Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SKKN CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HSG HÓA 9 - KIM LOẠI TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH MUỐ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 09h:19' 20-03-2026
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 18
Số lượt thích: 0 người
----------  ----------

SÁNG KIẾN
“XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI HÓA 9 CHỦ ĐỀ KIM LOẠI
TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH MUỐI”

Lĩnh vực/ Môn: HÓA HỌC

1

PHẦN I. LÍ LỊCH
- Họ và tên:
- Ngày sinh:
- Năm vào ngành:
- Trình độ đào tạo:
- Chức vụ, chức danh:
- Đơn vị công tác:
- Nhiệm vụ được giao trong năm
- Tên sáng kiến:

Đại học – Chuyên ngành Hóa học
Giáo viên
Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng Học
sinh giỏi hóa 9 – Chủ đề Kim loại tác
dụng với dung dịch muối.

2

PHẦN II: NỘI DUNG
A. MỞ ĐẦU
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết
Theo báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI:“Đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo
hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý
tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng
tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”. Văn
Kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định “giáo dục là quốc
sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang
bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi
đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn
với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội”.
Yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục không chỉ là việc đảm bảo nhiệm vụ
đào tạo toàn diện mà còn bao gồm chức năng phát hiện và bồi dưỡng học sinh
giỏi (HSG), đặc biệt là trong lĩnh vực hóa học (HH). Trong bối cảnh nền công
nghiệp hóa chất và dầu khí của Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, việc xây
dựng đội ngũ cán bộ, kỹ sư có trình độ kỹ thuật cao trong lĩnh vực công nghệ
HH trở thành vô cùng quan trọng. Nhu cầu này không chỉ đến từ sự phát triển
của ngành công nghiệp, mà còn là đáp ứng cho xu thế toàn cầu về chuyển đổi số
và sự chuyển đổi sang các nguồn năng lượng sạch. Do đó, việc đầu tư vào giáo
dục hóa học và đặc biệt là phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi trong lĩnh vực
này là hết sức cần thiết. Trong khuôn khổ của công cuộc đổi mới đất nước, việc
này không chỉ là một nhiệm vụ quan trọng mà còn là một cơ hội để xây dựng
tương lai mạnh mẽ và bền vững cho đất nước. Đối với ngành giáo dục, đặc biệt
là trong lĩnh vực hóa học, việc tạo điều kiện và môi trường thích hợp để phát
hiện và phát triển tài năng là một bước quan trọng để xây dựng đội ngũ nhân sự
có năng lực và đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và kinh tế.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi luôn quan niệm và xác định một
điều rằng: ”một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nghề dạy học là đào
tạo ra những học sinh giỏi và một trong những niềm vui sướng, vinh dự, hạnh
phúc nhất trong cuộc đời người thầy là đào tạo và bồi dưỡng được những học
sinh giỏi”. Chủ đề về kim loại tác dụng với dung dịch muối trong chương trình
Hóa học lớp 9 thực sự là một chủ đề phức tạp và đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về
nhiều khía cạnh khác nhau của hóa học. Để giúp học sinh học tốt chủ đề này,
3

đặc biệt trong bồi dưỡng học sinh giỏi người giáo viên cần có biện pháp đúng,
đưa ra những nội dung kiến thức phù hợp để các em tiếp thu. Do vậy, đứng
trước thực tế yêu cầu của giáo dục hiện nay nói chung và của quá trình dạy bồi
dưỡng chủ đề Kim loại tác dụng với dung dịch muối nói riêng, tôi quyết định
chọn đề tài: “Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng Học sinh giỏi hóa 9 – Chủ đề
Kim loại tác dụng với dung dịch muối”. Qua đề tài này, tôi mong muốn tạo ra
ra được một chuyên đề dạy bồi dưỡng chất lượng, đạt hiểu quả cao, giúp học
sinh mang về nhiều giải trong các kỳ thi học sinh giỏi sắp tới.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới.
Sáng kiến “Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng Học sinh giỏi hóa 9 – Chủ
đề Kim loại tác dụng với dung dịch muối” đem lại ý nghĩa và tác dụng sau:
- Nâng cao chất lượng học tập môn Hóa học: Sáng kiến cung cấp cho học
sinh hệ thống kiến thức đầy đủ, logic về chủ đề Kim loại tác dụng với dung dịch
muối. Qua đó, học sinh không chỉ ghi nhớ kiến thức mà còn hiểu sâu sắc bản
chất của các phản ứng hóa học, mối liên hệ giữa các kim loại và dung dịch
muối. Sáng kiến cũng cung cấp cho học sinh nhiều dạng bài tập đa dạng, từ cơ
bản đến nâng cao, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải bài tập, tư duy logic và
sáng tạo.
- Phát triển năng lực học sinh: Sáng kiến khuyến khích học sinh chủ động
tìm tòi, khám phá kiến thức, rèn luyện kỹ năng tư duy độc lập, sáng tạo. Qua đó,
học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề, tư duy logic, sáng tạo, rèn luyện
kỹ năng thí nghiệm và làm việc nhóm.
- Tăng cường hứng thú học tập: Sáng kiến sử dụng phương pháp giảng
dạy hiện đại, kết hợp lý thuyết với những minh họa sinh động, giúp học sinh
hứng thú với môn Hóa học. Qua đó, học sinh học tập hiệu quả hơn và phát triển
niềm yêu thích với môn học.
- Chuẩn bị cho học sinh tham gia các kỳ thi: Sáng kiến giúp học sinh
củng cố kiến thức, kỹ năng giải bài tập, rèn luyện tư duy logic và sáng tạo. Qua
đó, học sinh tự tin hơn khi tham gia các kỳ thi học sinh giỏi, thi vào lớp 10 và
các kỳ thi tuyển sinh khác.
- Hỗ trợ công tác nghiệm vụ cho giáo viên: Nâng cao hiệu quả giảng
dạy, tiết kiệm thời gian và công sức chuẩn bị bài giảng. Có thêm tài liệu tham
khảo để đổi mới phương pháp giảng dạy. Nâng cao năng lực chuyên môn và
nghiệp vụ sư phạm.
3. Phạm vi sáng kiến
Phạm vi nghiên cứu là quá trình dạy bồi dưỡng HSG chủ đề Kim loại tác
dụng với dung dịch muối môn hóa học lớp 9.
4

Đối tượng triển khai là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học
sinh trong đội tuyển HSG hóa 9 thông qua chuyên đề bồi dưỡng chủ đề Kim
loại tác dụng với dung dịch muối.
II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1. Cơ sở lí luận
1.1. Khái niệm quá trình dạy học
Quá trình dạy và học được hiểu là sự tác động qua lại giữa GV và HS có
chủ đích được thay đổi một cách có trình tự nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáo
dưỡng, giáo dục cộng sản chủ nghĩa và phát triển nhân cách cho HS; là chuỗi
liên tiếp các hành động của người dạy và người học đan xen và tương tác với
nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các
nhiệm vụ dạy học.
Quá trình dạy và học là một quá trình toàn vẹn bao gồm 3 thành phần
không thể thiếu và có quan hệ mật thiết với nhau đó là: môn học, việc dạy và
việc học.
Trong nhà trường hoạt động dạy học luôn giữ vị trí trọng tâm bởi nó
chiếm hầu hết thời gian, khối lượng công việc của nhà trường. Nó mang tính
quyết định đến việc thực hiện mục tiêu của năm học.
Hoạt động dạy học được diễn ra theo một quá trình nhất định được gọi là
quá trình dạy học. Quá trình dạy học bao gồm hoạt động dạy của người thầy và
hoạt động học của trò. Đây là toàn bộ hoạt động của GV và HS do GV hướng
dẫn nhằm giúp HS nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và từ đó trò
được phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành cơ sở thế
giới quan khoa học.
Như vậy hoạt động dạy học có sự gia công sư phạm của GV để giúp HS
nắm nhanh chóng và hiệu quả những tri thức cần đạt được. Tuy nhiên chất
lượng của hoạt động dạy học phụ thuộc vào chính hoạt động học của học trò,
mọi tác động của người dạy chỉ là tác động bên ngoài. Những nhân tố trong cấu
trúc của hoạt động dạy học tồn tại trong mối quan hệ qua lại thống nhất với
nhau.
Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của
HS và có sự thống nhất biện chứng với nhau, được thực hiện trong nhà trường
bằng sự tương tác có tính xã hội và hợp tác giữa dạy và học.
Dạy là công việc của GV bao gồm các hoạt động như: tổ chức, thiết kế,
chỉ đạo, điều khiển việc lĩnh hội kiến thức, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo,
hướng dẫn HS cách thức, phương pháp tiếp thu, lĩnh hội kiến thức. Bản chất của
công việc dạy của GV là quá trình tổ chức cho HS nhận thức, là quá trình giúp
5

HS chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách toàn vẹn cho HS.
Muốn dạy tốt thì GV phải xuất phát từ khái niệm khoa học, xây dựng quy trình
dạy học và tổ chức tối ưu các hoạt động dạy và học, thực hiện hoạt động dạy và
học đảm bảo được tính liên hệ ngược thường xuyên và bền vững.
Học là hoạt động học tập của HS nhằm thu nhận tri thức, bản chất của
hoạt động học là quá trình lĩnh hội tri thức một cách chủ động, sáng tạo và tích
cực dưới sự hướng dẫn của người thầy.
Thực chất bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo
của HS, và cũng được diễn ra theo quy luật nhận thức chung của loài người từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn,
đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý. Vì vậy, những yếu tố trực
quan như các sự vật, hiện tượng có thật hoặc các mô hình, tranh vẽ lời nói giàu
hình tượng cả GV giúp HS xây dựng được những biểu tượng về chúng, đó là
những tài liệu cảm tính, từ những điều đó và thao tác tư duy của HS mà giúp HS
hình thành được các khái niệm khoa học.
1.2. Năng lực và phát triển năng lực cho học sinh
a. Khái niệm năng lực 
Năng lực là một phạm trù khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều
lĩnh vực, bao gồm giáo dục, tâm lý học, quản lý, v.v. Theo góc nhìn tổng quan,
năng lực có thể được định nghĩa là khả năng thực hiện thành công một nhiệm vụ
hoặc hoạt động cụ thể. Nó là tập hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh
nghiệm cần thiết để hoàn thành công việc một cách hiệu quả.

Hình. Các năng lực cốt lõi học sinh cần đạt được
6

Có nhiều cách tiếp cận để định nghĩa năng lực:
- Theo quan điểm truyền thống: Năng lực được xem là tổng hợp các kiến
thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà một cá nhân tích lũy được thông qua quá trình
học tập và rèn luyện.
- Theo quan điểm hiện đại: Năng lực được xem là khả năng hành động
hiệu quả trong một tình huống cụ thể. Nó bao gồm cả khả năng vận dụng kiến
thức, kỹ năng và kinh nghiệm để giải quyết vấn đề và đạt được mục tiêu đề ra.
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, năng lực có thể được phân loại thành
nhiều dạng thức khác nhau:
- Theo lĩnh vực: Năng lực chung (như năng lực tư duy phản biện, năng
lực giao tiếp) và năng lực chuyên môn (như năng lực sư phạm, năng lực quản
lý).
- Theo trình độ: Năng lực cơ bản (như năng lực đọc hiểu, năng lực tính
toán) và năng lực cao cấp (như năng lực giải quyết vấn đề phức tạp, năng lực
sáng tạo).
b. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh
Năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các
kĩ năng (thao tác tác duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết
có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán.
Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân hiểu và giải
quyết tình huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng. Nó bao gồm
sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó – thể hiện tiềm năng
là công dân tích cực và xây dựng (Định nghĩa trong đánh giá PISA, 2012).
Ý nghĩa của việc hình thành và phát triển năng lực GQVĐ:
- Sự hình thành và phát triển năng lực GQVĐ giúp HS hiểu và nắm chắc
nội dung cơ bản của bài học. Từ đó HS có thể mở rộng và nâng cao những kiến
thức xã hội của mình.
- Sự hình thành và phát triển năng lực GQVĐ giúp HS hình thành kỹ
năng giao tiếp, tổ chức, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác, hoà nhập cộng đồng.
- Sự hình thành và phát triển năng lực GQVĐ giúp GV có thể đánh giá
một cách khá chính xác khả năng tiếp thu của HS và trình độ tư duy của học
sinh, tạo điều kiện cho việc phân loại HS một cách chính xác. GV có thể trực
tiếp uốn nắn những kiến thức sai lệch, không chuẩn xác, định hướng kiến thức
cần thiết cho HS.
Một trong những biện pháp phát triển năng lực GQVĐ hiệu quả nhất cho
HS là phát triển cho HS khả năng vận dụng kiến thức từ môn học để giải quyết
7

những vấn đề thực tiễn có liên quan, đôi khi từ những vấn đề thực tiễn sau khi
HS giải quyết, HS tự tìm hiểu được những kiến thức mới của môn học.
1.3. Một số vấn đề về đội tuyển học sinh giỏi
1.3.1. Năng lực, tài năng, năng khiếu
Năng lực: Là những đặc điểm tâm lý cá biệt ở mỗi con người, tạo thành
điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu của việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
để đáp ứng yêu cầu và hoàn thành xuất sắc một hoạt động nhất định.
Tài năng (trình độ cao của năng lực là tài năng): Tài năng là một tổ hợp
các năng lực tạo tiền đề thuận lợi cho con người sáng tạo, thực hiện nhiệm vụ
đạt hiệu quả cao. Tài năng được rèn luyện, hình thành trong quá trình hoạt động
của con người. Người có năng khiếu được phát hiện, bồi dưỡng kịp thời thì có
nhiều cơ hội trở thành tài năng.
Năng khiếu: Là “mầm mống” của tài năng, là tín hiệu của tài năng trong
tương lai. Năng khiếu không được tạo ra mà chỉ được tìm ra, phát hiện thấy ở
trẻ em. Năng khiếu có liên quan tới một số yếu tố bên trong dựa trên những tư
chất bẩm sinh – di truyền thể hiện ở các tố chất sinh lý, thần kinh trội tương hợp
với năng khiếu có ở một người.
1.3.2. Các giai đoạn phát triển của một tài năng
- Giai đoạn 1: Giai đoạn sinh học: (từ lúc người mẹ mang thai đến lúc
đứa trẻ ra đời). Đây là giai đoạn hình thành các tổ chức cấu trúc tế bào, gắn bó
chặt chẽ với việc hình thành và phát triển của thai nhi cũng như việc nảy sinh
(hoặc thui chột) mầm mống ban đầu tài năng của mỗi con người.
- Giai đoạn 2: Giai đoạn sinh – xã hội: (Bắt đầu từ lúc đứa trẻ ra đời cho
tới lúc đứa trẻ trưởng thành). Đây là giai đoạn nảy sinh, bộc lộ, phát triển và xác
lập năng lực.
- Giai đoạn 3: Giai đoạn xã hội: Đây là giai đoạn tài năng được thể hiện,
được sử dụng trong thực tiễn, mang lại các kết quả, các cống hiến cụ thể.
1.3.3. Học sinh giỏi, học sinh giỏi THCS - THPT
- Học sinh giỏi: Là học sinh có tiềm năng của sự “thông thạo”
- Học sinh giỏi THCS - THPT: HSG về một môn học nào đó là sự đánh
giá, ghi nhận kết quả học tập mà các em đạt được ở mức độ cao so với mục tiêu
môn học ở từng lớp và cả cấp THCS hoặc THPT. Kết quả ở mỗi môn học của
học sinh được thể hiện thông qua kiến thức và kỹ năng mà các em có được,
đồng thời còn thể hiện ở trình độ tư duy, qua thái độ và cách ứng xử, qua cách
vận dụng kiến thức và kỹ năng trong cuộc sống thường ngày.
1.3.4. Khái niệm bồi dưỡng học sinh giỏi
8

- Theo Từ điển Giáo dục học 2001, bồi dưỡng được định nghĩa như sau:
“Bồi dưỡng là quá trình trang bị thêm kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng
cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể”.
- Bồi dưỡng HSG là chủ động tạo ra môi trường và những điều kiện
thích hợp cho người học phát huy cao độ nội lực của mình, đi đôi với việc tiếp
nhận một cách thông minh, hiệu quả ngoại lực (người thầy có vai trò quan trọng
hàng đầu trong môi trường có tính ngoại lực); mà cốt lõi là giúp cho người học
về phương pháp, biết cách học, cách nghiên cứu, cách tư duy, cách tự đánh giá,
tận dụng phương tiện hiện đại nhất để tìm kiếm, thu thập và xử lý thông tin để
tự học, tự bồi dưỡng.
1.3.5. Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi
Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng HSG được thể hiện qua báo cáo
chính trị của ban chấp hành trung ương Đảng VI: “Nhân tài không phải là sản
phẩm tự phát mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu. Nhiều tài năng có
thể bị mai một đi nếu không được phát hiện và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ"
1.3.6. Mục đích của việc bồi dưỡng học sinh giỏi
- Mục đích của việc bồi dưỡng HSG được quy định rõ ràng trong Điều
2 – Quy chế thi HSG quốc gia chính là: “Động viên, khích lệ những học sinh
học giỏi và các giáo viên dạy giỏi; góp phần thúc đẩy việc cải tiến, nâng cao
chất lượng dạy và học, chất lượng của công tác quản lý, chỉ đạo của các cấp
quản lý giáo dục; đồng thời nhằm phát hiện học sinh có năng khiếu về môn học
để tiếp tục bồi dưỡng ở cấp học cao hơn, nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước”.
2. Cơ sở thực tiễn
- Học sinh giỏi của trường: Hằng năm, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Sở
GD&ĐT tỉnh Hưng yên, nhà trường đã xây dựng kế hoạch, triển khai khảo sát
để lựa chọn đội tuyển dự thi cấp tỉnh và phân công giáo viên bồi dưỡng. Hàng
năm nhà trường đều tổ chức thi để khảo sát chất lượng vào tháng 4.
- Về nội dung bồi dưỡng: Nhà trường chưa xây dựng được nội dung
chương trình dành riêng cho HSG nên mỗi GV tham gia bồi dưỡng HSG phải tự
nghiên cứu, sưu tầm tài liệu và tự soạn giáo án, các chuyên đề nâng cao và
chuyên sâu phù hợp với khả năng nhận thức của HS dựa trên nội dung chương
trình và chuẩn kiến thức kỹ năng đối với từng môn học do Bộ GD&ĐT quy
định, trong đó nhấn mạnh đến việc khắc sâu kiến thức trọng tâm, kỹ năng học
và làm bài của HS, lồng ghép tài liệu nâng cao vào bài dạy phù hợp với đối
tượng học sinh
- Thực trạng điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng
HSG: Sách tham khảo, tài liệu trong thư viện còn chưa đầy đủ, cần được tăng
9

cường đầu tư cho sách, tài liệu, đặc biệt là các tài liệu nâng cao phù hợp với đối
tượng HSG. Cơ sở vật chất lớp học thiếu, các phòng học hiện nay cơ bản chỉ đủ
cho dạy học chính khóa và ôn thi tốt nghiệp. Thiết bị dạy học chưa tốt, có nhiều
đồ dùng chưa có hoặc không đảm bảo chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu
của bồi dưỡng HSG. Ngoài ra hiện tại nhà trường chưa có các phòng thực hành
để đáp ứng nhu cầu học tập của HS.
- Sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội: Nhà trường đã phối
hợp với các tổ chức xã hội giúp nhà trường về thiết bị, tài liệu giảng dạy, thay
bảng mới, thay quạt, mua máy chiếu, lập quỹ khuyến học... khen thưởng cho HS
đạt giải trong các kì thi.
- Về chế độ chính sách: Nhà trường đã có những biện pháp khen
thưởng, động viên GV và HS có kết quả cao trong các kỳ thi các cấp, có chế độ
thanh toán cho giáo viên dạy tối đa 30 tiết/1 đội tuyển dự thi cấp tỉnh và nhiều
chế độ hỗ trợ khác.
Đánh giá chung về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường
- Thuận lợi: Lãnh đạo nhà trường, tổ trưởng tổ chuyên môn quan tâm
chỉ đạo sát sao tới công tác bồi dưỡng HSG của trường, coi đó là nhiệm vụ
chính trị quan trọng hàng đầu của trường. Sự đầu tư về đội ngũ, về cơ sở vật
chất, thiết bị dạy học luôn được thường xuyên. Sự quan tâm đó cũng ảnh hưởng
lớn đến nhận thức của cha mẹ HS, HS trong các trường. Được nhân dân, các
đoàn thể ủng hộ tạo điều kiện, GV và HS càng thấy được niềm tự hào và trách
nhiệm của mình trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường, đó chính là
công tác bồi dưỡng HSG.
- Khó khăn:
+ Công tác xây dựng kế hoạch học tập chưa được GV và HS quan tâm,
việc kiểm tra, đánh giá của lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn đối với công tác
này còn có phần xem nhẹ.
+ Chưa xây dựng được nội dung chương trình bồi dưỡng cụ thể của
từng môn, giáo viên chủ yếu làm theo kinh nghiệm, tự sưu tầm tài liệu, những
giáo viên chưa bao giờ thành công trong công tác này thì như “người đi trong
đêm”, không xác định được phải bồi dưỡng cái gì cho học sinh. Những học sinh
yêu thích môn học, có tố chất nhưng không được GV bộ môn bồi dưỡng thì
không biết ôn luyện theo tài liệu nào dẫn đến kết quả thi rất thấp, học sinh chán
nản và bỏ cuộc. Việc không có tài liệu bồi dưỡng cũng là nguyên nhân làm cho
nhiều giáo viên ngại bồi dưỡng do phải tìm tài liệu, xây dựng nội dung.

10

+ Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc nâng cao hơn nữa trình độ
của HSG hiện nay còn chưa đáp ứng. Việc tạo điều kiện cho GV có điều kiện để
tham gia các lớp bồi dưỡng còn chưa phù hợp.
+ Đội ngũ GV có đủ về số lượng, đạt chuẩn về trình độ chuyên môn
nhưng chưa thực sự giỏi về chuyên môn. GV chưa có phương pháp phát hiện và
bồi dưỡng HSG mà chỉ dựa vào kinh nghiệm của bản thân để lựa chọn, phát
hiện HSG.
+ Việc phát hiện và tuyển chọn học sinh có năng khiếu, có tài năng còn
thiếu cơ sở khoa học nên chưa chính xác và triệt để.
+ Trong quá trình bồi dưỡng, giáo viên chưa có phương pháp tác động
cá biệt nhằm phát huy tính độc lập, chủ động sáng tạo, trí thông minh của học
sinh. Trách nhiệm và quyền lợi của giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi còn chưa
nhiều, chưa động viên được người dạy.
III. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
1. Học sinh
Tích cực tham gia các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức, nghiêm
túc, có trách nghiệm thực hiện các nhiệm vụ học tập.
Tự quản lý bản thân trong việc học tập, đảm bảo kết quả học tập tốt, tự
đặt mục tiêu đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi các cấp.
2. Giáo viên
Lập kế hoạch và chương trình bồi dưỡng: Xác định mục tiêu cụ thể cho
từng học sinh dựa trên năng lực và sở thích của học sinh. Lập kế hoạch bồi
dưỡng chi tiết, bao gồm nội dung, phương pháp giảng dạy, thời gian học tập, tài
liệu tham khảo. Chọn lọc và sử dụng các tài liệu, chương trình bồi dưỡng phù
hợp với trình độ và năng lực của học sinh.
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng: Sử dụng đa dạng các phương pháp
giảng dạy như giảng bài, thảo luận, thực hành, nghiên cứu khoa học. Khuyến
khích học sinh tư duy sáng tạo, độc lập, tự chủ trong học tập. Tạo môi trường
học tập cởi mở, tích cực, khuyến khích học sinh học hỏi lẫn nhau.
Giám sát và đánh giá kết quả bồi dưỡng: Theo dõi sát sao quá trình học
tập của học sinh, kịp thời điều chỉnh kế hoạch bồi dưỡng phù hợp. Đánh giá kết
quả học tập của học sinh thông qua các bài kiểm tra, bài tập, sản phẩm học tập.
Có định hướng cụ thể để học sinh phát triển năng lực và đạt kết quả cao trong
các kỳ thi học sinh giỏi.
Tạo động lực cho học sinh: Khen ngợi, động viên kịp thời những nỗ
lực và thành tích của học sinh. Giúp học sinh giải quyết các khó khăn trong quá
11

trình học tập. Tạo môi trường học tập thân thiện, cởi mở, giúp học sinh tự tin
phát triển năng lực của bản thân.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập, sách
tham khảo, các đề thi học sinh giỏi Hóa các cấp, các năm ...
- Nghiên cứu chương trình đổi mới dạy học học hóa học, kiểm tra đánh
giá kết quả học hóa học nói chung và thi HSG hóa nói riêng.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Sử dụng các PP điều tra, phỏng vấn ;
- Phương pháp chuyên gia.
- Thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê toán học và xử lí kết quả thực nghiệm.
IV. THỜI GIAN TẠO RA GIẢI PHÁP
- Thời gian bắt đầu nghiên cứu đề tài: tháng 9 năm 2023
- Thời gian hoàn thành: tháng 2 năm 2024
B. NỘI DUNG
I. MỤC TIÊU CỦA SÁNG KIẾN
Đưa ra được một số biện pháp gây hứng thú học tập môn KHTN cho HS trường
THCS Bảo Khê:
- Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực lồng ghép trò chơi .
- Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực của học sinh.
II/ MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA SÁNG KIẾN
1. Tính sáng tạo của vấn đề
Sáng kiến “Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng Học sinh giỏi hóa 9 – Chủ
đề Kim loại tác dụng với dung dịch muối “ đã giúp học sinh nâng cao kiến thức
và kỹ năng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển các năng lực cần thiết
cho học sinh và góp phần nâng cao chất lượng chung cho quá trình học bồi dưỡng.
Giải pháp của tôi bao gồm 3 nội dung. Cụ thể:
Nội dung 1. Phương pháp dạy lý thuyết chủ đề
Nội d
 
Gửi ý kiến