ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẬP 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:38' 24-01-2024
Dung lượng: 965.5 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:38' 24-01-2024
Dung lượng: 965.5 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịch Hội đồng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO
CÁC TÁC GIẢ
NGUYỄN NGỌC THANH (Chủ biên)
NGUYỄN THẨM THU HÀ
HOÀNG THỊ HỎI
HỒ SỸ LẬP
SA THỊ THANH NGA
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Thế kỷ XX, đất nước ta đã phải trải qua các cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược, chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên
giới phía Bắc để bảo vệ Tổ quốc. Trong các cuộc chiến
tranh ấy, đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những
đóng góp vô cùng to lớn. Bất chấp hiểm nguy, đồng bào
các dân tộc thiểu số đã hòa mình vào công cuộc kháng
chiến kiến quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hàng vạn
thanh niên các dân tộc thiểu số đã lên đường nhập
ngũ, tham gia lực lượng dân quân tự vệ. Trong các bản
làng, bà con nuôi giấu và bảo vệ cán bộ, bộ đội; tham
gia tiễu phỉ, trừ gian, bố phòng chiến đấu, chống càn,
phục vụ hậu cần cho chiến trận. Từ đó đã xuất hiện
nhiều tấm gương trung kiên, tiêu biểu sẵn sàng xả
thân vì lý tưởng cách mạng, mãi mãi là niềm tự hào
của dân tộc. Nhiều chiến sĩ là người dân tộc thiểu số đã
được phong tặng, truy tặng danh hiệu cao quý Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong lao động, sản xuất cũng xuất hiện những
Anh hùng Lao động ở các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác
xã, công trường nông - lâm nghiệp,... là con em của
6
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
đồng bào dân tộc thiểu số. Họ tích cực tăng gia sản
xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,
cải thiện cuộc sống trên quê hương, đóng góp nghĩa vụ
với nhà nước, cổ vũ, khích lệ bà con dân tộc miền núi
cùng nhau đoàn kết vươn lên.
Trân trọng công lao, đóng góp của các Anh hùng Lực
lượng vũ trang, Anh hùng Lao động đối với sự nghiệp
bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách Anh hùng người
dân tộc thiểu số gồm 3 tập, do PGS.TS. Nguyễn Ngọc
Thanh - Trung tâm Thông tin văn hóa các dân tộc làm
chủ biên.
Nội dung cuốn sách không chỉ là sự tri ân đối với
các anh hùng dân tộc thiểu số mà còn có ý nghĩa giáo
dục truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và
lao động sản xuất đối với thế hệ trẻ ngày nay.
Để bạn đọc thuận tiện theo dõi, tên các nhân vật
được sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt. Tập 1 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái A đến chữ cái K; tập 2 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái L đến chữ cái S; tập 3 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái T đến chữ cái Y.
Xin giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc.
Tháng 7 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
7
LỜI NÓI ĐẦU
Là một đất nước có diện tích không lớn, song
Việt Nam luôn phải hứng chịu những cuộc chiến
tranh khốc liệt trong suốt chiều dài lịch sử hàng
ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để có nền hòa
bình, độc lập ngày nay, biết bao xương máu của
thế hệ người con các dân tộc trên đất nước Việt
Nam đã phải đổ xuống. Trải qua các cuộc chiến
tranh, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường luôn
được thắp sáng trong mỗi người con đất Việt,
không kể vùng miền, thành phần dân tộc. Cũng
từ những cuộc chiến tranh đó, nhiều người con đã
trở thành những anh hùng, những tấm gương
sáng cho các thế hệ con em mai sau.
Trong thời kỳ lịch sử hiện đại, trải qua các
cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ xâm lược hay chiến tranh biên giới Tây Nam,
chiến tranh biên giới phía Bắc, nhiều tấm gương
anh dũng của các chiến sĩ trên khắp các mặt trận
đã được ghi nhận, trong số đó có nhiều chiến sĩ là
những người con của đồng bào các dân tộc thiểu
số. Trong mỗi cuộc chiến, ở các địa phương, lực
8
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
lượng dân quân tự vệ là người dân tộc thiểu số đã
phát triển nhanh. Hàng vạn thanh niên các dân
tộc lên đường nhập ngũ. Các chiến sĩ dân tộc
thiểu số đã hòa vào dòng người “Xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước”, đã vượt lên mất mát, hy sinh,
tham gia kháng chiến với nhiều hình thức phong
phú, cả trực tiếp và gián tiếp, cả ở vùng căn cứ,
vùng tự do cũng như vùng địch hậu; tham gia trừ
gian, bố phòng chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu
cần cho chiến trận. Trong chiến đấu, đồng bào các
dân tộc thiểu số luôn ngoan cường, lập nhiều
chiến công oanh liệt. Nhiều người đã hiến dâng cả
xương máu vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ
quốc. Cũng từ trong cuộc chiến đấu ấy, đã xuất
hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu biểu, mãi
mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam như các
anh hùng La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Nông Văn
Dền... cùng hàng vạn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh.
Nhiều chiến sĩ là người dân tộc thiểu số đã được
phong tặng danh hiệu “Anh hùng quân đội”,
“Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Trong các cuộc chiến tranh vĩ đại chống lại
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến tranh biên
giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc,
đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng miền núi
luôn tự hào bởi những điều thật đặc biệt: Đội Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của
Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng được
LỜI NÓI ĐẦU
9
thành lập giữa vùng miền núi Cao Bằng, với các
thành viên đa số là đồng bào các dân tộc thiểu
số. Anh hùng Lực lượng vũ trang đầu tiên của
Quân đội nhân dân Việt Nam là một người dân
tộc Tày - đồng chí La Văn Cầu. Chiến thắng
Điện Biên Phủ - chiến thắng quan trọng nhất và
là chiến thắng cuối cùng quyết định đánh bại
thực dân Pháp đã diễn ra ở vùng miền núi.
Chiến thắng Buôn Ma Thuột năm 1975 - chiến
thắng đầu tiên nhưng tạo điều kiện để Đảng ta
quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải
phóng miền Nam cũng xuất phát ở vùng đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên. Những minh chứng
đó khẳng định công lao và cống hiến của quân
dân đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn vùng
dân tộc miền núi - căn cứ địa cách mạng kháng
chiến của dân tộc đã đóng góp vô cùng to lớn vào
cuộc chiến đấu chung; là sự chia sẻ, gánh vác
trách nhiệm chung và đã góp phần vào thắng lợi
vẻ vang trước thử thách sống còn của đất nước
Việt Nam anh hùng.
Giờ đây, sau hơn 40 năm miền Nam giải phóng,
thống nhất đất nước, đồng bào các dân tộc thiểu số
đang chung tay cùng với đồng bào cả nước trong
công cuộc xây dựng đất nước trên mọi phương
diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
10
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Bộ sách Anh hùng người dân tộc thiểu số gồm
3 tập sẽ đem đến cho bạn đọc những thông tin cụ
thể về những người con ưu tú đại diện cho tinh
thần, ý chí chiến đấu bảo vệ và xây dựng quê
hương, đất nước của đồng bào các dân tộc thiểu
số. Biên soạn bộ sách này, chúng tôi hy vọng sẽ
đem đến cho bạn đọc những hiểu biết nhất định
về thân thế cũng như thành tích của các anh
hùng người dân tộc thiểu số. Qua đó, sẽ giúp cho
bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ thêm yêu Tổ quốc,
sống và cống hiến hết mình cho sự nghiệp phồn
vinh của đất nước.
Trong bộ sách này, chúng tôi sắp xếp tên các
anh hùng dân tộc thiểu số theo vần A, B, C,... để
tiện cho việc tra cứu thông tin của bạn đọc.
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng trong thu
thập các nguồn tư liệu, nhưng không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Ban biên soạn mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc
để bộ sách được hoàn thiện và đầy đủ hơn trong
lần xuất bản sau.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
BAN BIÊN SOẠN
11
HÀ VĂN ẮNG
Anh hùng liệt sĩ Hà Văn Ắng (Tương Phi) sinh
năm 1923, là người dân tộc Thái, quê ở xã Mường
Tranh, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Đồng chí
công tác tại Đại đội 168, Tiểu đoàn 105, Trung
đoàn 801.
Hà Văn Ắng sớm giác ngộ cách mạng và tham
gia hoạt động trong phong trào cách mạng ở quê
hương Mường Tranh. Tháng 8-1945, Hà Văn
Ắng cùng nhóm cách mạng Mường Tranh đấu
tranh giành chính quyền ở xã, tiến lên giành
chính quyền tại thị xã Sơn La. Sau cách mạng,
đồng chí tham gia vệ quốc đoàn Sơn La, giữ chức
Tiểu đội trưởng tiểu đội xung kích, cùng đồng đội
chiến đấu tại nhiều nơi như Tuần Giáo, Thuận
Châu, Yên Châu và chiến trường Lào.
_____________
1. Xem Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Hội
đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương: Chân dung anh
hùng thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Lao động, Nxb. Quân
đội nhân dân, Hà Nội, 2000, t.I.
12
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta
lần thứ hai, chúng dồn lực lượng tấn công các cơ
sở cách mạng của quân ta, trong đó có địa bàn
tỉnh Sơn La. Trong trận đánh ở cầu Hát Lót, Hà
Văn Ắng đã mưu trí chỉ huy tiểu đội tấn công và
dồn địch vào thế bị động. Trong trận này, lực
lượng cách mạng đã bắt sống được một quan Tây,
góp phần củng cố niềm tin trong quân và dân,
đồng thời có tác dụng răn đe kẻ thù1. Mùa đông
năm 1947, tiểu đội đồng chí phối hợp với tiểu đội
bạn phục kích bắt sống 3 tên địch, tiêu diệt một
số tên và thu nhiều vũ khí, đạn dược. Sau đó, Hà
Văn Ắng tiếp tục chỉ huy tiểu đội xung kích
chiến đấu và góp phần giành thắng lợi trên
nhiều mặt trận như: Pa Háng, Mường Sại, Vạn
Yên, Suối Đúc, Mường Lò, ngã ba Thu Cúc,...2.
Trải qua thực tế chiến đấu, lực lượng cách
mạng tại địa bàn tỉnh Sơn La đã lớn mạnh và
trưởng thành. Tháng 4-1948, Trung ương quyết
định thành lập đội Trung Dũng với nhiệm vụ
vừa tuyên truyền xây dựng căn cứ cách mạng
trong quần chúng nhân dân, vừa chiến đấu trên
mặt trận chống kẻ thù xâm lược. Hà Văn Ắng,
bí danh Tương Phi, được cử làm Tiểu đội trưởng
xung kích. Tháng 10-1948, Hà Văn Ắng chỉ huy
_____________
1, 2. Tư liệu tại bảo tàng tỉnh Sơn La.
HÀ VĂN ẮNG
13
tiểu đội đánh các trận Tạ Lương, Tú Nang đã
xóa sổ 1 đại đội địch, tiêu diệt 36 tên, bắt sống 4
tên Pháp, thu 36 khẩu súng trường và 2 súng
cối, nhiều đạn dược1.
Đội Trung Dũng hành quân lên Chiềng Khừa Mư Tươi xây dựng khu chiến đấu, địch phát hiện,
tổ chức lực lượng bao vây nhằm tiêu diệt đội.
Đoán trước ý định hành quân của địch, tiểu đội
của Hà Văn Ắng cùng với tiểu đội của Lò Văn Hắc
tổ chức lực lượng đánh phục kích địch ở Tô Buông.
Trận chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, kết quả
quân ta giành thắng lợi, xóa sổ 1 đại đội địch, tiêu
diệt 30 tên, thu 2 khẩu súng máy, 30 khẩu súng
trường cùng nhiều quân trang, quân dụng. Trải
qua thực tế chiến đấu, đội Trung Dũng đã trưởng
thành trên mọi mặt. Kẻ thù khiếp sợ khi nhắc đến
đội Trung Dũng với những cái tên Lộc Tài, Tương
Phi, Nam Hải2.
Đến tháng 7-1950, tiểu đội của Hà Văn Ắng
sáp nhập vào Đại đội 168, đồng chí vẫn giữ chức
Tiểu đội trưởng. Hà Văn Ắng đã chỉ huy tiểu đội
đánh nhiều trận trên địa bàn Tuần Giáo, Thuận
Châu, Yên Châu và chiến trường Lào..., với nhiều
_____________
1. Xem Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Hội
đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương: Chân dung
anh hùng thời đại Hồ Chí Minh, Sđd, t.I.
2. Tư liệu tại bảo tàng tỉnh Sơn La.
14
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
hình thức như phục kích, tập kích bắn tỉa, tiêu
hao sinh lực địch làm cho địch rất hoang mang,
lo sợ. Trong trận đánh Ly Khon (Lào), trước sự
phản công quyết liệt của quân địch, Hà Văn Ắng
đã dũng cảm ôm bộc phá xông thẳng vào dập tắt
hỏa lực địch và hy sinh ngay trên chiến trường,
tạo điều kiện cho đồng đội xông lên giải phóng
Ly Khon.
Tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí cùng
sự hy sinh anh dũng trên chiến trường của Hà
Văn Ắng đã trở thành tấm gương sáng cho đồng
đội và thế hệ sau noi theo. Với những thành tích
và chiến công xuất sắc giành được trên chiến
trường, ngày 11-6-1999, Hà Văn Ắng được Nhà
nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân. Tên của ông được đặt cho một
con phố ở thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, đoạn
đường từ Ngã tư Nông Trường đi vào chợ Trung
tâm Hát Lót.
15
ĐINH BANH
Anh hùng Đinh Banh sinh năm 1942, là người
dân tộc Hrê, quê ở xã Sơn Thượng, huyện Sơn Hà,
tỉnh Quảng Ngãi.
Đinh Banh tham gia cách mạng từ khi còn rất
trẻ, mới 16 tuổi đã xin vào du kích địa phương, 17
tuổi xung phong vào bộ đội, biên chế ở Trung đoàn
95, đóng quân ở xã Trà Niêu (huyện Trà Bồng lúc
bấy giờ). Năm 1960, đồng chí làm nhiệm vụ trinh
sát ở Tiểu đoàn D20 trực thuộc Quân khu 5, với
chức danh Trung đội trưởng. Sau đó, đồng chí giữ
chức Đại đội trưởng đại đội trinh sát ở Tỉnh đội
Quảng Ngãi1.
Trong 14 năm tham gia lực lượng vũ trang
nhân dân giải phóng ở địa phương, đồng chí đã
tham gia tới 200 trận, diệt 54 tên địch, thu 28
súng, phá hủy 1 xe quân sự, cụ thể:
_____________
1. “Thương tiếc Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân
dân Đinh Banh”, http://baoquangngai.vn/channel/2047/
201505/thuong-tiec-anh-hung-llvtnd-dinh-banh- 2388195/.
16
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Trận đánh Hòn Một (Quảng Ngãi) ngày 3112-1965, khi ta vừa mở đường xung phong thì
địch bắn ra dữ dội. Các mũi xung kích bị chặn lại
ngoài hàng rào, chỉ có mình Đinh Banh thọc sâu
vào chiếm được lô cốt đầu cầu rồi phát triển chiếm
luôn khu vực trụ cờ. Nhưng đến đây thì Đinh
Banh hết đạn, trên đường quay trở ra thì bị
thương ở đùi. Không kịp băng bó và cũng không
cho đại đội trưởng biết, đồng chí lấy giỏ lựu đạn
rồi khập khiễng chạy vào đánh tiếp, chiếm giữ
hẳn khu vực cột cờ và làm cho địch rối loạn, tạo
điều kiện cho các mũi tiến công của ta xông lên
san bằng cứ điểm, diệt gọn một đại đội địch1.
Trong trận đánh đồn Ba Tơ ngày 5-8-1968,
đơn vị trinh sát của Đinh Banh làm nhiệm vụ mở
đường để các đơn vị bộ binh vào phối hợp chiếm
đồn. Lúc đó, địch bị dồn vào thế chân tường,
chúng quyết tử thủ để chờ quân tiếp viện, dùng
hỏa lực bắn trả ta hết sức dữ dội. Với tinh thần
dũng cảm, mưu trí, Đinh Banh đã chỉ huy đại đội
chiến đấu ngoan cường, bản thân đồng chí sau khi
tiêu diệt được 3 tên địch đã bị một mảnh đạn
pháo bắn trúng vào phần lưng, hất cả cơ thể lên
_____________
1. Xem “Nhiều lần bị thương, không rời tay súng”
(Viết về Đại đội trưởng Đinh Banh, bộ đội địa phương
Quảng Ngãi), báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 113-1974.
ĐINH BANH
17
hàng rào kẽm gai. Sức mạnh của mảnh đạn làm
Đinh Banh bị thương nặng, thủng hai đoạn ruột,
cộng với xương chậu bị vỡ bởi trúng một viên đạn
khác. May nhờ có đồng đội kịp thời khiêng ra
tuyến sau cứu chữa, đồng chí vẫn sống sót và bình
phục sau ba tháng. Rời khỏi viện cùng tờ giấy của
bác sĩ ghi rằng “Đề nghị đơn vị bố trí công việc nhẹ,
hợp lý”, Đinh Banh giấu không cho ai biết việc
này, cùng đơn vị tiếp tục lao vào những trận chiến
căng thẳng1.
Ngày 29-2-1969, một đại đội biệt kích ngụy
lùng ra Đồi Cương, xã Sơn Hạ. Đinh Banh chỉ huy
12 chiến sĩ, chia thành ba mũi lặng lẽ tiến đánh
lên đồi vào giữa trưa. Bị địch phát hiện, các chiến
sĩ của ta buộc phải nổ súng giao chiến. Nhận thấy
kẻ địch có lợi thế khi ở trên cao bắn xuống, Đinh
Banh chủ động nạp đạn cho súng B40 và bắn
thẳng lên đồi, tiêu diệt ngay một lúc 6 tên (trong
đó có cả tên cố vấn Mỹ). Tình thế thay đổi hẳn,
các mũi quân của ta xông lên như gió lốc và diệt
gần hết cả một đại đội địch. Trận đó ta thu được
một máy bộ đàm cùng nhiều súng đạn và rời khỏi
trận địa an toàn2.
Trong năm 1969, Đinh Banh lại hai lần bị
thương trong các trận đánh bọn biệt kích tại
_____________
1, 2. Xem “Nhiều lần bị thương, không rời tay
súng”, Tlđd.
18
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Sơn Hà: một lần vào ngày 3-3 bị hai viên đạn
xuyên qua mông, và trận ngày 2-7 bị một viên
đạn xuyên ngực nằm lại trong phổi. Vết thương
chưa lành, sức khỏe giảm sút nhưng đồng chí vẫn
tiếp tục chiến đấu. Trong suốt đợt chống càn đánh
Trung đoàn 4 của ngụy đổ lên sông Tan, Nước
Biếc năm 1970, đồng chí đã cùng đơn vị cơ động
khắp vùng để ngăn chặn kẻ thù. Đặc biệt, đồng
chí đã chỉ huy mũi tập kích sở chỉ huy tiểu đoàn
địch tại Làng Đèo, cùng đơn vị tiêu diệt 40 tên
(trong đó có tên đại úy tiểu đoàn trưởng), thu 20
súng, 1 máy bộ đàm và khiến địch rút quân, bỏ dở
cuộc càn1.
Tháng 2-1973, một đại đội địch đánh lấn ra
vùng Tà Bua (Quảng Ngãi) thuộc khu vực đơn vị
Đinh Banh phụ trách. Đồng chí đã chỉ huy 18 anh
em nhanh chóng vận động đánh địch, diệt 47 tên,
thu 7 súng, giữ vững vùng giải phóng. Riêng đồng
chí diệt được 7 tên.
Tổng kết lại quãng đời chiến đấu, Đinh Banh bị
thương tổng cộng 13 lần với hơn 20 vết thương trên
cơ thể, có nhiều vết thương nặng như hỏng một
mắt, vỡ xương hàm, xương chậu, thủng nhiều đoạn
ruột, đạn còn nằm trong ngực...
_____________
1. Xem “Nhiều lần bị thương, không rời tay súng”,
Tlđd.
ĐINH BANH
19
Đồng chí Đinh Banh được tặng thưởng 5 Huân
chương Chiến công giải phóng các hạng, 9 lần
được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Ngày 2012-1973, Đinh Banh được Chính phủ cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong
tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân giải phóng. Khi được tuyên dương Anh
hùng, đồng chí là Đại đội trưởng Đại đội 5 bộ
binh, Tiểu đoàn 20 bộ đội địa phương tỉnh Quảng
Ngãi, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
20
LÊ CẤP BẰNG
Anh hùng Lê Cấp Bằng sinh năm 1942, là
người dân tộc Mường, quê ở xã Phúc Thịnh, huyện
Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương
Anh hùng, đồng chí đang là đảng viên, Thượng sĩ,
Trung đội phó thuộc Đại đội 11 pháo cao xạ 37 ly,
Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 2841, Sư đoàn 367, Quân
chủng Phòng không - Không quân.
Từ năm 1966 đến năm 1969, Lê Cấp Bằng đã
tham gia chiến đấu trên 600 trận chống máy bay
Mỹ ở Hà Tĩnh, Quảng Bình. Ngày 14-8-1967, ở
Đất Đỏ (Quảng Trạch, Quảng Bình), nhiều tốp
máy bay địch đến oanh tạc trận địa. Là pháo thủ
số 4, Lê Cấp Bằng dũng cảm đứng thao tác, lấy
đường bay chính xác, bảo đảm cho khẩu đội phát
_____________
1. Xem Phạm Gia Đức, Lê Hải Triều, Phạm Lam,
Lê Đại Hiệp (Biên soạn): Anh hùng lực lượng vũ trang
(Các dân tộc thiểu số Việt Nam), Nxb. Văn hóa dân tộc,
Hà Nội, 1996, tr.219.
LÊ CẤP BẰNG
21
huy hỏa lực mạnh mẽ. Bị năm vết thương, trong
đó có một vết vào thái dương, đồng chí vẫn vững
vàng ở vị trí chiến đấu đến khi trận đánh kết
thúc, góp phần cùng đơn vị bắn rơi 2 máy bay F4
của giặc Mỹ1.
Ngày 11-9-1967, ở Kỳ Lâm (Kỳ Anh, Hà
Tĩnh), Lê Cấp Bằng vừa là pháo thủ số 4, lấy
đường bay, vừa chỉ huy khẩu đội phát huy hỏa
lực chính xác, góp phần bắn rơi một chiếc F4.
Trận đánh kéo dài, trong một đợt địch đánh
bom vào trận địa, đồng chí bị đất vùi lấp, chân
bị thương vẫn sát cánh cùng đồng đội đến hết
trận đánh.
Ngày 3-5-1969, tại Km50, đường 20, đồng chí
bị thương ở chân vẫn chỉ huy khẩu đội chiến đấu
cho đến khi trận đánh kết thúc. Trận này, khẩu
đội của đồng chí cùng khẩu đội bạn lập công xuất
sắc, phối hợp bắn rơi 2 máy bay F4 của địch.
Lê Cấp Bằng 30 tuổi quân đã chiến đấu gần
600 trận ở những nơi địch thường xuyên đánh phá
ác liệt2 như Hà Tĩnh, Quảng Bình. Trận nào đồng
_____________
1. Xem Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1994, t.3, tr.215.
2. Xem Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân 19691970-1971, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1972.
22
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
chí cũng bình tĩnh, mưu trí, dũng cảm, hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ1. Đồng chí được tặng
thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 lần
là Chiến sĩ thi đua và được tặng danh hiệu Chiến
sĩ quyết thắng. Ngày 22-12-1969, Lê Cấp Bằng
được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng
Lực lượng vũ trang nhân dân.
_____________
1. Xem Phạm Gia Đức, Lê Hải Triều, Phạm Lam,
Lê Đại Hiệp (Biên soạn): Anh hùng lực lượng vũ trang
(Các dân tộc thiểu số Việt Nam), Sđd, tr.216.
23
CAO VĂN BÉ
Anh hùng Cao Văn Bé (tức Cao Bé) sinh năm
1944, là người dân tộc Ra Glai, quê ở xã Ba, Cụm
2, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, nhập ngũ
tháng 9-1963. Khi được tuyên dương Anh hùng,
đồng chí là đảng viên, Thiếu úy, Đại đội trưởng
Đại đội 548 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh
Khánh Hòa.
Từ năm 1963 đến năm 1975, Cao Văn Bé trải
qua các nhiệm vụ chiến sĩ liên lạc, tiểu đội trưởng
trinh sát, trung đội trưởng, đại đội trưởng bộ
binh. Ở các cương vị, đồng chí đều hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ. Cao Văn Bé đã nhiều lần đưa
công văn, tài liệu, dẫn đường cho hàng trăm cán
bộ đến đích an toàn. Ngoài ra, đồng chí còn điều
tra, nắm chắc tình hình và cách bố phòng của
địch, phục vụ cho đơn vị chiến đấu. Cao Văn Bé
đã chiến đấu 30 trận, góp phần chỉ huy đơn vị,
diệt và làm bị thương hơn 500 tên địch, phá hủy
nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Riêng
anh đã diệt và làm bị thương hơn 150 tên, phá
hủy 8 xe quân sự, thu 11 súng.
24
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Năm 1966, địch đóng đồn và thường xuyên
phục kích, ngăn chặn, cắt đứt đường liên lạc giữa
khu Bắc và khu Nam của tỉnh. Cao Văn Bé xung
phong nhận nhiệm vụ bám địch, theo dõi hoạt
động của chúng, đồng chí đưa nhiều đoàn cán bộ
đi công tác giữa hai khu an toàn.
Năm 1968, một lần địch càn vào khu căn cứ,
trong lúc chúng đang triển khai đội hình bao bây
bệnh xá của ta, Cao Văn Bé dũng cảm, tìm mọi
cách vượt qua đội hình địch đến bệnh xá để truyền
lệnh của trên cho di chuyển vị trí. Sau đó, đồng chí
lại dẫn dường đưa cán bộ và chiến sĩ trong bệnh xá
vượt qua khỏi khu vực địch càn an toàn1.
Tháng 9-1971, Cao Văn Bé phụ trách một tổ
phục kích đoàn xe địch trên đường 21. Khi đoàn
xe lọt vào trận địa, anh bắn 2 quả đạn B40, phá
hủy 2 xe (có một chiếc chở xăng). Trong trận phục
kích bọn lính gác đường 21 ngày 11-1-1974, sau
khi dẫn đơn vị bố trí xong, thấy địch đứng gác quá
thưa, Cao Văn Bé động viên anh em chờ đến trưa
bọn địch tập trung dưới một gốc cây để ăn trưa
mới nổ súng, diệt 35 tên tại chỗ. Trận đánh này
làm bọn địch rất hoang mang, không dám đi gác
đoạn đường đó nữa.
_____________
1. Xem Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1995, t.5, tr.278.
CAO VĂN BÉ
25
Cao Văn Bé được tặng thưởng 1 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Nhì, 2 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Ba, 7 lần là Chiến sĩ
thi đua và Dũng sĩ, 11 bằng khen và giấy khen.
Ngày 6-11-1978, Cao Văn Bé được Nhà nước tặng
thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân.
26
LƯƠNG VĂN BIÊNG
Anh hùng Lương Văn Biêng sinh năm 1944,
là người dân tộc Mường, quê ở xã Nam Tiến,
huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ
tháng 7-1967. Khi được tuyên dương Anh hùng,
đồng chí là đảng viên, Tiểu đội trưởng Đại đội 19
công binh, Trung đoàn 33, Quân khu 7.
Từ năm 1968 đến năm 1974, Lương Văn Biêng
chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ. Lúc trực
tiếp đánh giặc, khi vận chuyển gạo, đạn hoặc chở
đò cho bộ đội qua sông, đồng chí đều hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ1. Cùng với tiểu đội, Lương Văn
Biêng đã tiêu diệt hàng trăm tên địch, chở hàng
trăm chuyến đò đưa bộ đội qua sông an toàn trong
điều kiện địch bắn phá ác liệt. Riêng Lương Văn
Biêng đã tiêu diệt 165 tên địch (68 tên lính Mỹ, 5
tên lính Úc), bắn cháy 2 xe tăng, phá hủy 1 kho
đạn. Trận đánh sân bay Tánh Linh (Bình Tuy)
tháng 6-1970, Lương Văn Biêng dẫn đầu một tổ
_____________
1. Xem Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Sđd, t.5, tr.95.
LƯƠNG VĂN BIÊNG
27
đánh thẳng vào khu sân bay địch. Ngay phút đầu
anh đã diệt 1 súng cối, 2 khẩu đại liên và làm nổ
1 kho đạn. Địch đông gấp bội và chống trả quyết
liệt, anh động viên tổ chiến đấu diệt gần hết một
đại đội Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện chiến
tranh khác, tạo điều kiện thuận lợi cho mũi đơn vị
bạn tiêu diệt khu Tánh Linh.
Tháng 8-1971, Lương Văn Biêng và đơn vị làm
công tác tuyên truyền ở một ấp chiến lược, xong
việc trở ra thì gặp đoàn xe vận tải của địch. Lương
Văn Biêng chỉ huy tổ chiến đấu diệt được 2 xe,
đánh lui nhiều đợt phản kích của chúng, diệt 30
tên địch. Riêng anh đã diệt được 17 tên. Từ tháng
6 đến tháng 8-1974, Lương Văn Biêng chỉ huy
trung đội đánh 4 trận, diệt hơn 100 tên địch trên
đường 1 và khu vực Bảo Ninh. Trận này anh diệt
được 21 tên, thu 6 súng các loại.
Lương Văn Biêng được tặng thưởng 1 Huân
chương Quân công giải phóng hạng Ba, 1 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Ba, 4 lần
được bầu là Chiến sĩ thi đua, 9 lần là Dũng sĩ,
được tặng 24 bằng khen, giấy khen. Ngày 15-11976, Lương Văn Biêng được Nhà nước tặng
thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân.
28
ALĂNG BIN
Anh hùng Alăng Bin sinh năm 1931, là người
dân tộc Xtiêng, quê ở xã Na De, huyện Giằng,
tỉnh Quảng Nam, nhập ngũ tháng 4-1960. Khi
được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng
viên, Thượng úy, Chính trị viên Huyện đội huyện
Giằng, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Từ năm 1954 đến năm 1960, Alăng Bin làm
chiến sĩ giao liên của đường dây giữa Trung ương
với Khu 5.
Từ năm 1961 đến tháng 4-1975, anh tham gia
chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong lực lượng vũ
trang huyện và tỉnh, đảm nhiệm nhiều cương vị
khác nhau: trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu
đoàn trưởng vận tải, chính trị viên huyện đội. Ở
cương vị nào Alăng Bin cũng hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ. Khi ở đơn vị chiến đấu, Alăng Bin đã chỉ
huy toàn đơn vị tiêu diệt 144 tên địch, thu và phá
hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Riêng anh diệt
29 tên địch, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, thu 4 súng.
Ngày 23-9-1965, Alăng Bin chỉ huy trung đội
bộ đội địa phương huyện (hầu hết là người dân tộc
ALĂNG BIN
29
thiểu số), chạy tắt rừng đón đánh quân địch đổ bộ
bằng máy bay lên thẳng xuống xã A Sào. Khi máy
bay vừa đổ quân, Alăng Bin dẫn đầu trung đội
xông vào đội hình địch, diệt 14 tên, bắn rơi 1 máy
bay lên thẳng trong đó có 11 tên địch. Khi làm tiểu
đoàn trưởng vận tải, ngoài việc tổ chức chỉ huy đơn
vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển hàng
đến nơi an toàn, Alăng Bin còn thường xuyên
mang vác từ 50-60kg. Những lúc đường sá khó
khăn (địch ngăn chặn, trời mưa, nước lũ không qua
suối được), anh trực tiếp tới tận nơi tìm cách giải
quyết1. Trong ba năm phụ trách vận tải, tiểu đoàn
do anh chỉ huy năm nào cũng hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ, vượt mức kế hoạch vận chuyển vũ khí,
gạo, kịp thời phục vụ cho các đơn vị chiến đấu.
Khi làm Chính trị viên Huyện đội, Alăng Bin
luôn sâu sát cơ sở và các xã, làm tốt công tác vận
động và xây dựng lực lượng dân quân du kích ở
các bản, làng. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Ba, 14 bằng
khen và giấy khen, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 11
lần đạt danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978,
Alăng Bin được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
_____________
1. Xem Phạm Gia Đức, Lê Hải Triều, Phạm Lam,
Lê Đại Hiệp (Bên soạn): Anh hùng lực lượng vũ trang
(Các dân tộc thiểu số Việt Nam), Sđd, tr.336.
30
BÙI VĂN BỊN
Anh hùng Bùi Văn Bịn (tức Bùi Văn Thế),
sinh năm 1949, là người dân tộc Mường, quê ở xã
Thọ Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa,
nhập ngũ tháng 7-1968. Khi được tuyên dương
Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung úy, Tiểu
đoàn phó Tiểu đoàn 4 bộ binh, Trung đoàn 24, Sư
đoàn 10, Quân đoàn 3.
Bùi Văn Bịn chiến đấu ở chiến trường Tây
Nguyên từ năm 1970 đến mùa xuân năm 1975.
Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, dù
ở cương vị nào anh cũng thể hiện tinh thần chiến
đấu dũng cảm, kiên quyết tấn công địch, hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ. Với 48 trận chiến đấu,
Bùi Văn Bịn góp phần chỉ huy đơn vị diệt gần
1.000 tên địch. Riêng anh diệt 53 tên, bắt sống 5
tên1. Ngày 10 và 11-3-1975, Bùi Văn Bịn chỉ huy
một đại đội đảm nhận hướng đột kích chủ yếu
_____________
1. Theo Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Sđd, t.5, tr.61, Bùi Văn
Bịn bắt sống 3 tên địch.
BÙI VĂN BỊN
31
đánh vào Sư đoàn bộ binh 23 ngụy ở Buôn Ma
Thuột. Địch ngoan cố chống cự, phản kháng kịch
liệt. Đơn vị của Bùi Văn Bịn bị thương vong một
số anh em, anh bình tĩnh đến từng trung đội,
động viên anh em, điều động tập trung hỏa lực, bố
trí lại lực lượng tiếp tục tiến công địch. Sau khi
diệt gần hết các hỏa điểm và xung phong vào khu
vực Sư đoàn bộ binh 23 ngụy, Bùi Văn Bịn bị
thương nặng nhưng vẫn cố gắng gượng dậy động
viên bộ đội xông lên diệt địch, làm chủ trận địa.
Đồng chí cùng đơn vị góp phần làm nên chiến
thắng Buôn Ma Thuột.
Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Ba, 2 lần được bầu là
Chiến sĩ thi đua, 2 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ, 5
lần được tặng bằng khen. Ngày 15-1-1976, Bùi
Văn Bịn được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
32
SIU BLÊH
Anh hùng Siu Blêh sinh năm 1944, là người
dân tộc Gia Rai, quê ở xã Ia Lang, huyện Đức Cơ,
tỉnh Gia Lai (tức xã E3, khu 5 Gia Lai trong
kháng chiến chống Mỹ), tham gia cách mạng năm
1963. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, cán bộ
đội công tác tỉnh Gia Lai.
Siu Blêh xuất thân trong một gia đình nông
dân nghèo ở địa phương có truyền thống yêu nước
và cách mạng. Đồng chí đã qua các cương vị đội
viên du kích, xã đội trưởng, cán bộ tuyên truyền
vũ trang của huyện và cán bộ đội công tác của
tỉnh... Ở cương vị nào Siu Blêh cũng khắc phục
mọi khó khăn, gian khổ thể hiện lòng quyết tâm
cao, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, công tác năng
động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Từ năm 1963 đến tháng 8-1969, Siu Blêh là
du kích xã đội trưởng1. Anh đã tham gia đánh 623
_____________
1. Xem Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Sđd, t.6, tr.347.
SIU BLÊH
33
trận, diệt và làm bị thương 143 tên địch, bắt 30
tên, phá hủy 2 xe tăng, 7 xe bọc thép, 6 xe GMC,
bắn rơi 6 máy bay.
Ngày 12-4-1967, một mình Siu Blêh phục kích
bắn máy bay bay thấp, chỉ với hai băng đạn đã
bắn rơi tại chỗ một máy bay lên thẳng, động viên
mạnh mẽ tinh thần toàn đội du kích thi đua bắn
máy bay địch. Đến cuối năm đó, đồng chí chỉ huy
đội du kích bắn rơi 2 chiếc máy bay đổ quân càn
quét, bắn hỏng một chiếc khác, đẩy lùi cuộc càn
quét của địch.
Ngày 15-7-1968, Siu Blêh được giao nhiệm vụ
tổ chức chống địch càn vào xã Lệ Thanh. Địch có
1.200 quân Mỹ và 80 xe tăng yểm trợ, nhưng anh
vẫn chỉ huy bố trí trận địa hợp lý sẵn sàng đánh
địch. Kết quả, ta đã phá hủy 4 xe tăng, diệt 39
tên, làm bị thương nhiều tên địch. Ngày thứ hai,
địch thay đổi chiến thuật cho bộ binh đi trước. Siu
Blêh đã chỉ huy du kích phục kích bắn chết 12
tên, làm bị thương 5 tên. Địch hoang mang vì chết
nhiều mà không phát hiện được du kích nên đã bỏ
chạy. Trong trận này, riêng anh đã diệt 16 tên,
phá hủy 2 xe tăng.
Bên cạnh đó, Siu Blêh còn tích cực xây dựng
lực lượng du kích xã, với 2 trung đội, 3 tiểu đội (cả
thiếu nhi và phụ nữ cũng tham gia chiến đấu
giỏi); đã tổ chức sáu đợt du kích phối hợp với nhân
dân phá ấp chiến lược; tích cực tăng gia sản xuất,
34
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
động viên gia đình đóng góp cho kháng chiến 18
gùi lúa.
Từ năm 1969 đến năm 1976, Siu Blêh đảm
nhiệm công tác trong đội tuyên truyền vũ trang
của huyện và đội công tác tỉnh. Đồng chí vừa chỉ
huy du kí...
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịch Hội đồng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO
CÁC TÁC GIẢ
NGUYỄN NGỌC THANH (Chủ biên)
NGUYỄN THẨM THU HÀ
HOÀNG THỊ HỎI
HỒ SỸ LẬP
SA THỊ THANH NGA
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Thế kỷ XX, đất nước ta đã phải trải qua các cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược, chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên
giới phía Bắc để bảo vệ Tổ quốc. Trong các cuộc chiến
tranh ấy, đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những
đóng góp vô cùng to lớn. Bất chấp hiểm nguy, đồng bào
các dân tộc thiểu số đã hòa mình vào công cuộc kháng
chiến kiến quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hàng vạn
thanh niên các dân tộc thiểu số đã lên đường nhập
ngũ, tham gia lực lượng dân quân tự vệ. Trong các bản
làng, bà con nuôi giấu và bảo vệ cán bộ, bộ đội; tham
gia tiễu phỉ, trừ gian, bố phòng chiến đấu, chống càn,
phục vụ hậu cần cho chiến trận. Từ đó đã xuất hiện
nhiều tấm gương trung kiên, tiêu biểu sẵn sàng xả
thân vì lý tưởng cách mạng, mãi mãi là niềm tự hào
của dân tộc. Nhiều chiến sĩ là người dân tộc thiểu số đã
được phong tặng, truy tặng danh hiệu cao quý Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong lao động, sản xuất cũng xuất hiện những
Anh hùng Lao động ở các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác
xã, công trường nông - lâm nghiệp,... là con em của
6
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
đồng bào dân tộc thiểu số. Họ tích cực tăng gia sản
xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,
cải thiện cuộc sống trên quê hương, đóng góp nghĩa vụ
với nhà nước, cổ vũ, khích lệ bà con dân tộc miền núi
cùng nhau đoàn kết vươn lên.
Trân trọng công lao, đóng góp của các Anh hùng Lực
lượng vũ trang, Anh hùng Lao động đối với sự nghiệp
bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách Anh hùng người
dân tộc thiểu số gồm 3 tập, do PGS.TS. Nguyễn Ngọc
Thanh - Trung tâm Thông tin văn hóa các dân tộc làm
chủ biên.
Nội dung cuốn sách không chỉ là sự tri ân đối với
các anh hùng dân tộc thiểu số mà còn có ý nghĩa giáo
dục truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và
lao động sản xuất đối với thế hệ trẻ ngày nay.
Để bạn đọc thuận tiện theo dõi, tên các nhân vật
được sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt. Tập 1 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái A đến chữ cái K; tập 2 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái L đến chữ cái S; tập 3 gồm
tên các nhân vật từ chữ cái T đến chữ cái Y.
Xin giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc.
Tháng 7 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
7
LỜI NÓI ĐẦU
Là một đất nước có diện tích không lớn, song
Việt Nam luôn phải hứng chịu những cuộc chiến
tranh khốc liệt trong suốt chiều dài lịch sử hàng
ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để có nền hòa
bình, độc lập ngày nay, biết bao xương máu của
thế hệ người con các dân tộc trên đất nước Việt
Nam đã phải đổ xuống. Trải qua các cuộc chiến
tranh, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường luôn
được thắp sáng trong mỗi người con đất Việt,
không kể vùng miền, thành phần dân tộc. Cũng
từ những cuộc chiến tranh đó, nhiều người con đã
trở thành những anh hùng, những tấm gương
sáng cho các thế hệ con em mai sau.
Trong thời kỳ lịch sử hiện đại, trải qua các
cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ xâm lược hay chiến tranh biên giới Tây Nam,
chiến tranh biên giới phía Bắc, nhiều tấm gương
anh dũng của các chiến sĩ trên khắp các mặt trận
đã được ghi nhận, trong số đó có nhiều chiến sĩ là
những người con của đồng bào các dân tộc thiểu
số. Trong mỗi cuộc chiến, ở các địa phương, lực
8
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
lượng dân quân tự vệ là người dân tộc thiểu số đã
phát triển nhanh. Hàng vạn thanh niên các dân
tộc lên đường nhập ngũ. Các chiến sĩ dân tộc
thiểu số đã hòa vào dòng người “Xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước”, đã vượt lên mất mát, hy sinh,
tham gia kháng chiến với nhiều hình thức phong
phú, cả trực tiếp và gián tiếp, cả ở vùng căn cứ,
vùng tự do cũng như vùng địch hậu; tham gia trừ
gian, bố phòng chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu
cần cho chiến trận. Trong chiến đấu, đồng bào các
dân tộc thiểu số luôn ngoan cường, lập nhiều
chiến công oanh liệt. Nhiều người đã hiến dâng cả
xương máu vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ
quốc. Cũng từ trong cuộc chiến đấu ấy, đã xuất
hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu biểu, mãi
mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam như các
anh hùng La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Nông Văn
Dền... cùng hàng vạn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh.
Nhiều chiến sĩ là người dân tộc thiểu số đã được
phong tặng danh hiệu “Anh hùng quân đội”,
“Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Trong các cuộc chiến tranh vĩ đại chống lại
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến tranh biên
giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc,
đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng miền núi
luôn tự hào bởi những điều thật đặc biệt: Đội Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của
Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng được
LỜI NÓI ĐẦU
9
thành lập giữa vùng miền núi Cao Bằng, với các
thành viên đa số là đồng bào các dân tộc thiểu
số. Anh hùng Lực lượng vũ trang đầu tiên của
Quân đội nhân dân Việt Nam là một người dân
tộc Tày - đồng chí La Văn Cầu. Chiến thắng
Điện Biên Phủ - chiến thắng quan trọng nhất và
là chiến thắng cuối cùng quyết định đánh bại
thực dân Pháp đã diễn ra ở vùng miền núi.
Chiến thắng Buôn Ma Thuột năm 1975 - chiến
thắng đầu tiên nhưng tạo điều kiện để Đảng ta
quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải
phóng miền Nam cũng xuất phát ở vùng đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên. Những minh chứng
đó khẳng định công lao và cống hiến của quân
dân đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn vùng
dân tộc miền núi - căn cứ địa cách mạng kháng
chiến của dân tộc đã đóng góp vô cùng to lớn vào
cuộc chiến đấu chung; là sự chia sẻ, gánh vác
trách nhiệm chung và đã góp phần vào thắng lợi
vẻ vang trước thử thách sống còn của đất nước
Việt Nam anh hùng.
Giờ đây, sau hơn 40 năm miền Nam giải phóng,
thống nhất đất nước, đồng bào các dân tộc thiểu số
đang chung tay cùng với đồng bào cả nước trong
công cuộc xây dựng đất nước trên mọi phương
diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
10
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Bộ sách Anh hùng người dân tộc thiểu số gồm
3 tập sẽ đem đến cho bạn đọc những thông tin cụ
thể về những người con ưu tú đại diện cho tinh
thần, ý chí chiến đấu bảo vệ và xây dựng quê
hương, đất nước của đồng bào các dân tộc thiểu
số. Biên soạn bộ sách này, chúng tôi hy vọng sẽ
đem đến cho bạn đọc những hiểu biết nhất định
về thân thế cũng như thành tích của các anh
hùng người dân tộc thiểu số. Qua đó, sẽ giúp cho
bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ thêm yêu Tổ quốc,
sống và cống hiến hết mình cho sự nghiệp phồn
vinh của đất nước.
Trong bộ sách này, chúng tôi sắp xếp tên các
anh hùng dân tộc thiểu số theo vần A, B, C,... để
tiện cho việc tra cứu thông tin của bạn đọc.
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng trong thu
thập các nguồn tư liệu, nhưng không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Ban biên soạn mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc
để bộ sách được hoàn thiện và đầy đủ hơn trong
lần xuất bản sau.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
BAN BIÊN SOẠN
11
HÀ VĂN ẮNG
Anh hùng liệt sĩ Hà Văn Ắng (Tương Phi) sinh
năm 1923, là người dân tộc Thái, quê ở xã Mường
Tranh, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Đồng chí
công tác tại Đại đội 168, Tiểu đoàn 105, Trung
đoàn 801.
Hà Văn Ắng sớm giác ngộ cách mạng và tham
gia hoạt động trong phong trào cách mạng ở quê
hương Mường Tranh. Tháng 8-1945, Hà Văn
Ắng cùng nhóm cách mạng Mường Tranh đấu
tranh giành chính quyền ở xã, tiến lên giành
chính quyền tại thị xã Sơn La. Sau cách mạng,
đồng chí tham gia vệ quốc đoàn Sơn La, giữ chức
Tiểu đội trưởng tiểu đội xung kích, cùng đồng đội
chiến đấu tại nhiều nơi như Tuần Giáo, Thuận
Châu, Yên Châu và chiến trường Lào.
_____________
1. Xem Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Hội
đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương: Chân dung anh
hùng thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Lao động, Nxb. Quân
đội nhân dân, Hà Nội, 2000, t.I.
12
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta
lần thứ hai, chúng dồn lực lượng tấn công các cơ
sở cách mạng của quân ta, trong đó có địa bàn
tỉnh Sơn La. Trong trận đánh ở cầu Hát Lót, Hà
Văn Ắng đã mưu trí chỉ huy tiểu đội tấn công và
dồn địch vào thế bị động. Trong trận này, lực
lượng cách mạng đã bắt sống được một quan Tây,
góp phần củng cố niềm tin trong quân và dân,
đồng thời có tác dụng răn đe kẻ thù1. Mùa đông
năm 1947, tiểu đội đồng chí phối hợp với tiểu đội
bạn phục kích bắt sống 3 tên địch, tiêu diệt một
số tên và thu nhiều vũ khí, đạn dược. Sau đó, Hà
Văn Ắng tiếp tục chỉ huy tiểu đội xung kích
chiến đấu và góp phần giành thắng lợi trên
nhiều mặt trận như: Pa Háng, Mường Sại, Vạn
Yên, Suối Đúc, Mường Lò, ngã ba Thu Cúc,...2.
Trải qua thực tế chiến đấu, lực lượng cách
mạng tại địa bàn tỉnh Sơn La đã lớn mạnh và
trưởng thành. Tháng 4-1948, Trung ương quyết
định thành lập đội Trung Dũng với nhiệm vụ
vừa tuyên truyền xây dựng căn cứ cách mạng
trong quần chúng nhân dân, vừa chiến đấu trên
mặt trận chống kẻ thù xâm lược. Hà Văn Ắng,
bí danh Tương Phi, được cử làm Tiểu đội trưởng
xung kích. Tháng 10-1948, Hà Văn Ắng chỉ huy
_____________
1, 2. Tư liệu tại bảo tàng tỉnh Sơn La.
HÀ VĂN ẮNG
13
tiểu đội đánh các trận Tạ Lương, Tú Nang đã
xóa sổ 1 đại đội địch, tiêu diệt 36 tên, bắt sống 4
tên Pháp, thu 36 khẩu súng trường và 2 súng
cối, nhiều đạn dược1.
Đội Trung Dũng hành quân lên Chiềng Khừa Mư Tươi xây dựng khu chiến đấu, địch phát hiện,
tổ chức lực lượng bao vây nhằm tiêu diệt đội.
Đoán trước ý định hành quân của địch, tiểu đội
của Hà Văn Ắng cùng với tiểu đội của Lò Văn Hắc
tổ chức lực lượng đánh phục kích địch ở Tô Buông.
Trận chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, kết quả
quân ta giành thắng lợi, xóa sổ 1 đại đội địch, tiêu
diệt 30 tên, thu 2 khẩu súng máy, 30 khẩu súng
trường cùng nhiều quân trang, quân dụng. Trải
qua thực tế chiến đấu, đội Trung Dũng đã trưởng
thành trên mọi mặt. Kẻ thù khiếp sợ khi nhắc đến
đội Trung Dũng với những cái tên Lộc Tài, Tương
Phi, Nam Hải2.
Đến tháng 7-1950, tiểu đội của Hà Văn Ắng
sáp nhập vào Đại đội 168, đồng chí vẫn giữ chức
Tiểu đội trưởng. Hà Văn Ắng đã chỉ huy tiểu đội
đánh nhiều trận trên địa bàn Tuần Giáo, Thuận
Châu, Yên Châu và chiến trường Lào..., với nhiều
_____________
1. Xem Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Hội
đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương: Chân dung
anh hùng thời đại Hồ Chí Minh, Sđd, t.I.
2. Tư liệu tại bảo tàng tỉnh Sơn La.
14
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
hình thức như phục kích, tập kích bắn tỉa, tiêu
hao sinh lực địch làm cho địch rất hoang mang,
lo sợ. Trong trận đánh Ly Khon (Lào), trước sự
phản công quyết liệt của quân địch, Hà Văn Ắng
đã dũng cảm ôm bộc phá xông thẳng vào dập tắt
hỏa lực địch và hy sinh ngay trên chiến trường,
tạo điều kiện cho đồng đội xông lên giải phóng
Ly Khon.
Tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí cùng
sự hy sinh anh dũng trên chiến trường của Hà
Văn Ắng đã trở thành tấm gương sáng cho đồng
đội và thế hệ sau noi theo. Với những thành tích
và chiến công xuất sắc giành được trên chiến
trường, ngày 11-6-1999, Hà Văn Ắng được Nhà
nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân. Tên của ông được đặt cho một
con phố ở thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, đoạn
đường từ Ngã tư Nông Trường đi vào chợ Trung
tâm Hát Lót.
15
ĐINH BANH
Anh hùng Đinh Banh sinh năm 1942, là người
dân tộc Hrê, quê ở xã Sơn Thượng, huyện Sơn Hà,
tỉnh Quảng Ngãi.
Đinh Banh tham gia cách mạng từ khi còn rất
trẻ, mới 16 tuổi đã xin vào du kích địa phương, 17
tuổi xung phong vào bộ đội, biên chế ở Trung đoàn
95, đóng quân ở xã Trà Niêu (huyện Trà Bồng lúc
bấy giờ). Năm 1960, đồng chí làm nhiệm vụ trinh
sát ở Tiểu đoàn D20 trực thuộc Quân khu 5, với
chức danh Trung đội trưởng. Sau đó, đồng chí giữ
chức Đại đội trưởng đại đội trinh sát ở Tỉnh đội
Quảng Ngãi1.
Trong 14 năm tham gia lực lượng vũ trang
nhân dân giải phóng ở địa phương, đồng chí đã
tham gia tới 200 trận, diệt 54 tên địch, thu 28
súng, phá hủy 1 xe quân sự, cụ thể:
_____________
1. “Thương tiếc Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân
dân Đinh Banh”, http://baoquangngai.vn/channel/2047/
201505/thuong-tiec-anh-hung-llvtnd-dinh-banh- 2388195/.
16
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Trận đánh Hòn Một (Quảng Ngãi) ngày 3112-1965, khi ta vừa mở đường xung phong thì
địch bắn ra dữ dội. Các mũi xung kích bị chặn lại
ngoài hàng rào, chỉ có mình Đinh Banh thọc sâu
vào chiếm được lô cốt đầu cầu rồi phát triển chiếm
luôn khu vực trụ cờ. Nhưng đến đây thì Đinh
Banh hết đạn, trên đường quay trở ra thì bị
thương ở đùi. Không kịp băng bó và cũng không
cho đại đội trưởng biết, đồng chí lấy giỏ lựu đạn
rồi khập khiễng chạy vào đánh tiếp, chiếm giữ
hẳn khu vực cột cờ và làm cho địch rối loạn, tạo
điều kiện cho các mũi tiến công của ta xông lên
san bằng cứ điểm, diệt gọn một đại đội địch1.
Trong trận đánh đồn Ba Tơ ngày 5-8-1968,
đơn vị trinh sát của Đinh Banh làm nhiệm vụ mở
đường để các đơn vị bộ binh vào phối hợp chiếm
đồn. Lúc đó, địch bị dồn vào thế chân tường,
chúng quyết tử thủ để chờ quân tiếp viện, dùng
hỏa lực bắn trả ta hết sức dữ dội. Với tinh thần
dũng cảm, mưu trí, Đinh Banh đã chỉ huy đại đội
chiến đấu ngoan cường, bản thân đồng chí sau khi
tiêu diệt được 3 tên địch đã bị một mảnh đạn
pháo bắn trúng vào phần lưng, hất cả cơ thể lên
_____________
1. Xem “Nhiều lần bị thương, không rời tay súng”
(Viết về Đại đội trưởng Đinh Banh, bộ đội địa phương
Quảng Ngãi), báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 113-1974.
ĐINH BANH
17
hàng rào kẽm gai. Sức mạnh của mảnh đạn làm
Đinh Banh bị thương nặng, thủng hai đoạn ruột,
cộng với xương chậu bị vỡ bởi trúng một viên đạn
khác. May nhờ có đồng đội kịp thời khiêng ra
tuyến sau cứu chữa, đồng chí vẫn sống sót và bình
phục sau ba tháng. Rời khỏi viện cùng tờ giấy của
bác sĩ ghi rằng “Đề nghị đơn vị bố trí công việc nhẹ,
hợp lý”, Đinh Banh giấu không cho ai biết việc
này, cùng đơn vị tiếp tục lao vào những trận chiến
căng thẳng1.
Ngày 29-2-1969, một đại đội biệt kích ngụy
lùng ra Đồi Cương, xã Sơn Hạ. Đinh Banh chỉ huy
12 chiến sĩ, chia thành ba mũi lặng lẽ tiến đánh
lên đồi vào giữa trưa. Bị địch phát hiện, các chiến
sĩ của ta buộc phải nổ súng giao chiến. Nhận thấy
kẻ địch có lợi thế khi ở trên cao bắn xuống, Đinh
Banh chủ động nạp đạn cho súng B40 và bắn
thẳng lên đồi, tiêu diệt ngay một lúc 6 tên (trong
đó có cả tên cố vấn Mỹ). Tình thế thay đổi hẳn,
các mũi quân của ta xông lên như gió lốc và diệt
gần hết cả một đại đội địch. Trận đó ta thu được
một máy bộ đàm cùng nhiều súng đạn và rời khỏi
trận địa an toàn2.
Trong năm 1969, Đinh Banh lại hai lần bị
thương trong các trận đánh bọn biệt kích tại
_____________
1, 2. Xem “Nhiều lần bị thương, không rời tay
súng”, Tlđd.
18
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Sơn Hà: một lần vào ngày 3-3 bị hai viên đạn
xuyên qua mông, và trận ngày 2-7 bị một viên
đạn xuyên ngực nằm lại trong phổi. Vết thương
chưa lành, sức khỏe giảm sút nhưng đồng chí vẫn
tiếp tục chiến đấu. Trong suốt đợt chống càn đánh
Trung đoàn 4 của ngụy đổ lên sông Tan, Nước
Biếc năm 1970, đồng chí đã cùng đơn vị cơ động
khắp vùng để ngăn chặn kẻ thù. Đặc biệt, đồng
chí đã chỉ huy mũi tập kích sở chỉ huy tiểu đoàn
địch tại Làng Đèo, cùng đơn vị tiêu diệt 40 tên
(trong đó có tên đại úy tiểu đoàn trưởng), thu 20
súng, 1 máy bộ đàm và khiến địch rút quân, bỏ dở
cuộc càn1.
Tháng 2-1973, một đại đội địch đánh lấn ra
vùng Tà Bua (Quảng Ngãi) thuộc khu vực đơn vị
Đinh Banh phụ trách. Đồng chí đã chỉ huy 18 anh
em nhanh chóng vận động đánh địch, diệt 47 tên,
thu 7 súng, giữ vững vùng giải phóng. Riêng đồng
chí diệt được 7 tên.
Tổng kết lại quãng đời chiến đấu, Đinh Banh bị
thương tổng cộng 13 lần với hơn 20 vết thương trên
cơ thể, có nhiều vết thương nặng như hỏng một
mắt, vỡ xương hàm, xương chậu, thủng nhiều đoạn
ruột, đạn còn nằm trong ngực...
_____________
1. Xem “Nhiều lần bị thương, không rời tay súng”,
Tlđd.
ĐINH BANH
19
Đồng chí Đinh Banh được tặng thưởng 5 Huân
chương Chiến công giải phóng các hạng, 9 lần
được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Ngày 2012-1973, Đinh Banh được Chính phủ cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong
tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân giải phóng. Khi được tuyên dương Anh
hùng, đồng chí là Đại đội trưởng Đại đội 5 bộ
binh, Tiểu đoàn 20 bộ đội địa phương tỉnh Quảng
Ngãi, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
20
LÊ CẤP BẰNG
Anh hùng Lê Cấp Bằng sinh năm 1942, là
người dân tộc Mường, quê ở xã Phúc Thịnh, huyện
Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương
Anh hùng, đồng chí đang là đảng viên, Thượng sĩ,
Trung đội phó thuộc Đại đội 11 pháo cao xạ 37 ly,
Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 2841, Sư đoàn 367, Quân
chủng Phòng không - Không quân.
Từ năm 1966 đến năm 1969, Lê Cấp Bằng đã
tham gia chiến đấu trên 600 trận chống máy bay
Mỹ ở Hà Tĩnh, Quảng Bình. Ngày 14-8-1967, ở
Đất Đỏ (Quảng Trạch, Quảng Bình), nhiều tốp
máy bay địch đến oanh tạc trận địa. Là pháo thủ
số 4, Lê Cấp Bằng dũng cảm đứng thao tác, lấy
đường bay chính xác, bảo đảm cho khẩu đội phát
_____________
1. Xem Phạm Gia Đức, Lê Hải Triều, Phạm Lam,
Lê Đại Hiệp (Biên soạn): Anh hùng lực lượng vũ trang
(Các dân tộc thiểu số Việt Nam), Nxb. Văn hóa dân tộc,
Hà Nội, 1996, tr.219.
LÊ CẤP BẰNG
21
huy hỏa lực mạnh mẽ. Bị năm vết thương, trong
đó có một vết vào thái dương, đồng chí vẫn vững
vàng ở vị trí chiến đấu đến khi trận đánh kết
thúc, góp phần cùng đơn vị bắn rơi 2 máy bay F4
của giặc Mỹ1.
Ngày 11-9-1967, ở Kỳ Lâm (Kỳ Anh, Hà
Tĩnh), Lê Cấp Bằng vừa là pháo thủ số 4, lấy
đường bay, vừa chỉ huy khẩu đội phát huy hỏa
lực chính xác, góp phần bắn rơi một chiếc F4.
Trận đánh kéo dài, trong một đợt địch đánh
bom vào trận địa, đồng chí bị đất vùi lấp, chân
bị thương vẫn sát cánh cùng đồng đội đến hết
trận đánh.
Ngày 3-5-1969, tại Km50, đường 20, đồng chí
bị thương ở chân vẫn chỉ huy khẩu đội chiến đấu
cho đến khi trận đánh kết thúc. Trận này, khẩu
đội của đồng chí cùng khẩu đội bạn lập công xuất
sắc, phối hợp bắn rơi 2 máy bay F4 của địch.
Lê Cấp Bằng 30 tuổi quân đã chiến đấu gần
600 trận ở những nơi địch thường xuyên đánh phá
ác liệt2 như Hà Tĩnh, Quảng Bình. Trận nào đồng
_____________
1. Xem Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1994, t.3, tr.215.
2. Xem Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân 19691970-1971, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1972.
22
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
chí cũng bình tĩnh, mưu trí, dũng cảm, hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ1. Đồng chí được tặng
thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 lần
là Chiến sĩ thi đua và được tặng danh hiệu Chiến
sĩ quyết thắng. Ngày 22-12-1969, Lê Cấp Bằng
được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng
Lực lượng vũ trang nhân dân.
_____________
1. Xem Phạm Gia Đức, Lê Hải Triều, Phạm Lam,
Lê Đại Hiệp (Biên soạn): Anh hùng lực lượng vũ trang
(Các dân tộc thiểu số Việt Nam), Sđd, tr.216.
23
CAO VĂN BÉ
Anh hùng Cao Văn Bé (tức Cao Bé) sinh năm
1944, là người dân tộc Ra Glai, quê ở xã Ba, Cụm
2, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, nhập ngũ
tháng 9-1963. Khi được tuyên dương Anh hùng,
đồng chí là đảng viên, Thiếu úy, Đại đội trưởng
Đại đội 548 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh
Khánh Hòa.
Từ năm 1963 đến năm 1975, Cao Văn Bé trải
qua các nhiệm vụ chiến sĩ liên lạc, tiểu đội trưởng
trinh sát, trung đội trưởng, đại đội trưởng bộ
binh. Ở các cương vị, đồng chí đều hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ. Cao Văn Bé đã nhiều lần đưa
công văn, tài liệu, dẫn đường cho hàng trăm cán
bộ đến đích an toàn. Ngoài ra, đồng chí còn điều
tra, nắm chắc tình hình và cách bố phòng của
địch, phục vụ cho đơn vị chiến đấu. Cao Văn Bé
đã chiến đấu 30 trận, góp phần chỉ huy đơn vị,
diệt và làm bị thương hơn 500 tên địch, phá hủy
nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Riêng
anh đã diệt và làm bị thương hơn 150 tên, phá
hủy 8 xe quân sự, thu 11 súng.
24
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
Năm 1966, địch đóng đồn và thường xuyên
phục kích, ngăn chặn, cắt đứt đường liên lạc giữa
khu Bắc và khu Nam của tỉnh. Cao Văn Bé xung
phong nhận nhiệm vụ bám địch, theo dõi hoạt
động của chúng, đồng chí đưa nhiều đoàn cán bộ
đi công tác giữa hai khu an toàn.
Năm 1968, một lần địch càn vào khu căn cứ,
trong lúc chúng đang triển khai đội hình bao bây
bệnh xá của ta, Cao Văn Bé dũng cảm, tìm mọi
cách vượt qua đội hình địch đến bệnh xá để truyền
lệnh của trên cho di chuyển vị trí. Sau đó, đồng chí
lại dẫn dường đưa cán bộ và chiến sĩ trong bệnh xá
vượt qua khỏi khu vực địch càn an toàn1.
Tháng 9-1971, Cao Văn Bé phụ trách một tổ
phục kích đoàn xe địch trên đường 21. Khi đoàn
xe lọt vào trận địa, anh bắn 2 quả đạn B40, phá
hủy 2 xe (có một chiếc chở xăng). Trong trận phục
kích bọn lính gác đường 21 ngày 11-1-1974, sau
khi dẫn đơn vị bố trí xong, thấy địch đứng gác quá
thưa, Cao Văn Bé động viên anh em chờ đến trưa
bọn địch tập trung dưới một gốc cây để ăn trưa
mới nổ súng, diệt 35 tên tại chỗ. Trận đánh này
làm bọn địch rất hoang mang, không dám đi gác
đoạn đường đó nữa.
_____________
1. Xem Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1995, t.5, tr.278.
CAO VĂN BÉ
25
Cao Văn Bé được tặng thưởng 1 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Nhì, 2 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Ba, 7 lần là Chiến sĩ
thi đua và Dũng sĩ, 11 bằng khen và giấy khen.
Ngày 6-11-1978, Cao Văn Bé được Nhà nước tặng
thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân.
26
LƯƠNG VĂN BIÊNG
Anh hùng Lương Văn Biêng sinh năm 1944,
là người dân tộc Mường, quê ở xã Nam Tiến,
huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ
tháng 7-1967. Khi được tuyên dương Anh hùng,
đồng chí là đảng viên, Tiểu đội trưởng Đại đội 19
công binh, Trung đoàn 33, Quân khu 7.
Từ năm 1968 đến năm 1974, Lương Văn Biêng
chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ. Lúc trực
tiếp đánh giặc, khi vận chuyển gạo, đạn hoặc chở
đò cho bộ đội qua sông, đồng chí đều hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ1. Cùng với tiểu đội, Lương Văn
Biêng đã tiêu diệt hàng trăm tên địch, chở hàng
trăm chuyến đò đưa bộ đội qua sông an toàn trong
điều kiện địch bắn phá ác liệt. Riêng Lương Văn
Biêng đã tiêu diệt 165 tên địch (68 tên lính Mỹ, 5
tên lính Úc), bắn cháy 2 xe tăng, phá hủy 1 kho
đạn. Trận đánh sân bay Tánh Linh (Bình Tuy)
tháng 6-1970, Lương Văn Biêng dẫn đầu một tổ
_____________
1. Xem Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Sđd, t.5, tr.95.
LƯƠNG VĂN BIÊNG
27
đánh thẳng vào khu sân bay địch. Ngay phút đầu
anh đã diệt 1 súng cối, 2 khẩu đại liên và làm nổ
1 kho đạn. Địch đông gấp bội và chống trả quyết
liệt, anh động viên tổ chiến đấu diệt gần hết một
đại đội Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện chiến
tranh khác, tạo điều kiện thuận lợi cho mũi đơn vị
bạn tiêu diệt khu Tánh Linh.
Tháng 8-1971, Lương Văn Biêng và đơn vị làm
công tác tuyên truyền ở một ấp chiến lược, xong
việc trở ra thì gặp đoàn xe vận tải của địch. Lương
Văn Biêng chỉ huy tổ chiến đấu diệt được 2 xe,
đánh lui nhiều đợt phản kích của chúng, diệt 30
tên địch. Riêng anh đã diệt được 17 tên. Từ tháng
6 đến tháng 8-1974, Lương Văn Biêng chỉ huy
trung đội đánh 4 trận, diệt hơn 100 tên địch trên
đường 1 và khu vực Bảo Ninh. Trận này anh diệt
được 21 tên, thu 6 súng các loại.
Lương Văn Biêng được tặng thưởng 1 Huân
chương Quân công giải phóng hạng Ba, 1 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Ba, 4 lần
được bầu là Chiến sĩ thi đua, 9 lần là Dũng sĩ,
được tặng 24 bằng khen, giấy khen. Ngày 15-11976, Lương Văn Biêng được Nhà nước tặng
thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân.
28
ALĂNG BIN
Anh hùng Alăng Bin sinh năm 1931, là người
dân tộc Xtiêng, quê ở xã Na De, huyện Giằng,
tỉnh Quảng Nam, nhập ngũ tháng 4-1960. Khi
được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng
viên, Thượng úy, Chính trị viên Huyện đội huyện
Giằng, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Từ năm 1954 đến năm 1960, Alăng Bin làm
chiến sĩ giao liên của đường dây giữa Trung ương
với Khu 5.
Từ năm 1961 đến tháng 4-1975, anh tham gia
chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong lực lượng vũ
trang huyện và tỉnh, đảm nhiệm nhiều cương vị
khác nhau: trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu
đoàn trưởng vận tải, chính trị viên huyện đội. Ở
cương vị nào Alăng Bin cũng hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ. Khi ở đơn vị chiến đấu, Alăng Bin đã chỉ
huy toàn đơn vị tiêu diệt 144 tên địch, thu và phá
hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Riêng anh diệt
29 tên địch, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, thu 4 súng.
Ngày 23-9-1965, Alăng Bin chỉ huy trung đội
bộ đội địa phương huyện (hầu hết là người dân tộc
ALĂNG BIN
29
thiểu số), chạy tắt rừng đón đánh quân địch đổ bộ
bằng máy bay lên thẳng xuống xã A Sào. Khi máy
bay vừa đổ quân, Alăng Bin dẫn đầu trung đội
xông vào đội hình địch, diệt 14 tên, bắn rơi 1 máy
bay lên thẳng trong đó có 11 tên địch. Khi làm tiểu
đoàn trưởng vận tải, ngoài việc tổ chức chỉ huy đơn
vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển hàng
đến nơi an toàn, Alăng Bin còn thường xuyên
mang vác từ 50-60kg. Những lúc đường sá khó
khăn (địch ngăn chặn, trời mưa, nước lũ không qua
suối được), anh trực tiếp tới tận nơi tìm cách giải
quyết1. Trong ba năm phụ trách vận tải, tiểu đoàn
do anh chỉ huy năm nào cũng hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ, vượt mức kế hoạch vận chuyển vũ khí,
gạo, kịp thời phục vụ cho các đơn vị chiến đấu.
Khi làm Chính trị viên Huyện đội, Alăng Bin
luôn sâu sát cơ sở và các xã, làm tốt công tác vận
động và xây dựng lực lượng dân quân du kích ở
các bản, làng. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Ba, 14 bằng
khen và giấy khen, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 11
lần đạt danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978,
Alăng Bin được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
_____________
1. Xem Phạm Gia Đức, Lê Hải Triều, Phạm Lam,
Lê Đại Hiệp (Bên soạn): Anh hùng lực lượng vũ trang
(Các dân tộc thiểu số Việt Nam), Sđd, tr.336.
30
BÙI VĂN BỊN
Anh hùng Bùi Văn Bịn (tức Bùi Văn Thế),
sinh năm 1949, là người dân tộc Mường, quê ở xã
Thọ Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa,
nhập ngũ tháng 7-1968. Khi được tuyên dương
Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung úy, Tiểu
đoàn phó Tiểu đoàn 4 bộ binh, Trung đoàn 24, Sư
đoàn 10, Quân đoàn 3.
Bùi Văn Bịn chiến đấu ở chiến trường Tây
Nguyên từ năm 1970 đến mùa xuân năm 1975.
Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, dù
ở cương vị nào anh cũng thể hiện tinh thần chiến
đấu dũng cảm, kiên quyết tấn công địch, hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ. Với 48 trận chiến đấu,
Bùi Văn Bịn góp phần chỉ huy đơn vị diệt gần
1.000 tên địch. Riêng anh diệt 53 tên, bắt sống 5
tên1. Ngày 10 và 11-3-1975, Bùi Văn Bịn chỉ huy
một đại đội đảm nhận hướng đột kích chủ yếu
_____________
1. Theo Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Sđd, t.5, tr.61, Bùi Văn
Bịn bắt sống 3 tên địch.
BÙI VĂN BỊN
31
đánh vào Sư đoàn bộ binh 23 ngụy ở Buôn Ma
Thuột. Địch ngoan cố chống cự, phản kháng kịch
liệt. Đơn vị của Bùi Văn Bịn bị thương vong một
số anh em, anh bình tĩnh đến từng trung đội,
động viên anh em, điều động tập trung hỏa lực, bố
trí lại lực lượng tiếp tục tiến công địch. Sau khi
diệt gần hết các hỏa điểm và xung phong vào khu
vực Sư đoàn bộ binh 23 ngụy, Bùi Văn Bịn bị
thương nặng nhưng vẫn cố gắng gượng dậy động
viên bộ đội xông lên diệt địch, làm chủ trận địa.
Đồng chí cùng đơn vị góp phần làm nên chiến
thắng Buôn Ma Thuột.
Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng Ba, 2 lần được bầu là
Chiến sĩ thi đua, 2 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ, 5
lần được tặng bằng khen. Ngày 15-1-1976, Bùi
Văn Bịn được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
32
SIU BLÊH
Anh hùng Siu Blêh sinh năm 1944, là người
dân tộc Gia Rai, quê ở xã Ia Lang, huyện Đức Cơ,
tỉnh Gia Lai (tức xã E3, khu 5 Gia Lai trong
kháng chiến chống Mỹ), tham gia cách mạng năm
1963. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, cán bộ
đội công tác tỉnh Gia Lai.
Siu Blêh xuất thân trong một gia đình nông
dân nghèo ở địa phương có truyền thống yêu nước
và cách mạng. Đồng chí đã qua các cương vị đội
viên du kích, xã đội trưởng, cán bộ tuyên truyền
vũ trang của huyện và cán bộ đội công tác của
tỉnh... Ở cương vị nào Siu Blêh cũng khắc phục
mọi khó khăn, gian khổ thể hiện lòng quyết tâm
cao, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, công tác năng
động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Từ năm 1963 đến tháng 8-1969, Siu Blêh là
du kích xã đội trưởng1. Anh đã tham gia đánh 623
_____________
1. Xem Nguyễn Mạnh Đẩu (Chủ biên): Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, Sđd, t.6, tr.347.
SIU BLÊH
33
trận, diệt và làm bị thương 143 tên địch, bắt 30
tên, phá hủy 2 xe tăng, 7 xe bọc thép, 6 xe GMC,
bắn rơi 6 máy bay.
Ngày 12-4-1967, một mình Siu Blêh phục kích
bắn máy bay bay thấp, chỉ với hai băng đạn đã
bắn rơi tại chỗ một máy bay lên thẳng, động viên
mạnh mẽ tinh thần toàn đội du kích thi đua bắn
máy bay địch. Đến cuối năm đó, đồng chí chỉ huy
đội du kích bắn rơi 2 chiếc máy bay đổ quân càn
quét, bắn hỏng một chiếc khác, đẩy lùi cuộc càn
quét của địch.
Ngày 15-7-1968, Siu Blêh được giao nhiệm vụ
tổ chức chống địch càn vào xã Lệ Thanh. Địch có
1.200 quân Mỹ và 80 xe tăng yểm trợ, nhưng anh
vẫn chỉ huy bố trí trận địa hợp lý sẵn sàng đánh
địch. Kết quả, ta đã phá hủy 4 xe tăng, diệt 39
tên, làm bị thương nhiều tên địch. Ngày thứ hai,
địch thay đổi chiến thuật cho bộ binh đi trước. Siu
Blêh đã chỉ huy du kích phục kích bắn chết 12
tên, làm bị thương 5 tên. Địch hoang mang vì chết
nhiều mà không phát hiện được du kích nên đã bỏ
chạy. Trong trận này, riêng anh đã diệt 16 tên,
phá hủy 2 xe tăng.
Bên cạnh đó, Siu Blêh còn tích cực xây dựng
lực lượng du kích xã, với 2 trung đội, 3 tiểu đội (cả
thiếu nhi và phụ nữ cũng tham gia chiến đấu
giỏi); đã tổ chức sáu đợt du kích phối hợp với nhân
dân phá ấp chiến lược; tích cực tăng gia sản xuất,
34
ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 1
động viên gia đình đóng góp cho kháng chiến 18
gùi lúa.
Từ năm 1969 đến năm 1976, Siu Blêh đảm
nhiệm công tác trong đội tuyên truyền vũ trang
của huyện và đội công tác tỉnh. Đồng chí vừa chỉ
huy du kí...
 









Các ý kiến mới nhất