Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

mam non

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Thanh Huyền
Người gửi: Đào Thanh Huyền
Ngày gửi: 21h:12' 23-06-2026
Dung lượng: 720.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
VĂN HỌC DÂN GIAN
1. Khái niệm văn học dân gian
1.1. Thuật ngữ văn học dân gian
- Trước đây, người ta gọi những sáng tác lưu truyền trong dân gian là:
+ Văn học truyền miệng: nhấn mạnh đặc điểm của VHDG về phương pháp
sáng tác và lưu truyền bằng miệng
+ Văn học bình dân: phương diện bản chất xã hội và chủ thể sáng tạo. Một
loại do tập thể người lao động sáng tác và gắn liền với đời sống cùng mọi nhu cầu
xã hội của họ
- Thuật ngữ Văn học dân gian xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 50 của
thế kỷ XX. Phải đợi đến khi các bộ giáo trình của Trường ĐHSP (1961) và ĐH
Tổng hợp (1962) xuất hiện thì thuật ngữ VHDG mới được định hình.
Và chỉ khi Hội văn nghệ dân gian Việt Nam được thành lập vào ngày
22/11/1966 và Viện Văn hóa dân gian Việt Nam được thành lập vào ngày 09/9/1983
thì thuật ngữ VHDG mới được sử dụng rộng rãi.
1.2. Văn học dân gian là gì?
- Thuật ngữ VHDG có liên quan đến một thuật ngữ quốc tế là "Folklore" do
Uyliam Giôn Tôm đưa ra vào năm 1846. Thuật ngữ này được dùng để chỉ những di
tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần
của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như “phong tục, đạo đức, việc
cúng tế, dị đoan, ca dao, cách ngôn… của các thời đại trước”.
- Trên thế giới và ở cả Việt Nam, thuật ngữ Folklore được hiểu theo nhiều
cấp độ khác nhau:
+ Cấp độ thứ nhất: là văn hóa dân gian
Văn hóa dân gian là toàn bộ sáng tạo vật thể và phi vật thể của nhân dân bao
gồm: y học DG, âm nhạc DG, hội họa DG, kiến trúc DG, ẩm thực DG, mĩ nghệ DG,
VHDG, tín ngưỡng và phong tục tập quán địa phương, nghi lễ và lễ hội cổ truyền...
+ Cấp độ thứ hai là: văn nghệ dân gian
1

Văn nghệ dân gian chỉ bao gồm các loại hình sáng tạo văn hóa phi vật thể
DG như: âm nhạc DG, hội họa DG, VHDG và lễ hội DG.
+ Cấp độ thứ ba là: đồng nhất folklore với VHDG, coi nó chỉ là những sáng
tác nghệ thuật ngôn từ, văn hóa ngôn từ.
- Từ khoảng sau năm 1975 trở lại đây, ở nước ta các nhà nghiên cứu đều
thống nhất quan niệm Folklore là văn hóa dân gian. Đây là một lĩnh vực rộng lớn
bao gồm những sáng tác nghệ thuật dân gian thuộc nhiều loại hình.
+ Nghệ thuật tạo hình dân gian: hội họa, kiến trúc, điêu khắc.
+ Nghệ thuật biểu diễn dân gian: múa, hát, nhạc, kịch...
+ Nghệ thuật ngôn từ dân gian: là những sáng tác lấy ngôn từ làm chất liệu
chính, xây dựng hình tượng nghệ thuật nhằm biểu đạt, ghi lại những tri thức, những
kinh nghiệm về cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của nhân dân hay về tự nhiên xã hội,
con người. Nói cách khác, nghệ thuật ngôn từ này chính là VHDG.
 Văn học dân gian: là một bộ phận của văn hóa dân gian, là nghệ thuật
ngôn từ sinh thành và phát triển trong đời sống của nhân dân theo phương thức
truyền miệng và tập thể.
2. Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
2.1. Tính nguyên hợp
- Nguyên hợp nghĩa là: nguyên (cái gốc, cái ban đầu), hợp (là sự hợp nhất) ->
là sự hợp nhất nhiều yếu tố khác nhau trong một tác phẩm hoặc một thể loại văn học
dân tộc.
- Nguyên hợp biểu hiện ở cả hai phương diện: nội dung và hình thức phản
ánh.
+ Nguyên hợp trên phương diện nội dung: mỗi tác phẩm VHDG phản ánh
nhiều mặt, nhiều phương diện khác nhau trong đời sống vật chất và tinh thần của
con người. Vì vậy, cùng một lúc nó đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau như:
chức năng thẩm mĩ, chức năng sử học, chức năng dân tộc học, chức năng triết học,
tâm lí học, chức năng giáo huấn…

2

+ Nguyên hợp trên phương diện hình thức: tác phẩm VHDG ngoài việc sử
dụng phương tiện diễn đạt chủ yếu là ngôn ngữ, còn có sự kết hợp với một vài
phương tiện nghệ thuật khác như vũ đạo, âm nhạc...
2.2. Tính tập thể
- Nhìn từ góc độ tác giả thì tác phẩm VHDG là sản phẩm của nhiều người,
thuộc nhiều thế hệ qua thời gian, không gian khác nhau trong đó nổi bật vai trò sáng
tạo của những cá nhân tài năng.
- VHDG sáng tạo theo cơ chế tập thể đó là cơ chế đồng sáng tạo, đồng thể
hiện. Trong quá trình đồng sáng tạo, ý thức cá nhân bị “thủ tiêu” ở cả 2 phương
diện: người sáng tác không đòi hỏi về quyền tác giả; hoàn toàn không thể hiện cá
tính của người sáng tác (khác với văn học viết).
- Tính tập thể của VHDG có liên quan mật thiết đến chất lượng của tác
phẩm, bởi vì sáng tác tập thể là quá trình chọn lọc và hoàn thiện tác phẩm không
ngừng theo thời gian và không gian. Điều này khiến cho tác phẩm được gọt rũa cả
về nội dung và hình thức nghệ thuật.
2.3. Tính truyền miệng
- Văn học dân gian đi từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế
hệ khác bằng phương thức truyền miệng. Phương thức tồn tại và lưu truyền này
hoàn toàn khác với tính cố định hoá bằng văn bản của văn học viết.
- Quá trình lưu truyền qua nhiều người bằng phương thức truyền miệng
chính là quá trình liên tục sáng tạo và sáng tạo lại tác phẩm.
- Quá trình truyền miệng gắn với việc ghi nhận tác phẩm văn học dân gian
bằng trí nhớ. Quá trình ghi nhận tác phẩm bằng trí nhớ lại được chuyển hoá thành
quá trình diễn xướng. Đó là hai bước cơ bản của quá trình truyền miệng. Nếu thiếu
một trong hai bước đó, quá trình truyền miệng sẽ bị gián đoạn và tác phẩm sẽ bị
lãng quên.
2.4. Tính dị bản
- Là hệ quả của tính tập thể và tính truyền miệng.

3

- Dị bản là những văn bản khác với văn bản chính. Có nghĩa là cùng một đơn
vị tác phẩm lại có thể có cả một hệ thống nhiều hoặc ít những đơn vị văn bản vừa có
những yếu tố giống nhau lại vừa có những yếu tố khác nhau. Tất nhiên, sự khác
nhau đó phải không đủ lớn để tạo thành một đơn vị tác phẩm khác.
Ví dụ: Tấm Cám là kiểu truyện ng con riêng có trên 600 dị bản
Đặc tính cơ bản nhất của văn bản VHDG
-

Văn bản một tác phẩm VHDG là một liên văn bản (tác phẩm chuỗi)

-

Trong văn bản tác phẩm VHDG chứa đựng 2 yếu tố: bất biến và khả biến

-

Văn bản VHDG là một hệ thống mở. Về nguyên tắc không có bài ca, bản
kịch cuối cùng.

-

Văn bản VHDG không mang cá tính sáng tạo. Phong cách nghệ thuật của nó
là phong cách tập thể.

3. Hệ thống các thể loại văn học dân gian
3.1. Vấn đề phân loại
Cao Huy Đỉnh chia VHDG thành 4 nhóm: VH kể chuyện đời, VH phô diễn
tâm tình, VH đúc kết kinh nghiệm, VH diễn trò
Phan Đăng Nhật chia VHDG theo phương thức diễn xướng thành: VH hát,
VH kể, VH nó
- Tuy nhiên, cũng như giới Folklore học ở nhiều nước thì các nhà nghiên cứu
VHDG ở nước ta xác định hệ thống thể loại VHDG của dân tộc theo ba cấp độ
chính:
+ Loại: Loại tự tự, trữ tình, kịch.
+ Thể loại: Truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn,...
+ Tiểu loại (còn gọi là biến thể của thể loại).
Ranh giới giữa các thể loại được xác định dựa trên bốn tiêu chí sau:
1. Đề tài
2. Chức năng thực hành - sinh hoạt
3. Phương thức diễn xướng
4. Đặc điểm thi pháp.
4

3.2. Hệ thống thể loại VHDG Việt Nam
- Tự sự dân gian: gồm
Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ
ngôn, truyện thơ, vè, câu đố, tục ngữ...
- Trữ tình dân gian: ca dao dân ca.
- Sân khấu dân gian: chèo cổ, tuồng đồ, múa rối..
Chương 2: THẦN THOẠI
2.1. Khái niệm và phân loại
2.1.1. Khái niệm
- Thần thoại là hình thức truyện kể dân gian cổ nhất hình thành và phát triển
trong thời kì công xã nguyên thủy, thể hiện nhận thức con người về thế giới tự nhiên
và đời sống xã hội thông qua những truyện kể về nhân vật thần, nhân vật anh hùng
và nhân vật sáng tạo văn hóa.
* Cơ sở hình thành

- Thứ nhất, thần thoại xuất hiện khi mâu thuẫn giữa nhu cầu khám phá
thực tế với trình độ nhận thức của con người
- Thứ hai, thần thoại nảy sinh từ chính khát vọng vươn lên chiếm lĩnh thế giới
tự nhiên, chinh phục thế giới tự nhiên của con người.
- Thứ ba, thần thoại nảy sinh còn phải kể tới sự phát triển của tư duy nguyên
thuỷ.
2.1.2. Phân loại: Căn cứ vào đề tài có thể chia thần thoại thành 2 bộ phận (tiểu loại)
- Thần thoại suy nguyên (suy: suy xét, tìm hiểu, cắt nghĩa; nguyên: nguyên
nhân): là bộ phận thần thoại ra đời sớm, được sáng tác nhằm giải thích sự hình
thành trời đất, muôn vật và con người, thể hiện nhận thức của người cổ xưa về thế
giới tự nhiên.
5

Ví dụ: Thần Trụ Trời, Thần Mưa, Thần Gió, Thần Mặt Trời, Thần Biển…->
Bộ phận thần thoại này, phản ánh trình độ ngây thơ, non nớt của người nguyên
thủy.
- Thần thoại sáng tạo: là bộ phận ra đời muộn hơn, thể hiện khát vọng và khí
thế của con người trong lịch sử khám phá và chinh phục tự nhiên, đồng thời lí giải
một số vấn đề xã hội bằng xu hướng thần thánh hóa vai trò và quan hệ của con
người. Ví dụ: Sơn Tinh - Thủy Tinh, Cóc kiện trời…

2.2. Đặc trưng cơ bản của thần thoại
2.2.1. Thần thoại chủ yếu kể về thần
- Thần là nhân vật trung tâm trong thần thoại.
- Thần trong thần thoại chính là những hiện tượng tự nhiên được hình
tượng hóa (nhiên thần) (ví dụ: thần mưa, thần gió…) hoặc những người có
công được thần thánh hóa (nhân thần) (ví dụ: Sơn Tinh, con cóc…).
- Các vị thần thường được mô tả với ngoại hình to lớn, kì dị. Cùng với
đó hành trạng của thần cũng kì vĩ, lớn lao tương xứng với sự đồ sộ của thân
hình.
- Các vị thần đều ngự trị trong thế giới tự nhiên và được con người suy
tôn, ngưỡng mộ. Thần có chức năng tạo dựng, điều hành, cai quản thế giới tự
nhiên.
- Nhân vật thần trong thần thoại là nhân vật chức năng. Mỗi vị thần
trông coi một việc gì đó trong tự nhiên hoặc đối với xã hội người. Họ thể hiện
rất rõ chức năng được phân công của mình là nhân vật có lợi hay gây hại.
2.2.2. Thần thoại có chức năng nhận thức và lý giải tự nhiên
6

- Quan niệm vạn vất hữu linh. Các vị thần chi phối toàn bộ thế giới tự
nhiên và có mặt trong mọi sinh hoạt đời sống của con người như: Thần Gió,
Thần Mưa, Thần Núi, Thần Biển, Thần Mặt Trăng, Thần Mặt Trời…
- Quan niệm về vật tổ : con người có niềm tin rất ngây thơ và mãnh liệt
khi cho rằng cộng đồng mình có quan hệ huyết thống với một loại động, thực
vật nào đó.
Ví dụ: Rắn + Chim (người Việt) (truyện Lạc Long Quân - Âu Cơ),
người Chăm quan niệm vật tổ là cây cau…
2.2.3. Thần thoại gắn với nghi lễ (phương thức diễn xướng)
- Thần thoại được diễn xướng trong nghi lễ mang tính sinh hoạt cộng
đồng và gia đình như nghi lễ cúng tế các thần: thần Mặt trời, thần Mưa, thần
Lúa... hoặc trong nghi lễ tang ma.
Ví dụ : thần thoại Đẻ đất đẻ nước là phương tiện điều hành tang lễ của
người Mường…
- Trong khi tiến hành nghi lễ chỉ có những nhân vật đặc biệt như thầy
cúng, thầy mo hoặc những người có uy tín trong cộng đồng như già làng,
trưởng bản... mới được kể thần thoại. Và trong khi kể thần thoại người ta sẽ
kết hợp với những yếu tố khác như: nhạc, điệu bộ, động tác...
2.3. Nội dung cơ bản của thần thoại
2.3.1. Thần thoại giải thích nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên
2.3.1.1.. Thần thoại giải thích nguồn gốc vũ trụ
- Người xưa quan niệm vũ trụ ba tầng, bốn thế giới.
7

- Trước khi giải thích được thế giới, người nguyên thủy hình dung trời đất
chỉ là một đám hỗn độn, bùng nhùng. Các vị thần có nhiệm vụ xây dựng, kiến tạo vũ
trụ. Ví dụ: Thần trụ trời (Việt), Ông Chống Trời (Mường), Ông Chày bà Chày
(Hmông)…
- Bên cạnh các vị thần tồn tại độc lập, việc sắp đặt tự nhiên, kiến tạo tự nhiên
còn được phân công cho đôi thần nam nữ.
Ví dụ: Nữ Oa - Tứ Tượng (Việt) ; Ông Đực bà Cái (Việt) ; Ông Chày bà
Chày (Hmông) ; Ông Chu Cún - bà Chu Cún (Thái) ; Ông Thu Tha - bà Thu Thiên
(Mường)…
- Các vị thần chung sức với nhau xây dựng, sắp xếp, hoàn thiện vũ trụ.
Môtíp phổ biến trong những thần thoại này là môtíp thi tài.
- Nhân vật trong thần thoại khi kiến tạo vũ trụ không dùng phép màu mà
dùng đến chính sức mạnh của mình, dùng chính cơ thể của mình.
2.3.1.2. Thần thoại giải thích các hiện tượng tự nhiên
- Các hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của cư dân
nông nghiệp như mưa, gió, lũ lụt, hạn hán…
- Các hiện tượng tự nhiên mang tính quy luật như:
+ Hiện tượng ngày và đêm thay đổi theo mùa
+ Hiện tượng rét nàng Bân
+ Hiện tượng tháng bảy mưa nhiều.
+ Hiện tượng nhật thực, nguyệt thực.
+ Hiện tượng thủy triều.
Ý nghĩa: Truyện thần thoại giải thích các hiện tượng tự nhiên cho thấy:
8

- Nó phản ánh ước mơ muốn khám phá về vũ trụ và thế giới tự nhiên, khả
năng quan sát của con người về những gì đang diễn ra xung quanh họ.
- Đồng thời, nó còn phản ánh trình độ nhận thức còn hạn chế, ấu trĩ, sự ngu
muội của người nguyên thủy. Khi không giải thích được thế giới, họ đi đến chỗ giải
thích một cách ngây thơ thậm chí sai lệch.
2.3.2. Thần thoại giải thích nguồn gốc loài người
- Con người được sinh ra từ một giống động vật nào đó (con rắn và con chim
của người Việt, con Nâga của người Khơme, con Nagađi của người Chăm…) hoặc
con người được sinh ra từ “quả trứng thiêng”.
Ví dụ : Lạc Long Quân - Âu Cơ (Việt)
- Con người được sinh ra từ một giống thực vật nào đó, như cây cau (Chăm Ninh Thuận), cây xoài (một số dân tộc ở Tây Nguyên), cây chanh… nhưng chiếm tỉ
lệ cực lớn là con người được sinh ra từ quả bầu mẹ -> xuất hiện mô típ “quả bầu
mẹ”. Ví dụ : Trái bầu mẹ (Khơme), Hồng thuỷ (Thái)…
Cốt truyện thường thấy: Đại hồng thủy - loài người chết hết - hai anh em
hoặc chị em sống sót - lấy nhau - đẻ ra quả bầu - hình thành loài người.
- Con người được sinh ra từ đất (hoặc từ bùn)
Ví dụ: truyện “Nguồn gốc loài người” (người CơHo)…
=>Ý nghĩa: Truyện thần thoại về nguồn gốc loài người đã cho thấy:
- Khát vọng khám phá và lí giải sự tồn tại của con người trong đời sống thực
tế đồng thời cũng chứng tỏ sự hạn chế, non nớt trong nhận thức của con người khi
muốn giải thích nguyên nhân sinh sản.
- Quan điểm, nhận thức thống nhất rằng: mọi người sống trên trái đất này
đều là anh em, đều có chung một nguồn gốc, cùng một nền văn hóa.
9

2.3.3. Thần thoại phản ánh ước mơ, khát vọng của con người
2.3.3.1. Ước mơ sống hòa hợp với tự nhiên và chiến thắng tự nhiên

- Khát khao sống hòa hợp với thiên nhiên.
Ví dụ: Truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ:
- Mơ ước chinh phục và chiến thắng tự nhiên -> những người anh hùng thần
thánh của cộng đồng (nhân thần) :
+ Người anh hùng chinh phục hạn hán như thằng Quải (Việt), Lương Vung
(Dao), Giàng Do (Hmông)… -> hình tượng dũng sỹ bắn rơi mặt trời (mặt trời đồng
nhất với lửa, lửa đồng nhất với hạn hán).
+ Người anh hùng chinh phục lũ lụt. Ví dụ: Truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh
+ Trong cuộc chiến đấu với tự nhiên, con người đã biết vận dụng sức mạnh
thể lực và trí tuệ ; huy động sức mạnh của cả cộng đồng. Ví dụ: Truyện Cóc kiện
trời, Cường Bạo đại vương (Việt).
2.3.3.2. Ước mơ có một cuộc sống no đủ và nhàn hạ

Ví dụ: Truyện Hạt lúa thần (Việt)
2.3.3.3. Ước mơ kéo dài cuộc sống trần tục

Con người khao khát kéo dài cuộc sống trần tục và muốn có thuốc trường
sinh. Thuốc trường sinh trong thần thoại có nhiều hình thức đó là nước trường sinh
trong truyện Giếng trường sinh (CơHo), lá trường sinh trong truyện Chú Cuội cung
trăng (Việt), gậy đầu sinh đầu tử…
2.4. Vài nét về nghệ thuật thần thoại
2.4.1. Cốt truyện

10

- Cốt truyện của thần thoại có phần đơn giản, ít tình tiết. Phần lớn cốt truyện
được xây dựng theo công thức: một thần - một nhân vật - một hành động.
- Bên cạnh đó cũng có những trường hợp một cốt truyện nhiều chủ đề như :
Cóc kiện trời, Sơn Tinh – Thủy Tinh…
2.4.2. Nhân vật
- Thần là nhân vật trung tâm
- Thần được miêu tả ngoại hình to lớn, kì vĩ, hành trạng cũng lớn lao

Chương 3: TRUYỀN THUYẾT
3.1. Khái niệm và phân loại
3.1.1. Khái niệm
Truyền thuyết là những truyện kể dân gian về các nhân vật và sự kiện lịch
sử, thể hiện ý thức phản ánh lịch sử của con người theo hai xu hướng lịch sử hóa
thần thoại và kì ảo hóa lịch sử.
Ngoài ra, có thể tham khảo thêm ý kiến của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng:
"Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân
qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng
với thơ và mộng. Chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm
nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích". (Nhân ngày Giỗ Tổ
vua Hùng, Báo Nhân dân số 549, ngày 29/4/1969)
* Cơ sở hình thành

11

- Truyền thuyết đầu tiên được hình thành từ những câu chuyện thần
thoại “cuối mùa”
- Truyền thuyết là hình thức “nghệ thuật tự giác” đầu tiên của con
người, ra đời trong “thời đại anh hùng” - "thời đại của cây kiếm sắt, cái cày và
cái rìu bằng sắt" (Ăngghen)
-> Truyền thuyết ra đời đáp ứng nhu cầu phản ánh lịch sử và ca ngợi
những người anh hùng xuất sắc trong tập thể cộng đồng.
3.1.2. Phân loại: Việc phân loại truyền thuyết hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau:
- Giáo trình VHDG của trường ĐHSP Hà Nội do PGS. Phạm Thu Yến chủ
biên, chia truyền thuyết theo các giai đoạn lịch sử:
+ Truyền thuyết thời Hùng Vương (thời kì Văn Lang - Âu Lạc)
+ Truyền thuyết thời Bắc thuộc (thời kì đấu tranh giải phóng)
+ Truyền thuyết thời kì phong kiến tự chủ (thời kì độc lập)
+ Truyền thuyết thời kì phong kiến suy thoái (thời kì khởi nghĩa nông dân)
- GS. Đỗ Bình Trị trong Văn học tập 2, chia truyền thuyết thành các tiểu loại:
+ Truyền thuyết địa danh: là truyện kể dân gian về nguồn gốc lịch sử
của những tên gọi địa lý khác nhau hoặc về nguồn gốc của bản thân những địa
điểm, địa hình, sự vật địa lý ấy. (Sự tích Hồ Gươm, Sự tích hồ Ba Bể…)
+ Truyền thuyết phổ hệ: là những truyện kể dân gian về nguồn gốc
của các thị tộc, bộ lạc, gia tộc, các làng xã…và các thủy tổ (tổ sư) cùng những đại
biểu tài năng nhất của các nghề thủ công, mỹ nghệ (VD: Sự tích Dương Không Lộ;
Sự tích trâu vàng hồ Tây)

12

+ Truyền thuyết lịch sử (về nhân vật và các sự kiện lịch sử) là những
truyện kể có mục đích tái hiện chính bản thân sự thật lịch sử.
- Lê Chí Quế chia Truyền thuyết làm ba loại:
+ Truyền thuyết lịch sử,
+ Truyền thuyết anh hùng
+ Truyền thuyết danh nhân văn hóa.
- Trần Hoàng (ĐH Huế) chia thành:
+ Truyền thuyết về các anh hùng chống xâm lăng;
+ Truyền thuyết về các anh hùng chống phong kiến;
+ Truyền thuyết về các danh nhân văn hóa
+ Truyền thuyết về các địa danh phong tục.
- Một cách phân loại phổ biến nhất trong thời điểm hiện nay, truyền thuyết
được chia thành hai bộ phận:
+ Truyền thuyết anh hùng (thời Văn Lang - Âu Lạc). Bộ phận truyền thuyết
này rất giàu tính chất thần thoại và tính chất anh hùng ca, nên thường được gọi là
“truyền thuyết anh hùng”. Ví dụ: Thánh Gióng, An Dương Vương…
+ Truyền thuyết đời sau được tính từ thời Bắc thuộc trở về sau. Bộ phận này
giàu tính hiện thực, bám sát lịch sử hơn nên thường được gọi là “truyền thuyết lịch
sử”. Ví dụ: Hai Bà Trưng, Bà Triệu...

3.3. Đặc trưng thể loại
3.3.1. Truyền thuyết chủ yếu kể về nhân vật lịch sử
- Nhân vật trung tâm trong truyền thuyết là con người (khổng lồ).
13

- Nhân vật lịch sử trong truyền thuyết bao gồm những dạng sau:
+ Người anh hùng văn hóa: Chử Đồng Tử, Sơn Tinh...
+ Người anh hùng chống giặc ngoại xâm: Thánh Gióng, An Dương Vương, Bà
Trưng, Bà Triệu...
+ Người anh hùng nông dân khởi nghĩa: Cố Bu, Ba Vành…
+ Danh nhân văn hóa: Nguyễn Trãi, Chu Văn An...
-> Trong đó hình tượng người anh hùng chiến trận được xem là tiêu biểu nhất.
- Trong truyền thuyết thời đại anh hùng, nhân vật và sự kiện lịch sử được miêu
tả theo xu hướng lịch sử hoá thần thoại. Gắn nhân vật với lịch sử, kéo nhân vật gần với
lịch sử. Gắn với xu hướng này, nhân vật và sự kiện lịch sử thường được phản ánh một
cách khái quát. Vì vậy, chân dung của nhân vật lịch sử được cường điệu hóa, phóng đại
cực đỉnh mang dáng dấp và sức mạnh của nhân vật trong thần thoại.
- Trong truyền thuyết lịch sử (đời sau), nhân vật và sự kiện lịch sử xuất hiện một
cách chân thực, gần gũi hơn. Song dù chân thực đến mấy thì nhân vật cũng vẫn mang
những nét hư cấu, tưởng tượng. -> Nhân vật được xây dựng theo xu hướng kỳ ảo hoá sự
thật lịch sử.

3.2.2. Truyền thuyết phản ánh lịch sử và lí giải lịch sử
- Chức năng chủ yếu của truyền thuyết là phản ánh, nhận thức và lí giải
lịch sử (bao gồm lịch sử các bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, quốc gia). Truyền thuyết
gắn với lịch sử nhưng lịch sử trong truyền thuyết là một thứ lịch sử đặc biệt
nó không sao chép toàn bộ lịch sử mà dựa vào sự thực lịch sử kết hợp với sự
lí tưởng hóa, hư cấu, tưởng tượng… cho nên đây vừa có cái “lõi” của sự thực
lịch sử vừa có “thơ và mộng”.

14

- Truyền thuyết không phải là một thứ tài liệu lịch sử, truyền thuyết chỉ
lấy lịch sử làm nền cho hư cấu tưởng tượng và người ta chỉ có thể tìm thấy
trong truyền thuyết cách đánh giá lịch sử theo quan điểm của nhân dân.
- Truyền thuyết dù phản ánh lịch sử ở góc độ nào nhưng nó vẫn là một
thể loại của VHDG chứ không phải là sử học. Truyền thuyết không phải là
chính sử mà nó là dã sử thể hiện cảm quan của nhân dân về lịch sử.
3.2.3. Truyền thuyết gắn với lễ hội
- Lễ hội bao giờ cũng hướng tới nhân vật được thờ phụng như: những
anh hùng văn hóa, những anh hùng chống giặc ngoại xâm đã được nhân dân
suy tôn.
Ví dụ: lễ hội Thánh Gióng được tổ chức ở nhiều nơi trên đất nước ta
như Tiên Du (Bắc Ninh), Sóc Sơn (Hà Nội), Từ Liêm... và tiêu biểu nhất là ở
làng Phù Đổng (Gia Lâm - Hà Nội). Lễ hội được tổ chức từ 6 - 12/4 âm lịch
(9/4 là chính hội). Lễ hội Thánh Gióng được UNESSCO công nhận là di sản
nhân loại thế giới.
Lễ hội Chử Đồng Tử được tổ chức tại Khoái Châu - Hưng Yên từ ngày
10 - 12/ 2 âm lịch.
- Lễ hội bao gồm lễ và hội:
+ Lễ: các hoạt động tín ngưỡng, các nghi thức cúng tế (đồ cúng lễ, các
chủ tế chủ lễ, các hình thức đưa rước, các bài khấn nguyện…) gắn với việc
diễn xướng sự tích các nhân vật thần linh hay anh hùng.-> không khí trang
trọng, linh thiêng.
+ Hội: gồm các trò chơi dân gian mang tính cộng đồng, vui vẻ, đồng
thời thuyết giải cho phần lễ, thể hiện quan niệm và tín ngưỡng một cách sinh
15

động. Đua thuyền rước nước, kéo co, đấu vật, thổi cơm thi, bắt chạch trong
chum, hát đối đáp… là những hành động thường diễn ra trong hội. Ví dụ: ở
Thanh Kiệt (Phú Thọ) có tục đánh cá và ăn gỏi cá theo tích Sơn Tinh tiêu diệt
quân Thủy Tinh. Thanh Sơn có trò Bách nghệ khôi hài được giải thích là để
mua vui cho công chúa Ngọc Hoa trên đường về nhà chồng…-> vui chơi giải
trí...
- Các lễ hội thờ cúng anh hùng mang dấu ấn của nghi lễ nông nghiệp
khá đậm nét. Nó thể hiện ở thời gian hội hè theo mùa vụ sản xuất lúa nước
của các địa phương. Lễ hội chủ yếu diễn ra vào mùa xuân và mùa thu - “xuân
thu nhị kì” là hai thời điểm nông nhàn, sau khi cắm cây lúa xuống đồng. Các
hoạt động như đua thuyền, rước nước, nổ pháo đất, đánh cầu, đánh phết, múa
lân, thả diều, thả chim… đều gắn với những hình thức cầu mưa, cầu tạnh,
sùng nước… của văn hóa nông nghiệp. Trong nghi lễ thờ cúng anh hùng,
người ta không chỉ tưởng niệm chiến công chống giặc mà con cầu khẩn các vị
thần ấy trợ giúp cư dân được “phong đăng hòa cốc”.
3.3. Nội dung của truyền thuyết
3.3.1. Truyền thuyết giải thích nguồn gốc nòi giống dân tộc
Khảo sát qua một số bản kể sau: Bọc trăm trứng, Con Rồng cháu Tiên, Lạc
Long Quân - Âu Cơ, Họ Hồng Bàng (Vẽ sơ đồ truyện Họ Hồng Bàng)
- Ý nghĩa:
+ Giải thích nguồn gốc nòi giống dân tộc:
+ Niềm tự hào dân tộc
+ Tinh thần đoàn kết
3.3.2. Phán ánh công cuộc dựng nước và sáng tạo văn hóa của cha ông ta
16

- Ca ngợi công cuộc lao động chinh phục tự nhiên và khai phá mở mang bờ
cõi. -> hình tượng người anh hùng sáng tạo văn hóa như Lạc Long Quân, Sơn Tinh,
Chử Đồng Tử...
Ví dụ: Nhân vật Lạc Long Qu
 
Gửi ý kiến