CUỘC ĐỜI CỦA LÊNIN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư Viện Trường THCS THPT Suối Nho (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:22' 28-10-2025
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Thư Viện Trường THCS THPT Suối Nho (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:22' 28-10-2025
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CUỘC ĐỜI CỦA LENIN
Nguyên tác: Жизнь Ленина
Tác giả: Maria Prilezhayeva
Dịch giả: Trần Khuyến
Nhà xuất bản Kim Đồng
Nguồn: Gacsach.com
Biên tập: V.C
Bìa & Ebook: inno14
★★★
NHÂN VẬT
Vladimir Ilyich Lenin (tiếng Nga: Влади́мир Ильи́ч Ле́нин, phiên âm tiếng
Việt: Vla-đi-mia I-lích Lê-nin), tên khai sinh là Vladimir Ilyich Ulyanov (tiếng
Nga: Влади́мир Ильи́ч Улья́нов), còn thường được gọi với tên V. I. Lenin hay
N. Lenin, có các bí danh: V.Ilin, K.Tulin, Karpov...; sinh ngày 22 tháng 4 năm
1870, mất ngày 21 tháng 1 năm 1924; là một lãnh tụ của phong trào cách mạng
vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Karl Marx (1818 - 1883) và
Friedrich Engels.
Ông được tạp chí Time coi là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất đến
lịch sử thế giới.
Ông mất tháng 1 năm 1924, thi hài được lưu giữ trong lăng Lênin trên Quảng
trường Đỏ, Moskva.
Lenin sinh tại Simbirsk, Nga (hiện là Ulyanovsk), là con trai thứ ba trong gia
đình tương đối đầm ấm của vợ chồng Ilya Nikolaevich Ulyanov (1831 – 1886),
một viên chức dân sự Nga làm việc để mở rộng dân chủ và giáo dục đại chúng
miễn phí ở Nga, và Maria Alexandrovna Ulyanova (1835 – 1916), một người
theo chủ nghĩa tự do. Lênin là người có dòng máu lai từ thời tổ tiên. Là người
Nga nhưng ông có dòng máu của người Kalmyk qua ông nội, của người Đức
Volga qua bà ngoại (là một người theo thuyết Luther), và của người Do Thái qua
ông ngoại (người đã cải theo Ki-tô giáo). Lênin được rửa tội trong Nhà thờ
Chính Thống giáo Nga.
Lenin nổi tiếng học giỏi tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạp. Hai bi kịch đã xảy ra
trong thời niên thiếu của ông. Lần đầu khi cha ông qua đời vì xuất huyết não
năm 1886. Tháng 5 năm 1887 anh cả của ông là Aleksandr Ilyich Ulyanov - một
người theo phái "Dân ý" - bị treo cổ vì tham gia vào một âm mưu ám sát Nga
hoàng Aleksandr III. Sự kiện này đã làm Lenin trở thành người cấp tiến. Tiểu sử
chính thức của ông thời Xô Viết coi sự kiện này có ảnh hưởng lớn tới các quá
trình cách mạng của ông. Một bức tranh nổi tiếng của Belousov, Chúng ta sẽ đi
theo một con đường khác, được in lại hàng triệu bản trong những cuốn sách thời
Xô Viết, mô tả cậu bé Lenin và mẹ đang buồn bã khi mất người anh trai. Câu nói
"Chúng ta sẽ theo một con đường khác" có nghĩa là Lenin đã lựa chọn chủ nghĩa
Marx để tiếp cận tới cách mạng nhân dân, thay vì những phương pháp vô chính
phủ cá nhân. Khi Lênin bắt đầu quan tâm tới chủ nghĩa Marx, ông tham gia vào
các cuộc phản kháng của sinh viên và cuối năm đó bị bắt. Sau đó ông bị đuổi
khỏi Đại học Kazan. Ông tiếp tục học tập một mình và tới năm 1891 đã có giấy
phép hành nghề luật.
Ngay khi tốt nghiệp, Lênin vào làm trợ lý cho một luật sư. Ông làm việc
nhiều năm tại Samara, Nga, sau đó vào năm 1893 chuyển tới kinh đô SanktPeterburg. Thay vì tìm kiếm một công việc hợp pháp ổn định, ông ngày càng
tham gia sâu vào các hoạt động tuyên truyền cách mạng và nghiên cứu chủ nghĩa
Marx. Ngày 7 tháng 12 năm 1895, ông bị nhà chức trách bắt giam 14 tháng sau
đó trục xuất tới một làng tại Shushenskoye ở Xibia.
Tháng 4 năm 1899, ông xuất bản cuốn sách Sự phát triển của Chủ nghĩa Tư
bản tại Nga, một cuốn sách khá đồ sộ. Năm 1900, thời kỳ đi đày chấm dứt. Ông
đi du lịch nước Nga và những nơi khác ở châu Âu. Lenin đã sống tại Zürich,
Genève, München, Praha, Viên và Luân Đôn và trong khi bị đi đày ông đã sáng
lập tờ báo Iskra. Ông cũng viết một số bài báo và cuốn sách về phong trào cách
mạng. Trong giai đoạn này, ông đã bắt đầu sử dụng nhiều bí danh, cuối cùng lấy
tên Lenin.
Ông hoạt động trong Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (RSDLP; РСДРП
trong tiếng Nga), và vào năm 1903 ông lãnh đạo phái Bolshevik sau một sự chia
rẽ với những người Menshevik, điều này xảy ra một phần từ cuốn sách nhỏ của
ông Điều cần làm? Năm 1906 ông được bầu làm Chủ tịch RSDLP. Năm 1907
ông tới Phần Lan vì những lý do an ninh. Ông tiếp tục đi du lịch châu Âu và
tham gia vào nhiều cuộc gặp gỡ cũng như các hoạt động xã hội, gồm cả Hội thảo
Đảng Praha năm 1912 và Hội thảo Zimmerwald năm 1915.
Richard Pipes cho rằng Lenin đã phân tích Công xã Paris và kết luận phong
trào này thất bại vì "sự khoan hồng quá mức - đúng ra Công xã phải tiêu diệt
những kẻ thù của mình". Tuy nhiên, cả câu trích dẫn, như Lenin đã nói trong một
bài phát biểu đã được chuyển tới một cuộc gặp gỡ quốc tế tại Genève ngày 18
tháng 3 năm 1908, nhân ngày lễ kỷ niệm Công xã như sau: "Dù giai cấp vô sản
xã hội đã bị chia rẽ thành nhiều phe, Công xã là một ví dụ cụ thể về sự đoàn kết
để khi có nó giai cấp vô sản có thể hoàn thành các nhiệm vụ dân chủ mà giai cấp
tư sản chỉ có thể tuyên bố ra. Không cần có một điều luật phức tạp đặc thù nào
cả, một cách đơn giản, rõ ràng, giai cấp vô sản, khi đã nắm quyền lực, sẽ tiến
hành dân chủ hóa hệ thống xã hội, xóa bỏ quan liêu và khiến cho mọi chức vụ
nhà nước đều thông qua bầu cử. Hai sai lầm đã tiêu diệt thành quả của một chiến
thắng vẻ vang.
Giai cấp vô sản đã dừng lại nửa chừng; thay vì tiếp tục “chiếm đoạt của
những kẻ chiếm đoạt", họ đã cho phép mình đi chệch hướng bởi những mơ ước
về một sự công bằng tuyệt đối trong một đất nước thống nhất bởi một mục tiêu
quốc gia; những định chế, như ngân hàng, đã không bị nắm giữ.... Sai lầm thứ
hai là sự khoan dung quá đáng của giai cấp vô sản: đúng ra họ phải tiêu diệt các
kẻ thù, nhưng thay vào đó họ lại gắng sức dùng đạo đức để gây ảnh hưởng tới
chúng; họ đã bỏ qua tầm quan trọng của hoạt động quân sự thuần túy trong một
cuộc nội chiến và thay vì tiếp tục tiến bước mạnh mẽ tới Versailles và giành lấy
chiến thắng ở Paris, họ đã trì hoãn và do vậy cho phép chính phủ Versailles tập
hợp các lực lượng của mình, chuẩn bị trước cho những sự kiện đẫm máu trong
tuần lễ tháng 5."
Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914, và các đảng Dân chủ
Xã hội lớn tại châu Âu (khi đó họ tự coi họ là theo chủ nghĩa Mác), gồm cả
những người có uy tín như Karl Kautsky, ủng hộ những nỗ lực chiến tranh của
chính quyền nước mình, Lenin đã rất sửng sốt, đầu tiên từ chối tin rằng những
người của Đảng Dân chủ Xã hội Đức đã bỏ phiếu ủng hộ chiến tranh. Điều này
khiến ông bị chia rẽ lần cuối cùng với Đệ Nhị Quốc tế, gồm các đảng đó.
Khác với quan điểm chung của người Mác-xít coi cách mạng ở Đức là quan
trọng hơn ở Nga, ngày 17 tháng 10 năm 1914, Lenin viết: "Chủ nghĩa Nga
Hoàng còn trăm lần xấu hơn chủ nghĩa Đức Hoàng." Ông lên án chủ nghĩa tư
bản cả hai bên đã gây ra cuộc chiến, nhất là chủ nghĩa đế quốc Anh - Pháp.
• Sau Cách mạng Tháng Hai (1917)
Sau khi Cách mạng Tháng Hai năm 1917 giành thắng lợi tại Nga và Nga
hoàng Nikolai II thoái vị, Lênin biết rằng ông cần sớm trở lại nước Nga. Nhưng
ông đã bị cô lập tại Thụy Sĩ trung lập khi Chiến tranh thế giới thứ nhất đang ở
giai đoạn cao trào và không thể dễ dàng đi qua châu Âu. Tuy nhiên, Fritz Platten,
một người cộng sản Thụy Sĩ đã tìm cách đàm phán với Chính phủ Đế quốc Đức
để Lenin và những người của ông có thể đi bằng tàu hỏa kín qua nước Đức. Mọi
người tin rằng chính Hoàng đế (Kaiser) Wilhelm II của Đức đã hy vọng Lenin sẽ
gây ra tình trạng bất ổn chính trị ở Nga giúp ông chấm dứt chiến tranh tại Mặt
trận phía Đông. Khi còn ở trên lãnh thổ Đức, Lenin không được phép ra khỏi
đoàn tàu. Khi đã qua Đức, Lenin tiếp tục đi phà tới Thụy Điển và chặng đường
xuyên Scandinavia còn lại đã được những người cộng sản Thụy Sĩ là Otto
Grimlund và Ture Nerman thu xếp.
Theo báo Công an Nhân dân, có người cho rằng sự nghiệp cách mạng của
ông đã nhận được sự giúp đỡ về tài chính từ đế quốc Đức. Họ cho rằng Lenin đã
nhận được tiền bạc từ tay một nhà tư sản Đức tên là Parvus. Thậm chí, sách The
Return of the Kings của tác giả Thomas Purcell còn khẳng định Đức hoàng
mong muốn tiêu diệt các Nga hoàng hùng mạnh và ủng hộ Lenin vì nhiều lý do,
chẳng hạn Đức hoàng hy vọng Lenin sẽ hỗ trợ cho Đức trong cuộc chiến trên
Mặt trận phía Tây sau khi Cách mạng thắng lợi và Mặt trận phía Đông chấm dứt.
Cũng theo đó, nếu Đức hoàng không hỗ trợ Lenin thì có lẽ cuộc cách mạng vô
sản sẽ thất bại. Tuy nhiên, nghiên cứu của nhà sử học nổi tiếng người Nga
Vladlen Loginov không có những tình tiết này. Theo ghi nhận trên giấy tờ, trong
các năm 1915 - 1917, có đến ba lần Parvus tìm cách bắt liên lạc với Lenin, với
mong muốn đưa tiền cho nhà cách mạng này. Thế nhưng, Parvus đã không thành
công trong cả ba lần tìm cách bắt liên lạc nêu trên. Lenin đã phản hồi: “Cách
mạng cần được thực hiện bằng những bàn tay trong sạch."
Ngày 16 tháng 4 năm 1917, Lênin quay trở về thủ đô Petrograd và nhận vai
trò lãnh đạo bên trong phong trào Bolshevik, xuất bản Luận cương tháng 4. Luận
cương tháng 4 kêu gọi kiên quyết phản đối chính phủ lâm thời. Ban đầu vì có sự
không rõ ràng trong cánh tả Lenin giữ khoảng cách với đảng của ông. Tuy nhiên,
lập trường kiên quyết này có nghĩa rằng những người Bolshevik đã trở thành
lãnh đạo của quần chúng bởi vì họ không còn ảo tưởng ở chính phủ lâm thời, và
nhờ sự xa hoa của phe đối lập những người Bolshevik đã không còn phải chịu
trách nhiệm về bất cứ hậu của nào của việc áp dụng những chính sách của họ.
• Sau cuộc nổi dậy của công nhân
Sau cuộc nổi dậy bất thành của công nhân vào tháng 7, Lenin bỏ trốn tới
Phần Lan. Ngày 24 tháng 10 theo lịch cũ Nga, tức ngày 6 tháng 11 năm 1917,
ông viết: "Chính phủ sắp sụp đổ. Chúng ta phải giáng cho nó đòn chí mạng bằng
mọi giá. Trì hoãn hành động là chết". Cùng tháng, ông rời Phần Lan và trở lại
nước Nga, phát động một cuộc cách mạng vũ trang với khẩu hiệu "Tất cả quyền
lực về tay Xô Viết!" chống lại Chính phủ Lâm thời của Kerensky. Các ý tưởng
về chính phủ của ông đã được thể hiện trong bài tiểu luận "Quốc gia và Cách
mạng", kêu gọi thành lập một hình thức chính phủ mới dựa trên các hội đồng
công nhân hay các Xô viết. Trong tác phẩm này, ông cũng cho rằng, trên nguyên
tắc, những người công nhân bình thường có thể điều hành một nhà máy hay một
chính phủ. Dù ông nhấn mạnh rằng, để điều hành một quốc gia, người công nhân
phải "học chủ nghĩa cộng sản." Ông còn nhấn mạnh thêm rằng một thành viên
chính phủ phải nhận đồng lương không được cao hơn lương một người công
nhân tầm trung bình.
• Chủ tịch chính phủ
Ngày 8 tháng 11, Lenin được Đại hội Xô viết Nga bầu làm Chủ tịch Hội đồng
Dân ủy. Lenin nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa điện tới mọi vùng nước
Nga và hiện đại hóa công, nông nghiệp. Ông rất quan tâm tới việc tạo ra một hệ
thống chăm sóc sức khỏe miễn phí và toàn diện cho mọi người dân, giải phóng
phụ nữ và dạy cho những người dân mù chữ Nga biết đọc, viết. Nhưng trước hết,
chính phủ Bolshevik mới cần đưa nước Nga ra khỏi Chiến tranh thế giới thứ
nhất.
Đối mặt với mối đe dọa xâm lăng từ nước Đức, Lenin cho rằng Nga cần ngay
lập tức ký kết một hiệp ước hòa bình. Những lãnh tụ Bolshevik khác, như
Bukharin, ủng hộ tiếp tục tham chiến, coi đó là một biện pháp mang cách mạng
tới nước Đức. Lev Davidovich Trotsky, người chỉ đạo các cuộc đàm phán, ủng
hộ một lập trường trung gian, "Không Chiến tranh, Không Hòa bình", kêu gọi
chỉ ký hiệp ước hòa bình với điều kiện không một phần đất chiếm thêm được của
bất kỳ bên nào được hợp nhất với lãnh thổ nước đó. Sau khi những cuộc đàm
phán thất bại, Đức tấn công chiếm giữ nhiều vùng rộng lớn phía tây nước Nga.
Sau các sự kiện mang tính bước ngoặt này, lập trường của Lenin được đa số ban
lãnh đạo Bolshevik ủng hộ. Ngày 3 tháng 3 năm 1918, Lenin rút Nga ra khỏi
Chiến tranh thế giới thứ nhất khi đồng ý ký kết Hiệp ước Brest-Litovsk, theo đó
nước Nga mất một phần lớn lãnh thổ tại châu Âu. Đây được xem là thời điểm tệ
nhất của lịch sử Nga trong vòng 200 năm, song với một đất nước bị tàn phá thì
Lênin không còn cách nào khác ngoài việc chấp nhận những điều khoản ô nhục.
Sau khi những người Bolshevik thất bại trong cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến
Nga, cùng với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của đại đa số công nhân ở hai thành phố
lớn là Petrograd và Moskva, họ đã sử dụng lực lượng Hồng vệ binh buộc cuộc
họp lần thứ nhất của Quốc hội phải ngừng lại ngày 19 tháng 1. Sau đó, những
người Bolshevik đã tổ chức ra một tổ chức Phản-Quốc hội, Đại hội Xô viết thứ
ba, cho phép họ và các đồng minh có được hơn 90% số ghế, cho rằng "chuyên
chính vô sản" trước tiên là một đạo luật của chính giai cấp vô sản: "Tất nhiên,
những người cho rằng có thể lấp đầy hố sâu ngăn cách giữa chủ nghĩa tư bản và
chủ nghĩa xã hội, hay những người tưởng tượng rằng điều đó có thể thuyết phục
đa số nhân dân rằng nó có thể xảy ra thông qua trung gian của Quốc hội Lập
hiến - những người tin vào câu chuyện ngụ ngôn của tầng lớp tư sản dân chủ, có
thể vô tình tin tưởng điều đó, nhưng hãy đừng để họ phàn nàn nếu cuộc sống lật
tẩy câu chuyện ngụ ngôn này," và nói thêm rằng "lý do lớn nhất tại sao những
người xã hội chủ nghĩa" (như, những người dân chủ tiểu tư sản) của Quốc tế Thứ
hai không hiểu được sự chuyên chính vô sản là bởi họ không hiểu được rằng
quyền lực nhà nước nằm trong tay một tầng lớp, tầng lớp vô sản, có thể và phải
trở thành một phương tiện cho phe chiến thắng của tầng lớp vô sản của đông đảo
nhân dân vô sản, một phương tiện để giành chiến thắng của tầng lớp đó trước
giai cấp tư sản và những đảng tiểu tư sản."
Những người Bolshevik đã thành lập một chính phủ liên minh với Đảng Xã
hội Cách mạng Nga cánh tả. Tuy nhiên, liên minh của họ đã tan vỡ sau khi Cách
mạng Xã hội chủ nghĩa phản đối hiệp ước Brest-Litovsk, và họ gia nhập cùng
với các đảng khác tìm cách lật đổ chính phủ Xô viết. Tình hình diễn biến theo
chiều hướng xấu, các đảng không Bolshevik (gồm một số phái xã hội chủ nghĩa)
tích cực tìm cách lật đổ chính phủ Bolshevik. Lenin phản ứng lại cách hành động
đó bằng cách ngăn chặn các hoạt động của họ và bỏ tù một số thành viên các
đảng đối lập.
• Ủng hộ và phản đối
Dù Lenin đã ủng hộ và giúp đỡ thành lập một chế độ "Dân chủ Xô viết,"
những người phản đối Lenin thuộc cánh hữu, như Kautsky, và thuộc cánh tả như
Kollontai, vẫn cho rằng ông thủ tiêu sự giải phóng giai cấp vô sản và nền dân
chủ (quyền kiểm soát của công nhân thông qua các Xô Viết hay các hội đồng
công nhân). Có người cho rằng đây là hành động mở đường cho chủ nghĩa Stalin
sau này. Dù nhiều cơ quan và chính sách do Stalin lập ra và sử dụng như cảnh
sát mật, trại lao động, và việc hành quyết các đối thủ chính trị vốn bị chỉ trích
nặng nề cũng đã được sử dụng dưới tới cầm quyền của Lenin, các kỹ thuật đó
cũng thường được chế độ Nga hoàng sử dụng từ lâu trước thời Lenin, và cũng từ
lâu đã là các phương tiện tiêu chuẩn để đối phó với bất đồng chính trị ở nước
Nga. Tuy nhiên, theo Stephane Courtois mức độ sử dụng có khác nhau; số tù
nhân chính trị bị hành quyết trong vài tháng đầu cầm quyền của phái Bolshevik
lớn gấp ba lần con số đó trong 90 năm cầm quyền của chế độ Nga hoàng. Tuy
nhiên, "thực tế" này, hiện vẫn đang bị tranh cãi. Cũng cần nhớ rằng tỷ lệ các
hoàn cảnh dẫn tới những phản ứng của người Bolshevik cũng khác rất xa: một
đất nước bị tàn phá nặng nề bởi một cuộc chiến tranh thế giới, một quần chúng
thất học sau giai đoạn quân chủ chuyên chế, một lực lượng đối lập sẵn sàng hy
sinh để lật đổ chính quyền Bolshevik,... Hơn nữa, Trotsky tuyên bố rằng một
"con sông máu" chia tách Lenin khỏi những hành động của Stalin bởi vì Stalin
đã hành quyết nhiều đồng chí cũ của Lenin cũng như những người ủng hộ họ,
trong nhóm Đối lập cánh Tả. Trong số này có cả chính Trotsky.
Quan điểm của những người theo chủ nghĩa Lenin về cách mạng đòi hỏi một
bộ máy cán bộ cách mạng chuyên nghiệp vừa có nhiệm vụ chỉ huy đại chúng
trong cuộc đấu tranh giành quyền lực và tập trung hóa kinh tế cũng như quyền
lực hành chính vào tay một đất nước của công nhân. Từ mùa xuân năm 1918,
Lenin đã vận động đặt những cá nhân có trách nhiệm vào cương vị đứng đầu
mỗi nhà máy, trái ngược lại hầu hết các quan điểm về sự tự quản của công nhân,
nhưng hoàn toàn cần thiết cho hiệu quả sản xuất và về mặt chuyên môn. Như
S.A. Smith đã viết: "Tới cuối cuộc nội chiến, không có nhiều nhà máy hoạt động
theo những hình thức dân chủ trong quản lý công nghiệp như kiểu các hội đồng
nhà máy từng được cổ động trong năm 1917, nhưng chính phủ cho rằng điều này
không phải là vấn đề bởi vì nền công nghiệp đã dựa trên sự sở hữu của một quốc
gia công nhân." Trong cuộc nội chiến, dân chủ không phải được tập trung bên
trong đảng Bolshevik và sau này là Bộ Chính trị của Đảng cộng sản Liên Xô.
Để bảo vệ chính phủ Bolshevik mới thành lập trước những kẻ phản cách
mạng, chính quyền của Lenin đã tạo ra lực lượng cảnh sát mật, Cheka, ngay sau
cuộc cách mạng. Những người Bolshevik đã lập kế hoạch tổ chức một phiên tòa
xét xử Hoàng đế Nikolai II vì những tội ác chống lại nhân dân Nga, nhưng vào
tháng 8 năm 1918 khi Bạch vệ tiến về Yekaterinburg (nơi gia đình Nikolai II
đang bị cầm giữ), Sverdlov đã nhanh chóng ra quyết định hành quyết Nikolai II
và cả gia đình để quân Bạch vệ không thể giải thoát cho họ. Sau này Sverdlov đã
thông báo với Lenin về vụ hành quyết, Lenin đồng ý rằng đó là một quyết định
đúng đắn, bởi vì những người Bolshevik không muốn để Hoàng gia trở thành
một biểu tượng của Bạch vệ. Tuy nhiên, có những nhà sử học người Nga đã cho
biết, ông không tán thành với việc những người Bolshevik hành hình Nikolai II,
vì ông cho rằng sau khi chế độ quân chủ không còn nữa, Nga hoàng nên được
đưa ra tòa án để xét xử. Cháu gái Lenin - Olga Ulianova cũng nói: "Bác Volodya
làm cách mạng Bolshevic không phải để giết vua Nga. Lenin chỉ muốn thay thế
hệ thống tư bản chủ nghĩa ở nước Nga bằng chế độ xã hội chủ nghĩa".
• Vụ ám sát và phản ứng của chính phủ
Ngày 30 tháng 8 năm 1918, Fanya Kaplan, một thành viên của Đảng Xã hội
Cách mạng Nga, tiếp cận Vladimir Ilyich Lenin sau khi ông tham dự một buổi
mít-tinh và đang quay ra xe hơi. Kaplan gọi tên Lenin, ông quay lại trả lời. Bà
ngay lập tức bắn ba phát, hai phát trúng Lenin ở khuỷu tay và lưng. Lenin được
đưa về căn hộ tại Kremli, từ chối tới bệnh viện bởi ông tin rằng những kẻ ám sát
khác đang rình rập ở đó. Các bác sĩ được triệu tới, nhưng cho rằng sẽ là quá
nguy hiểm nếu lấy viên đạn ra. Sau này Lenin đã hồi phục dù sức khỏe của ông
bắt đầu giảm sút từ thời điểm đó. Mọi người cho rằng vụ ám sát có liên quan tới
những cơn đột quỵ sau này của ông.
Chính phủ Bolshevik phản ứng lại vụ ám sát, và những sự tập hợp nỗ lực
chống cộng từ các đối thủ của họ bằng cái họ gọi là Khủng bố Đỏ. Hàng chục
nghìn người bị coi là kẻ thù của cách mạng, nhiều người bị hành quyết hay tống
vào các trại lao động vì có âm mưu chống lại chính phủ Bolshevik.
Theo Orlando Figes, Lenin luôn ủng hộ "sự khủng bố số đông chống lại
những kẻ thù cách mạng" và luôn bày tỏ quan điểm rằng nhà nước vô sản là một
hệ thống bạo lực được tổ chức chống lại những tổ chức của chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên theo Figes, trong khi được những người Bolsheviks khuyến khích, sự
khủng bố có gốc rễ trong sự giận dữ của nhân dân chống lại tầng lớp ưu thế. (A
Peoples Tragedy, trang 524-525) Vào cuối năm 1918 khi Kamenev và Bukharin
tìm cách kìm chế những "sự thái quá" của Cheka, chính Lenin là người đã đứng
ra bảo vệ tổ chức này. (Figes trang 649) Tuy nhiên, mức độ của cái gọi là "những
sự thái quá," cũng như những lý do của Lenin ẩn giấu sau sự bảo vệ đó không hề
được nêu tên.
Tháng 3 năm 1919, Lenin và các lãnh đạo Bolshevik khác gặp gỡ với các nhà
cách mạng xã hội chủ nghĩa từ khắp nơi trên thế giới và lập ra Quốc tế Cộng sản.
Các thành viên của Quốc tế Cộng sản, gồm Lenin và cả những người Bolshevik
ngừng quan hệ với phong trào xã hội chủ nghĩa ở tầm vóc rộng lớn hơn. Từ đó
trở về sau, họ sẽ được gọi là những người cộng sản. Tại Nga, Đảng Bolshevik
được đổi tên thành "Đảng Cộng sản Nga (bolshevik)", (sau này thành Đảng
Cộng sản Liên Xô).
Trong lúc ấy cuộc nội chiến lan tràn khắp nước Nga. Nhiều phong trào chính
trị và những người ủng hộ họ đứng lên cầm vũ khí nhằm lật đổ chính phủ Xô
viết. Dù có nhiều phe cánh tham gia cuộc nội chiến, hai lực lượng chính là Hồng
quân (bolshevik) và Bạch vệ (phe ủng hộ chế độ quân chủ). Các cường quốc bên
ngoài như Pháp, Anh, Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng can thiệp vào cuộc chiến tranh
này (đứng bên phía Bạch vệ). Cuối cùng, đội quân được tổ chức tốt và có hiệu
quả hơn là Hồng quân, do Trotsky chỉ huy, đã giành chiến thắng, đánh bại các
lực lượng Bạch vệ và đồng minh của họ năm 1920. Tuy nhiên, những cuộc chiến
ở tầm nhỏ hơn vẫn tiếp tục trong nhiều năm nữa.
Những tháng cuối năm 1919, các chiến thắng giành được trước Bạch vệ
khiến Lenin tin rằng đã tới thời điểm mở rộng cách mạng sang phía tây, bằng vũ
lực nếu cần thiết. Khi nền Cộng hòa Ba Lan thứ hai mới được thành lập bắt đầu
đòi lại những vùng lãnh thổ đã bị nước Nga sáp nhập trong vụ phân chia Ba Lan
vào cuối thế kỷ 18, họ đã xung đột với các lực lượng Bolshevik để giành quyền
kiểm soát các vùng này, dẫn tới sự bùng nổ Chiến tranh Ba Lan-Xô viết năm
1919. Với sự phát triển của cách mạng tại Đức và Liên đoàn Spartacus, Lenin
coi đó là thời điểm và địa điểm chín muồi nhất để "thăm dò châu Âu bằng những
lưỡi lê Hồng quân." Lenin coi Ba Lan là cây cầu nối mà Hồng quân có thể dùng
để kết nối cách mạng Nga với những người ủng hộ Cách mạng Đức, và hỗ trợ
các phong trào cộng sản ở Tây Âu. Tuy nhiên sự thất bại của nước Nga Xô viết
trong cuộc chiến tranh Ba Lan-Xô viết khiến các kế hoạch đó bị hủy bỏ.
Lenin là người chỉ trích mạnh mẽ chủ nghĩa đế quốc . Năm 1917 ông tuyên
bố quyền tự quyết và phân chia các dân tộc quốc gia và đàn áp các quốc gia vô
điều kiện, thường được coi là các quốc gia trước kia thuộc quyền kiểm soát của
chủ nghĩa tư bản đế quốc. Tuy nhiên, khi cuộc Nội chiến Nga chấm dứt, ông đã
dùng các lực lượng quân sự để đồng hóa các quốc gia mới giành độc lập là
Armenia, Gruzia và Azerbaijan, cho rằng sự sáp nhập các quốc gia đó vào đất
nước Xô viết sẽ che chở họ khỏi những tham vọng của chủ nghĩa đế quốc. Điều
này cho phép các quốc gia đó được chấp nhận thành một phần của Liên bang Xô
viết hơn là đơn giản buộc họ trở thành một phần lãnh thổ Nga, hành động này sẽ
bị coi là hành động đế quốc.
Sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, chính sách cộng sản thời chiến của
Bolshevik, cộng với Nạn đói năm 1921 tại Nga và sự bao vây từ các chính phủ
tư bản thù địch làm đa phần đất nước bị tàn phá. Đã có nhiều cuộc nổi dậy của
nông dân, vụ lớn nhất là cuộc Nổi dậy Tambov. Sau một cuộc khởi nghĩa của
những thủy thủ tại Kronstadt vào tháng 3 năm 1921, Lenin đã thay thế chính
sách Cộng sản thời chiến bằng Chính sách kinh tế mới (NEP) hay còn gợi là
cộng sản thời bình, trong một nỗ lực thắng lợi nhằm tái xây dựng công nghiệp v
Nguyên tác: Жизнь Ленина
Tác giả: Maria Prilezhayeva
Dịch giả: Trần Khuyến
Nhà xuất bản Kim Đồng
Nguồn: Gacsach.com
Biên tập: V.C
Bìa & Ebook: inno14
★★★
NHÂN VẬT
Vladimir Ilyich Lenin (tiếng Nga: Влади́мир Ильи́ч Ле́нин, phiên âm tiếng
Việt: Vla-đi-mia I-lích Lê-nin), tên khai sinh là Vladimir Ilyich Ulyanov (tiếng
Nga: Влади́мир Ильи́ч Улья́нов), còn thường được gọi với tên V. I. Lenin hay
N. Lenin, có các bí danh: V.Ilin, K.Tulin, Karpov...; sinh ngày 22 tháng 4 năm
1870, mất ngày 21 tháng 1 năm 1924; là một lãnh tụ của phong trào cách mạng
vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Karl Marx (1818 - 1883) và
Friedrich Engels.
Ông được tạp chí Time coi là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất đến
lịch sử thế giới.
Ông mất tháng 1 năm 1924, thi hài được lưu giữ trong lăng Lênin trên Quảng
trường Đỏ, Moskva.
Lenin sinh tại Simbirsk, Nga (hiện là Ulyanovsk), là con trai thứ ba trong gia
đình tương đối đầm ấm của vợ chồng Ilya Nikolaevich Ulyanov (1831 – 1886),
một viên chức dân sự Nga làm việc để mở rộng dân chủ và giáo dục đại chúng
miễn phí ở Nga, và Maria Alexandrovna Ulyanova (1835 – 1916), một người
theo chủ nghĩa tự do. Lênin là người có dòng máu lai từ thời tổ tiên. Là người
Nga nhưng ông có dòng máu của người Kalmyk qua ông nội, của người Đức
Volga qua bà ngoại (là một người theo thuyết Luther), và của người Do Thái qua
ông ngoại (người đã cải theo Ki-tô giáo). Lênin được rửa tội trong Nhà thờ
Chính Thống giáo Nga.
Lenin nổi tiếng học giỏi tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạp. Hai bi kịch đã xảy ra
trong thời niên thiếu của ông. Lần đầu khi cha ông qua đời vì xuất huyết não
năm 1886. Tháng 5 năm 1887 anh cả của ông là Aleksandr Ilyich Ulyanov - một
người theo phái "Dân ý" - bị treo cổ vì tham gia vào một âm mưu ám sát Nga
hoàng Aleksandr III. Sự kiện này đã làm Lenin trở thành người cấp tiến. Tiểu sử
chính thức của ông thời Xô Viết coi sự kiện này có ảnh hưởng lớn tới các quá
trình cách mạng của ông. Một bức tranh nổi tiếng của Belousov, Chúng ta sẽ đi
theo một con đường khác, được in lại hàng triệu bản trong những cuốn sách thời
Xô Viết, mô tả cậu bé Lenin và mẹ đang buồn bã khi mất người anh trai. Câu nói
"Chúng ta sẽ theo một con đường khác" có nghĩa là Lenin đã lựa chọn chủ nghĩa
Marx để tiếp cận tới cách mạng nhân dân, thay vì những phương pháp vô chính
phủ cá nhân. Khi Lênin bắt đầu quan tâm tới chủ nghĩa Marx, ông tham gia vào
các cuộc phản kháng của sinh viên và cuối năm đó bị bắt. Sau đó ông bị đuổi
khỏi Đại học Kazan. Ông tiếp tục học tập một mình và tới năm 1891 đã có giấy
phép hành nghề luật.
Ngay khi tốt nghiệp, Lênin vào làm trợ lý cho một luật sư. Ông làm việc
nhiều năm tại Samara, Nga, sau đó vào năm 1893 chuyển tới kinh đô SanktPeterburg. Thay vì tìm kiếm một công việc hợp pháp ổn định, ông ngày càng
tham gia sâu vào các hoạt động tuyên truyền cách mạng và nghiên cứu chủ nghĩa
Marx. Ngày 7 tháng 12 năm 1895, ông bị nhà chức trách bắt giam 14 tháng sau
đó trục xuất tới một làng tại Shushenskoye ở Xibia.
Tháng 4 năm 1899, ông xuất bản cuốn sách Sự phát triển của Chủ nghĩa Tư
bản tại Nga, một cuốn sách khá đồ sộ. Năm 1900, thời kỳ đi đày chấm dứt. Ông
đi du lịch nước Nga và những nơi khác ở châu Âu. Lenin đã sống tại Zürich,
Genève, München, Praha, Viên và Luân Đôn và trong khi bị đi đày ông đã sáng
lập tờ báo Iskra. Ông cũng viết một số bài báo và cuốn sách về phong trào cách
mạng. Trong giai đoạn này, ông đã bắt đầu sử dụng nhiều bí danh, cuối cùng lấy
tên Lenin.
Ông hoạt động trong Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (RSDLP; РСДРП
trong tiếng Nga), và vào năm 1903 ông lãnh đạo phái Bolshevik sau một sự chia
rẽ với những người Menshevik, điều này xảy ra một phần từ cuốn sách nhỏ của
ông Điều cần làm? Năm 1906 ông được bầu làm Chủ tịch RSDLP. Năm 1907
ông tới Phần Lan vì những lý do an ninh. Ông tiếp tục đi du lịch châu Âu và
tham gia vào nhiều cuộc gặp gỡ cũng như các hoạt động xã hội, gồm cả Hội thảo
Đảng Praha năm 1912 và Hội thảo Zimmerwald năm 1915.
Richard Pipes cho rằng Lenin đã phân tích Công xã Paris và kết luận phong
trào này thất bại vì "sự khoan hồng quá mức - đúng ra Công xã phải tiêu diệt
những kẻ thù của mình". Tuy nhiên, cả câu trích dẫn, như Lenin đã nói trong một
bài phát biểu đã được chuyển tới một cuộc gặp gỡ quốc tế tại Genève ngày 18
tháng 3 năm 1908, nhân ngày lễ kỷ niệm Công xã như sau: "Dù giai cấp vô sản
xã hội đã bị chia rẽ thành nhiều phe, Công xã là một ví dụ cụ thể về sự đoàn kết
để khi có nó giai cấp vô sản có thể hoàn thành các nhiệm vụ dân chủ mà giai cấp
tư sản chỉ có thể tuyên bố ra. Không cần có một điều luật phức tạp đặc thù nào
cả, một cách đơn giản, rõ ràng, giai cấp vô sản, khi đã nắm quyền lực, sẽ tiến
hành dân chủ hóa hệ thống xã hội, xóa bỏ quan liêu và khiến cho mọi chức vụ
nhà nước đều thông qua bầu cử. Hai sai lầm đã tiêu diệt thành quả của một chiến
thắng vẻ vang.
Giai cấp vô sản đã dừng lại nửa chừng; thay vì tiếp tục “chiếm đoạt của
những kẻ chiếm đoạt", họ đã cho phép mình đi chệch hướng bởi những mơ ước
về một sự công bằng tuyệt đối trong một đất nước thống nhất bởi một mục tiêu
quốc gia; những định chế, như ngân hàng, đã không bị nắm giữ.... Sai lầm thứ
hai là sự khoan dung quá đáng của giai cấp vô sản: đúng ra họ phải tiêu diệt các
kẻ thù, nhưng thay vào đó họ lại gắng sức dùng đạo đức để gây ảnh hưởng tới
chúng; họ đã bỏ qua tầm quan trọng của hoạt động quân sự thuần túy trong một
cuộc nội chiến và thay vì tiếp tục tiến bước mạnh mẽ tới Versailles và giành lấy
chiến thắng ở Paris, họ đã trì hoãn và do vậy cho phép chính phủ Versailles tập
hợp các lực lượng của mình, chuẩn bị trước cho những sự kiện đẫm máu trong
tuần lễ tháng 5."
Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914, và các đảng Dân chủ
Xã hội lớn tại châu Âu (khi đó họ tự coi họ là theo chủ nghĩa Mác), gồm cả
những người có uy tín như Karl Kautsky, ủng hộ những nỗ lực chiến tranh của
chính quyền nước mình, Lenin đã rất sửng sốt, đầu tiên từ chối tin rằng những
người của Đảng Dân chủ Xã hội Đức đã bỏ phiếu ủng hộ chiến tranh. Điều này
khiến ông bị chia rẽ lần cuối cùng với Đệ Nhị Quốc tế, gồm các đảng đó.
Khác với quan điểm chung của người Mác-xít coi cách mạng ở Đức là quan
trọng hơn ở Nga, ngày 17 tháng 10 năm 1914, Lenin viết: "Chủ nghĩa Nga
Hoàng còn trăm lần xấu hơn chủ nghĩa Đức Hoàng." Ông lên án chủ nghĩa tư
bản cả hai bên đã gây ra cuộc chiến, nhất là chủ nghĩa đế quốc Anh - Pháp.
• Sau Cách mạng Tháng Hai (1917)
Sau khi Cách mạng Tháng Hai năm 1917 giành thắng lợi tại Nga và Nga
hoàng Nikolai II thoái vị, Lênin biết rằng ông cần sớm trở lại nước Nga. Nhưng
ông đã bị cô lập tại Thụy Sĩ trung lập khi Chiến tranh thế giới thứ nhất đang ở
giai đoạn cao trào và không thể dễ dàng đi qua châu Âu. Tuy nhiên, Fritz Platten,
một người cộng sản Thụy Sĩ đã tìm cách đàm phán với Chính phủ Đế quốc Đức
để Lenin và những người của ông có thể đi bằng tàu hỏa kín qua nước Đức. Mọi
người tin rằng chính Hoàng đế (Kaiser) Wilhelm II của Đức đã hy vọng Lenin sẽ
gây ra tình trạng bất ổn chính trị ở Nga giúp ông chấm dứt chiến tranh tại Mặt
trận phía Đông. Khi còn ở trên lãnh thổ Đức, Lenin không được phép ra khỏi
đoàn tàu. Khi đã qua Đức, Lenin tiếp tục đi phà tới Thụy Điển và chặng đường
xuyên Scandinavia còn lại đã được những người cộng sản Thụy Sĩ là Otto
Grimlund và Ture Nerman thu xếp.
Theo báo Công an Nhân dân, có người cho rằng sự nghiệp cách mạng của
ông đã nhận được sự giúp đỡ về tài chính từ đế quốc Đức. Họ cho rằng Lenin đã
nhận được tiền bạc từ tay một nhà tư sản Đức tên là Parvus. Thậm chí, sách The
Return of the Kings của tác giả Thomas Purcell còn khẳng định Đức hoàng
mong muốn tiêu diệt các Nga hoàng hùng mạnh và ủng hộ Lenin vì nhiều lý do,
chẳng hạn Đức hoàng hy vọng Lenin sẽ hỗ trợ cho Đức trong cuộc chiến trên
Mặt trận phía Tây sau khi Cách mạng thắng lợi và Mặt trận phía Đông chấm dứt.
Cũng theo đó, nếu Đức hoàng không hỗ trợ Lenin thì có lẽ cuộc cách mạng vô
sản sẽ thất bại. Tuy nhiên, nghiên cứu của nhà sử học nổi tiếng người Nga
Vladlen Loginov không có những tình tiết này. Theo ghi nhận trên giấy tờ, trong
các năm 1915 - 1917, có đến ba lần Parvus tìm cách bắt liên lạc với Lenin, với
mong muốn đưa tiền cho nhà cách mạng này. Thế nhưng, Parvus đã không thành
công trong cả ba lần tìm cách bắt liên lạc nêu trên. Lenin đã phản hồi: “Cách
mạng cần được thực hiện bằng những bàn tay trong sạch."
Ngày 16 tháng 4 năm 1917, Lênin quay trở về thủ đô Petrograd và nhận vai
trò lãnh đạo bên trong phong trào Bolshevik, xuất bản Luận cương tháng 4. Luận
cương tháng 4 kêu gọi kiên quyết phản đối chính phủ lâm thời. Ban đầu vì có sự
không rõ ràng trong cánh tả Lenin giữ khoảng cách với đảng của ông. Tuy nhiên,
lập trường kiên quyết này có nghĩa rằng những người Bolshevik đã trở thành
lãnh đạo của quần chúng bởi vì họ không còn ảo tưởng ở chính phủ lâm thời, và
nhờ sự xa hoa của phe đối lập những người Bolshevik đã không còn phải chịu
trách nhiệm về bất cứ hậu của nào của việc áp dụng những chính sách của họ.
• Sau cuộc nổi dậy của công nhân
Sau cuộc nổi dậy bất thành của công nhân vào tháng 7, Lenin bỏ trốn tới
Phần Lan. Ngày 24 tháng 10 theo lịch cũ Nga, tức ngày 6 tháng 11 năm 1917,
ông viết: "Chính phủ sắp sụp đổ. Chúng ta phải giáng cho nó đòn chí mạng bằng
mọi giá. Trì hoãn hành động là chết". Cùng tháng, ông rời Phần Lan và trở lại
nước Nga, phát động một cuộc cách mạng vũ trang với khẩu hiệu "Tất cả quyền
lực về tay Xô Viết!" chống lại Chính phủ Lâm thời của Kerensky. Các ý tưởng
về chính phủ của ông đã được thể hiện trong bài tiểu luận "Quốc gia và Cách
mạng", kêu gọi thành lập một hình thức chính phủ mới dựa trên các hội đồng
công nhân hay các Xô viết. Trong tác phẩm này, ông cũng cho rằng, trên nguyên
tắc, những người công nhân bình thường có thể điều hành một nhà máy hay một
chính phủ. Dù ông nhấn mạnh rằng, để điều hành một quốc gia, người công nhân
phải "học chủ nghĩa cộng sản." Ông còn nhấn mạnh thêm rằng một thành viên
chính phủ phải nhận đồng lương không được cao hơn lương một người công
nhân tầm trung bình.
• Chủ tịch chính phủ
Ngày 8 tháng 11, Lenin được Đại hội Xô viết Nga bầu làm Chủ tịch Hội đồng
Dân ủy. Lenin nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa điện tới mọi vùng nước
Nga và hiện đại hóa công, nông nghiệp. Ông rất quan tâm tới việc tạo ra một hệ
thống chăm sóc sức khỏe miễn phí và toàn diện cho mọi người dân, giải phóng
phụ nữ và dạy cho những người dân mù chữ Nga biết đọc, viết. Nhưng trước hết,
chính phủ Bolshevik mới cần đưa nước Nga ra khỏi Chiến tranh thế giới thứ
nhất.
Đối mặt với mối đe dọa xâm lăng từ nước Đức, Lenin cho rằng Nga cần ngay
lập tức ký kết một hiệp ước hòa bình. Những lãnh tụ Bolshevik khác, như
Bukharin, ủng hộ tiếp tục tham chiến, coi đó là một biện pháp mang cách mạng
tới nước Đức. Lev Davidovich Trotsky, người chỉ đạo các cuộc đàm phán, ủng
hộ một lập trường trung gian, "Không Chiến tranh, Không Hòa bình", kêu gọi
chỉ ký hiệp ước hòa bình với điều kiện không một phần đất chiếm thêm được của
bất kỳ bên nào được hợp nhất với lãnh thổ nước đó. Sau khi những cuộc đàm
phán thất bại, Đức tấn công chiếm giữ nhiều vùng rộng lớn phía tây nước Nga.
Sau các sự kiện mang tính bước ngoặt này, lập trường của Lenin được đa số ban
lãnh đạo Bolshevik ủng hộ. Ngày 3 tháng 3 năm 1918, Lenin rút Nga ra khỏi
Chiến tranh thế giới thứ nhất khi đồng ý ký kết Hiệp ước Brest-Litovsk, theo đó
nước Nga mất một phần lớn lãnh thổ tại châu Âu. Đây được xem là thời điểm tệ
nhất của lịch sử Nga trong vòng 200 năm, song với một đất nước bị tàn phá thì
Lênin không còn cách nào khác ngoài việc chấp nhận những điều khoản ô nhục.
Sau khi những người Bolshevik thất bại trong cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến
Nga, cùng với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của đại đa số công nhân ở hai thành phố
lớn là Petrograd và Moskva, họ đã sử dụng lực lượng Hồng vệ binh buộc cuộc
họp lần thứ nhất của Quốc hội phải ngừng lại ngày 19 tháng 1. Sau đó, những
người Bolshevik đã tổ chức ra một tổ chức Phản-Quốc hội, Đại hội Xô viết thứ
ba, cho phép họ và các đồng minh có được hơn 90% số ghế, cho rằng "chuyên
chính vô sản" trước tiên là một đạo luật của chính giai cấp vô sản: "Tất nhiên,
những người cho rằng có thể lấp đầy hố sâu ngăn cách giữa chủ nghĩa tư bản và
chủ nghĩa xã hội, hay những người tưởng tượng rằng điều đó có thể thuyết phục
đa số nhân dân rằng nó có thể xảy ra thông qua trung gian của Quốc hội Lập
hiến - những người tin vào câu chuyện ngụ ngôn của tầng lớp tư sản dân chủ, có
thể vô tình tin tưởng điều đó, nhưng hãy đừng để họ phàn nàn nếu cuộc sống lật
tẩy câu chuyện ngụ ngôn này," và nói thêm rằng "lý do lớn nhất tại sao những
người xã hội chủ nghĩa" (như, những người dân chủ tiểu tư sản) của Quốc tế Thứ
hai không hiểu được sự chuyên chính vô sản là bởi họ không hiểu được rằng
quyền lực nhà nước nằm trong tay một tầng lớp, tầng lớp vô sản, có thể và phải
trở thành một phương tiện cho phe chiến thắng của tầng lớp vô sản của đông đảo
nhân dân vô sản, một phương tiện để giành chiến thắng của tầng lớp đó trước
giai cấp tư sản và những đảng tiểu tư sản."
Những người Bolshevik đã thành lập một chính phủ liên minh với Đảng Xã
hội Cách mạng Nga cánh tả. Tuy nhiên, liên minh của họ đã tan vỡ sau khi Cách
mạng Xã hội chủ nghĩa phản đối hiệp ước Brest-Litovsk, và họ gia nhập cùng
với các đảng khác tìm cách lật đổ chính phủ Xô viết. Tình hình diễn biến theo
chiều hướng xấu, các đảng không Bolshevik (gồm một số phái xã hội chủ nghĩa)
tích cực tìm cách lật đổ chính phủ Bolshevik. Lenin phản ứng lại cách hành động
đó bằng cách ngăn chặn các hoạt động của họ và bỏ tù một số thành viên các
đảng đối lập.
• Ủng hộ và phản đối
Dù Lenin đã ủng hộ và giúp đỡ thành lập một chế độ "Dân chủ Xô viết,"
những người phản đối Lenin thuộc cánh hữu, như Kautsky, và thuộc cánh tả như
Kollontai, vẫn cho rằng ông thủ tiêu sự giải phóng giai cấp vô sản và nền dân
chủ (quyền kiểm soát của công nhân thông qua các Xô Viết hay các hội đồng
công nhân). Có người cho rằng đây là hành động mở đường cho chủ nghĩa Stalin
sau này. Dù nhiều cơ quan và chính sách do Stalin lập ra và sử dụng như cảnh
sát mật, trại lao động, và việc hành quyết các đối thủ chính trị vốn bị chỉ trích
nặng nề cũng đã được sử dụng dưới tới cầm quyền của Lenin, các kỹ thuật đó
cũng thường được chế độ Nga hoàng sử dụng từ lâu trước thời Lenin, và cũng từ
lâu đã là các phương tiện tiêu chuẩn để đối phó với bất đồng chính trị ở nước
Nga. Tuy nhiên, theo Stephane Courtois mức độ sử dụng có khác nhau; số tù
nhân chính trị bị hành quyết trong vài tháng đầu cầm quyền của phái Bolshevik
lớn gấp ba lần con số đó trong 90 năm cầm quyền của chế độ Nga hoàng. Tuy
nhiên, "thực tế" này, hiện vẫn đang bị tranh cãi. Cũng cần nhớ rằng tỷ lệ các
hoàn cảnh dẫn tới những phản ứng của người Bolshevik cũng khác rất xa: một
đất nước bị tàn phá nặng nề bởi một cuộc chiến tranh thế giới, một quần chúng
thất học sau giai đoạn quân chủ chuyên chế, một lực lượng đối lập sẵn sàng hy
sinh để lật đổ chính quyền Bolshevik,... Hơn nữa, Trotsky tuyên bố rằng một
"con sông máu" chia tách Lenin khỏi những hành động của Stalin bởi vì Stalin
đã hành quyết nhiều đồng chí cũ của Lenin cũng như những người ủng hộ họ,
trong nhóm Đối lập cánh Tả. Trong số này có cả chính Trotsky.
Quan điểm của những người theo chủ nghĩa Lenin về cách mạng đòi hỏi một
bộ máy cán bộ cách mạng chuyên nghiệp vừa có nhiệm vụ chỉ huy đại chúng
trong cuộc đấu tranh giành quyền lực và tập trung hóa kinh tế cũng như quyền
lực hành chính vào tay một đất nước của công nhân. Từ mùa xuân năm 1918,
Lenin đã vận động đặt những cá nhân có trách nhiệm vào cương vị đứng đầu
mỗi nhà máy, trái ngược lại hầu hết các quan điểm về sự tự quản của công nhân,
nhưng hoàn toàn cần thiết cho hiệu quả sản xuất và về mặt chuyên môn. Như
S.A. Smith đã viết: "Tới cuối cuộc nội chiến, không có nhiều nhà máy hoạt động
theo những hình thức dân chủ trong quản lý công nghiệp như kiểu các hội đồng
nhà máy từng được cổ động trong năm 1917, nhưng chính phủ cho rằng điều này
không phải là vấn đề bởi vì nền công nghiệp đã dựa trên sự sở hữu của một quốc
gia công nhân." Trong cuộc nội chiến, dân chủ không phải được tập trung bên
trong đảng Bolshevik và sau này là Bộ Chính trị của Đảng cộng sản Liên Xô.
Để bảo vệ chính phủ Bolshevik mới thành lập trước những kẻ phản cách
mạng, chính quyền của Lenin đã tạo ra lực lượng cảnh sát mật, Cheka, ngay sau
cuộc cách mạng. Những người Bolshevik đã lập kế hoạch tổ chức một phiên tòa
xét xử Hoàng đế Nikolai II vì những tội ác chống lại nhân dân Nga, nhưng vào
tháng 8 năm 1918 khi Bạch vệ tiến về Yekaterinburg (nơi gia đình Nikolai II
đang bị cầm giữ), Sverdlov đã nhanh chóng ra quyết định hành quyết Nikolai II
và cả gia đình để quân Bạch vệ không thể giải thoát cho họ. Sau này Sverdlov đã
thông báo với Lenin về vụ hành quyết, Lenin đồng ý rằng đó là một quyết định
đúng đắn, bởi vì những người Bolshevik không muốn để Hoàng gia trở thành
một biểu tượng của Bạch vệ. Tuy nhiên, có những nhà sử học người Nga đã cho
biết, ông không tán thành với việc những người Bolshevik hành hình Nikolai II,
vì ông cho rằng sau khi chế độ quân chủ không còn nữa, Nga hoàng nên được
đưa ra tòa án để xét xử. Cháu gái Lenin - Olga Ulianova cũng nói: "Bác Volodya
làm cách mạng Bolshevic không phải để giết vua Nga. Lenin chỉ muốn thay thế
hệ thống tư bản chủ nghĩa ở nước Nga bằng chế độ xã hội chủ nghĩa".
• Vụ ám sát và phản ứng của chính phủ
Ngày 30 tháng 8 năm 1918, Fanya Kaplan, một thành viên của Đảng Xã hội
Cách mạng Nga, tiếp cận Vladimir Ilyich Lenin sau khi ông tham dự một buổi
mít-tinh và đang quay ra xe hơi. Kaplan gọi tên Lenin, ông quay lại trả lời. Bà
ngay lập tức bắn ba phát, hai phát trúng Lenin ở khuỷu tay và lưng. Lenin được
đưa về căn hộ tại Kremli, từ chối tới bệnh viện bởi ông tin rằng những kẻ ám sát
khác đang rình rập ở đó. Các bác sĩ được triệu tới, nhưng cho rằng sẽ là quá
nguy hiểm nếu lấy viên đạn ra. Sau này Lenin đã hồi phục dù sức khỏe của ông
bắt đầu giảm sút từ thời điểm đó. Mọi người cho rằng vụ ám sát có liên quan tới
những cơn đột quỵ sau này của ông.
Chính phủ Bolshevik phản ứng lại vụ ám sát, và những sự tập hợp nỗ lực
chống cộng từ các đối thủ của họ bằng cái họ gọi là Khủng bố Đỏ. Hàng chục
nghìn người bị coi là kẻ thù của cách mạng, nhiều người bị hành quyết hay tống
vào các trại lao động vì có âm mưu chống lại chính phủ Bolshevik.
Theo Orlando Figes, Lenin luôn ủng hộ "sự khủng bố số đông chống lại
những kẻ thù cách mạng" và luôn bày tỏ quan điểm rằng nhà nước vô sản là một
hệ thống bạo lực được tổ chức chống lại những tổ chức của chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên theo Figes, trong khi được những người Bolsheviks khuyến khích, sự
khủng bố có gốc rễ trong sự giận dữ của nhân dân chống lại tầng lớp ưu thế. (A
Peoples Tragedy, trang 524-525) Vào cuối năm 1918 khi Kamenev và Bukharin
tìm cách kìm chế những "sự thái quá" của Cheka, chính Lenin là người đã đứng
ra bảo vệ tổ chức này. (Figes trang 649) Tuy nhiên, mức độ của cái gọi là "những
sự thái quá," cũng như những lý do của Lenin ẩn giấu sau sự bảo vệ đó không hề
được nêu tên.
Tháng 3 năm 1919, Lenin và các lãnh đạo Bolshevik khác gặp gỡ với các nhà
cách mạng xã hội chủ nghĩa từ khắp nơi trên thế giới và lập ra Quốc tế Cộng sản.
Các thành viên của Quốc tế Cộng sản, gồm Lenin và cả những người Bolshevik
ngừng quan hệ với phong trào xã hội chủ nghĩa ở tầm vóc rộng lớn hơn. Từ đó
trở về sau, họ sẽ được gọi là những người cộng sản. Tại Nga, Đảng Bolshevik
được đổi tên thành "Đảng Cộng sản Nga (bolshevik)", (sau này thành Đảng
Cộng sản Liên Xô).
Trong lúc ấy cuộc nội chiến lan tràn khắp nước Nga. Nhiều phong trào chính
trị và những người ủng hộ họ đứng lên cầm vũ khí nhằm lật đổ chính phủ Xô
viết. Dù có nhiều phe cánh tham gia cuộc nội chiến, hai lực lượng chính là Hồng
quân (bolshevik) và Bạch vệ (phe ủng hộ chế độ quân chủ). Các cường quốc bên
ngoài như Pháp, Anh, Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng can thiệp vào cuộc chiến tranh
này (đứng bên phía Bạch vệ). Cuối cùng, đội quân được tổ chức tốt và có hiệu
quả hơn là Hồng quân, do Trotsky chỉ huy, đã giành chiến thắng, đánh bại các
lực lượng Bạch vệ và đồng minh của họ năm 1920. Tuy nhiên, những cuộc chiến
ở tầm nhỏ hơn vẫn tiếp tục trong nhiều năm nữa.
Những tháng cuối năm 1919, các chiến thắng giành được trước Bạch vệ
khiến Lenin tin rằng đã tới thời điểm mở rộng cách mạng sang phía tây, bằng vũ
lực nếu cần thiết. Khi nền Cộng hòa Ba Lan thứ hai mới được thành lập bắt đầu
đòi lại những vùng lãnh thổ đã bị nước Nga sáp nhập trong vụ phân chia Ba Lan
vào cuối thế kỷ 18, họ đã xung đột với các lực lượng Bolshevik để giành quyền
kiểm soát các vùng này, dẫn tới sự bùng nổ Chiến tranh Ba Lan-Xô viết năm
1919. Với sự phát triển của cách mạng tại Đức và Liên đoàn Spartacus, Lenin
coi đó là thời điểm và địa điểm chín muồi nhất để "thăm dò châu Âu bằng những
lưỡi lê Hồng quân." Lenin coi Ba Lan là cây cầu nối mà Hồng quân có thể dùng
để kết nối cách mạng Nga với những người ủng hộ Cách mạng Đức, và hỗ trợ
các phong trào cộng sản ở Tây Âu. Tuy nhiên sự thất bại của nước Nga Xô viết
trong cuộc chiến tranh Ba Lan-Xô viết khiến các kế hoạch đó bị hủy bỏ.
Lenin là người chỉ trích mạnh mẽ chủ nghĩa đế quốc . Năm 1917 ông tuyên
bố quyền tự quyết và phân chia các dân tộc quốc gia và đàn áp các quốc gia vô
điều kiện, thường được coi là các quốc gia trước kia thuộc quyền kiểm soát của
chủ nghĩa tư bản đế quốc. Tuy nhiên, khi cuộc Nội chiến Nga chấm dứt, ông đã
dùng các lực lượng quân sự để đồng hóa các quốc gia mới giành độc lập là
Armenia, Gruzia và Azerbaijan, cho rằng sự sáp nhập các quốc gia đó vào đất
nước Xô viết sẽ che chở họ khỏi những tham vọng của chủ nghĩa đế quốc. Điều
này cho phép các quốc gia đó được chấp nhận thành một phần của Liên bang Xô
viết hơn là đơn giản buộc họ trở thành một phần lãnh thổ Nga, hành động này sẽ
bị coi là hành động đế quốc.
Sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, chính sách cộng sản thời chiến của
Bolshevik, cộng với Nạn đói năm 1921 tại Nga và sự bao vây từ các chính phủ
tư bản thù địch làm đa phần đất nước bị tàn phá. Đã có nhiều cuộc nổi dậy của
nông dân, vụ lớn nhất là cuộc Nổi dậy Tambov. Sau một cuộc khởi nghĩa của
những thủy thủ tại Kronstadt vào tháng 3 năm 1921, Lenin đã thay thế chính
sách Cộng sản thời chiến bằng Chính sách kinh tế mới (NEP) hay còn gợi là
cộng sản thời bình, trong một nỗ lực thắng lợi nhằm tái xây dựng công nghiệp v
 








Các ý kiến mới nhất