AESOP BẤT HỦ TẬP 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:28' 16-01-2024
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:28' 16-01-2024
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
AESOP BẤT HỦ 2
First News
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Giám đốc - Tổng Biên tập
ĐINH THỊ THANH THỦY
Biên tập: Hàn Ngọc Lan
Trình bày & Bìa: Dương Mai
Sửa bản in: Ngọc Xuân
Tác giả: Aesop
Minh họa: Val Biro
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
62 Nguyễn Thị Minh Khai - Q.1 - TP.HCM
ĐT: 38225340 - 38296764 - 38247225 - Fax: 84.8.38222726
Email: tonghop@nxbhcm.com.vn
Sách online: www.nxbhcm.com.vn / Ebook: www.sachweb.vn
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 1
62 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM - ĐT: 38 256 804
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 2
86 - 88 Nguyễn Tất Thành, Q.4, TP.HCM - ĐT: 39 433 868
Thực hiện liên kết
Công ty TNHH Văn hóa Sáng tạo Trí Việt (First News)
11H Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Nghé, Q.1, TP. HCM
In 3.000 cuốn, khổ 19 x 26 cm tại Công ty TNHH In Thương
mại Trần Châu Phúc (509 Tân Hòa Đông, P. Bình Trị Đông, Q.
Bình Tân, TP. HCM). Xác nhận đăng ký xuất bản số: 4316-2019/
CXBIPH/02-337/THTPHCM ngày 29/10/2019 - QĐXB số: 1239/
QĐ-THTPHCM-2019 cấp ngày 01/11/2019. ISBN:
978-604-58-9923-6. In xong và nộp lưu chiểu quý IV/2019.
THE DONKEY AND THE
LAPDOG - LỪA VÀ CHÓ CẢNH
Once there was a man who had a house and a farm. The house was
lled with nice tables and chairs and the farm produced lots of lovely
things to eat. The man was very proud of his house and farm.
Xưa kia, có một người đàn ông sở hữu một ngôi nhà và một nông
trại. Ngôi nhà có những bộ bàn ghế xinh đẹp, còn nông trại thì cho
rất nhiều thức ăn ngon lành. Ông ấy rất tự hào về ngôi nhà và
trang trại của mình.
He also had a donkey and a lapdog. Both animals had four legs, but
otherwise they were very di erent.
Ông ấy cũng có một con lừa và một con chó cảnh. Cả hai đều có
bốn chân, còn mọi thứ khác thì rất khác biệt.
The donkey worked hard all day on the farm. He was very good at it.
He always had plenty of food and he slept in the stable at night.
Con lừa làm việc quần quật cả ngày trên nông trang. Nó làm việc
rất giỏi. Nó luôn được cho nhiều thức ăn và buổi tối thì được ngủ
trong chuồng của mình.
It was a warm and comfortable stable, but the donkey kept thinking
about the lapdog.
“I cart and carry all day long”, he said to himself, “while that silly
dog has an easy life with everybody making a fuss of him!”
Đó là một cái chuồng ấm áp và thoải mái, nhưng con lừa vẫn
không ngừng suy nghĩ về con chó cảnh.
“Mình kéo xe và chở nặng cả ngày dài”, nó tự nhủ, “trong khi con
chó ngớ ngẩn kia lại có một cuộc sống nhàn hạ và ai cũng cuống
quýt lên vì nó!”.
This was perfectly true because the lapdog played all day in the
house, and he was very good at it. So good, in fact, that everybody
fussed over and petted him and he didn't do a stroke of work.
Chuyện này hoàn toàn đúng bởi vì con chó chỉ chơi đùa cả ngày
trong nhà, và nó rất giỏi trong vụ này. Quá giỏi, thực tế là vậy, đến
nỗi tất cả mọi người rối rít cả lên và cưng nựng nó, và nó không
phải làm một việc gì cả.
He just enjoyed himself all day and he slept in a soft bed at night, a
real doggy bed, right by the side of his master.
Nó thoải mái tận hưởng cả ngày và buổi tối nó ngủ trên một chiếc
giường êm ái, một chiếc giường dành cho chó, ngay bên cạnh chủ
nhân của mình.
At mealtimes he would do what he could do best of all; he would sit
on people's laps. That's why he was called a lapdog. He sat on his
master's lap at dinner, and he had lovely things to eat. What a lucky
dog!
Đến giờ ăn nó sẽ làm điều mà nó giỏi nhất, nó ngồi vào lòng mọi
người. Vậy nên nó mới được gọi là chó cảnh. Nó ngồi vào lòng ông
chủ vào bữa ăn tối, và nó được cho ăn những thức ăn ngon lành.
Một con chó may mắn làm sao!
The donkey looked through the window and he was very jealous.
“That dog must be very clever,” he thought, “to have all that fussing
and petting and all that lovely food without having to do any work
for it.”
Con lừa giương mắt nhìn qua cửa sổ và nó vô cùng ghen tức. “Con
chó ấy hẳn rất thông minh”, con lừa nghĩ, “nên mới có được tất cả
sự săn đón và cưng nựng đó, và cả thức ăn ngon lành nữa, mà
chẳng phải làm một việc gì cả”.
The donkey said, “I wish I could be more like the dog. The farmer and
his wife would make a pet of me and I would do nothing but play all
day.”
So one day he trotted into the house and began to play just like the
dog.
Con lừa nói: “Ước gì mình giống con chó hơn. Bác nông dân và vợ
bác hẳn sẽ chăm mình như thú cưng và mình chẳng phải làm gì
ngoại trừ việc vui chơi cả ngày”.
Vậy là một ngày nọ, nó lon ton chạy vào nhà và bắt đầu hành xử
như con chó.
He jumped and capered around the room, but he upset the table and
chairs. He was far too big and clumsy. Soon the room was a mess.
“Never mind!” the donkey thought and he tried to bark just like the
little lapdog, but all he could say was “HEE-HAW!”
Nó nhảy nhót và phóng đi khắp căn phòng, nhưng nó lại làm đổ
ngã hết bàn ghế. Nó quá to lớn và vụng về. Căn phòng chẳng mấy
chốc trở thành đống hỗn độn.
“Thôi kệ!”, con lừa nghĩ và nó cố gắng sủa như một chú chó cảnh
bé bỏng, nhưng tất cả những gì nó có thể phát ra là “HEE-HAW!”.
Then he saw the lovely things to eat. He jumped up on his master's
lap, just like the dog.
“That should do the trick,” thought the donkey.
Và rồi nó thấy những món ăn ngon lành. Nó nhảy vào lòng ông
chủ của mình, như con chó đã làm.
“Chắc đó là bí quyết”, con lừa nghĩ.
“Now my master will fuss over me and pet me and give me lovely food
for being such a good lapdog.”
But not a bit of it. The master was very angry. He jumped up,
shouting, “You clumsy brute! What do you think you are doing?
You're a donkey, not a lapdog!”
“Giờ ông chủ sẽ rối rít lên vì mình và cưng nựng mình, và cho
mình thật nhiều đồ ăn ngon vì mình đã là một con chó ngoan
ngoãn.”
Nhưng hoàn toàn không phải vậy. Ông chủ đã rất giận dữ. Ông
nhảy dựng lên và hét: “Con vật vụng về này! Mày nghĩ mày đang
làm gì thế hả? Mày là một con lừa, không phải chó cảnh!”.
He grabbed a broom and chased the donkey back to the stable. The
master's wife ran after the donkey and the master, shaking her
rolling-pin, and the lapdog ran after them all!
Ông ta tóm lấy cái chổi và đánh đuổi con lừa trở về chuồng. Vợ
ông chạy theo sau con lừa và ông, vung vẩy cây chày cán bột, và
con chó thì chạy sau cùng!
“HEE-HAW, HEE-HAW!” brayed the donkey as he ran back to his
stable.
The donkey decided he had been silly to pretend to be a lapdog.
Lapdogs were silly and useless. It was better to be a donkey, doing
donkey work, eating donkey food, and sleeping in a donkey stable.
“HEE-HAW, HEE-HAW!”, con lừa vừa kêu vừa chạy trở về chuồng
của mình.
Con lừa kết luận rằng mình quá ngớ ngẩn khi giả vờ làm một con
chó cảnh. Chó cảnh thì ngốc nghếch và vô dụng. Làm một con lừa
vẫn tốt hơn, làm công việc của lừa, ăn thức ăn của lừa và ngủ
trong chuồng lừa vẫn tốt hơn.
“I am no good at being a lapdog,” said the donkey. “I will just be a
donkey.”
And he has been a donkey ever since, which is what he had been best
at being all along.
“Mình chẳng giỏi làm một con chó cảnh”, con lừa nói. “Mình sẽ cứ
làm một con lừa thôi.”
Và từ đó về sau, nó đã luôn làm một con lừa, điều mà nó luôn làm
tốt nhất.
THE MAN, HIS SON AND THE
ASS - NGƯỜI ĐÀN ÔNG, ĐỨA
CON TRAI VÀ CON LỪA
A man and his son were going to town. They wanted to -sell their ass
and, to make sure that he looked t and well, they decided to walk
behind him.
Một người đàn ông cùng đứa con trai của mình đi xuống thị trấn.
Họ muốn bán con lừa của mình, và để đảm bảo con lừa trông sung
sức và khỏe mạnh, họ quyết định đi bộ theo sau con lừa.
Riding him would have made the ass tired, so they walked one behind
the other. Their ass was walking in front of them.
Cưỡi lên con lừa có thể khiến nó mệt, nên họ đi bộ nối đuôi nhau.
Con lừa đi phía trước hai cha con.
They met some old women standing by the roadside. “Look at that!”
they said, “What a thoughtless man to let his poor son trudge along
the dusty road when there is a perfectly good ass to ride on. Let your
poor son ride!”
Họ gặp mấy bà lão đứng bên đường. “Nhìn kìa!”, mấy bà lão nói.
“Người đàn ông thiếu suy nghĩ làm sao mới để đứa con trai tội
nghiệp lê bước nặng nhọc trên con đường bụi bặm trong khi có
một con lừa khỏe mạnh để cưỡi. Hãy để đứa con trai tội nghiệp
của ông cưỡi con lừa đi!”.
The man thought it would please the old women if he did what they
told him. Otherwise they might think he was thoughtless.
So the son rode on the ass and the man walked in front. The man was
well pleased to have taken such good advice.
Ông ta nghĩ hẳn sẽ khiến mấy bà lão này vừa lòng nếu ông làm
theo những gì họ bảo. Nếu không họ có thể nghĩ ông là người
thiếu suy nghĩ.
Vậy là đứa con cưỡi lên con lừa, còn ông bước đi phía trước. Ông
cũng vui lòng nhận một lời khuyên tốt như vậy.
Soon they met some old men sitting by the roadside.
“Look at that!” they said. “What a sel sh boy. There, he is riding on
the ass while his old father is trudging along the dusty road. Let your
poor father ride!”
Không lâu sau, họ gặp mấy ông lão ngồi bên vệ đường. “Nhìn kìa!”,
họ nói. “Thật là một thằng bé ích kỷ. Đấy, nó cưỡi con lừa trong
khi người cha già của nó lê bước nặng nhọc trên con đường bụi
bặm. Hãy để người cha tội nghiệp của ngươi cưỡi con lừa đi!”
The son thought that it might please the old men if he did what they
told him, otherwise they might think he was sel sh.
So the man rode on the ass and the son walked in front. The son was
well pleased to have taken such good advice.
Đứa con nghĩ hẳn sẽ khiến mấy ông lão vừa lòng nếu nó làm theo
những gì họ bảo, nếu không họ có thể nghĩ nó là đứa ích kỷ.
Vậy là người đàn ông cưỡi lên con lừa, còn đứa con bước đi phía
trước. Đứa con cũng vui lòng nhận một lời khuyên tốt như vậy.
After a while they met some workmen by the roadside.
“Look at that!” said the workmen, laughing. “What a crazy pair! An
ass is made for two people to ride on, yet the boy is trudging along the
dusty road. You should both ride on that ass!”
Một lúc sau, họ gặp một nhóm thợ bên vệ đường. “Nhìn kìa!”, đám
thợ cười cợt nói. “Thật là một bộ đôi điên khùng. Một con lừa có
thể để hai người cưỡi lên, vậy mà đứa trẻ đang lê bước nặng nhọc
trên con đường bụi bặm. Cả hai người nên cùng cưỡi con lừa đó
đi!”
The man thought it would please the workmen if he did what they
said. Otherwise they might think he was crazy. So the man and his
son both rode on the ass.
Soon, the ass grew tired under the double weight and stumbled from
time to time as he trudged along.
Người đàn ông nghĩ hẳn sẽ khiến mấy người thợ vừa lòng nếu ông
làm theo những gì họ bảo. Nếu không họ có thể nghĩ ông ta điên
khùng. Vậy là người đàn ông và đứa con cùng cưỡi lên con lừa.
Chẳng mấy chốc, con lừa dần mệt lả dưới trọng lượng tăng gấp đôi
và nó vấp chân hết lần này đến lần khác khi lê bước nặng nhọc
trên đường.
Some children were playing by the roadside.
“Look at that,” they said. “What cruel people! They are both riding on
that poor ass who keeps stumbling along. It should be the other way
round! Let the poor ass ride!”
Có mấy đứa trẻ đang chơi đùa bên vệ đường. “Nhìn kìa”, đám trẻ
nói. “Thật là những con người tàn nhẫn! Cả hai cưỡi lên con lừa
đang không ngừng vấp chân bước đi. Nên đổi ngược lại! Hãy để
con lừa tội nghiệp cưỡi đi!”
“How ever could an ass ride?” wondered the man. But he thought he
should please the children, so he decided that somehow he and his son
would have to carry the ass. They got o , and the only way the man
could think of was to tie the ass's legs together over a pole. So the man
and his son carried the ass on a pole.
“Một con lừa thì cưỡi như thế nào được chứ?”, người đàn ông tự
hỏi. Nhưng ông ta nghĩ mình nên làm vừa lòng mấy đứa trẻ, vậy
nên ông ta quyết định kiểu gì đó ông và con trai mình sẽ khiêng
con lừa. Họ leo xuống, và cách duy nhất mà ông ấy nghĩ ra là cột
chân con lừa lại quanh một cây đòn. Thế là người đàn ông và đứa
con khiêng con lừa trên một cây đòn.
When they came to the town, everybody laughed at them. “Look at
that,” they cried. “Have you ever seen anything like it? They must be
quite mad, to carry an ass on a pole!”
Khi họ đến thị trấn, mọi người đều cười nhạo họ. “Nhìn kìa”, họ
reo lên. “Mọi người từng thấy chuyện gì giống thế này chưa? Họ
hẳn điên lắm mới khiêng một con lừa trên cây đòn!”
The ass did not like this and he kicked at the pole. He hated all that
noise and was tired of hanging upside down. The man and his son
were just crossing a bridge over a river when the ass started to kick.
Con lừa không thích như vậy và nó đá vào cây đòn. Nó ghét mọi sự
ồn ào đó và đã quá mệt mỏi vì bị treo ngược. Người đàn ông và đứa
con đang băng qua một cây cầu bắc qua sông khi con lừa bắt đầu
kháng cự.
He kicked so hard that the pole broke and the ass fell into the river.
Nó đá mạnh đến nỗi cây đòn bị gãy và con lừa rơi xuống sông.
And the man and his son fell into the river, too.
Splash! Splash!
What a calamity – all three splashing helplessly about in the water.
And all because the man and his son had tried too hard to please
everyone, and in the end had pleased no one!
Và người đàn ông cùng đứa con trai cũng rơi xuống nước luôn.
Tõm! Tõm!
Thật là một tai họa – cả ba bì bõm một cách bất lực dưới nước. Và
tất cả là bởi vì người đàn ông và đứa con đã quá cố gắng làm vừa
lòng mọi người, và đến cuối cùng chẳng làm vừa lòng ai cả!
THE MONKEY AND THE
FISHERMEN - CON KHỈ VÀ
NGƯỜI ĐÁNH CÁ
Once there was a monkey who lived in the trees. Most monkeys do,
because they like swinging from branch to branch. This monkey had
swung his way through every tree in the jungle.
Có một con khỉ sống trên những cái cây. Hầu hết loài khỉ đều như
vậy, vì chúng thích chuyền từ cành cây này sang cành cây khác.
Con khỉ này đã chuyền đi khắp mọi cành cây trong khu rừng.
But he liked the coconut trees best, because of the coconuts. He would
catch them as they fell, then throw them up and catch them until
they fell on the ground and burst. That was the best part because
then he could drink the delicious milk and eat the juicy white nut.
Nhưng nó thích những cây dừa nhất, vì nó thích quả của chúng.
Khi quả rụng, nó sẽ chụp lấy và quăng chúng lên, rồi lại chụp lấy
cho đến khi quả rơi xuống đất và vỡ ra. Đó là phần hay ho nhất bởi
vì khi đó nó có thể uống thứ nước quả ngon lành và ăn phần cơm
trắng.
One day he looked into the river below the tree. He saw the sh
swimming about and poking their noses into the air. He thought it
would be nice to have some sh for supper.
Một hôm nọ, nó nhìn xuống con sông bên dưới những cái cây. Nó
nhìn thấy lũ cá đang bơi quanh đó và ngoi lên mặt nước. Nó nghĩ
có mấy con cá cho bữa tối thì cũng hay.
“I wish I could catch some sh,” he said, “but I don't know how. They
don't fall o trees like coconuts do.”
“Ước gì mình có thể bắt vài con cá”, nó nói, “nhưng mình không
biết phải làm sao. Chúng không rơi khỏi những cái cây như mấy
quả dừa”.
Just then two shermen came along the riverbank. They were
carrying a big net between them. “Now, that is interesting. I wonder
what they're going to do with a net?” thought the monkey.
Vừa lúc đó, có hai người đánh cá cùng đi đến bờ sông. Họ vác một
tấm lưới lớn ở giữa.
“Giờ thì thú vị đây. Mình tự hỏi họ sẽ làm gì với một tấm lưới?”,
con khỉ ngẫm nghĩ.
“Perhaps it's for playing a game, like football or tennis?” The monkey
watched carefully to see what would happen next.
“Có thể nó được dùng để chơi trò gì đó, như bóng đá hoặc quần vợt
chẳng hạn?”. Con khỉ cẩn thận quan sát xem chuyện gì xảy ra tiếp
theo.
One of them crossed the river. Then the shermen stretched the net
from one side of the river to the other, and let it drop into the water.
When the monkey saw this he realised it wasnt a game after all. The
net was for catching the sh. What a good idea!
Một trong hai người băng qua sông. Sau đó, hai người đánh cá kéo
căng tấm lưới từ bờ bên này sang bờ bên kia, rồi thả nó xuống
nước.
Khi con khỉ nhìn thấy hành động đó, nó nhận ra rốt cuộc đây
không phải là một trò chơi. Tấm lưới là dùng để bắt cá. Thật là
một ý tưởng tuyệt vời!
The sherman who had crossed the river came back to his friend.
“We should catch lots of sh,” they said, and went o
shady spot round the bend of the river.
to wait in a
Người đánh cá đã băng qua sông kia quay trở lại với bạn mình.
“Chúng ta sẽ bắt được thật nhiều cá”, họ nói, và rồi họ rời đi, đến
đợi dưới một bóng râm cạnh khúc quanh của con sông.
At last the monkey knew about shing.
“I shall try it for myself,” he said, jumping down from the tree. “Why
didn't I think of it before? All I need is a net, and then I shall have all
the sh I want for my supper!” And o he went to nd a net.
Cuối cùng con khỉ đã biết cách bắt cá.
“Mình sẽ tự làm thử”, nó nói, nhảy xuống khỏi cái cây. “Sao trước
đây mình không nghĩ đến chuyện này chứ? Tất cả những gì mình
cần là một tấm lưới, và rồi mình sẽ có tất cả số cá mình muốn cho
bữa tối.” Và nó rời đi để tìm một tấm lưới.
He knew of an old hut nearby and ran to see what he could nd there.
Soon he found an old net and dragged it down to the river. It was very
heavy, but he didn't mind as he was too excited about shing and a
shy dinner.
Nó biết ở gần đấy có một túp lều cũ và nó chạy đến đó xem có tìm
được gì không. Nó nhanh chóng tìm thấy một tấm lưới cũ và nó
lôi tấm lưới về phía con sông. Tấm lưới rất nặng, nhưng con khỉ
chẳng bận tâm bởi vì nó vô cùng phấn khích với chuyện bắt cá và
một bữa tối đầy cá.
When he got back to his tree, he tried to do the same as the shermen
had done. He tied one end of the net to a large branch, then jumped
into the water with the net.
Khi nó quay trở lại cái cây của mình, nó cố gắng làm giống như
những gì mấy người đánh cá đã làm. Nó buộc một đầu tấm lưới
vào một cành cây lớn, rồi nhảy ùm xuống nước cùng với tấm lưới.
Poor monkey! He couldn't swim. The net wrapped itself round his
arms and legs and he struggled to get free, but he got so tangled
up that he nearly drowned.
Con khỉ tội nghiệp! Nó không biết bơi. Tấm lưới quấn quanh tay và
chân của nó, và nó vật lộn để thoát ra, nhưng nó bị rối đến nỗi sắp
chết đuối.
Just then the shermen came back. “Look!” said one of them. “There
is a big furry sh caught in the net! Did you ever see one like it?”
Vừa lúc đó những người đánh cá quay lại. “Nhìn kìa!”, một người
nói. “Có một con cá to đầy lông vướng vào lưới! Anh đã thấy cảnh
tượng như thế này bao giờ chưa?”
They laughed to see the silly monkey, but they pulled him out of the
river.
“Just remember,” said one of them to the monkey, “there's more to
catching sh than you think. You must learn about it rst, before you
try.”
Then the shermen walked o to see to their own net.
Họ bật cười khi nhìn thấy con khỉ ngốc nghếch, nhưng họ vẫn vớt
nó lên.
“Hãy nhớ rằng”, một người trong số họ nói với con khỉ, “để bắt cá
thì cần nhiều thứ hơn ngươi nghĩ. Ngươi phải học được chúng
trước khi cố thử”.
Sau đó, những người đánh cá bỏ đi để kiểm tra tấm lưới của họ.
Realising that what the shermen said was true, the monkey ran
back to his tree. “I am no good at catching sh,” he said, “I will just
catch the coconuts!” And from that day on, he has never been shing
again!
Nhận thức được những gì người đánh cá nói là đúng, con khỉ
phóng ngược trở lại cái cây của mình. “Mình không giỏi bắt cá”, nó
nói. “Mình sẽ chỉ bắt những quả dừa thôi!” Và từ ngày đó trở đi, nó
không bao giờ bắt cá nữa!
THE SICK LION - SƯ TỬ GIẢ
BỆNH
It was a hot day. Lion felt too tired to hunt for his dinner. He was
getting old and hunting was becoming more and more di cult,
especially on a day like this. But he was hungry so he sat down and
began to think.
Đó là một ngày nóng nực. Sư tử cảm thấy quá mệt mỏi không thể
đi săn cho bữa tối. Nó đang già đi và việc đi săn trở nên ngày càng
khó khăn hơn, đặc biệt là trong một ngày như thế này. Nhưng nó
đang rất đói, vậy nên nó ngồi lại và bắt đầu suy tính.
“How can I look for my dinner without all that running about?” he
asked himself. He spent a while deep in thought, and suddenly he had
an idea. Lion grinned a very wicked grin.
“Làm sao mình có thể tìm được bữa tối mà không cần đến mấy vụ
chạy đuổi nhỉ?”, nó tự hỏi. Nó trầm tư một lúc, và đột nhiên nó
nảy ra một ý tưởng. Con sư tử nở một nụ cười nhăn nhở hết cỡ.
“I know,” he said. “My dinner can come to me.”
He went into his den and when he came out again he was wearing his
pyjamas. Soon all the animals in the forest came to see what was
wrong with lion. They were careful not to get too close to him because
lions are dangerous animals.
“Mình biết rồi”, nó nói. “Bữa tối của mình có thể tự đến với mình.”
Nó đi vào hang và khi trở ra nó đã mặc lên mình một bộ py-ja-ma.
Chẳng bao lâu sau, toàn bộ thú rừng kéo đến để xem chuyện gì đã
xảy ra với con sư tử. Họ rất cẩn thận không đến gần nó, vì sư tử là
loài vật nguy hiểm.
Lion began to limp. Then he began to shiver, and then he mopped his
brow. When he was sure that all the animals were watching him, he
turned away. He pretended to be sick and went to bed in his den.
Con sư tử bắt đầu ra dáng đi khập khiễng. Rồi nó bắt đầu run rẩy,
và sau đó nó đưa chân lên lau trán. Khi đã chắc rằng toàn bộ thú
trong rừng đều đang nhìn mình, nó liền quay đi. Nó giả vờ bị bệnh
và quay trở lại chiếc giường trong hang.
The other animals felt sorry for him. “We must go and visit him,”
they said. They thought that a sick lion would not be so dangerous.
But clever fox had spied on lion and seen him grin his wicked grin.
Những con vật khác cảm thấy thương xót cho nó. “Chúng ta phải
đến và thăm hỏi anh ta”, chúng bảo. Chúng nghĩ rằng một con sư
tử đang bệnh sẽ không quá nguy hiểm. Nhưng con cáo thông
minh đã theo dõi con sư tử và nhìn thấy nụ cười xảo quyệt trên
mặt nó.
“Take care”, warned fox. “He might eat you.”
“Perhaps he's right. Maybe we should not visit lion,” said the others.
Rabbit, who was the most timid of all, scampered away and some of
the others ran after him.
“Cẩn thận đấy”, con cáo cảnh báo. “Hắn ta có thể ăn thịt các
ngươi.”
“Có lẽ cáo nói đúng đấy. Có lẽ chúng ta không nên đi thăm sư tử”,
những con thú khác nói. Thỏ, con vật nhút nhát nhất trong cả
đám, bèn chạy vụt đi và một số con vật khác cũng bỏ đi theo nó.
But cow was very brave. “You are such cowards,” she said. “Poor lion
is sick and I want to cheer him up.”
Nhưng chị bò thì rất dũng cảm. “Các ngươi thật quá nhát gan”, bò
nói. “Sư tử đáng thương kia đang bệnh và tôi muốn động viên anh
ta.”
So she went rst and knocked at the den door. “Come in, come in!”
called lion from his bed. He made his voice sound feeble, and the
darkness hid his wicked grin.
Vậy là chị ta xung phong đi trước và gõ cửa hang. “Vào đi, vào đi!”,
sư tử nằm trên giường lên tiếng. Nó làm ra giọng yếu ớt, và sự ám
muội ẩn giấu trong nụ cười quỷ quyệt của nó.
So cow went in, but she never came out. All the other animals said
how brave cow was, and did not notice that she never came out of the
den.
Vậy là chị bò đi vào, nhưng chị chẳng bao giờ trở ra. Tất cả con vật
tán dương chị bò quả thật là dũng cảm, và đã không để ý là chị ta
đã chẳng bao giờ trở ra khỏi cái hang.
The next day pig said, “I will copy cow and show that I am brave,”
and he followed cow's footprints into lion's den.
The others saw pig go in through the den door, leaving his own
footprints in the sand. The rest of the animals wondered who else
would be as brave as pig.
Ngày hôm sau, lợn nói: “Tôi sẽ làm theo chị bò và cho thấy là tôi
cũng dũng cảm”. Và nó theo dấu chân chị bò đi vào hang sư tử.
Những con vật khác nhìn thấy lợn đi qua cửa hang, để lại dấu
chân của chính nó trên nền đất. Những con vật còn lại tự hỏi còn
có ai can đảm giống như lợn.
Goat went in next, to copy pig. But neither goat nor pig came out
again. Only their footprints remained in the sand.
Rabbit and duck were still afraid to go into lion's den but rabbit said,
“I am not really a coward. I will copy goat and go in, but I will wait
until tomorrow.”
Tiếp theo là dê đi vào hang, làm theo lợn. Nhưng cả dê và lợn
chẳng con nào trở ra lại. Chỉ có dấu chân chúng còn lưu lại trên
mặt đất. Thỏ và vịt vẫn e ngại đi vào hang sư tử, nhưng thỏ nói:
“Tôi không hẳn là một kẻ hèn nhát. Tôi sẽ làm theo dê và đi vào
hang, nhưng tôi sẽ đợi đến ngày mai đã”.
The next day, rabbit went into the den to copy goat, and duck
waddled after to copy rabbit. Nobody saw them again.
Hôm sau, thỏ bắt chước dê đi vào hang, và vịt lạch bạch theo sau
bắt chước thỏ. Không ai còn nhìn thấy họ lần nào nữa.
Clever fox was watching everything from a distance. He had seen all
the animals go into the den to cheer up the sick lion.
“Lion must be feeling very cheerful by now”, he thought, “with all his
dinners walking in like that.”
Cáo thông minh quan sát tất cả từ xa. Nó nhìn thấy tất cả những
con vật đi vào hang để động viên con sư tử bệnh.
“Lúc này thì sư tử hẳn đang cảm thấy vô cùng khoái trá”, cáo nghĩ,
“khi tất cả bữa ăn của nó tự động đến như thế”.
Fox stood by the door and called, “How are you, lion?” Lion was
delighted to hear the voice of another visitor. He licked his lips and
grinne his wicked grin, but he made his voice sound very feeble.
Cáo đứng trước cửa và gọi: “Anh thế nào rồi, sư tử?”. Con sư tử
phấn khởi khi nghe giọng của một khách viếng khác. Nó liếm mép
và nở nụ cười quỷ quyệt của mình, nhưng nó giả vờ làm giọng yếu
ớt.
“Very poorly,” said lion. “Why don't you come in, my friend?” Lion
hoped that fox would copy all the other animals and come in to be
eaten, but fox was too clever for that. He stood by the door and
looked at the footprints in the sand.
“Tệ lắm”, sư tử nói. “Sao anh không vào đây đi, bạn thân mến?” Sư
tử hy vọng cáo sẽ làm theo những con vật khác và bước vào để bị
ăn thịt, nhưng cáo quá thông minh để không làm vậy. Nó đứng
ngoài cửa và nhìn những dấu chân trên nền cát.
Fox said, “Because I am not a copycat! I see all these footprints going
in, but none coming OUT!”
Fox was too clever to follow all the other animals into the den to be
eaten by the lion, and he went away.
So lion had no dinner that day.
Cáo nói: “Bởi vì tôi không phải là một kẻ bắt chước! Tôi nhìn thấy
tất cả những dấu chân đi vào nhưng không hề đi ra này!”.
Cáo quá thông minh nên không làm theo những con thú khác đi
vào trong hang và bị sư tử ăn thịt, và nó bỏ đi.
Vậy là hôm đó sư tử không có bữa tối nào cả.
THE TOWN MOUSE AND THE
COUNTRY MOUSE - CHUỘT PHỐ
VÀ CHUỘT ĐỒNG
A poor country mouse lived in a ditch. It was just an -ordinary ditch,
but he had made it quite comfortable.
Có một con chuột đồng đói khổ nọ sống trong một cái hang. Đó
chỉ là một cái hang bình thường, nhưng con chuột đã biến nó
thành nơi khá thoải mái.
He enjoyed the peace of the countryside all around him, because he
was just an ordinary country mouse.
One day he wrote to the rich town mouse and asked him to dinner. It
would be nice to see his old friend again, he thought, and he was sure
the town mouse would enjoy the peace and quiet of the countryside.
So he tidied up the ditch, prepared a dinner and waited for his friend
to arrive.
Nó tận hưởng sự yên bình của vùng quê xung quanh mình, bởi vì
nó chỉ là một con chuột đồng bình dị.
Một ngày nọ, nó viết thư cho con chuột phố giàu có và mời con
chuột kia đến cùng ăn tối. Gặp lại người bạn cũ thì cũng hay lắm,
nó nghĩ vậy, và nó chắc rằng chuột phố cũng sẽ thích thú sự yên
bình và tĩnh lặng của vùng quê. Vậy là nó dọn dẹp cái hang, chuẩn
bị bữa tối và đợi bạn mình tới thăm.
The town mouse came. He was very rich and dressed in expensive
clothes.
The town mouse and the country mouse sat down to eat a dinner of
barleycorn and roots. The town mouse tried a few nibbles but he did
not like the dinner and he did not like the country.
Rồi chàng chuột phố cũng đã đến. Nó giàu có và ăn vận quần áo
đắt tiền. Chuột phố và chuột đồng cùng ngồi xuống và ăn bữa tối
với hạt lúa mạch và rễ cây. Chuột phố cũng thử gặm một chút
nhưng nó không thích bữa ăn này và nó không thích vùng quê.
At last the town mouse said, “The country is dull. My poor friend,
you only eat roots and corn. You should see how I live! You must come
to my house in town.”
The country mouse had heard exciting tales about town life and the
wonderful food to be found there.
Cuối cùng, chuột phố nói: “Thôn quê tẻ nhạt quá. Người bạn tội
nghiệp của tôi, anh chỉ ăn rễ và bắp thôi. Anh nên thấy tôi sống
thế nào! Anh nên đến thăm nhà tôi ở phố thị đi”.
Chuột đồng đã nghe những câu chuyện hấp dẫn về cuộc sống ở
phố thị và về những loại thức ăn tuyệt vời ở đó.
The country mouse said, “Thank you for your invitation. I would
enjoy the town for a change.”
So the town mouse and the country mouse went to town.
Chuột đồng nói: “Cảm ơn lời mời của anh. Tôi sẽ tận hưởng
chuyến thăm phố thị để thay đổi một chút”.
Vậy là chuột phố và chuột đồng cùng đi về phố thị.
The country mouse had never seen so many houses before. They
hurried past many ne buildings until they came to the largest house
in the street.
“This is my house,” said the town mouse proudly.
Trước giờ chuột đồng chưa bao giờ nhìn thấy nhiều ngôi nhà như
vậy. Chúng đi vội vã qua nhiều tòa nhà đẹp đẽ cho tới khi đến căn
nhà lớn nhất con phố.
“Đây là nhà tôi”, chuột phố tự hào nói.
The town mouse took his friend into the larder. The country mouse
saw at once that there was plenty of food in the house. He had never
seen anything like it. There was cheese and honey, gs and apples,
nuts and dates.
Chuột phố dẫn bạn mình vào chạn thức ăn. Chuột đồng thấy ngay
là trong nhà có rất nhiều thức ăn. Nó chưa bao giờ nhìn thấy cảnh
tượng nào như vậy cả. Có pho mát, mật ong, quả sung và táo, mấy
quả hạch và quả chà là nữa.
“This is better than barleycorn and roots,” thought the country
mouse.
The town mouse and the country mouse sat down to dinner. The
country mouse was very hungry and he reached out for a piece of
cheese.
“Thứ này ngon lành hơn hạt lúa mạch và rễ cây nhiều”, chuột
đồng nghĩ.
Chúng ngồi xuống cùng ăn bữa tối. Chuột đồng rất đói và nó với
lấy một miếng pho mát.
Just then a man came in. He was carrying a broom and he was about
to sweep up the food when he saw the two mice.
He shouted out: “Rover! There are some mice in this larder! Come on,
boy! Catch them!”
Vừa lúc đó một người đàn ông bước đến. Ông ta cầm theo một cây
chổi và ông chuẩn bị quét chỗ thức ăn đi...
First News
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Giám đốc - Tổng Biên tập
ĐINH THỊ THANH THỦY
Biên tập: Hàn Ngọc Lan
Trình bày & Bìa: Dương Mai
Sửa bản in: Ngọc Xuân
Tác giả: Aesop
Minh họa: Val Biro
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
62 Nguyễn Thị Minh Khai - Q.1 - TP.HCM
ĐT: 38225340 - 38296764 - 38247225 - Fax: 84.8.38222726
Email: tonghop@nxbhcm.com.vn
Sách online: www.nxbhcm.com.vn / Ebook: www.sachweb.vn
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 1
62 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM - ĐT: 38 256 804
NHÀ SÁCH TỔNG HỢP 2
86 - 88 Nguyễn Tất Thành, Q.4, TP.HCM - ĐT: 39 433 868
Thực hiện liên kết
Công ty TNHH Văn hóa Sáng tạo Trí Việt (First News)
11H Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Nghé, Q.1, TP. HCM
In 3.000 cuốn, khổ 19 x 26 cm tại Công ty TNHH In Thương
mại Trần Châu Phúc (509 Tân Hòa Đông, P. Bình Trị Đông, Q.
Bình Tân, TP. HCM). Xác nhận đăng ký xuất bản số: 4316-2019/
CXBIPH/02-337/THTPHCM ngày 29/10/2019 - QĐXB số: 1239/
QĐ-THTPHCM-2019 cấp ngày 01/11/2019. ISBN:
978-604-58-9923-6. In xong và nộp lưu chiểu quý IV/2019.
THE DONKEY AND THE
LAPDOG - LỪA VÀ CHÓ CẢNH
Once there was a man who had a house and a farm. The house was
lled with nice tables and chairs and the farm produced lots of lovely
things to eat. The man was very proud of his house and farm.
Xưa kia, có một người đàn ông sở hữu một ngôi nhà và một nông
trại. Ngôi nhà có những bộ bàn ghế xinh đẹp, còn nông trại thì cho
rất nhiều thức ăn ngon lành. Ông ấy rất tự hào về ngôi nhà và
trang trại của mình.
He also had a donkey and a lapdog. Both animals had four legs, but
otherwise they were very di erent.
Ông ấy cũng có một con lừa và một con chó cảnh. Cả hai đều có
bốn chân, còn mọi thứ khác thì rất khác biệt.
The donkey worked hard all day on the farm. He was very good at it.
He always had plenty of food and he slept in the stable at night.
Con lừa làm việc quần quật cả ngày trên nông trang. Nó làm việc
rất giỏi. Nó luôn được cho nhiều thức ăn và buổi tối thì được ngủ
trong chuồng của mình.
It was a warm and comfortable stable, but the donkey kept thinking
about the lapdog.
“I cart and carry all day long”, he said to himself, “while that silly
dog has an easy life with everybody making a fuss of him!”
Đó là một cái chuồng ấm áp và thoải mái, nhưng con lừa vẫn
không ngừng suy nghĩ về con chó cảnh.
“Mình kéo xe và chở nặng cả ngày dài”, nó tự nhủ, “trong khi con
chó ngớ ngẩn kia lại có một cuộc sống nhàn hạ và ai cũng cuống
quýt lên vì nó!”.
This was perfectly true because the lapdog played all day in the
house, and he was very good at it. So good, in fact, that everybody
fussed over and petted him and he didn't do a stroke of work.
Chuyện này hoàn toàn đúng bởi vì con chó chỉ chơi đùa cả ngày
trong nhà, và nó rất giỏi trong vụ này. Quá giỏi, thực tế là vậy, đến
nỗi tất cả mọi người rối rít cả lên và cưng nựng nó, và nó không
phải làm một việc gì cả.
He just enjoyed himself all day and he slept in a soft bed at night, a
real doggy bed, right by the side of his master.
Nó thoải mái tận hưởng cả ngày và buổi tối nó ngủ trên một chiếc
giường êm ái, một chiếc giường dành cho chó, ngay bên cạnh chủ
nhân của mình.
At mealtimes he would do what he could do best of all; he would sit
on people's laps. That's why he was called a lapdog. He sat on his
master's lap at dinner, and he had lovely things to eat. What a lucky
dog!
Đến giờ ăn nó sẽ làm điều mà nó giỏi nhất, nó ngồi vào lòng mọi
người. Vậy nên nó mới được gọi là chó cảnh. Nó ngồi vào lòng ông
chủ vào bữa ăn tối, và nó được cho ăn những thức ăn ngon lành.
Một con chó may mắn làm sao!
The donkey looked through the window and he was very jealous.
“That dog must be very clever,” he thought, “to have all that fussing
and petting and all that lovely food without having to do any work
for it.”
Con lừa giương mắt nhìn qua cửa sổ và nó vô cùng ghen tức. “Con
chó ấy hẳn rất thông minh”, con lừa nghĩ, “nên mới có được tất cả
sự săn đón và cưng nựng đó, và cả thức ăn ngon lành nữa, mà
chẳng phải làm một việc gì cả”.
The donkey said, “I wish I could be more like the dog. The farmer and
his wife would make a pet of me and I would do nothing but play all
day.”
So one day he trotted into the house and began to play just like the
dog.
Con lừa nói: “Ước gì mình giống con chó hơn. Bác nông dân và vợ
bác hẳn sẽ chăm mình như thú cưng và mình chẳng phải làm gì
ngoại trừ việc vui chơi cả ngày”.
Vậy là một ngày nọ, nó lon ton chạy vào nhà và bắt đầu hành xử
như con chó.
He jumped and capered around the room, but he upset the table and
chairs. He was far too big and clumsy. Soon the room was a mess.
“Never mind!” the donkey thought and he tried to bark just like the
little lapdog, but all he could say was “HEE-HAW!”
Nó nhảy nhót và phóng đi khắp căn phòng, nhưng nó lại làm đổ
ngã hết bàn ghế. Nó quá to lớn và vụng về. Căn phòng chẳng mấy
chốc trở thành đống hỗn độn.
“Thôi kệ!”, con lừa nghĩ và nó cố gắng sủa như một chú chó cảnh
bé bỏng, nhưng tất cả những gì nó có thể phát ra là “HEE-HAW!”.
Then he saw the lovely things to eat. He jumped up on his master's
lap, just like the dog.
“That should do the trick,” thought the donkey.
Và rồi nó thấy những món ăn ngon lành. Nó nhảy vào lòng ông
chủ của mình, như con chó đã làm.
“Chắc đó là bí quyết”, con lừa nghĩ.
“Now my master will fuss over me and pet me and give me lovely food
for being such a good lapdog.”
But not a bit of it. The master was very angry. He jumped up,
shouting, “You clumsy brute! What do you think you are doing?
You're a donkey, not a lapdog!”
“Giờ ông chủ sẽ rối rít lên vì mình và cưng nựng mình, và cho
mình thật nhiều đồ ăn ngon vì mình đã là một con chó ngoan
ngoãn.”
Nhưng hoàn toàn không phải vậy. Ông chủ đã rất giận dữ. Ông
nhảy dựng lên và hét: “Con vật vụng về này! Mày nghĩ mày đang
làm gì thế hả? Mày là một con lừa, không phải chó cảnh!”.
He grabbed a broom and chased the donkey back to the stable. The
master's wife ran after the donkey and the master, shaking her
rolling-pin, and the lapdog ran after them all!
Ông ta tóm lấy cái chổi và đánh đuổi con lừa trở về chuồng. Vợ
ông chạy theo sau con lừa và ông, vung vẩy cây chày cán bột, và
con chó thì chạy sau cùng!
“HEE-HAW, HEE-HAW!” brayed the donkey as he ran back to his
stable.
The donkey decided he had been silly to pretend to be a lapdog.
Lapdogs were silly and useless. It was better to be a donkey, doing
donkey work, eating donkey food, and sleeping in a donkey stable.
“HEE-HAW, HEE-HAW!”, con lừa vừa kêu vừa chạy trở về chuồng
của mình.
Con lừa kết luận rằng mình quá ngớ ngẩn khi giả vờ làm một con
chó cảnh. Chó cảnh thì ngốc nghếch và vô dụng. Làm một con lừa
vẫn tốt hơn, làm công việc của lừa, ăn thức ăn của lừa và ngủ
trong chuồng lừa vẫn tốt hơn.
“I am no good at being a lapdog,” said the donkey. “I will just be a
donkey.”
And he has been a donkey ever since, which is what he had been best
at being all along.
“Mình chẳng giỏi làm một con chó cảnh”, con lừa nói. “Mình sẽ cứ
làm một con lừa thôi.”
Và từ đó về sau, nó đã luôn làm một con lừa, điều mà nó luôn làm
tốt nhất.
THE MAN, HIS SON AND THE
ASS - NGƯỜI ĐÀN ÔNG, ĐỨA
CON TRAI VÀ CON LỪA
A man and his son were going to town. They wanted to -sell their ass
and, to make sure that he looked t and well, they decided to walk
behind him.
Một người đàn ông cùng đứa con trai của mình đi xuống thị trấn.
Họ muốn bán con lừa của mình, và để đảm bảo con lừa trông sung
sức và khỏe mạnh, họ quyết định đi bộ theo sau con lừa.
Riding him would have made the ass tired, so they walked one behind
the other. Their ass was walking in front of them.
Cưỡi lên con lừa có thể khiến nó mệt, nên họ đi bộ nối đuôi nhau.
Con lừa đi phía trước hai cha con.
They met some old women standing by the roadside. “Look at that!”
they said, “What a thoughtless man to let his poor son trudge along
the dusty road when there is a perfectly good ass to ride on. Let your
poor son ride!”
Họ gặp mấy bà lão đứng bên đường. “Nhìn kìa!”, mấy bà lão nói.
“Người đàn ông thiếu suy nghĩ làm sao mới để đứa con trai tội
nghiệp lê bước nặng nhọc trên con đường bụi bặm trong khi có
một con lừa khỏe mạnh để cưỡi. Hãy để đứa con trai tội nghiệp
của ông cưỡi con lừa đi!”.
The man thought it would please the old women if he did what they
told him. Otherwise they might think he was thoughtless.
So the son rode on the ass and the man walked in front. The man was
well pleased to have taken such good advice.
Ông ta nghĩ hẳn sẽ khiến mấy bà lão này vừa lòng nếu ông làm
theo những gì họ bảo. Nếu không họ có thể nghĩ ông là người
thiếu suy nghĩ.
Vậy là đứa con cưỡi lên con lừa, còn ông bước đi phía trước. Ông
cũng vui lòng nhận một lời khuyên tốt như vậy.
Soon they met some old men sitting by the roadside.
“Look at that!” they said. “What a sel sh boy. There, he is riding on
the ass while his old father is trudging along the dusty road. Let your
poor father ride!”
Không lâu sau, họ gặp mấy ông lão ngồi bên vệ đường. “Nhìn kìa!”,
họ nói. “Thật là một thằng bé ích kỷ. Đấy, nó cưỡi con lừa trong
khi người cha già của nó lê bước nặng nhọc trên con đường bụi
bặm. Hãy để người cha tội nghiệp của ngươi cưỡi con lừa đi!”
The son thought that it might please the old men if he did what they
told him, otherwise they might think he was sel sh.
So the man rode on the ass and the son walked in front. The son was
well pleased to have taken such good advice.
Đứa con nghĩ hẳn sẽ khiến mấy ông lão vừa lòng nếu nó làm theo
những gì họ bảo, nếu không họ có thể nghĩ nó là đứa ích kỷ.
Vậy là người đàn ông cưỡi lên con lừa, còn đứa con bước đi phía
trước. Đứa con cũng vui lòng nhận một lời khuyên tốt như vậy.
After a while they met some workmen by the roadside.
“Look at that!” said the workmen, laughing. “What a crazy pair! An
ass is made for two people to ride on, yet the boy is trudging along the
dusty road. You should both ride on that ass!”
Một lúc sau, họ gặp một nhóm thợ bên vệ đường. “Nhìn kìa!”, đám
thợ cười cợt nói. “Thật là một bộ đôi điên khùng. Một con lừa có
thể để hai người cưỡi lên, vậy mà đứa trẻ đang lê bước nặng nhọc
trên con đường bụi bặm. Cả hai người nên cùng cưỡi con lừa đó
đi!”
The man thought it would please the workmen if he did what they
said. Otherwise they might think he was crazy. So the man and his
son both rode on the ass.
Soon, the ass grew tired under the double weight and stumbled from
time to time as he trudged along.
Người đàn ông nghĩ hẳn sẽ khiến mấy người thợ vừa lòng nếu ông
làm theo những gì họ bảo. Nếu không họ có thể nghĩ ông ta điên
khùng. Vậy là người đàn ông và đứa con cùng cưỡi lên con lừa.
Chẳng mấy chốc, con lừa dần mệt lả dưới trọng lượng tăng gấp đôi
và nó vấp chân hết lần này đến lần khác khi lê bước nặng nhọc
trên đường.
Some children were playing by the roadside.
“Look at that,” they said. “What cruel people! They are both riding on
that poor ass who keeps stumbling along. It should be the other way
round! Let the poor ass ride!”
Có mấy đứa trẻ đang chơi đùa bên vệ đường. “Nhìn kìa”, đám trẻ
nói. “Thật là những con người tàn nhẫn! Cả hai cưỡi lên con lừa
đang không ngừng vấp chân bước đi. Nên đổi ngược lại! Hãy để
con lừa tội nghiệp cưỡi đi!”
“How ever could an ass ride?” wondered the man. But he thought he
should please the children, so he decided that somehow he and his son
would have to carry the ass. They got o , and the only way the man
could think of was to tie the ass's legs together over a pole. So the man
and his son carried the ass on a pole.
“Một con lừa thì cưỡi như thế nào được chứ?”, người đàn ông tự
hỏi. Nhưng ông ta nghĩ mình nên làm vừa lòng mấy đứa trẻ, vậy
nên ông ta quyết định kiểu gì đó ông và con trai mình sẽ khiêng
con lừa. Họ leo xuống, và cách duy nhất mà ông ấy nghĩ ra là cột
chân con lừa lại quanh một cây đòn. Thế là người đàn ông và đứa
con khiêng con lừa trên một cây đòn.
When they came to the town, everybody laughed at them. “Look at
that,” they cried. “Have you ever seen anything like it? They must be
quite mad, to carry an ass on a pole!”
Khi họ đến thị trấn, mọi người đều cười nhạo họ. “Nhìn kìa”, họ
reo lên. “Mọi người từng thấy chuyện gì giống thế này chưa? Họ
hẳn điên lắm mới khiêng một con lừa trên cây đòn!”
The ass did not like this and he kicked at the pole. He hated all that
noise and was tired of hanging upside down. The man and his son
were just crossing a bridge over a river when the ass started to kick.
Con lừa không thích như vậy và nó đá vào cây đòn. Nó ghét mọi sự
ồn ào đó và đã quá mệt mỏi vì bị treo ngược. Người đàn ông và đứa
con đang băng qua một cây cầu bắc qua sông khi con lừa bắt đầu
kháng cự.
He kicked so hard that the pole broke and the ass fell into the river.
Nó đá mạnh đến nỗi cây đòn bị gãy và con lừa rơi xuống sông.
And the man and his son fell into the river, too.
Splash! Splash!
What a calamity – all three splashing helplessly about in the water.
And all because the man and his son had tried too hard to please
everyone, and in the end had pleased no one!
Và người đàn ông cùng đứa con trai cũng rơi xuống nước luôn.
Tõm! Tõm!
Thật là một tai họa – cả ba bì bõm một cách bất lực dưới nước. Và
tất cả là bởi vì người đàn ông và đứa con đã quá cố gắng làm vừa
lòng mọi người, và đến cuối cùng chẳng làm vừa lòng ai cả!
THE MONKEY AND THE
FISHERMEN - CON KHỈ VÀ
NGƯỜI ĐÁNH CÁ
Once there was a monkey who lived in the trees. Most monkeys do,
because they like swinging from branch to branch. This monkey had
swung his way through every tree in the jungle.
Có một con khỉ sống trên những cái cây. Hầu hết loài khỉ đều như
vậy, vì chúng thích chuyền từ cành cây này sang cành cây khác.
Con khỉ này đã chuyền đi khắp mọi cành cây trong khu rừng.
But he liked the coconut trees best, because of the coconuts. He would
catch them as they fell, then throw them up and catch them until
they fell on the ground and burst. That was the best part because
then he could drink the delicious milk and eat the juicy white nut.
Nhưng nó thích những cây dừa nhất, vì nó thích quả của chúng.
Khi quả rụng, nó sẽ chụp lấy và quăng chúng lên, rồi lại chụp lấy
cho đến khi quả rơi xuống đất và vỡ ra. Đó là phần hay ho nhất bởi
vì khi đó nó có thể uống thứ nước quả ngon lành và ăn phần cơm
trắng.
One day he looked into the river below the tree. He saw the sh
swimming about and poking their noses into the air. He thought it
would be nice to have some sh for supper.
Một hôm nọ, nó nhìn xuống con sông bên dưới những cái cây. Nó
nhìn thấy lũ cá đang bơi quanh đó và ngoi lên mặt nước. Nó nghĩ
có mấy con cá cho bữa tối thì cũng hay.
“I wish I could catch some sh,” he said, “but I don't know how. They
don't fall o trees like coconuts do.”
“Ước gì mình có thể bắt vài con cá”, nó nói, “nhưng mình không
biết phải làm sao. Chúng không rơi khỏi những cái cây như mấy
quả dừa”.
Just then two shermen came along the riverbank. They were
carrying a big net between them. “Now, that is interesting. I wonder
what they're going to do with a net?” thought the monkey.
Vừa lúc đó, có hai người đánh cá cùng đi đến bờ sông. Họ vác một
tấm lưới lớn ở giữa.
“Giờ thì thú vị đây. Mình tự hỏi họ sẽ làm gì với một tấm lưới?”,
con khỉ ngẫm nghĩ.
“Perhaps it's for playing a game, like football or tennis?” The monkey
watched carefully to see what would happen next.
“Có thể nó được dùng để chơi trò gì đó, như bóng đá hoặc quần vợt
chẳng hạn?”. Con khỉ cẩn thận quan sát xem chuyện gì xảy ra tiếp
theo.
One of them crossed the river. Then the shermen stretched the net
from one side of the river to the other, and let it drop into the water.
When the monkey saw this he realised it wasnt a game after all. The
net was for catching the sh. What a good idea!
Một trong hai người băng qua sông. Sau đó, hai người đánh cá kéo
căng tấm lưới từ bờ bên này sang bờ bên kia, rồi thả nó xuống
nước.
Khi con khỉ nhìn thấy hành động đó, nó nhận ra rốt cuộc đây
không phải là một trò chơi. Tấm lưới là dùng để bắt cá. Thật là
một ý tưởng tuyệt vời!
The sherman who had crossed the river came back to his friend.
“We should catch lots of sh,” they said, and went o
shady spot round the bend of the river.
to wait in a
Người đánh cá đã băng qua sông kia quay trở lại với bạn mình.
“Chúng ta sẽ bắt được thật nhiều cá”, họ nói, và rồi họ rời đi, đến
đợi dưới một bóng râm cạnh khúc quanh của con sông.
At last the monkey knew about shing.
“I shall try it for myself,” he said, jumping down from the tree. “Why
didn't I think of it before? All I need is a net, and then I shall have all
the sh I want for my supper!” And o he went to nd a net.
Cuối cùng con khỉ đã biết cách bắt cá.
“Mình sẽ tự làm thử”, nó nói, nhảy xuống khỏi cái cây. “Sao trước
đây mình không nghĩ đến chuyện này chứ? Tất cả những gì mình
cần là một tấm lưới, và rồi mình sẽ có tất cả số cá mình muốn cho
bữa tối.” Và nó rời đi để tìm một tấm lưới.
He knew of an old hut nearby and ran to see what he could nd there.
Soon he found an old net and dragged it down to the river. It was very
heavy, but he didn't mind as he was too excited about shing and a
shy dinner.
Nó biết ở gần đấy có một túp lều cũ và nó chạy đến đó xem có tìm
được gì không. Nó nhanh chóng tìm thấy một tấm lưới cũ và nó
lôi tấm lưới về phía con sông. Tấm lưới rất nặng, nhưng con khỉ
chẳng bận tâm bởi vì nó vô cùng phấn khích với chuyện bắt cá và
một bữa tối đầy cá.
When he got back to his tree, he tried to do the same as the shermen
had done. He tied one end of the net to a large branch, then jumped
into the water with the net.
Khi nó quay trở lại cái cây của mình, nó cố gắng làm giống như
những gì mấy người đánh cá đã làm. Nó buộc một đầu tấm lưới
vào một cành cây lớn, rồi nhảy ùm xuống nước cùng với tấm lưới.
Poor monkey! He couldn't swim. The net wrapped itself round his
arms and legs and he struggled to get free, but he got so tangled
up that he nearly drowned.
Con khỉ tội nghiệp! Nó không biết bơi. Tấm lưới quấn quanh tay và
chân của nó, và nó vật lộn để thoát ra, nhưng nó bị rối đến nỗi sắp
chết đuối.
Just then the shermen came back. “Look!” said one of them. “There
is a big furry sh caught in the net! Did you ever see one like it?”
Vừa lúc đó những người đánh cá quay lại. “Nhìn kìa!”, một người
nói. “Có một con cá to đầy lông vướng vào lưới! Anh đã thấy cảnh
tượng như thế này bao giờ chưa?”
They laughed to see the silly monkey, but they pulled him out of the
river.
“Just remember,” said one of them to the monkey, “there's more to
catching sh than you think. You must learn about it rst, before you
try.”
Then the shermen walked o to see to their own net.
Họ bật cười khi nhìn thấy con khỉ ngốc nghếch, nhưng họ vẫn vớt
nó lên.
“Hãy nhớ rằng”, một người trong số họ nói với con khỉ, “để bắt cá
thì cần nhiều thứ hơn ngươi nghĩ. Ngươi phải học được chúng
trước khi cố thử”.
Sau đó, những người đánh cá bỏ đi để kiểm tra tấm lưới của họ.
Realising that what the shermen said was true, the monkey ran
back to his tree. “I am no good at catching sh,” he said, “I will just
catch the coconuts!” And from that day on, he has never been shing
again!
Nhận thức được những gì người đánh cá nói là đúng, con khỉ
phóng ngược trở lại cái cây của mình. “Mình không giỏi bắt cá”, nó
nói. “Mình sẽ chỉ bắt những quả dừa thôi!” Và từ ngày đó trở đi, nó
không bao giờ bắt cá nữa!
THE SICK LION - SƯ TỬ GIẢ
BỆNH
It was a hot day. Lion felt too tired to hunt for his dinner. He was
getting old and hunting was becoming more and more di cult,
especially on a day like this. But he was hungry so he sat down and
began to think.
Đó là một ngày nóng nực. Sư tử cảm thấy quá mệt mỏi không thể
đi săn cho bữa tối. Nó đang già đi và việc đi săn trở nên ngày càng
khó khăn hơn, đặc biệt là trong một ngày như thế này. Nhưng nó
đang rất đói, vậy nên nó ngồi lại và bắt đầu suy tính.
“How can I look for my dinner without all that running about?” he
asked himself. He spent a while deep in thought, and suddenly he had
an idea. Lion grinned a very wicked grin.
“Làm sao mình có thể tìm được bữa tối mà không cần đến mấy vụ
chạy đuổi nhỉ?”, nó tự hỏi. Nó trầm tư một lúc, và đột nhiên nó
nảy ra một ý tưởng. Con sư tử nở một nụ cười nhăn nhở hết cỡ.
“I know,” he said. “My dinner can come to me.”
He went into his den and when he came out again he was wearing his
pyjamas. Soon all the animals in the forest came to see what was
wrong with lion. They were careful not to get too close to him because
lions are dangerous animals.
“Mình biết rồi”, nó nói. “Bữa tối của mình có thể tự đến với mình.”
Nó đi vào hang và khi trở ra nó đã mặc lên mình một bộ py-ja-ma.
Chẳng bao lâu sau, toàn bộ thú rừng kéo đến để xem chuyện gì đã
xảy ra với con sư tử. Họ rất cẩn thận không đến gần nó, vì sư tử là
loài vật nguy hiểm.
Lion began to limp. Then he began to shiver, and then he mopped his
brow. When he was sure that all the animals were watching him, he
turned away. He pretended to be sick and went to bed in his den.
Con sư tử bắt đầu ra dáng đi khập khiễng. Rồi nó bắt đầu run rẩy,
và sau đó nó đưa chân lên lau trán. Khi đã chắc rằng toàn bộ thú
trong rừng đều đang nhìn mình, nó liền quay đi. Nó giả vờ bị bệnh
và quay trở lại chiếc giường trong hang.
The other animals felt sorry for him. “We must go and visit him,”
they said. They thought that a sick lion would not be so dangerous.
But clever fox had spied on lion and seen him grin his wicked grin.
Những con vật khác cảm thấy thương xót cho nó. “Chúng ta phải
đến và thăm hỏi anh ta”, chúng bảo. Chúng nghĩ rằng một con sư
tử đang bệnh sẽ không quá nguy hiểm. Nhưng con cáo thông
minh đã theo dõi con sư tử và nhìn thấy nụ cười xảo quyệt trên
mặt nó.
“Take care”, warned fox. “He might eat you.”
“Perhaps he's right. Maybe we should not visit lion,” said the others.
Rabbit, who was the most timid of all, scampered away and some of
the others ran after him.
“Cẩn thận đấy”, con cáo cảnh báo. “Hắn ta có thể ăn thịt các
ngươi.”
“Có lẽ cáo nói đúng đấy. Có lẽ chúng ta không nên đi thăm sư tử”,
những con thú khác nói. Thỏ, con vật nhút nhát nhất trong cả
đám, bèn chạy vụt đi và một số con vật khác cũng bỏ đi theo nó.
But cow was very brave. “You are such cowards,” she said. “Poor lion
is sick and I want to cheer him up.”
Nhưng chị bò thì rất dũng cảm. “Các ngươi thật quá nhát gan”, bò
nói. “Sư tử đáng thương kia đang bệnh và tôi muốn động viên anh
ta.”
So she went rst and knocked at the den door. “Come in, come in!”
called lion from his bed. He made his voice sound feeble, and the
darkness hid his wicked grin.
Vậy là chị ta xung phong đi trước và gõ cửa hang. “Vào đi, vào đi!”,
sư tử nằm trên giường lên tiếng. Nó làm ra giọng yếu ớt, và sự ám
muội ẩn giấu trong nụ cười quỷ quyệt của nó.
So cow went in, but she never came out. All the other animals said
how brave cow was, and did not notice that she never came out of the
den.
Vậy là chị bò đi vào, nhưng chị chẳng bao giờ trở ra. Tất cả con vật
tán dương chị bò quả thật là dũng cảm, và đã không để ý là chị ta
đã chẳng bao giờ trở ra khỏi cái hang.
The next day pig said, “I will copy cow and show that I am brave,”
and he followed cow's footprints into lion's den.
The others saw pig go in through the den door, leaving his own
footprints in the sand. The rest of the animals wondered who else
would be as brave as pig.
Ngày hôm sau, lợn nói: “Tôi sẽ làm theo chị bò và cho thấy là tôi
cũng dũng cảm”. Và nó theo dấu chân chị bò đi vào hang sư tử.
Những con vật khác nhìn thấy lợn đi qua cửa hang, để lại dấu
chân của chính nó trên nền đất. Những con vật còn lại tự hỏi còn
có ai can đảm giống như lợn.
Goat went in next, to copy pig. But neither goat nor pig came out
again. Only their footprints remained in the sand.
Rabbit and duck were still afraid to go into lion's den but rabbit said,
“I am not really a coward. I will copy goat and go in, but I will wait
until tomorrow.”
Tiếp theo là dê đi vào hang, làm theo lợn. Nhưng cả dê và lợn
chẳng con nào trở ra lại. Chỉ có dấu chân chúng còn lưu lại trên
mặt đất. Thỏ và vịt vẫn e ngại đi vào hang sư tử, nhưng thỏ nói:
“Tôi không hẳn là một kẻ hèn nhát. Tôi sẽ làm theo dê và đi vào
hang, nhưng tôi sẽ đợi đến ngày mai đã”.
The next day, rabbit went into the den to copy goat, and duck
waddled after to copy rabbit. Nobody saw them again.
Hôm sau, thỏ bắt chước dê đi vào hang, và vịt lạch bạch theo sau
bắt chước thỏ. Không ai còn nhìn thấy họ lần nào nữa.
Clever fox was watching everything from a distance. He had seen all
the animals go into the den to cheer up the sick lion.
“Lion must be feeling very cheerful by now”, he thought, “with all his
dinners walking in like that.”
Cáo thông minh quan sát tất cả từ xa. Nó nhìn thấy tất cả những
con vật đi vào hang để động viên con sư tử bệnh.
“Lúc này thì sư tử hẳn đang cảm thấy vô cùng khoái trá”, cáo nghĩ,
“khi tất cả bữa ăn của nó tự động đến như thế”.
Fox stood by the door and called, “How are you, lion?” Lion was
delighted to hear the voice of another visitor. He licked his lips and
grinne his wicked grin, but he made his voice sound very feeble.
Cáo đứng trước cửa và gọi: “Anh thế nào rồi, sư tử?”. Con sư tử
phấn khởi khi nghe giọng của một khách viếng khác. Nó liếm mép
và nở nụ cười quỷ quyệt của mình, nhưng nó giả vờ làm giọng yếu
ớt.
“Very poorly,” said lion. “Why don't you come in, my friend?” Lion
hoped that fox would copy all the other animals and come in to be
eaten, but fox was too clever for that. He stood by the door and
looked at the footprints in the sand.
“Tệ lắm”, sư tử nói. “Sao anh không vào đây đi, bạn thân mến?” Sư
tử hy vọng cáo sẽ làm theo những con vật khác và bước vào để bị
ăn thịt, nhưng cáo quá thông minh để không làm vậy. Nó đứng
ngoài cửa và nhìn những dấu chân trên nền cát.
Fox said, “Because I am not a copycat! I see all these footprints going
in, but none coming OUT!”
Fox was too clever to follow all the other animals into the den to be
eaten by the lion, and he went away.
So lion had no dinner that day.
Cáo nói: “Bởi vì tôi không phải là một kẻ bắt chước! Tôi nhìn thấy
tất cả những dấu chân đi vào nhưng không hề đi ra này!”.
Cáo quá thông minh nên không làm theo những con thú khác đi
vào trong hang và bị sư tử ăn thịt, và nó bỏ đi.
Vậy là hôm đó sư tử không có bữa tối nào cả.
THE TOWN MOUSE AND THE
COUNTRY MOUSE - CHUỘT PHỐ
VÀ CHUỘT ĐỒNG
A poor country mouse lived in a ditch. It was just an -ordinary ditch,
but he had made it quite comfortable.
Có một con chuột đồng đói khổ nọ sống trong một cái hang. Đó
chỉ là một cái hang bình thường, nhưng con chuột đã biến nó
thành nơi khá thoải mái.
He enjoyed the peace of the countryside all around him, because he
was just an ordinary country mouse.
One day he wrote to the rich town mouse and asked him to dinner. It
would be nice to see his old friend again, he thought, and he was sure
the town mouse would enjoy the peace and quiet of the countryside.
So he tidied up the ditch, prepared a dinner and waited for his friend
to arrive.
Nó tận hưởng sự yên bình của vùng quê xung quanh mình, bởi vì
nó chỉ là một con chuột đồng bình dị.
Một ngày nọ, nó viết thư cho con chuột phố giàu có và mời con
chuột kia đến cùng ăn tối. Gặp lại người bạn cũ thì cũng hay lắm,
nó nghĩ vậy, và nó chắc rằng chuột phố cũng sẽ thích thú sự yên
bình và tĩnh lặng của vùng quê. Vậy là nó dọn dẹp cái hang, chuẩn
bị bữa tối và đợi bạn mình tới thăm.
The town mouse came. He was very rich and dressed in expensive
clothes.
The town mouse and the country mouse sat down to eat a dinner of
barleycorn and roots. The town mouse tried a few nibbles but he did
not like the dinner and he did not like the country.
Rồi chàng chuột phố cũng đã đến. Nó giàu có và ăn vận quần áo
đắt tiền. Chuột phố và chuột đồng cùng ngồi xuống và ăn bữa tối
với hạt lúa mạch và rễ cây. Chuột phố cũng thử gặm một chút
nhưng nó không thích bữa ăn này và nó không thích vùng quê.
At last the town mouse said, “The country is dull. My poor friend,
you only eat roots and corn. You should see how I live! You must come
to my house in town.”
The country mouse had heard exciting tales about town life and the
wonderful food to be found there.
Cuối cùng, chuột phố nói: “Thôn quê tẻ nhạt quá. Người bạn tội
nghiệp của tôi, anh chỉ ăn rễ và bắp thôi. Anh nên thấy tôi sống
thế nào! Anh nên đến thăm nhà tôi ở phố thị đi”.
Chuột đồng đã nghe những câu chuyện hấp dẫn về cuộc sống ở
phố thị và về những loại thức ăn tuyệt vời ở đó.
The country mouse said, “Thank you for your invitation. I would
enjoy the town for a change.”
So the town mouse and the country mouse went to town.
Chuột đồng nói: “Cảm ơn lời mời của anh. Tôi sẽ tận hưởng
chuyến thăm phố thị để thay đổi một chút”.
Vậy là chuột phố và chuột đồng cùng đi về phố thị.
The country mouse had never seen so many houses before. They
hurried past many ne buildings until they came to the largest house
in the street.
“This is my house,” said the town mouse proudly.
Trước giờ chuột đồng chưa bao giờ nhìn thấy nhiều ngôi nhà như
vậy. Chúng đi vội vã qua nhiều tòa nhà đẹp đẽ cho tới khi đến căn
nhà lớn nhất con phố.
“Đây là nhà tôi”, chuột phố tự hào nói.
The town mouse took his friend into the larder. The country mouse
saw at once that there was plenty of food in the house. He had never
seen anything like it. There was cheese and honey, gs and apples,
nuts and dates.
Chuột phố dẫn bạn mình vào chạn thức ăn. Chuột đồng thấy ngay
là trong nhà có rất nhiều thức ăn. Nó chưa bao giờ nhìn thấy cảnh
tượng nào như vậy cả. Có pho mát, mật ong, quả sung và táo, mấy
quả hạch và quả chà là nữa.
“This is better than barleycorn and roots,” thought the country
mouse.
The town mouse and the country mouse sat down to dinner. The
country mouse was very hungry and he reached out for a piece of
cheese.
“Thứ này ngon lành hơn hạt lúa mạch và rễ cây nhiều”, chuột
đồng nghĩ.
Chúng ngồi xuống cùng ăn bữa tối. Chuột đồng rất đói và nó với
lấy một miếng pho mát.
Just then a man came in. He was carrying a broom and he was about
to sweep up the food when he saw the two mice.
He shouted out: “Rover! There are some mice in this larder! Come on,
boy! Catch them!”
Vừa lúc đó một người đàn ông bước đến. Ông ta cầm theo một cây
chổi và ông chuẩn bị quét chỗ thức ăn đi...
 









Các ý kiến mới nhất