần kia sẽ hết. Chết! Mỗi lần cái chữ đen
tối khủng bố ấy hiện ra, tôi thấy sao mà chung quanh tôi sự vật gì
cũng sáng sủa, tươi đẹp! Hết thảy đều kêu gọi lòng ham sống của
tôi.
Tôi chết đi, mới mười sáu tuổi đầu, sẽ làm cho mẹ tôi đau đớn biết
chừng nào. Và cái phút cuối cùng của một đời sớm tắt ấy, tôi sẽ
quằn quại như con bướm non bị hai ngón tay dữ tợn kẹp chặt vừa
lúc nó mới đánh thấy mùi nhị hoa thơm ngát.
Những lúc lo sợ, bối rối, đau đớn quá, trong tâm trí người ta hay nảy
ra những ước muốn khác thường. Tôi, tôi muốn có một cái gì để mãi
mãi an ủi mẹ tôi và để tỏ lòng tôi mến tiếc và thương nhớ những
người và vật đã làm tôi vui thích đến say mê. Nghĩa là tôi phải để lại
một cái gì tinh khiết nhất của hồn và xác tôi cho cõi đời mà tôi yêu
mến.
ý quyết viết tiểu thuyết thụ thai trong trí tưởng tôi mỗi ngày một
mạnh mẽ thêm, lan rộng mãi ra. Khi ăn, khi chơi, khi ngủ...lúc nào tôi
cũng nghĩ đến viết. ở nhà, ngoài đường, trên vỉa hè, ở ghế vườn
hoa, dưới gốc cây, bờ sông bến tàu, đâu đâu cũng là chỗ tôi mơ
tưởng đến viết. Có một xu một trinh nào tôi cũng mua giấy để viết.
Không có tiền mua sách, báo, tôi cố đón đọc những báo hàng ngày
ở phòng đọc báo của một hội ái hữu kia chỉ mở cửa từ 7 giờ đến 9
giờ tối để xem cách viết của một số nhà văn.
Nhưng, tiền càng ngày càng hiếm, tưởng như không còn bao giờ lọt
vào tay tôi nữa, và trời về tối dạo ấy càng rét dữ dội với những ngọn
gió tê buốt và những trận mưa dầm dài ghê sợ. Mẹ tôi phải đi vào
Vinh(1), cầu cứu một người chị họ tôi, để tôi ở nhà với ông chú
dượng. Trước khi đi, phải vay cho chúng tôi tám ngày gạo và một
món tiền chi tiêu không quá bốn hào để mua củi và thức ăn.
Đã lâu lắm mới sẵn có một thập gạo ở trong nhà ông chú dượng tôi
và tôi bị khiêu khích. Không ngày một bữa nữa. Chúng tôi tin rằng
vào tới Vinh vay mượn được tiền, mẹ tôi thế nào sớm tối chả gửi ra.
Chúng tôi đã thất vọng. Và càng lo sợ, càng khổ sở vì đói. Hơn
mười ngày rồi mà chẳng thấy thư từ gì ở trong đó gửi ra.
Tôi còn nhớ, nhớ rõ ràng lắm, những đêm mưa dầm gió bấc, trong
một căn nhà không đèn lửa gì cả và ran ran tiếng muỗi, trên một cái
phản lung lay, hai thân hình nhọc lả co quắp trong một chiếc chăn
rách mướp, ông chú dượng tôi và tôi không ai nói với ai nửa nhời vì
không đủ sức mà nói và cũng cảm thấy tiếng nói lúc bây giờ chẳng
còn ý nghĩa gì hết, chỉ làm đau tủi thêm hai con người muốn mà
chẳng có việc gì làm để được sống. Sự yên lặng còn là sự đau đớn
xót xa đến cực điểm của chúng tôi trước sự sống của vợ chồng
người thuê nhà bên cạnh.
Người chồng làm thợ quét vôi, hiền lành, thất nghiệp, nghiện rượu.
Người vợ, một người buôn thúng bán mẹt ở các chợ, rất lắm điều.
Họ không còn cha mẹ già nhưng đông con. Chưa đứa nào quá
mười ba tuổi và tinh khôn chút ít để đỡ đần công việc. Bữa có, bữa
không, rách rưới và ốm yếu cũng như chúng tôi. Nhưng vợ chồng
người này luôn luôn cắn cấu, đay nghiến, chửi rủa và đánh đập
nhau. Đã mấy lần, người chồng bị vợ sỉ vả đã uất lên, chực thắt cổ
mình và dìm ao mấy đứa con bé.
Bỗng gần về sáng đêm thứ mười hai, một tiếng người thất thanh gọi
chúng tôi. Chúng tôi bổ choàng dậy. Giời ơi! Mẹ tôi đã về. Mẹ tôi về
với hai sọt hàng trầu vỏ mà ông chú dượng tôi và tôi ưỡn đến gẫy
lưng mới khiêng vào được.
Từ ngày đó bụng tôi không đến nỗi cồn cào quá như trước. Và tôi đã
có tiền mua cả một thếp giấy. Tiền mua giấy đó, mẹ tôi cho tôi
những hôm lãi nhiều. Tôi không cần phải hỏi mẹ tôi cũng đưa. Mẹ tôi
không nỡ trông thấy tôi thẫn thờ trước một ít giấy đã kín chữ.
Mấy truyện ngắn tôi đã viết xong từ lâu, và "Bỉ vỏ", trải bao nhiêu
ngày tháng đã dàn xếp kỹ càng trong đầu óc tôi.
*
Thưa mẹ, người mẹ hiền từ của con, thưa các bạn, những bạn đọc
yêu dấu của tôi, "Bỉ vỏ" đã viết xong rồi.
"Bỉ vỏ" đã viết xong trên một cái bàn kê bên khung cửa trông ra vũng
nước đen ngầu bọt của một bãi đất lấp dở dang và một chuồng lợn
ngập ngụa phân tro; "Bỉ vỏ" đã viết xong trong một căn nhà cứ đến
chập tối là vang lên tiếng muỗi và tiếng trẻ khóc; "Bỉ vỏ" đã viết xong
trong một đêm lạnh lẽo âm thầm mà mọi vật như đều rung lên cùng
với lòng thương yêu của một đứa trẻ ham sống dào dạt trong những
bụi mưa thấm thía.
Thưa mẹ, người mẹ hiền từ của con, con xin dâng "Bỉ vỏ" cho mẹ
với cả tấm lòng kính mến trong sạch của con, và xin tặng nó cho các
bạn với tất cả cảm tình đằm thắm tươi sáng của tôi.
Nguyên Hồng
Tháng 3-1938
Phần thứ nhất
Chương 1
Bữa cơm chiều nay khác hẳn mọi ngày, buồn bã và uể oải lắm.
Bính ngồi sát bức vách lâu ngày đã nứt nẻ loang lổ, cầm bát cơm
đầy nhưng chẳng buồn và. Thằng Cun, cái Cút, hai đứa em nhỏ của
Bính bị sợ lây, lấm lét nhìn đĩa đậu phụ om tương vàng ánh mỡ,
thèm quá mà không dám gắp. Những tiếng ho khàn khàn của bố
chúng và cặp mắt toét nhoèn cau có của mẹ chúng luôn luôn lườm
Bính, làm chúng càng rụt rè kinh hãi. Chúng càng thêm thương
Bính, một người chị hay tươi cười vỗ về các em những ngày các em
bị đánh mắng, bị hắt hủi, bị bắt nhịn đói vì quá nô đùa và cãi cọ với
trẻ con hàng xóm, nhất là những khi nhà túng thiếu, không còn biết
tính toán ra sao, không còn biết chạy vạy ở đâu.
Rồi chúng ngạc nhiên hơn thấy Bính đã gần nửa tháng nay buồn bã,
ít ăn, ít nói. Tại sao? Vì duyên cớ gì? Những khối óc ngây thơ ấy cố
nghĩ mãi không ra.
Nồi tư cơm mới hết non nửa; sự cảm động lo lắng làm khô cả miệng
hai đứa trẻ; chúng há hốc mồm, mặt đờ đẫn, trông vừa buồn cười
vừa thương hại.
- Kìa chúng mày ngồi nhìn nhau đấy à?
Bác lái Thìn cất giọng khàn khàn nói đoạn đưa cặp mắt gườm gườm
nhìn Bính. Thấy vậy Bính vội vàng và mau cho hết bát cơm; hai đứa
trẻ cũng lập cập ăn. Rồi một phút sau, cả ba đều đứng dậy. Thằng
Cun tót ngay ra cổng, cõng cái Cút lên lưng, lẩm bẩm một mình:
- Bố ác ghê! Chửi mắng chị Bính suốt ngày, chắc lại sắp đánh chị ấy
đấy!
Nó cười, khen cho mình mau trí khôn, biết trước mà chuồn khỏi nhà
chứ không thể nào cũng bị đòn lây như chiều qua. Lúc ấy, Bính cắp
rổ bát ra bờ sông ở ngay sau nhà để rửa. Mặt sông lặng lẽ, sương
lam mịt mùng. Cái lạnh man mác của chiều thu gần tàn Bính cảm
thấy rõ rệt lắm. Nhưng, Bính muốn ở mãi đây dù bị mưa rét cũng
cam tâm. Vì hễ động thấy mặt Bính, bố mẹ Bính không mắng mỏ, thì
chìa bỉu, day dứt, đay nghiến Bính chỉ vì sự lầm lỡ đó.
Bính yên lặng nhìn trời, sông một màu xám ngắt, lòng tê tái và buồn
bã. Bỗng có tiếng gọi Bính xáo xác... Rùng mình, Bính nâng vội rổ
bát, cắp ngang lưng lủi thủi về nhà.
Gần đến cái cổng bằng tre bắt khum chằng chịt những dây bìm điểm
hoa tím, Bính còn ngoái cổ trông. Chua xót, Bính thở dài.
Len lét Bính đi qua chỗ bố nằm rồi vào buồng mình. Buồng tối đen.
Cây đèn hoa kỳ vặn nhỏ đặt trên trạn bát ở cuối buồng, mẹ Bính đã
tắt đi ngay lúc Bính bước chân xuống bếp. Lau lau vội tay vào vạt áo
rách, Bính rón rén đến bên cái chõng tre. Bính vừa lật chiếc tã vải
lên, đàn muỗi bay ran ra như ri, náo động cả gian nhà. Bính cúi
xuống bế con, khe khẽ kêu:
- Giời! Muỗi đói đốt chết con tôi còn gì!
Đứa bé thức giấc khóc oa oa. Tiếng khóc càng to, Bính thêm sợ sệt.
Bính vội vàng vạch vú cho nó bú, không có hàng xóm biết thì bố mẹ
Bính sẽ lại không để Bính yên thân đâu. Muỗi bay mỗi phút một
nhiều, tạt vầm vập vào mặt Bính. Những tiếng vo vo trong cái im
lặng mờ tối của gian buồng hôi hám không mấy khi nổi ánh sáng
mặt trời, càng làm Bính bối rối. Bính thấy mình như một người tù
nặng, bị bó buộc mãi mãi nếu đứa con nhỏ này còn trong tay.
- Con ơi!
Bính ôm ghì lấy đứa con vào ngực, nức nở trong bóng tối. Bính lại
thầm thì khóc. Không thể sao ngồi yên được, Bính đi đi lại lại, và đã
ba hôm nay giọng khàn mất rồi, Bính lại phải rung rung cánh tay để
ru con. Thật Bính có ngờ đâu và cũng không bao giờ dám nghĩ tới
nông nỗi này. Lòng người Bính cứ tưởng như lời người nói. Còn sự
phụ bạc Bính đinh ninh một hạng người ăn học như thế không thể
nào có được! Nhưng đến nay Bính mới rõ cái bề ngoài che đậy sự
khốn nạn độc ác thì đã muộn lắm rồi. Chắc Bính phải đau khổ mãi
mãi vì sự lừa dối đó thôi.
Bính như không đủ sức nhấc nổi chân nữa, bèn ngồi xẹp xuống
chõng, dựa lưng vào bức vách, đầu ngả về một bên, mỏi mệt nhìn
bóng tối. Phút chốc trong tâm tưởng Bính lại hiện ra những hình ảnh
không bao xa.
Mới cách đây gần một năm, nhưng tại nhiều sự khác thường đã xẩy
ra, nên ngày giờ dài và thấm thía thêm. Dạo ấy Bính thường gánh
gạo lên chợ huyện bán, lần nào Bính cũng bắt gặp một người vận
quần áo tây, chải chuốt ngắm trông Bính. Có khi Bính còn nghe thấy
tiếng gọi vồn vã, tiếng chòng ghẹo dịu dàng. Nếu đi một mình, Bính
chẳng thẹn mấy, song vì có các bạn gái cười đùa chế giễu thêm vào
khiến Bính hổ thẹn vô cùng.
Và trong sự hổ thẹn ấy Bính dần dần thấy băn khoăn vẩn vơ. Bính
đã phải nghĩ đến người đàn ông sang trọng và trai trẻ nọ. Lâu nay
trai làng vẫn ghẹo đùa Bính. Họ đã không được Bính để ý mà thỉnh
thoảng còn Bính nói nhẹ cho nữa. Cái thứ vóc người cục kịch, quần
áo nâu mồ hôi rách vá kia Bính thấy thế nào ấy, đối với cái thân hình
thanh tú đầu tóc bóng mượt thơm tho kia. Cả cái tên "quan tham đạc
điền" nghe cũng khác lạ sao. Nó hứa với Bính bao nhiêu sự sung
sướng hãnh diện chứ đâu như những cái tên "nhiệu", "khán",
"trương" của những ngôi thứ tầm thường nhỏ mọn ở thôn quê.
Dần dần Bính yêu người ấy mà Bính thấy có thể gửi gắm cả đời
mình. Bính để người ấy gần gũi Bính luôn. Rồi một ngày kia, một
ngày thầm vụng, Bính buông phó cả thân thể cho y.
Bính vùng đứng ngay dậy, nghiến chặt hai hàm răng, rít lên. Ước
vọng của Bính đã nhào đổ hết. Người tỉnh sang trọng và trẻ trai nọ
đã bỏ Bính đi không một lời an ủi. Y đã bỏ Bính lại với một cái kết
quả mà sự thảm khốc chưa bao giờ Bính thấy đến như thế, cũng
như chưa bao giờ Bính lại tưởng mình sẽ phải chịu đựng như thế.
Cả người Bính rung chuyển. Hai cánh tay rời rạc mỏi rã, Bính đặt
đứa con xuống chõng, lấy vạt áo xua xua muỗi. Không chịu nằm,
đứa bé lại khóc thét lên. Lập tức, từ ngoài cửa liếp lại đưa vào
những tiếng rít mắng:
- Con đĩ voi giày kia, mày lại để bố mày khóc rồi. Có mau bắt nó nín
đi không!
Tiếp đến một giọng lanh lảnh cố nói cho nhỏ:
- Đấy, con gái nhớn ông đấy! Đã sung sướng mát lòng mát ruột cho
tôi chưa! Thật là bôi gio chát trấu vào mặt tôi.
Bính rớt nước mắt, phải chùi vội đi, bế con lên, nhè nhẹ đặt vú vào
miệng thằng bé. Cánh tay Bính lại rung rung với những tiếng hát nhỏ
và khàn đặc. Câu hát càng đầm nước mắt nọ của những người đàn
bà nhẹ dạ đã hát mà trước kia khi nghe hát Bính ghê sợ lắm, không
ngờ ngày nay chính Bính lại chịu cái cảnh âm thầm đau đớn trong
câu hát ấy:
"Chót đa mang thì phải đèo bòng,
Chót bế lên bụng phải bồng lấy con".
Đứa trẻ vẫn khóc. Tiếng rít lanh lảnh lại cất nhỏ lên:
- Con quỉ cái kia, bố trẻ mày không nín tắp thì mày nhét giẻ vào
mồm nó cho tao.
- Phải đấy! Hay là vái giời rồi bóp mũi nó đem chôn quách nó đi cho
rứt nợ.
Bính rởn cả người, kinh hãi quá sức. Bố mẹ Bính đối với Bính thật
cạn tàu ráo máng và đến mức độ ác hơn là thú dữ. Bính thật hết hy
vọng nuôi con cho đến khi khôn lớn ở cái nhà này cũng như Bính đã
hết hy vọng được gặp mặt bố đứa trẻ xấu số nọ lần thứ hai vậy.
Gian buồng chật hẹp tối tăm thêm. Không khí càng đè nén vì những
tiếng nghẹn ngào. Và Bính chưa hết buồn sợ, những hình ảnh khác
đã đến, khiến Bính càng bối rối.
Dạo ấy Bính còn bé, độ lên chín hay lên mười, Bính theo người lớn
ra đình xem làng ngả vạ một ả đi hoang.
Một ngày tháng năm, đường đá, sân gạch bỏng rẫy chân, thế mà chị
Minh, người bị làng phạt vạ, phải quỳ ở giữa sân đình, nón không
có, bế đứa con mới được mười ngày, cũng đỏ hon hỏn như con
Bính hiện giờ, giữa trời nắng chang chang.
Bính nhớ kỹ lắm: chị Minh mặt mày tái mét, đẫm mồ hôi, răng cắn
chặt. Mõ làng đứng gần chị Minh, sau cái án thư bày la liệt những
giấy má, bút mực, tay cầm cặp roi mây sơn đỏ bịt đồng, ra bộ
nghêng ngang vô cùng. Thỉnh thoảng y hất hàm nhìn chị Minh rồi đột
nhiên lại lấy đầu roi, lật tà áo che mặt đứa bé lên cho mọi người xem
giống ai trong làng.
Bà già, đàn ông, con gái, trẻ con lại đổ xô cả đến cái lan can bằng
gạch xây ven sân, nghển cổ nom. Một người trong bọn lớn tiếng nói:
- Cứ cái mũi kia thì nó giống khán Thư tây lai đấy.
Em gái khán Thư thấy anh mình vốn có tính trai lơ bị họ bêu riếu,
liền đáp ngay:
- Này chị nhiêu Khuôn xem kỹ lại nó có giống khán Thư không hay là
giống ông Ba Nhòm nhà ta đấy!
Ba Nhòm là ông nội nhiêu Khuôn ngày xưa tằng tịu với một người
đàn bà góa bị em chồng họ bắt quả tang, phải quỳ lạy người em nọ
rồi cởi truồng về nhà.
Thế là hai người lại om sòm lên và đám đông lại được mẻ cười đùa
ầm ĩ, tròng ghẹo nhau, máy móc những cái mắt, cái tai, cái môi, nét
mặt phảng phất giống đứa bé mà ghép lẫn nhau là bố nó.
Chị Minh chỉ càng cúi gằm mặt xuống. Bọn hương lý chức dịch ngồi
chiếu trong đình lại quát vọng ra.
- Mõ! Các cụ truyền bay bắt nó ngẩng đầu lên chứ!
Mãi khi chè chén no nê xong, một người trong bọn mới khệnh khạng
nhè mồm gọi bố chị Minh ra mà phán rằng:
- Thôi bây giờ con bác Nhiêu đã chót dại mà xưa nay bác là người
tử tế, ăn chịu đóng góp với làng đầy đủ, vậy làng thương tình phạt
bác ba đồng bạc, hai trăm cau tươi, tám chai rượu, lập tức tối hôm
nay bác phải thân đưa đến nhà tôi.
Phó hội sẵn có hiềm khích với bác Nhiêu, thấy tiên chỉ xử vậy, bèn
vung tay lên nói:
- Trình cụ, cụ ngả có bằng ấy thật là nhẹ quá. Tôi xin hội đồng phạt
thêm ba đồng nữa và một nửa lợn vì còn cái khoản gia pháp bất
nghiêm nữa kia.
Lại một hồi bàn tán xôn xao, sau cùng Chánh hội kiêm thứ chỉ ra
trước cái bàn ngoài sân, bệ vệ bảo bố con chị Minh:
- Làng ta từ cổ đến giờ có ai dám bậy bạ như nhà các người, bỗng
ngày nay bị phạm lây một sự xấu xa, thành thử danh giá làng thua
kém các làng bên, vậy tội của bố con chị không phải là không to,
nhưng làng thương tình mà phạt từng này thôi: sáu đồng bạc, hai
trăm cau tươi và tám chai rượu.
Không thấy nói đến nửa lợn, nhất là con lợn này đã đẫy niên, em
Phó hội đương nhằm mua rẻ để thịt bán, Phó hội hậm hực mãi mới
thôi. Phải! Mấy khi được món "bở" như thế để các ông chia tay nhau
nhắm nháp cho sướng miệng, còn sống chết mặc ai. Giấy tờ đóng
sẵn dấu lý trưởng và có cả chữ ký cả hội đồng ký mục kia chỉ dùng
để dọa nạt sự ngu đần khiếp nhược của bố con chị Minh, và cả mấy
trăm dân làng dốt nát.
Xong cái cảnh ê chề ấy, sáng hôm sau Bính lại được xem một cảnh
buồn cười và thê thảm hơn.
Không biết ai xúi bẩy bác Nhiêu để tỏ rằng nhà bác không nuông
con dâu, mà bác nỡ nhẫn tâm cạo trọc đầu chị Minh, bôi vôi trắng
hếu, úp rế lên rồi rong chị đi khắp làng.
Mấy ông già bà lão đã nhảy lên mà khen bác và có một bà cụ già nói
rằng:
- Hình phạt đó chưa lấy gì làm đáng tội lắm, chưa đúng y như lề lối
xưa: cứ theo tục lệ trước kia của các cụ thì chị Minh còn phải lột trần
truồng, đeo mo cau vào mặt.
Luôn hai ngày bị hành hạ, chị Minh đã có lần định thắt cổ chết,
nhưng nhờ mấy chị em bạn nghèo hàng xóm giằng giữ lại và
khuyên giải nên chị lại cắn răng chịu đựng. Ngưỡi chị võ hẳn đi, đứa
con cũng đen rạc vì bêu nắng với mẹ. Như mọi khi, hễ nhắc tới cảnh
" gọt gáy bôi vôi" trên kia, Bính không sao không ngạc nhiên và nhịn
được cười, và muốn tấn tuồng lạ lùng đại loại kiểu ấy diễn lại luôn
luôn. Nhưng nay... Bính gai hết cả da thịt và tâm trí. Bính đau đớn
cho Minh và e ngại cho mình không biết có đủ sức chịu đựng những
nỗi bêu riếu nhục nhã như kia không. Chẳng cần suy nghĩ, Bính dằn
giọng nhủ thầm: Nếu lâm phải bước này Bính đành bỏ cha và mẹ,
bỏ hai em, bế con đi tha hương cầu thực cho xong.
Cái ý định liều lĩnh đó vụt sáng lên với một tia hy vọng. Bính sẽ gặp
Chung, bố đứa trẻ. Chung sẽ nghĩ lại tìm cách nuôi nấng mẹ con
Bính, rồi vợ chồng con cái về ăn ở với nhau.
Thốt nhiên ở gian ngoài đèn vặn to lên. Cánh cửa liếp xịch mở. Bính
vội nhỏm người nhìn qua kẽ vách. Phó lý Thưởng và vợ y bước vào.
Bính cuồng lên muốn chạy trốn. Cảnh ngả vạ đã đến. Song chạy lối
nào? Thông từ buồng Bính ra gian nhà ngoài kia chỉ có mỗi một lối
đi thì vợ chồng phó lý và bố mẹ Bính đã ngồi ngay đấy, một Bính
còn chả ra lọt huống hồ lại đèo thêm con. Bính cố dằn lòng, áp mặt
vào bức vách nghe ngóng.
- Này nhà ông lái, bà lái! Tôi thu xếp xong rồi đấy nhà ông bà có ưng
như thế không? - Vợ phó lý nói.
Bố Bính yên lặng một lát, đoạn gãi tai trả lời:
- Bẩm ông bà nghĩ như thế thì vợ chồng con được đội ơn vô cùng.
Phó lý liền dõng dạc nói một thôi dài:
- Nhà ông bà phải biết, tại vợ chồng tôi thương nhà ông bà hiền
lành, ngoan đạo, lại sắp được Cha xứ cắt lên làm trưởng giáo để
trông coi dạy bảo phần hồn cho trẻ mỏ trong họ. Vậy mà chẳng may
nhà ông bà phải đứa con gái bỗng đâm ra hư đốn như thế nên tôi
gỡ giúp tai tiếng cho, chứ tôi hòng gì mà nhờ đứa bé ấy.
Vợ phó lý ngắt nhời:
- ối giời, nòi nào giống nấy, nó lại bắt chước bố nó chứ gì? Ông ạ,
tôi không nuôi đâu, ông có muốn nuôi thì mướn vú về mà nuôi.
Phó lý bèn đưa mắt cho vợ bảo im. Không phải là y rộng lòng nhân
đạo chẳng tưởng đến sự bội bạc sau này của đứa bé đâu. Không! Y
làm việc này là vì có một người em giai buôn bán giàu có lắm ở trên
Hà Nội cũng hiếm hoi như y. Người nọ thường nhắn phó lý xem ở
quê có nhà nào túng đói thì mua cho y một đứa con giai, càng trứng
nước càng hay. Mấy hôm nay, chợp được cơ hội Bính đã đẻ và đẻ
con giai và nhà đương lo lắng khốn đốn không biết thu xếp ra sao,
phó lý đã lên tỉnh lấy thêm của em năm chục đồng bạc nữa bảo phải
mua ngay đứa bé không Bính cho bà xờ mất.
Thấy phó lý cũng là người làng và họ hàng giàu có lại không phải là
người đi đạo nên bố mẹ Bính càng yên tâm.
Muốn lấy lòng bà phó, bố Bính ngọt ngào thưa một câu bâng quơ:
- Thưa vâng, ông bà ăn ở phúc đức thương người như thế con chắc
ông bà còn là giàu sang vinh hiển.
Phó lý mỉm cười vuốt râu, hất hàm hỏi bố Bính :
- Vậy tôi giúp ông bà mười đồng ông bà bằng lòng chứ?
Mẹ Bính vội nhăn mặt:
- Thằng bé kháu khỉnh lắm, mặt mày sáng sủa, chân tay bụ bẫm xin
trả cho hai mươi đồng để nhà cháu lo lót với mấy cụ trong làng.
Bố Bính gãi tai tiếp lời:
- Thật vợ chồng cháu cảm cái ơn ông bà ông phó lắm chứ không nài
xin hơn thiệt gì đâu.
Phó lý cười không đáp, nhìn hỏi ý kiến vợ. Vợ phó lý ngẩng trông xà
nhà, vuốt dài hai ngón tay quệt quýt trầu rồi lúng búng nói:
- Thôi tôi giúp thêm nhà ông bà ba đồng nữa là mười ba đồng có
thuận thì tối mai bế thằng bé sang nhà tôi mà nhận tiền.
Bính càng nín thở lắng tai nghe. Bính như đứt từng khúc ruột. Giời!
Cái ác tâm của bố mẹ Bính.
Luôn mười hôm ròng gìn giữ giam cầm Bính trong gian buồng này
không cho Bính bế con ra khỏi nửa bước, bố mẹ Bính trước hết sợ
hàng xóm thóc mách, sau sợ Bính bế con đi. Nhưng thôi, từ ngày
mai trở đi, sau khi dứt đi khỏi đứa bé và được hàng chục bạc, bố mẹ
Bính sẽ vừa hết cả lo sợ ngã vạ vừa được món tiền mừng chân
Trưởng giáo và ăn tiêu, sự tính toán ấy thật khôn khéo quá chừng!
Bính lại ôm chặt lấy con, thương xót cho thân phận nó bị dằn hắt và
kèo nhèo mặc cả như một con trâu con lợn. Bính ghê sợ cho bố mẹ
Bính và vợ chồng nhà phó lý kia đang tay cắt đứt tình yêu thương
của mẹ con Bính như một khúc dồi, một miếng phèo vậy. Dù sao
Bính cũng không thể cưỡng lại được. Bính đến phải nuốt nước mắt
trao con cho bố mẹ bán đi thì mới tránh thoát những hình phạt quái
ác không biết của ai, từ đời nào đã đặt ra để trừng trị những đàn bà
đẻ hoang, và Bính mới mong được yên thân với cha mẹ.
Bính mím môi lại, cúi gầm mặt nức nở, kéo dài thêm những ý nghĩ:
"Phải! Bính phải cắn răng mà cho con đi khỏi lúc khốn khó này. Rồi
chờ năm ba bữa nửa tháng, Bính thừa cơ trốn đi hoặc Hải Phòng
hoặc Nam Định, chịu khó làm ăn buôn bán, dành dụm một món tiền.
Ba bốn năm qua... chuyện cũ nhạt dấu vết, Bính sẽ trở về làng
chuộc con, rồi có thể thì nói với cha mẹ và hai em lên tỉnh làm ăn, bỏ
hẳn cái nơi quê hương ác nghiệt kia bao đời nay làm ăn đầu tắt mặt
tối mà không cất mặt mở mày lên được.
Bính tê mê nâng đứa con lên tận mặt, rít miệng vào má nó, vào trán
nó, rồi Bính nhìn ngước lên như để phân trần với bóng tối nỗi đau
đớn trong lòng. Sau đó Bính đăm đắm trông con thiêm thiếp ngủ.
Dưới ánh đèn lù mù ở bên ngoài qua kẽ liếp lọt vào, da dẻ nó hồng
hào biến thành xanh trong xanh bóng; mớ tóc đen láy, lơ phơ trở
nên hung hung mốc mác khô cứng. Vệt chàm dài hơi giống hình con
thạch sùng bò từ một bên trán đến mang tai xám ngắt hẳn đi như
một vệt máu. Và cái vết lẹm trên mí mắt cũng ở bên phải thấy
thương như một lốt dao chém vậy.
Hai hàng nước mắt Bính đã lại ròng ròng trên má lã chã đằm đìa
xuống cả mặt đứa bé.
Chương 2
Hải Phòng.
Lần này là lần đầu tiên Bính bước chân đến một tỉnh ồn ào đông
đúc, khác hẳn chốn quê mùa vắng vẻ.
Bính trốn đi, sau đêm ấy đến này đã được bốn hôm. Bốn hôm dài
quá chừng! Bao nỗi đau buồn luôn luôn nhắc nhở Bính nhớ tới con
thơ.
Bây giờ Bính mới hơi quen, quen cái ánh sáng chói lọi của những
ngọn đèn điện. Bính không còn giật mình mỗi khi còi ô tô thét lên.
Các cách đi đứng ăn nói của người hàng phố đối với Bính không
đáng ngờ vực, sợ hãi quá như trước nữa. Bính bớt rụt rè, nhìn
thẳng vào những tủ hàng đồ vật bày la liệt rực rỡ làm Bính hoa cả
mắt. Lắm thứ Bính không thể nhận ra là thứ gì tuy Bính vẫn thường
thấy, nay chỉ khác cái vỏ bọc ngoài bằng giấy bóng màu hay thủy
tinh. Bính đờ người nghĩ mãi trước tá mùi soa lụa gấp trong tờ giấy
bóng, trông như những bông hoa ép khô. Miếng xà phòng bồ dục để
trên chiếc hộp giấy cực kỳ đẹp đẽ, khéo léo, Bính cho là thứ bánh
quí lắm mà sau này nếu Bính có tiền thì thế nào cũng phải mua ăn.
Bính vừa ngắm những bông hoa giả cắm trong lọ pha lê trong vắt,
Bính vừa tấm tắc khen thầm người nào có tài gìn giữ được mãi vẻ
tươi tốt đóa hoa đã nở tung như vậy.
Trong cái phút giây ấy, Bính đặt mình vào một giấc mộng sáng sủa
như gian hàng. Bính đang tê mê ngắm nghía, bỗng giật mình vì thấy
gương mặt mình hốc hác, xanh xao nổi bật trong mảnh gương treo
giữa tủ hàng. Bính vội lấy tấm gương để soi gần cho rõ thì tay đập
choang ngay phải mặt kính. Một người đàn ông trẻ tuổi đứng bên
kêu lên và nhìn Bính:
- Ơ kìa cô này!
Nhưng khi thấy vẻ mặt lo sợ đờ đẫn của Bính, người ấy đưa mắt
một cái rồi phá lên cười. Bính bẽn lẽn rảo bước ra ngay chỗ khác.
Bính rẽ ngoặt về phía tay trái, theo lối xuống Sáu kho.
Bấy giờ trăng thu vừa mới hé ra khỏi dải mây chì tỏa xuống những
chòm cây một làn ánh sáng như hơi sương phảng phất. Đường sá
vắng vẻ ít người qua lại. Hai bên hè lả lướt những cành xoan lăn tăn
lá, rào rào trước gió lạnh thổi từng cơn dài. Bính chợt nghĩ tới ngày
mai, tới một sự sống ở một nơi xa lạ và hiện Bính không còn một
đồng một chữ dính túi.
Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn
tiền tàu từ Nam ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn
uống trong hai hôm nay. Bính hoang mang, cúi gằm mặt trông dải
đường nhựa lấp lánh bóng trăng, nhấc từng bước một.
Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu, miễn cho qua một
đêm. Lúc này Bính bỗng hồi hộp, bối rối lạ thường. Những bụm cọ
đen thẫm, ù ù lộng gió ở vườn hoa sông Lấp gợi trong trí Bính bao
nhiêu hình dung quái gở. Bính tưởng con đường Bính đi tối tăm
hoang vắng như cảnh một bãi tha ma. Những cành xoan xao động
là những cành tre lả ngọn bên những ngôi mộ chơ vơ mới đắp.
Những tàu lá cọ to sùm suề giống những mớ tóc người điên hay thắt
cổ.
Bính bật kêu khe khẽ:
- Biết làm sao đêm nay?!!
Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm, một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ
lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp
những sự không may là thường. Nếu Bính không khéo gìn giữ, biết
đâu đêm nay chẳng sẽ là cái đêm bắt đầu một cuộc đời khốn nạn
nhơ nhuốc khác mà dù cực nhục chừng nào, Bính cũng phải cắn
răng chịu, chứ không thể quay về quê nhà được. Bính thở dài. Mấy
hôm nay tai tiếng chắc đã đồn đi khắp làng trên làng ngoài. Thế nào
họ chẳng bảo lại vì mê giai, theo giai mà bỏ nhà đi. Cái tiếng theo
giai đó là một sự nhơ nhuốc không sự nhơ nhuốc nào bằng. Vì
người ta hiểu rằng: giai là một đứa xỏ xiên chỉ phá hoại trinh tiết
người đàn bà, còn kẻ theo nó phải là một con đĩ thoã vô cùng. Họ
chỉ diếc móc Bính như thế còn là khá đấy. Không may cho Bính, nếu
gặp phải một kẻ không ưa Bính thì Bính sẽ còn bị buộc hàng ức, vạn
tội xấu xa, quá sức tưởng tượng của hạng người nhân hậu.
Bính đã đi qua Sáu kho. Hôm nay các tàu chạy hết. Trên sông chỉ
còn thấp thoáng mấy ánh lửa leo lét, chập chờn của dăm chiếc
thuyền con đỗ đằng xa.
Thốt nhiên Bính dừng bước, trong một phút Bính tưởng như là bến
Sòi quê Bính. Bính ngẩng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc
kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía.
Những giọng đều đều và ngâm nga thoáng nhắc trong tâm trí Bính
hai mắt lờ đờ rầu rĩ, hai cánh tay rã rời giang trên cây thánh giá của
đức Chúa Giê-su khi hấp hối. Sự hồi tưởng ấy làm Bình cảm thấy rõ
rệt bố mẹ mình là giả dối. Bính ghê sợ cho sự "nguyện ngắm" hằng
ngày chỉ dùng che mắt thế gian. Phải, chỉ che mắt thế gian thôi! Nay
đi xưng tội, mai đi chịu lễ, sáng sớm nào cũng có mặt ở nhà thờ,
đêm nào cũng thức tới mười một, mười hai giờ để đọc kinh, hỏi để
làm gì?
Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình
Bính bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực
nhưng thực chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hòa, đạo đức
bên trong.
Cha mẹ Bính cắn rứt nhau luôn, vì thiếu thốn; chửi mắng hành hạ
Bính luôn vì Bính không như ai giảo hoạt, tinh ranh trong sự cạnh
tranh khách đi đò và buôn bán mua rẻ bán đắt tôm cá của các
thuyền chài lưới quen thuộc. Hơn nữa, Bính không biết mưu tính
các cách gian lận với những khách gửi hàng để lo cho mình có cái
bộ cánh mà nhà không sao sắm sửa được vì ruộng đất cày cấy
không có, ngoài mảnh vườn chỉ được cái rau ăn còn đều trông vào
con đò thì phải sinh sống rất khôn ngoan soay giở đủ mặt. Những
điều này đã làm Bính suy nghĩ và đau lòng.
Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm "dấu" đoạn thầm thì cầu kinh.
"Lạy Cha chúng tôi ở trên giời xin Cha cho chúng tôi hằng ngày
dùng đủ và tha nợ cho chúng tôi như chúng tôi đã tha kẻ có nợ
chúng tôi".
...Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau
được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời...".
Gió sông càng ù ù, sương càng mù mịt. Bính đọc hết năm chục kinh,
làm "dấu", đoạn khép chặt tà áo vào người rồi rảo bước. Chợt có
tiếng người gọi:
- Cô kia đi đâu?
Bính không dám quay lại trả lời cứ lùi lũi đi nép vào rặng cây bên
đường. Một chiếc xe tay đâm xô lại, chắn lấy lối đi, tiếp đến những
tiếng cười ran:
- "Săn" kỳ được "mẻng" ấy cho tao.
Bính tránh hẳn sang bên kia, gằm mặt xuống xốc lại cái đẫy vải đeo
sau lưng. Một người đàn ông vận quần áo lót kẻ sòng sọc rất chải
chuốt và tóc bóng lộn, ngồi trên xe nom trõ mặt vào mặt Bính, Bính
quay mặt ra chỗ khác. Người ấy kéo vạt áo Bính, ngọt ngào hỏi:
- Cô định tìm ai ở đây?
Bính hoảng hốt chực chạy. Nhưng chung quanh Bính năm chiếc xe
đã vây kín, Bính kêu lên:
- Ô kìa!
Tên ngồi xe nhại lại, cười sặc sụa. Dáng điệu ngây thơ của Bính bảo
rõ với bọn này rằng Bính là một gái quê mới ra tỉnh lần đầu và là một
gái quê xinh đẹp hẳn hoi. Thật vậy, dưới ánh đèn điện, mắt Bính lấp
lánh chớp luôn, đôi má mũm mĩm ửng hồng chúng trông ngon lành
quá.
Một gã kéo xe nhưng tóc mai cũng xén nhọn và để dài như thằng
ngồi xe, mặc áo trắng là cổ bẻ và ngoài khoác áo tây vàng toan
giằng lấy khăn vuông Bính, song hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại
không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc mượn cớ nhảy xuống
bíu lấy vai Bính. Bính kêu thất thanh. Thừa cơ hai cái xe chạy đi đón
khách dưới thuyền lên, Bính liền lẩn nhanh ra chỗ khác. Đám xe rãn
cả, tản mỗi nơi một chiếc. Còn Bính, Bính đi ngược lên phố vì Bính
nhận thấy nếu cứ lang thang, bơ vơ ở những chỗ đường vắng thì
thế nào cũng còn bị chòng ghẹo.
Được một quãng có nhà cửa thì lại đến quãng vườn hoang. Những
bụi cây lù mù trước những ngọn đèn điện bóng mờ hiện ra trước
mắt Bính làm trống ngực Bính lại đập thình thịnh. Chợt Bính lạnh
toát cả người, quay đầu nhìn về đằng sau; một bóng người đương
rảo gót như đuổi Bính. Bính đi nhanh hơn. Người theo sau cũng
bước gấp, phút chốc hắn đi sát cạnh Bính và khẽ nói:
- Cô! Cô chậm bước chứ để tôi ngỏ câu chuyện này.
Nhời nói êm đềm khiến Bính bớt sợ, Bính đưa mắt nhìn thì đó là
người ngồi trên xe ban nãy nhưng đã thay quần áo khác, Bính im
lặng nhìn bộ y phục lạ lùng của hắn: cái áo dạ tím bó chẹt lấy lưng,
hai ống quần lướt thướt như bằng lụa thì buông chùng quá gót, cái
mũ dạ mới lạ làm sao, lóng lánh một chiếc tên mạ kềm như dấu hiệu
của lính. Bính chợt nhớ đến cái hạng công tử cũng kiểu ăn mặc như
thế này những ngày hội đầu năm vùng Bính bọn chúng thường kéo
về chớt nhả gái làng. Bính vộ...
 









Các ý kiến mới nhất