VĂN HÓA GIAO TIẾP ỨNG XỬ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư Viện Trường THCS THPT Suối Nho (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:12' 29-10-2025
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Thư Viện Trường THCS THPT Suối Nho (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:12' 29-10-2025
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
ĐINH VIỄN TRÍ – ĐÔNG PHƯƠNG TRI
NGỌC ANH dịch
VĂN HÓA GIAO TIẾP ỨNG XỬ
(Biết co biết duỗi)
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA – THÔNG TIN
Hà Nội – 2003
Thân gửi tới độc giả của ebook “Biết co biết duỗi”!
Trong quá trình thực hiện ebook cho tập sách này chúng tôi đã
gặp những lỗi sau đây từ chính nguyên tác của NXB.
- Lỗi chính tả và trình bày: bỏ dấu mũ cẩu thả, tuỳ tiện dùng
“i”, “y”, lỗi “d”, “gi”, lỗi dấu câu”.”, “,”
- Lỗi tên nhân vật: cùng một người nhưng mỗi câu chuyện tên
có thể thay đổi về dấu, chữ lót, họ và cách sắp xếp của toàn bộ tên.
- Lỗi diễn đạt: nhiều câu văn viết lủng củng, tối nghĩa, chấm
phẩy tuỳ hứng. Một số câu tiếng Việt thuần nhưng vô nghĩa bởi các
từ liên kết hoặc các cụm từ không có trong từ điển tiếng Việt.
VOZ Ebook Team đã cố gắng tìm kiếm thông tin cũng như chỉnh
sửa những lỗi sai này. Tuy nhiên, chất lượng bản chính có quá nhiều
“sạn” nên ebook có thể vẫn tồn tại một số lỗi ngoài ý muốn. Hy vọng
độc giả thông cảm và phản hồi tích cực.
VOZ Ebook Team, project “Biết co biết duỗi”.
18/04/2022
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I: TRÍ TUỆ
1. Đầu bông lúa mẩy rủ xuống dưới, đầu bông lúa lép hướng lên
trời
2. Khương thái công câu cá, ai muốn thì đến mắc câu. Nhất nhất
cầu “duỗi” trong “câu”
3. An không thể quên nguy, trị không thể quên loạn
4. Có công mài sắt, có ngày nên kim
5. Bảo kiếm nhọn từ mài giũa mà ra, hoa mai thơm do giá rét mà
đến
6. Không sợ trăm trận bất lợi, chỉ sợ nản lòng nhụt chí
7. Tìm bóng mát giữa cây đại thụ
8. Nhường người phần hơn không phải là hèn yếu
9. Tình thì tròn - lý thì vuông
10. Mượn gà đẻ trứng
11. Giấu đuôi làm người
12. Muốn lời nói có uy lực, trước tiên mình phải hành động đúng
như như lời nói ấy
13. Nam nhi đại trượng phu quỳ gối là vàng
14. Lấy vai người khác làm bàn đạp để tiến lên
15. Chỉ cần lưu lại được núi xanh thì không lo thiếu củi đốt
16. Lưu lại một chút tình, sau này dễ ăn nói
17. Được gió phải giương buồm
18. Thuyền vào chỗ vòng phải bẻ bánh lái
19. Vịnh tránh gió sẽ không bắt được cá mập lớn
20. Dù đứng chết cũng quyết không sống quỳ
21. Bệnh có nghìn loại, thuốc có vạn biến
22. Tướng có nhiều loại, nam nhi mấy người tự cường
23. Gặp cầu phải xuống ngựa, qua sông chớ tranh thuyền
24. Quân không rời trận, xe không rời bến
25. Giả dương thành âm, thừa cơ lơ là đánh chỗ lười
26. Khi phải nhượng bộ thì nên nhượng bộ
27. Lòng người không biết đủ như rắn nuốt voi
28. Cung kính có tiêu tan giận, nhượng bộ có thể ngừng chiến
tranh
29. Quân tử kết giao trọng tình nghĩa
30. Nước xiết cũng có sóng quay đầu
31. Ngựa tốt không ăn cỏ bỏ
32. Ý của kẻ say không nằm ở rượu
33. Đại trượng phu báo thù mười năm chưa muộn
34. Lòng tham vô đáy, được voi đòi tiên
35. Thành danh nhờ có những ngày khổ cực
36. Bảo vệ cây non như bảo vệ mạng sống
37. Đâm lao thì phải theo lao
38. Lựa gió đẩy thuyền
39. Thế sự minh thông cần học vấn, nhân tình thấu đạt bởi văn
chương
40. Cung cứng thì hay bị gãy, người “cứng” hay gặp họa
41. Có cái làm được tất có cái không thể
42. Muốn nhìn xa thì leo cao một chút
43. Trong nhu có cương, trong cương có nhu
44. Đại dương không từ chối suối nhỏ, thái sơn không chỉ một hòn
đất
45. Ông trời không mở mắt, không có cửa báo đền công ơn
46. Chí nhỏ không phải là quân tử, không “độc” không phải là
trượng phu
47. Dùng sức khiến người tâm phục khẩu phục
48. Thà làm cho trời giận cũng không khiến người buồn
49. Không gặp trắc trở không lùi bước
PHẦN II: TU THÂN
50. Tiện lợi cho mọi người, tiện lợi cho bản thân
51. Không vì năm đấu gạo mà phải khom lưng
52. Đại trượng phu biết nhìn xa trông rộng
53. Thà làm sen trong bùn, chứ không làm bèo trên mặt nước
54. Người giỏi không kiêu ngạo, kẻ kiêu ngạo là kẻ bất tài
55. Lời nói không nên quá kiên quyết cứng nhắc, đừng bước đến
chỗ cùng
56. Tự mình sống tiết kiệm, loại bỏ sự xa hoa
57. Nam nhi không cứng rắn không bằng cám thô
58. Người không cốt cách cứng cỏi cũng chẳng lâu bền
59. Hoành phúc bay đến chặn không nổi
60. Cổ có dài thêm nữa cũng không cao quá đầu
61. Mượn thang lên lầu
62. Dung thứ người, thênh thang tiến bước
63. Người quân tử không nhớ đến những tội ác xưa
64. Tha cho người không phải là kẻ ngu, kẻ ngu không thể tha cho
người
65. Rùa không nên cười ba ba, đều sống trong bùn cả mà
66. Hoa hồng tuy đẹp, vẫn cần có lá xanh
67. Trong sóng gió mới có anh hùng, trong bão tố mới gặp hảo
hán
68. Muốn tốt đẹp, hãy nhường nhịn nhau
69. Thiện ác rồi sẽ báo đền, có điều là sớm hay muộn mà thôi
70. Thà chết không khuất phục
71. Thà chết có khí tiết chứ không sống đời nô lệ
72. Người sa ngã sửa mình, điều đó rất đáng quý
73. Khi người ta phản bội, quỷ sứ sẽ đến
74. Trên bảng không có tên, dưới chân vẫn có đường
PHẦN III: KINH NGHIỆM
75. Việc đối nhân xử thế có rất nhiều kiểu, mỗi kiểu đều có đặc sắc
riêng
76. Nhân tài ẩn dật
77. Không trói buộc, nhấn chìm nhân tài
78. Chỉ hướng cao vời vợi nhưng vận mệnh lại quá mỏng manh
79. Chim muông dựa vào rừng, con người dựa vào hợp tác
80. Cây di chuyển thì sẽ chết, người di chuyển thì sẽ sống
81. Chưa trải qua gian nan vất vả thì chưa trưởng thành
82. Người chịu được thiệt thòi là người tốt, chịu thiệt là phúc
83. Chỉ làm người trượng nghĩa chứ quyết không làm kẻ tham lam
84. Ngọc không mài không thành khí
85. Nhẫn nhịn một lúc, cả đời không phiền não
86. Lợn sợ béo, người sợ nổi tiếng
87. Có bị đánh gãy răng cũng nên nuốt vào trong bụng
88. Không làm việc trái với lương tâm thì không sợ nửa đêm ma
gõ cửa nhà
89. Nếu thoát được thì không phải là tai hoạ, đã là tai họa thì
không thể thoát nổi
90. Trốn hổ thì chạy xuống núi, tránh hổ thì đi đường vòng
91. Đàn ông chết vì người tri kỷ, phụ nữ nhẫn nhịn vì người làm
mình vui
92. Trời đất luôn vận hành, người quân tử luôn tự cường
93. Áo vải ấm, rau hẹ thơm, quả bầu làm lương thực nửa năm
94. Khinh cứng chứ không khinh mềm, sợ lý chứ không sợ dao
95. Làm quan mà không vì dân thì chẳng bằng ở nhà bán khoai
lang
96. Cây to đón gió, quan lớn lắm nguy hiểm
97. Chăn dài thì chớ duỗi chân
98. Anh có kế đóng cửa của anh, tôi có kế nhảy tường của tôi
99. Người thức thời là tuấn kiệt
100. Cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài
101. Xưa nay anh hùng đều gặp nhiều gian nan
102. Trăm động không bằng một tĩnh
103. Quân tử dùng mồm miệng chứ không dùng tay chân
104. Im lặng là vàng
105. Nguồn gốc vui vẻ của người ba phải
106. Nụ cười chỉ lộ một phần ba
107. Hồ đồ lại càng hồ đồ
108. Người biết nhẫn nhịn thì bản thân yên ổn
109. Không có chỗ cho sự phỉ báng
110. Nhân vật lớn nên có lòng bao dung với người khác
111. Hận thù nên cởi bỏ chứ không nên kết thêm
112. Đố kị là liều thuốc độc âm ỉ
113. Không khom lưng vì năm đấu gạo
114. Làm sạch bóng đen của cuộc sống
115. Thanh đạm để sáng chí
116. Con người sống đến trung tuổi có cái nghĩ ngợi, có cái không
nghĩ ngợi
117. Một phút quan trọng
118. Lãng tử quay đầu, vàng thau không đổi
119. Hài hước giúp bạn thoát khỏi lỗi lầm
120. Ham đức và ham sắc
121. Thế nào là người?
122. Hạn chế nhân dục, giữ lấy lý trời
123. Lấy tình đo tình, lấy tâm so tâm
124. Phàm việc gì cũng không oán trời, trách người
125. Mình vì mọi người, mọi người vì mình
126. Thường nở nụ cười thì trời đất rộng
127. Trời không tuyệt đường sống của con người
128. Vạn sự tùy thuộc vào duyên phận
129. Quân tử phải phòng họa từ khi chưa xẩy ra
130. Thích hợp thì dừng, thấy tốt liền thu
LỜI NÓI ĐẦU
I.
Thế nào là “co”, thế nào là “duỗi”? Thế nào gọi là biết co, biết
duỗi? Xin mời xem ba nhân vật phong lưu trong lịch sử là “Tam
Lưu”: Lưu Bang, Lưu Bị, Lưu Bá Ôn. Sử sách gọi Lưu Bang là Hán
Cao Tổ, vốn là một đình trưởng nhỏ bé ở Tứ Thuỷ, bị người đời
mắng là một nho sinh “vô lại”. Nhưng ông mượn thao lược “co duỗi”
của Trương Lương, sau khi vào quan ải trước Hạng Vũ một bước lại
không tham lam hưởng lạc nhất thời trong cung nhà Tần mà lưu
khỏi Hàm Dương, rút quân về Bá Thượng, đồng thời đích thân đến
Hồng Môn tạ tội với Hạng Vũ, nhẫn nhục chịu trách phạt, xưng là bề
tôi, lừa lấy được sự tín nhiệm của Hạng Vũ. Tiếp đó lại theo mưu kế
của Hàn Tín đốt cháy ở đạo, nín nhịn Hạng Vũ nhưng thực tế lại tích
cực chuẩn bị, ngầm vượt Trần Thương, cuối cùng thu phục được
Trung Nguyên. Khi Hàn Tín có công đòi sắc phong, ông kìm nén
giận dữ phong cho Hàn Tín là Tề Vương, cuối cùng Lưu Bang thắng
được Sở Bá Vương Hạng Vũ “có sức bạt núi có tài cái thế”, gây
dựng được đế nghiệp Tây Hán. Lưu Bang có được “đại duỗi” trong
lúc “đại co”, còn Hạng Vũ “vô địch thiên hạ” khi cùng quẫn phải tự
chặt đầu ở Ô Giang.
Lưu Bị thuở nhỏ gia đình nghèo khó, từng phải dệt chiếu nuôi
thân. Ban đầu, quân của ông thế cô lực mỏng đành dựa vào khe hở
chiến tranh loạn lạc mà sống sót. Ông trước sau dựa vào Công Tôn
Toản, Đào Khiêm, Tào Tháo, Viên Thiệu, Lưu Biểu, dùng cách ẩn
thân. Văn dựa vào Khổng Minh, võ nhờ ở Quan Trường mà chiến
thắng ở Xích Bích, rồi lại nhờ thời cơ đoạt lấy Kinh Châu, tiến thêm
bước nữa chiếm cứ Tứ Xuyên, khai sáng hai đại nghiệp Thục - Hán.
Nhưng sau khi Quan Vũ bị hại chết lại đi ngược nguyên tắc ban đầu,
tìm duỗi trong co, vì báo tình thân thiết mà chết ở thành Bạch Đế
cuối cùng khiến cho đại nghiệp Thục - Hán bị huỷ hoại bởi tay con
trai kế nghiệp là Lưu Thiện. Lưu Bị bỏ “co” mà huỷ hoại bởi “duỗi”.
Lưu Bá Ôn, còn gọi là Lưu Cơ, vốn là công thần hàng đầu khai
sáng nhà Minh, là quân sư nổi tiếng trong lịch sử. Sau khi giúp Chu
Nguyên Chương đoạt được ngôi vua, nhận ra những trò tranh đấu,
gạt bỏ lẫn nhau trong chốn quan trường, không màng đến công
danh lợi lộc, thành công rồi thì rút lui, cáo lão về quê, tránh được
họa sát thân trên “lầu mừng công”. Sau khi về quê, ông sáng tác ra
“Xa đạm ca” (Ca tán gẫu) thuật lại những sự tích lịch sử về sự hưng,
vong, thay, phế xưa nay dạy cho học trò diễn xướng, mượn đó để
nói lên nỗi lòng than thở đối với nhân thế tranh giành. Lưu Bá Ôn là
tấm gương lịch sử về việc “co” để cầu sinh “duỗi”.
II.
Thế nào là “co”, thế nào là “duỗi”? Thế nào gọi là biết cho biết
duỗi, giỏi co giỏi duỗi, đại co, đại duỗi? Xin hãy xem các khái niệm
trình bày trong sách này.
Co là một kiểu hồ đồ rất khó làm được, một kiểu khiêm nhường,
cung kính dạng “nước chảy chỗ trũng”. Co là “nín nhịn” cầu mong
sống còn trong cảnh khốn đốn, là “nhẫn nhịn” đấu tranh trong lúc
chịu nhục, là “tha thứ” trong khi tranh giành danh lợi, là “hài hoà”
trong khi thế gian không có chiến tranh.
Duỗi là mưu lược lấy lui để tiến, là nội công lấy mềm khắc cứng,
là khí khái lấy yếu thắng mạnh. Duỗi là hai dòng tư duy “không thể
mà không phải không thể”, là “có cũng không nhiều, hết cũng không
ít” theo ý mình mong muốn, là binh pháp cao siêu “không đánh mà
thắng”
Người co và người duỗi buồn vui cay đắng cùng tồn tại, phúc
họa như nhau, thành bại tương sinh. Tục ngữ xưa nói rằng: “Đại
trượng phu có lúc vùng dậy, có khi nằm phục, biết co biết duỗi. Có
khi không co duỗi, có khi co duỗi ít, có khi co duỗi nhiều”.
Người đại co là thể hiện của mười đức tốt: công, thành, chí,
hiếu, tín, trí, nhân, nghĩa, dũng, hoà. Người đại duỗi là biểu hiện của
mười điều vĩ đại: công, nghiệp, thành, lập, khởi, hưng, đức, chính,
kế, lược. Người giỏi co duỗi:
Có tầm nhìn xa rộng, tấm lòng trong sạch.
Có khí phách rộng lớn vô song, nghị lực siêu quần tuyệt đỉnh.
Có trí tuệ uyên bác tinh thâm, tiếp bước người trước, mở lối cho
người sau, có ý chí kiên cường nỗ lực đấu tranh, vì đạo nghĩa mà
không chùn bước.
Có tính cách chuyên tâm vững vàng, quán triệt trước sau, là
chính khí đội trời đạp đất, còn mãi muôn đời, có tài hoa định liệu cơ
mật, đạt đến độ chí thiện.
Việc sâu thì co sâu, việc nông thì co nông, việc xa thì co xa, việc
gần thì co gần, việc lớn thì co lớn, việc nhỏ thì co nhỏ, đó chính là
sách lược biết co biết duỗi, giỏi co mà ôm ấp ý duỗi.
Xử thế trong lúc co, lập chí trong lúc duỗi, làm người trong lúc
co, lập đức trong lúc duỗi, làm việc trong lúc co, lập nghiệp trong lúc
duỗi. Đó là tấm gương quý báu mà các thánh nhân hiền triết truyền
lại cho đời sau.
Tranh giành những được mất trước mắt, ham muốn vật chất
riêng tư, giành giật ưu thế nhất thời là loại vô tri không biết trời cao
đất dày là gì chứ không phải là “duỗi”.
Khom lưng uốn gối là cách “co” của bọn phản bội.
Đưa đón nịnh hót là cách “co” của bọn đầy tớ.
Hận trời thù người, buồn chán số phận là cách “co” của kẻ lười
nhác.
Đã sai cho sai một thể, không biết đường sửa chữa là cách “co”
của đồ bỏ đi.
III.
Trong “Các truyện Chu Dịch - quyển 6”, nhà tư tưởng lớn cuối
Minh đầu Thanh là Vương Phu viết rằng: “Thị cố hữu vãng lai là nhi
vô tử sinh. Vãng giả khuất giã, lai giả thân giã, tắc hữu khuất thân vô
tăng giảm. Khuất giả cố hữu kì khuất dĩ lai thân, khải tiêu diệt nhi tất
vô chi vị tai!”.
Ý tứ là vật chất vận động thay đổi có đi có đến nhưng lại không
có chết hay sinh ra, tức là vạn vật chưa từng được ai sinh ra và
cũng chưa từng bị ai tiêu diệt. Đến tức là co, đi tức là duỗi, vật chất
có sự co duỗi thay đổi thế chỗ cho nhau nhưng kỳ thực tổng lượng
lại không hề có tăng hay giảm.
Vương Phu lấy nước làm ví dụ rằng: “Như nước, lạnh thì là
băng, nóng thì là hơi. Dựa vào sự khác nhau giữa băng và hơi đủ để
biết thể thường của nước”.
Lão Tử nói: “Gặp giá lạnh thì lấy hình thức cố định - kết thành
băng nên tồn tại. Gặp phải nhiệt độ cao thì lấy thể khí - biến thành
hơi để tồn tại”.
Từ đó có thể thấy, môn “co duỗi học” của các triết gia xưa dạy
người ta xử thế, an thân, lập mệnh vốn là tổng kết kinh nghiệm của
hiệu pháp tự nhiên và mô phỏng vạn vật. Nhất co nhất duỗi nguyên
là bản năng của con người và vạn vật, đồng thời cũng là trí năng xử
thế để sinh tồn. Bản năng là sức mạnh tiềm tàng bẩm sinh, trí năng
là công lao của sau này.
Hãy phát huy bản năng của các bạn đi! Giữ gìn sự cân bằng về
tâm lý, lúc nào cũng có tâm trạng tốt!
Khai thác trí tuệ của các bạn, nắm chắc vận mệnh của các bạn
trong tay, trước sau tất sẽ đứng vững ở vị trí không thể thất bại.
TÁC GIẢ
Sướng Xuân Viên
(Bắc Kinh tháng 10 năm 1998)
PHẦN I
TRÍ TUỆ
1. ĐẦU BÔNG LÚA MẨY RỦ XUỐNG DƯỚI, ĐẦU BÔNG
LÚA LÉP HƯỚNG LÊN TRỜI
Người có trí biết tự hạ mình, kẻ ngu muội hay giơ đầu chịu báng.
Đứng ở nơi thấp trước thì sau đó mới biết được nỗi nguy hiểm
khi leo bám lên cao. Đứng ở chỗ tối trước thì sau đó mới biết người
ở chỗ sáng rõ tất sẽ bị ánh sáng chói mắt. Giữ tâm tình tĩnh lặng yên
ổn trước thì sau đó mới biết những người ưa hoạt động thật là vất
vả. Giữ tâm tính trầm mặc trước thì sau đó mới biết nói nhiều quả
thật là phiền toái.
Đời người có cả nỗi khổ lẫn niềm vui, nhưng chỉ có không
ngừng tôi rèn trong gian lao thì mới có được hạnh phúc dài lâu. Vừa
có lòng tin lại vừa phải có tinh thần biết co biết duỗi, an mà không
quên nguy, còn mà không quên mất, trị mà không quên loạn. Nghĩ
đến nguy thì mới cầu được an, biết co thì mới thấy được duỗi, nghĩ
đến lùi thì mới có thể tiến, e loạn thì mới giữ được trị, tránh mất thì
mới giữ được còn.
Khi trả lời học trò làm gì mới giúp được đất nước tránh khỏi tai
hoạ, Mạnh Tử nói rằng trước tiên phải thực hiện chính trị nhân đạo,
không chỉ có vậy mà còn phải gắng sức đề phòng hoạn nạn ngay từ
trong trứng nước. Khi đất nước không có mối lo bên trong, mối họa
bên ngoài thì nhân cơ hội đó mà sửa sang chính trị, luật pháp. Như
vậy đất nước sẽ tự nhiên cường thịnh. Thương Thang Vương chính
là hiểu rất rõ quy luật này, bởi thế trước hết khiêm nhường cúi tấm
thân vàng ngọc của một quốc vương mà bái Y Doãn, một kẻ đầu
bếp nhỏ nhoi làm thầy, sau đó lại phong làm tướng quốc, cuối cùng
đã gây dựng được nền móng cho nhà Ân Thương tồn tại trong suốt
639 năm.
Bên bờ sông Y Thuỷ nước Thương có một nhà nông dân trồng
dâu nuôi tằm. Trong nhà này có một người gọi là Y Doãn, rất giỏi
nghề làm ruộng cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm, đồng thời còn nghiên
cứu đạo thi hành chính sự của các vị vua anh minh thời Tam hoàng
Ngũ đế và Đại Vũ,... là một bậc hiền tài trị nước thời ấy.
Y Doãn nghe nói Thương Thang Vương là một vị vua hiền đức,
rất muốn đề xuất chủ trương trị nước, nhưng vẫn khổ tâm vì chưa
có cơ hội. Thế là ông liền giả làm nô lệ của Cách Thị, phi tử của
Thương Thang Vương, lấy thân phận của một đầu bếp đến gặp và
thuật về đạo thi hành chính sự. Sau đó không lâu, Y Doãn liền tránh
đi ẩn cư ở thôn quê, Thang Vương hiểu rõ Y Doãn đích thực là một
hiền sĩ trị quốc nên quyết định đi mời ông.
Thương Thang Vương phái sứ giả đem lễ vật đi mời Y Doãn,
nhưng đây là một người an phận thủ thường, không dễ gì vào triều
để làm quan. Ông nói với sứ giả: “Ta là một người sống tự tại quen
rồi, tự mình trồng cây, tự mình ăn uống, không hiểu chuyện đại sự
quốc gia, đa tạ Thang Vương đã quan tâm, quý trọng”, khéo léo tạ
tuyệt lời mời của Thương Thang Vương.
Thương Thang Vương thành tâm thật ý muốn mời Y Doãn nên
lại sai người mang nhiều lễ vật hơn tới. Y Doãn thực sự hoảng hốt,
vô cùng phân vân nói rằng: “Tôi là kẻ nông dân thôn dã bình
thường, không có chút công lao nào, làm sao có thể nhận xằng lễ
vật của Thang Vương, đâu dám nhận trách nhiệm ấy được?” và
thoái thác không đi.
Lúc ấy, một lãnh chúa đất phong có quyền sát sinh đối với dân
chúng thuộc quyền của mình, nhưng Thương Thang Vương không
giận vì Y Doãn thoái thác. Ông nghĩ, mời một người thực sự có bản
lĩnh không thể dễ dàng như việc gọi đầy tớ, vừa hô đã đến ngay
được. Lần thứ ba lại sai sứ giả đem những lễ phẩm cực kỳ quý báu,
cưỡi ngựa thay y phục mới đi mời Y Doãn. Y Doãn thấy Thương
Thang Vương thành tâm thành ý đến mời liền vui mừng tuân lệnh.
Thương Thang Vương đích thân dẫn dân chúng ra ngoài thành
nghênh đón, lại dùng nghi lễ cho khách để đối đãi. Hai người cùng
nhau nói chuyện suốt cả ngày, tâm đầu ý hợp. Thương Thang
Vương viết một phong thư khen Y Doãn là một kì tài mà tiến cử với
Kiệt Vương.
Kiệt Vương gặp Y Doãn, hỏi qua mấy câu liền không để ý gì
đến, nói là không thể trọng dụng được. Y Doãn thấy Kiệt Vương
chính sách tàn ngược, hoang dâm vô đạo, dự đoán nhà Hạ nhất
định diệt vong. Trong thời gian ở kinh đô nước Hạ, ông khảo sát tỉ
mỉ tình hình chính trị để chuẩn bị cho việc thảo phạt Hạ Kiệt về sau.
Thương Thang Vương thấy Kiệt Vương không trọng dụng Y Doãn
liền mời đến kinh đô nước Thương và phong làm tướng quốc, giao
cho việc chính sự. Y Doãn giúp Thương Thang Vương, nỗ lực phát
triển nông nghiệp, chế tạo binh khí, huấn luyện quân đội, làm cho
nước Thương ngày càng vững mạnh.
Kiệt Vương nghe nói nước Thương lớn mạnh liền triệu Thương
Thang Vương về kinh đô nhà Hạ. Lúc ấy, Kiệt Vương ngày ngày
đắm chìm trong tửu sắc, thân với bọn tiểu nhân, tàn hại đại thần
hiền tài, có một đại thần là Quang Long Phùng thẳng thắn can gián,
Kiệt Vương vô cùng tức giận đem giết chết. Các đại thần sợ đến nỗi
tim đập chân run, mặt mày thất sắc. Thương Thang Vương không
nén được tình cảm của mình bất giác bật khóc to, đau lòng vì mất đi
hiền tài. Kiệt Vương liền mượn cớ này liền hạ lệnh giam Thương
Thang Vương vào một nơi gọi là hạ đài. Vua Thương bị cầm tù,
quần thần nước Thương ngơ ngác hoảng hốt, Y Doãn lại càng lo
lắng bội phần, cuối cùng nghĩ ra một kế hay để cứu Thương Thang
Vương. Ông sai người đi tìm kiếm tuyệt mỹ sắc nữ, sưu tầm đủ loại
trân châu bảo ngọc đem dâng vua Kiệt, đồng thời biếu riêng một
phần cho cận thần thân tín của Kiệt Vương là Triệu Lương. Kiệt
Vương trông thấy mỹ nữ, châu báu nước Thương đem đến thì mặt
mày rạng rỡ, Triệu Lương thì thừa cơ nói hay nói đẹp. Kiệt Vương
dương dương đắc ý liền thả Thương Thang Vương về. Thương
Thang Vương tận mắt thấy nỗi khổ cực bởi chính sách bạo ngược
của Kiệt Vương, sau khi trở về kinh đô nhà Thương, dưới sự giúp
đỡ của Y Doãn liền gấp rút thao luyện binh mã, tích trữ lương thực,
lần lượt chinh phục các nước chư hầu nhà Hạ như Hàn, Cố, Côn,
Ngô,... thế lực mở rộng rất nhanh. Năm 1711 trước Công Nguyên,
Thương Thang Vương liên kết với các chư hầu khởi binh thảo phạt
Hạ Kiệt, trước khi lên đường ban một bài hịch kể tội của Kiệt Vương
- “Thương thể”. Thương Thang Vương dẫn các lộ đại quân, dưới sự
giúp đỡ của Y Doãn, nhanh chóng áp sát kinh đô nhà Hạ. Kiệt
Vương đốc thúc quân đội ra ứng chiến, quân sĩ sớm đã hận Kiệt
Vương đến xương tuỷ, lâm trận liền tan vỡ, quay giáo đánh lại, Kiệt
Vương đại bại, bị bắt sống làm tù binh. Các chư hầu tiến cử Thương
Thang Vương làm thiên tử, xây dựng nhà Thương, Y Doãn giúp đỡ
Thương Thang Vương, rất nhanh đã ổn định được thiên hạ. Sau khi
Thương Thang Vương chết, Y Doãn lại lần lượt giúp đỡ ba người
con cháu của ông là Ngoại Bính, Trung Vương, Thái Giáp làm thiên
tử. Thái Giáp kế vị ba năm thì không giữ pháp lệnh do Thương
Thang Vương lập ra, Y Doãn nhiều lần khuyên can nhưng vẫn
không hối cải nên đem nhốt vào Đồng Quán, lệnh cho không được
quay lại, đích thân Y Doãn nhiếp chính. Thái Giáp ở trong Đồng
Quán ba năm thì bắt đầu hối cải, sửa mình, đổi ác thành thiện. Y
Doãn lại sai người đến đón về, giao lại chính quyền. Thái Giáp nhận
giáo huấn, cần cù chính sự, tu nhân tích đức, các chư hầu đều rất
khâm phục, không dám nổi loạn, trăm họ được hưởng cuộc sống
yên bình. Y Doãn viết ba thiên “Thái Giáp huấn” ca ngợi chính sách
của Thái Giáp là đức chính (chính sách có đức). Y Doãn sống hơn
một trăm tuổi, hơn hai mươi năm làm tướng quốc, đặt nền móng
chính trị vững chắc cho vương triều nhà Thương thống trị kéo dài
trong suốt sáu trăm năm, trở thành hiện tượng nổi tiếng số một trong
lịch sử Trung Quốc.
2. KHƯƠNG THÁI CÔNG CÂU CÁ, AI MUỐN THÌ ĐẾN
MẮC CÂU. NHẤT NHẤT CẦU “DUỖI” TRONG “CÂU”
Rất nhiều người có tài thường khiêm nhường ẩn cư dưới tay
của những kẻ đần độn bởi lẽ trong tay của người hiền không có
quyền lực, mà lũ bất tài sở dĩ có thể điều khiển được người hiền
cũng chỉ là bởi vì chúng tạm thời chiếm được ngôi cao. Ngay cả bậc
thánh quân Đường Nghiêm trong truyền thuyết cũng như vậy. Khi
còn là một người dân hết sức bình thường, ông muốn nhờ người
hàng xóm giúp đỡ nhưng cho dù hét đến vỡ cổ họng cũng không có
ai đáp lại. Cho đến sau này khi ông xưng vương thì liền có thể nhất
hô bách ứng, ban bố cấm lệnh không ai dám không theo.
Lã Thượng nghèo khổ, lúc tuổi già sống ẩn cư, buông câu ở bờ
sông Vị. Khi đi săn, Chu Văn Vương gặp ông, hai bên nói chuyện
hết sức tâm đầu ý hợp, liền bái làm thầy. Sau Lã Thượng giúp Vũ
Vương đánh bại nhà Ân, lập nên nhà Chu, để lại tiếng thơm muôn
đời. Bất kể là sớm hay muộn thì cơ hội để một con người thể hiện
tài năng của mình vẫn luôn luôn có. Khi cơ hội hiển hiện ra trước
mắt mình thì phải lập tức nắm ngay lấy, nắm thật chặt, chớ để tuột
vào tay người khác.
Có một lần Tây Bá hầu Cơ Xương muốn đem tuỳ tùng đi săn,
trước lúc xuất phát bảo Thái sư bói một quẻ, Thái sư nói rằng: “Hôm
nay đi săn rất tốt” rồi lại nói rằng: “Hôm nay đi săn, vật săn được
không phải rồng cũng không phải lân, không phải hổ cũng không
phải gấu, mà là được tài năng giúp đỡ cho nhà vua”. Cơ Xương vô
cùng mừng rỡ liền dắt theo tuỳ tùng, men theo bờ bắc Vị Thuỷ mà
đi. Hai bên bờ Vị Thuỷ cây cỏ um tùm rậm rạp, họ vừa đuổi theo dã
thú, vừa đi về phía trước. Đột nhiên từ dưới bờ sông vẳng lại khúc
hát rất lạ của một người đánh cá. Đ
NGỌC ANH dịch
VĂN HÓA GIAO TIẾP ỨNG XỬ
(Biết co biết duỗi)
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA – THÔNG TIN
Hà Nội – 2003
Thân gửi tới độc giả của ebook “Biết co biết duỗi”!
Trong quá trình thực hiện ebook cho tập sách này chúng tôi đã
gặp những lỗi sau đây từ chính nguyên tác của NXB.
- Lỗi chính tả và trình bày: bỏ dấu mũ cẩu thả, tuỳ tiện dùng
“i”, “y”, lỗi “d”, “gi”, lỗi dấu câu”.”, “,”
- Lỗi tên nhân vật: cùng một người nhưng mỗi câu chuyện tên
có thể thay đổi về dấu, chữ lót, họ và cách sắp xếp của toàn bộ tên.
- Lỗi diễn đạt: nhiều câu văn viết lủng củng, tối nghĩa, chấm
phẩy tuỳ hứng. Một số câu tiếng Việt thuần nhưng vô nghĩa bởi các
từ liên kết hoặc các cụm từ không có trong từ điển tiếng Việt.
VOZ Ebook Team đã cố gắng tìm kiếm thông tin cũng như chỉnh
sửa những lỗi sai này. Tuy nhiên, chất lượng bản chính có quá nhiều
“sạn” nên ebook có thể vẫn tồn tại một số lỗi ngoài ý muốn. Hy vọng
độc giả thông cảm và phản hồi tích cực.
VOZ Ebook Team, project “Biết co biết duỗi”.
18/04/2022
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I: TRÍ TUỆ
1. Đầu bông lúa mẩy rủ xuống dưới, đầu bông lúa lép hướng lên
trời
2. Khương thái công câu cá, ai muốn thì đến mắc câu. Nhất nhất
cầu “duỗi” trong “câu”
3. An không thể quên nguy, trị không thể quên loạn
4. Có công mài sắt, có ngày nên kim
5. Bảo kiếm nhọn từ mài giũa mà ra, hoa mai thơm do giá rét mà
đến
6. Không sợ trăm trận bất lợi, chỉ sợ nản lòng nhụt chí
7. Tìm bóng mát giữa cây đại thụ
8. Nhường người phần hơn không phải là hèn yếu
9. Tình thì tròn - lý thì vuông
10. Mượn gà đẻ trứng
11. Giấu đuôi làm người
12. Muốn lời nói có uy lực, trước tiên mình phải hành động đúng
như như lời nói ấy
13. Nam nhi đại trượng phu quỳ gối là vàng
14. Lấy vai người khác làm bàn đạp để tiến lên
15. Chỉ cần lưu lại được núi xanh thì không lo thiếu củi đốt
16. Lưu lại một chút tình, sau này dễ ăn nói
17. Được gió phải giương buồm
18. Thuyền vào chỗ vòng phải bẻ bánh lái
19. Vịnh tránh gió sẽ không bắt được cá mập lớn
20. Dù đứng chết cũng quyết không sống quỳ
21. Bệnh có nghìn loại, thuốc có vạn biến
22. Tướng có nhiều loại, nam nhi mấy người tự cường
23. Gặp cầu phải xuống ngựa, qua sông chớ tranh thuyền
24. Quân không rời trận, xe không rời bến
25. Giả dương thành âm, thừa cơ lơ là đánh chỗ lười
26. Khi phải nhượng bộ thì nên nhượng bộ
27. Lòng người không biết đủ như rắn nuốt voi
28. Cung kính có tiêu tan giận, nhượng bộ có thể ngừng chiến
tranh
29. Quân tử kết giao trọng tình nghĩa
30. Nước xiết cũng có sóng quay đầu
31. Ngựa tốt không ăn cỏ bỏ
32. Ý của kẻ say không nằm ở rượu
33. Đại trượng phu báo thù mười năm chưa muộn
34. Lòng tham vô đáy, được voi đòi tiên
35. Thành danh nhờ có những ngày khổ cực
36. Bảo vệ cây non như bảo vệ mạng sống
37. Đâm lao thì phải theo lao
38. Lựa gió đẩy thuyền
39. Thế sự minh thông cần học vấn, nhân tình thấu đạt bởi văn
chương
40. Cung cứng thì hay bị gãy, người “cứng” hay gặp họa
41. Có cái làm được tất có cái không thể
42. Muốn nhìn xa thì leo cao một chút
43. Trong nhu có cương, trong cương có nhu
44. Đại dương không từ chối suối nhỏ, thái sơn không chỉ một hòn
đất
45. Ông trời không mở mắt, không có cửa báo đền công ơn
46. Chí nhỏ không phải là quân tử, không “độc” không phải là
trượng phu
47. Dùng sức khiến người tâm phục khẩu phục
48. Thà làm cho trời giận cũng không khiến người buồn
49. Không gặp trắc trở không lùi bước
PHẦN II: TU THÂN
50. Tiện lợi cho mọi người, tiện lợi cho bản thân
51. Không vì năm đấu gạo mà phải khom lưng
52. Đại trượng phu biết nhìn xa trông rộng
53. Thà làm sen trong bùn, chứ không làm bèo trên mặt nước
54. Người giỏi không kiêu ngạo, kẻ kiêu ngạo là kẻ bất tài
55. Lời nói không nên quá kiên quyết cứng nhắc, đừng bước đến
chỗ cùng
56. Tự mình sống tiết kiệm, loại bỏ sự xa hoa
57. Nam nhi không cứng rắn không bằng cám thô
58. Người không cốt cách cứng cỏi cũng chẳng lâu bền
59. Hoành phúc bay đến chặn không nổi
60. Cổ có dài thêm nữa cũng không cao quá đầu
61. Mượn thang lên lầu
62. Dung thứ người, thênh thang tiến bước
63. Người quân tử không nhớ đến những tội ác xưa
64. Tha cho người không phải là kẻ ngu, kẻ ngu không thể tha cho
người
65. Rùa không nên cười ba ba, đều sống trong bùn cả mà
66. Hoa hồng tuy đẹp, vẫn cần có lá xanh
67. Trong sóng gió mới có anh hùng, trong bão tố mới gặp hảo
hán
68. Muốn tốt đẹp, hãy nhường nhịn nhau
69. Thiện ác rồi sẽ báo đền, có điều là sớm hay muộn mà thôi
70. Thà chết không khuất phục
71. Thà chết có khí tiết chứ không sống đời nô lệ
72. Người sa ngã sửa mình, điều đó rất đáng quý
73. Khi người ta phản bội, quỷ sứ sẽ đến
74. Trên bảng không có tên, dưới chân vẫn có đường
PHẦN III: KINH NGHIỆM
75. Việc đối nhân xử thế có rất nhiều kiểu, mỗi kiểu đều có đặc sắc
riêng
76. Nhân tài ẩn dật
77. Không trói buộc, nhấn chìm nhân tài
78. Chỉ hướng cao vời vợi nhưng vận mệnh lại quá mỏng manh
79. Chim muông dựa vào rừng, con người dựa vào hợp tác
80. Cây di chuyển thì sẽ chết, người di chuyển thì sẽ sống
81. Chưa trải qua gian nan vất vả thì chưa trưởng thành
82. Người chịu được thiệt thòi là người tốt, chịu thiệt là phúc
83. Chỉ làm người trượng nghĩa chứ quyết không làm kẻ tham lam
84. Ngọc không mài không thành khí
85. Nhẫn nhịn một lúc, cả đời không phiền não
86. Lợn sợ béo, người sợ nổi tiếng
87. Có bị đánh gãy răng cũng nên nuốt vào trong bụng
88. Không làm việc trái với lương tâm thì không sợ nửa đêm ma
gõ cửa nhà
89. Nếu thoát được thì không phải là tai hoạ, đã là tai họa thì
không thể thoát nổi
90. Trốn hổ thì chạy xuống núi, tránh hổ thì đi đường vòng
91. Đàn ông chết vì người tri kỷ, phụ nữ nhẫn nhịn vì người làm
mình vui
92. Trời đất luôn vận hành, người quân tử luôn tự cường
93. Áo vải ấm, rau hẹ thơm, quả bầu làm lương thực nửa năm
94. Khinh cứng chứ không khinh mềm, sợ lý chứ không sợ dao
95. Làm quan mà không vì dân thì chẳng bằng ở nhà bán khoai
lang
96. Cây to đón gió, quan lớn lắm nguy hiểm
97. Chăn dài thì chớ duỗi chân
98. Anh có kế đóng cửa của anh, tôi có kế nhảy tường của tôi
99. Người thức thời là tuấn kiệt
100. Cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài
101. Xưa nay anh hùng đều gặp nhiều gian nan
102. Trăm động không bằng một tĩnh
103. Quân tử dùng mồm miệng chứ không dùng tay chân
104. Im lặng là vàng
105. Nguồn gốc vui vẻ của người ba phải
106. Nụ cười chỉ lộ một phần ba
107. Hồ đồ lại càng hồ đồ
108. Người biết nhẫn nhịn thì bản thân yên ổn
109. Không có chỗ cho sự phỉ báng
110. Nhân vật lớn nên có lòng bao dung với người khác
111. Hận thù nên cởi bỏ chứ không nên kết thêm
112. Đố kị là liều thuốc độc âm ỉ
113. Không khom lưng vì năm đấu gạo
114. Làm sạch bóng đen của cuộc sống
115. Thanh đạm để sáng chí
116. Con người sống đến trung tuổi có cái nghĩ ngợi, có cái không
nghĩ ngợi
117. Một phút quan trọng
118. Lãng tử quay đầu, vàng thau không đổi
119. Hài hước giúp bạn thoát khỏi lỗi lầm
120. Ham đức và ham sắc
121. Thế nào là người?
122. Hạn chế nhân dục, giữ lấy lý trời
123. Lấy tình đo tình, lấy tâm so tâm
124. Phàm việc gì cũng không oán trời, trách người
125. Mình vì mọi người, mọi người vì mình
126. Thường nở nụ cười thì trời đất rộng
127. Trời không tuyệt đường sống của con người
128. Vạn sự tùy thuộc vào duyên phận
129. Quân tử phải phòng họa từ khi chưa xẩy ra
130. Thích hợp thì dừng, thấy tốt liền thu
LỜI NÓI ĐẦU
I.
Thế nào là “co”, thế nào là “duỗi”? Thế nào gọi là biết co, biết
duỗi? Xin mời xem ba nhân vật phong lưu trong lịch sử là “Tam
Lưu”: Lưu Bang, Lưu Bị, Lưu Bá Ôn. Sử sách gọi Lưu Bang là Hán
Cao Tổ, vốn là một đình trưởng nhỏ bé ở Tứ Thuỷ, bị người đời
mắng là một nho sinh “vô lại”. Nhưng ông mượn thao lược “co duỗi”
của Trương Lương, sau khi vào quan ải trước Hạng Vũ một bước lại
không tham lam hưởng lạc nhất thời trong cung nhà Tần mà lưu
khỏi Hàm Dương, rút quân về Bá Thượng, đồng thời đích thân đến
Hồng Môn tạ tội với Hạng Vũ, nhẫn nhục chịu trách phạt, xưng là bề
tôi, lừa lấy được sự tín nhiệm của Hạng Vũ. Tiếp đó lại theo mưu kế
của Hàn Tín đốt cháy ở đạo, nín nhịn Hạng Vũ nhưng thực tế lại tích
cực chuẩn bị, ngầm vượt Trần Thương, cuối cùng thu phục được
Trung Nguyên. Khi Hàn Tín có công đòi sắc phong, ông kìm nén
giận dữ phong cho Hàn Tín là Tề Vương, cuối cùng Lưu Bang thắng
được Sở Bá Vương Hạng Vũ “có sức bạt núi có tài cái thế”, gây
dựng được đế nghiệp Tây Hán. Lưu Bang có được “đại duỗi” trong
lúc “đại co”, còn Hạng Vũ “vô địch thiên hạ” khi cùng quẫn phải tự
chặt đầu ở Ô Giang.
Lưu Bị thuở nhỏ gia đình nghèo khó, từng phải dệt chiếu nuôi
thân. Ban đầu, quân của ông thế cô lực mỏng đành dựa vào khe hở
chiến tranh loạn lạc mà sống sót. Ông trước sau dựa vào Công Tôn
Toản, Đào Khiêm, Tào Tháo, Viên Thiệu, Lưu Biểu, dùng cách ẩn
thân. Văn dựa vào Khổng Minh, võ nhờ ở Quan Trường mà chiến
thắng ở Xích Bích, rồi lại nhờ thời cơ đoạt lấy Kinh Châu, tiến thêm
bước nữa chiếm cứ Tứ Xuyên, khai sáng hai đại nghiệp Thục - Hán.
Nhưng sau khi Quan Vũ bị hại chết lại đi ngược nguyên tắc ban đầu,
tìm duỗi trong co, vì báo tình thân thiết mà chết ở thành Bạch Đế
cuối cùng khiến cho đại nghiệp Thục - Hán bị huỷ hoại bởi tay con
trai kế nghiệp là Lưu Thiện. Lưu Bị bỏ “co” mà huỷ hoại bởi “duỗi”.
Lưu Bá Ôn, còn gọi là Lưu Cơ, vốn là công thần hàng đầu khai
sáng nhà Minh, là quân sư nổi tiếng trong lịch sử. Sau khi giúp Chu
Nguyên Chương đoạt được ngôi vua, nhận ra những trò tranh đấu,
gạt bỏ lẫn nhau trong chốn quan trường, không màng đến công
danh lợi lộc, thành công rồi thì rút lui, cáo lão về quê, tránh được
họa sát thân trên “lầu mừng công”. Sau khi về quê, ông sáng tác ra
“Xa đạm ca” (Ca tán gẫu) thuật lại những sự tích lịch sử về sự hưng,
vong, thay, phế xưa nay dạy cho học trò diễn xướng, mượn đó để
nói lên nỗi lòng than thở đối với nhân thế tranh giành. Lưu Bá Ôn là
tấm gương lịch sử về việc “co” để cầu sinh “duỗi”.
II.
Thế nào là “co”, thế nào là “duỗi”? Thế nào gọi là biết cho biết
duỗi, giỏi co giỏi duỗi, đại co, đại duỗi? Xin hãy xem các khái niệm
trình bày trong sách này.
Co là một kiểu hồ đồ rất khó làm được, một kiểu khiêm nhường,
cung kính dạng “nước chảy chỗ trũng”. Co là “nín nhịn” cầu mong
sống còn trong cảnh khốn đốn, là “nhẫn nhịn” đấu tranh trong lúc
chịu nhục, là “tha thứ” trong khi tranh giành danh lợi, là “hài hoà”
trong khi thế gian không có chiến tranh.
Duỗi là mưu lược lấy lui để tiến, là nội công lấy mềm khắc cứng,
là khí khái lấy yếu thắng mạnh. Duỗi là hai dòng tư duy “không thể
mà không phải không thể”, là “có cũng không nhiều, hết cũng không
ít” theo ý mình mong muốn, là binh pháp cao siêu “không đánh mà
thắng”
Người co và người duỗi buồn vui cay đắng cùng tồn tại, phúc
họa như nhau, thành bại tương sinh. Tục ngữ xưa nói rằng: “Đại
trượng phu có lúc vùng dậy, có khi nằm phục, biết co biết duỗi. Có
khi không co duỗi, có khi co duỗi ít, có khi co duỗi nhiều”.
Người đại co là thể hiện của mười đức tốt: công, thành, chí,
hiếu, tín, trí, nhân, nghĩa, dũng, hoà. Người đại duỗi là biểu hiện của
mười điều vĩ đại: công, nghiệp, thành, lập, khởi, hưng, đức, chính,
kế, lược. Người giỏi co duỗi:
Có tầm nhìn xa rộng, tấm lòng trong sạch.
Có khí phách rộng lớn vô song, nghị lực siêu quần tuyệt đỉnh.
Có trí tuệ uyên bác tinh thâm, tiếp bước người trước, mở lối cho
người sau, có ý chí kiên cường nỗ lực đấu tranh, vì đạo nghĩa mà
không chùn bước.
Có tính cách chuyên tâm vững vàng, quán triệt trước sau, là
chính khí đội trời đạp đất, còn mãi muôn đời, có tài hoa định liệu cơ
mật, đạt đến độ chí thiện.
Việc sâu thì co sâu, việc nông thì co nông, việc xa thì co xa, việc
gần thì co gần, việc lớn thì co lớn, việc nhỏ thì co nhỏ, đó chính là
sách lược biết co biết duỗi, giỏi co mà ôm ấp ý duỗi.
Xử thế trong lúc co, lập chí trong lúc duỗi, làm người trong lúc
co, lập đức trong lúc duỗi, làm việc trong lúc co, lập nghiệp trong lúc
duỗi. Đó là tấm gương quý báu mà các thánh nhân hiền triết truyền
lại cho đời sau.
Tranh giành những được mất trước mắt, ham muốn vật chất
riêng tư, giành giật ưu thế nhất thời là loại vô tri không biết trời cao
đất dày là gì chứ không phải là “duỗi”.
Khom lưng uốn gối là cách “co” của bọn phản bội.
Đưa đón nịnh hót là cách “co” của bọn đầy tớ.
Hận trời thù người, buồn chán số phận là cách “co” của kẻ lười
nhác.
Đã sai cho sai một thể, không biết đường sửa chữa là cách “co”
của đồ bỏ đi.
III.
Trong “Các truyện Chu Dịch - quyển 6”, nhà tư tưởng lớn cuối
Minh đầu Thanh là Vương Phu viết rằng: “Thị cố hữu vãng lai là nhi
vô tử sinh. Vãng giả khuất giã, lai giả thân giã, tắc hữu khuất thân vô
tăng giảm. Khuất giả cố hữu kì khuất dĩ lai thân, khải tiêu diệt nhi tất
vô chi vị tai!”.
Ý tứ là vật chất vận động thay đổi có đi có đến nhưng lại không
có chết hay sinh ra, tức là vạn vật chưa từng được ai sinh ra và
cũng chưa từng bị ai tiêu diệt. Đến tức là co, đi tức là duỗi, vật chất
có sự co duỗi thay đổi thế chỗ cho nhau nhưng kỳ thực tổng lượng
lại không hề có tăng hay giảm.
Vương Phu lấy nước làm ví dụ rằng: “Như nước, lạnh thì là
băng, nóng thì là hơi. Dựa vào sự khác nhau giữa băng và hơi đủ để
biết thể thường của nước”.
Lão Tử nói: “Gặp giá lạnh thì lấy hình thức cố định - kết thành
băng nên tồn tại. Gặp phải nhiệt độ cao thì lấy thể khí - biến thành
hơi để tồn tại”.
Từ đó có thể thấy, môn “co duỗi học” của các triết gia xưa dạy
người ta xử thế, an thân, lập mệnh vốn là tổng kết kinh nghiệm của
hiệu pháp tự nhiên và mô phỏng vạn vật. Nhất co nhất duỗi nguyên
là bản năng của con người và vạn vật, đồng thời cũng là trí năng xử
thế để sinh tồn. Bản năng là sức mạnh tiềm tàng bẩm sinh, trí năng
là công lao của sau này.
Hãy phát huy bản năng của các bạn đi! Giữ gìn sự cân bằng về
tâm lý, lúc nào cũng có tâm trạng tốt!
Khai thác trí tuệ của các bạn, nắm chắc vận mệnh của các bạn
trong tay, trước sau tất sẽ đứng vững ở vị trí không thể thất bại.
TÁC GIẢ
Sướng Xuân Viên
(Bắc Kinh tháng 10 năm 1998)
PHẦN I
TRÍ TUỆ
1. ĐẦU BÔNG LÚA MẨY RỦ XUỐNG DƯỚI, ĐẦU BÔNG
LÚA LÉP HƯỚNG LÊN TRỜI
Người có trí biết tự hạ mình, kẻ ngu muội hay giơ đầu chịu báng.
Đứng ở nơi thấp trước thì sau đó mới biết được nỗi nguy hiểm
khi leo bám lên cao. Đứng ở chỗ tối trước thì sau đó mới biết người
ở chỗ sáng rõ tất sẽ bị ánh sáng chói mắt. Giữ tâm tình tĩnh lặng yên
ổn trước thì sau đó mới biết những người ưa hoạt động thật là vất
vả. Giữ tâm tính trầm mặc trước thì sau đó mới biết nói nhiều quả
thật là phiền toái.
Đời người có cả nỗi khổ lẫn niềm vui, nhưng chỉ có không
ngừng tôi rèn trong gian lao thì mới có được hạnh phúc dài lâu. Vừa
có lòng tin lại vừa phải có tinh thần biết co biết duỗi, an mà không
quên nguy, còn mà không quên mất, trị mà không quên loạn. Nghĩ
đến nguy thì mới cầu được an, biết co thì mới thấy được duỗi, nghĩ
đến lùi thì mới có thể tiến, e loạn thì mới giữ được trị, tránh mất thì
mới giữ được còn.
Khi trả lời học trò làm gì mới giúp được đất nước tránh khỏi tai
hoạ, Mạnh Tử nói rằng trước tiên phải thực hiện chính trị nhân đạo,
không chỉ có vậy mà còn phải gắng sức đề phòng hoạn nạn ngay từ
trong trứng nước. Khi đất nước không có mối lo bên trong, mối họa
bên ngoài thì nhân cơ hội đó mà sửa sang chính trị, luật pháp. Như
vậy đất nước sẽ tự nhiên cường thịnh. Thương Thang Vương chính
là hiểu rất rõ quy luật này, bởi thế trước hết khiêm nhường cúi tấm
thân vàng ngọc của một quốc vương mà bái Y Doãn, một kẻ đầu
bếp nhỏ nhoi làm thầy, sau đó lại phong làm tướng quốc, cuối cùng
đã gây dựng được nền móng cho nhà Ân Thương tồn tại trong suốt
639 năm.
Bên bờ sông Y Thuỷ nước Thương có một nhà nông dân trồng
dâu nuôi tằm. Trong nhà này có một người gọi là Y Doãn, rất giỏi
nghề làm ruộng cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm, đồng thời còn nghiên
cứu đạo thi hành chính sự của các vị vua anh minh thời Tam hoàng
Ngũ đế và Đại Vũ,... là một bậc hiền tài trị nước thời ấy.
Y Doãn nghe nói Thương Thang Vương là một vị vua hiền đức,
rất muốn đề xuất chủ trương trị nước, nhưng vẫn khổ tâm vì chưa
có cơ hội. Thế là ông liền giả làm nô lệ của Cách Thị, phi tử của
Thương Thang Vương, lấy thân phận của một đầu bếp đến gặp và
thuật về đạo thi hành chính sự. Sau đó không lâu, Y Doãn liền tránh
đi ẩn cư ở thôn quê, Thang Vương hiểu rõ Y Doãn đích thực là một
hiền sĩ trị quốc nên quyết định đi mời ông.
Thương Thang Vương phái sứ giả đem lễ vật đi mời Y Doãn,
nhưng đây là một người an phận thủ thường, không dễ gì vào triều
để làm quan. Ông nói với sứ giả: “Ta là một người sống tự tại quen
rồi, tự mình trồng cây, tự mình ăn uống, không hiểu chuyện đại sự
quốc gia, đa tạ Thang Vương đã quan tâm, quý trọng”, khéo léo tạ
tuyệt lời mời của Thương Thang Vương.
Thương Thang Vương thành tâm thật ý muốn mời Y Doãn nên
lại sai người mang nhiều lễ vật hơn tới. Y Doãn thực sự hoảng hốt,
vô cùng phân vân nói rằng: “Tôi là kẻ nông dân thôn dã bình
thường, không có chút công lao nào, làm sao có thể nhận xằng lễ
vật của Thang Vương, đâu dám nhận trách nhiệm ấy được?” và
thoái thác không đi.
Lúc ấy, một lãnh chúa đất phong có quyền sát sinh đối với dân
chúng thuộc quyền của mình, nhưng Thương Thang Vương không
giận vì Y Doãn thoái thác. Ông nghĩ, mời một người thực sự có bản
lĩnh không thể dễ dàng như việc gọi đầy tớ, vừa hô đã đến ngay
được. Lần thứ ba lại sai sứ giả đem những lễ phẩm cực kỳ quý báu,
cưỡi ngựa thay y phục mới đi mời Y Doãn. Y Doãn thấy Thương
Thang Vương thành tâm thành ý đến mời liền vui mừng tuân lệnh.
Thương Thang Vương đích thân dẫn dân chúng ra ngoài thành
nghênh đón, lại dùng nghi lễ cho khách để đối đãi. Hai người cùng
nhau nói chuyện suốt cả ngày, tâm đầu ý hợp. Thương Thang
Vương viết một phong thư khen Y Doãn là một kì tài mà tiến cử với
Kiệt Vương.
Kiệt Vương gặp Y Doãn, hỏi qua mấy câu liền không để ý gì
đến, nói là không thể trọng dụng được. Y Doãn thấy Kiệt Vương
chính sách tàn ngược, hoang dâm vô đạo, dự đoán nhà Hạ nhất
định diệt vong. Trong thời gian ở kinh đô nước Hạ, ông khảo sát tỉ
mỉ tình hình chính trị để chuẩn bị cho việc thảo phạt Hạ Kiệt về sau.
Thương Thang Vương thấy Kiệt Vương không trọng dụng Y Doãn
liền mời đến kinh đô nước Thương và phong làm tướng quốc, giao
cho việc chính sự. Y Doãn giúp Thương Thang Vương, nỗ lực phát
triển nông nghiệp, chế tạo binh khí, huấn luyện quân đội, làm cho
nước Thương ngày càng vững mạnh.
Kiệt Vương nghe nói nước Thương lớn mạnh liền triệu Thương
Thang Vương về kinh đô nhà Hạ. Lúc ấy, Kiệt Vương ngày ngày
đắm chìm trong tửu sắc, thân với bọn tiểu nhân, tàn hại đại thần
hiền tài, có một đại thần là Quang Long Phùng thẳng thắn can gián,
Kiệt Vương vô cùng tức giận đem giết chết. Các đại thần sợ đến nỗi
tim đập chân run, mặt mày thất sắc. Thương Thang Vương không
nén được tình cảm của mình bất giác bật khóc to, đau lòng vì mất đi
hiền tài. Kiệt Vương liền mượn cớ này liền hạ lệnh giam Thương
Thang Vương vào một nơi gọi là hạ đài. Vua Thương bị cầm tù,
quần thần nước Thương ngơ ngác hoảng hốt, Y Doãn lại càng lo
lắng bội phần, cuối cùng nghĩ ra một kế hay để cứu Thương Thang
Vương. Ông sai người đi tìm kiếm tuyệt mỹ sắc nữ, sưu tầm đủ loại
trân châu bảo ngọc đem dâng vua Kiệt, đồng thời biếu riêng một
phần cho cận thần thân tín của Kiệt Vương là Triệu Lương. Kiệt
Vương trông thấy mỹ nữ, châu báu nước Thương đem đến thì mặt
mày rạng rỡ, Triệu Lương thì thừa cơ nói hay nói đẹp. Kiệt Vương
dương dương đắc ý liền thả Thương Thang Vương về. Thương
Thang Vương tận mắt thấy nỗi khổ cực bởi chính sách bạo ngược
của Kiệt Vương, sau khi trở về kinh đô nhà Thương, dưới sự giúp
đỡ của Y Doãn liền gấp rút thao luyện binh mã, tích trữ lương thực,
lần lượt chinh phục các nước chư hầu nhà Hạ như Hàn, Cố, Côn,
Ngô,... thế lực mở rộng rất nhanh. Năm 1711 trước Công Nguyên,
Thương Thang Vương liên kết với các chư hầu khởi binh thảo phạt
Hạ Kiệt, trước khi lên đường ban một bài hịch kể tội của Kiệt Vương
- “Thương thể”. Thương Thang Vương dẫn các lộ đại quân, dưới sự
giúp đỡ của Y Doãn, nhanh chóng áp sát kinh đô nhà Hạ. Kiệt
Vương đốc thúc quân đội ra ứng chiến, quân sĩ sớm đã hận Kiệt
Vương đến xương tuỷ, lâm trận liền tan vỡ, quay giáo đánh lại, Kiệt
Vương đại bại, bị bắt sống làm tù binh. Các chư hầu tiến cử Thương
Thang Vương làm thiên tử, xây dựng nhà Thương, Y Doãn giúp đỡ
Thương Thang Vương, rất nhanh đã ổn định được thiên hạ. Sau khi
Thương Thang Vương chết, Y Doãn lại lần lượt giúp đỡ ba người
con cháu của ông là Ngoại Bính, Trung Vương, Thái Giáp làm thiên
tử. Thái Giáp kế vị ba năm thì không giữ pháp lệnh do Thương
Thang Vương lập ra, Y Doãn nhiều lần khuyên can nhưng vẫn
không hối cải nên đem nhốt vào Đồng Quán, lệnh cho không được
quay lại, đích thân Y Doãn nhiếp chính. Thái Giáp ở trong Đồng
Quán ba năm thì bắt đầu hối cải, sửa mình, đổi ác thành thiện. Y
Doãn lại sai người đến đón về, giao lại chính quyền. Thái Giáp nhận
giáo huấn, cần cù chính sự, tu nhân tích đức, các chư hầu đều rất
khâm phục, không dám nổi loạn, trăm họ được hưởng cuộc sống
yên bình. Y Doãn viết ba thiên “Thái Giáp huấn” ca ngợi chính sách
của Thái Giáp là đức chính (chính sách có đức). Y Doãn sống hơn
một trăm tuổi, hơn hai mươi năm làm tướng quốc, đặt nền móng
chính trị vững chắc cho vương triều nhà Thương thống trị kéo dài
trong suốt sáu trăm năm, trở thành hiện tượng nổi tiếng số một trong
lịch sử Trung Quốc.
2. KHƯƠNG THÁI CÔNG CÂU CÁ, AI MUỐN THÌ ĐẾN
MẮC CÂU. NHẤT NHẤT CẦU “DUỖI” TRONG “CÂU”
Rất nhiều người có tài thường khiêm nhường ẩn cư dưới tay
của những kẻ đần độn bởi lẽ trong tay của người hiền không có
quyền lực, mà lũ bất tài sở dĩ có thể điều khiển được người hiền
cũng chỉ là bởi vì chúng tạm thời chiếm được ngôi cao. Ngay cả bậc
thánh quân Đường Nghiêm trong truyền thuyết cũng như vậy. Khi
còn là một người dân hết sức bình thường, ông muốn nhờ người
hàng xóm giúp đỡ nhưng cho dù hét đến vỡ cổ họng cũng không có
ai đáp lại. Cho đến sau này khi ông xưng vương thì liền có thể nhất
hô bách ứng, ban bố cấm lệnh không ai dám không theo.
Lã Thượng nghèo khổ, lúc tuổi già sống ẩn cư, buông câu ở bờ
sông Vị. Khi đi săn, Chu Văn Vương gặp ông, hai bên nói chuyện
hết sức tâm đầu ý hợp, liền bái làm thầy. Sau Lã Thượng giúp Vũ
Vương đánh bại nhà Ân, lập nên nhà Chu, để lại tiếng thơm muôn
đời. Bất kể là sớm hay muộn thì cơ hội để một con người thể hiện
tài năng của mình vẫn luôn luôn có. Khi cơ hội hiển hiện ra trước
mắt mình thì phải lập tức nắm ngay lấy, nắm thật chặt, chớ để tuột
vào tay người khác.
Có một lần Tây Bá hầu Cơ Xương muốn đem tuỳ tùng đi săn,
trước lúc xuất phát bảo Thái sư bói một quẻ, Thái sư nói rằng: “Hôm
nay đi săn rất tốt” rồi lại nói rằng: “Hôm nay đi săn, vật săn được
không phải rồng cũng không phải lân, không phải hổ cũng không
phải gấu, mà là được tài năng giúp đỡ cho nhà vua”. Cơ Xương vô
cùng mừng rỡ liền dắt theo tuỳ tùng, men theo bờ bắc Vị Thuỷ mà
đi. Hai bên bờ Vị Thuỷ cây cỏ um tùm rậm rạp, họ vừa đuổi theo dã
thú, vừa đi về phía trước. Đột nhiên từ dưới bờ sông vẳng lại khúc
hát rất lạ của một người đánh cá. Đ
 









Các ý kiến mới nhất