Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

BA GẢ CÙNG THUYỀN(Chưa kể con chó)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư Viện Trường THCS THPT Suối Nho (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:58' 24-10-2025
Dung lượng: 911.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Tên eBook: Ba Gã Cùng Thuyền (Chưa Kể Con Chó)
Tác giả: Jerome K. Jerome 

Thể loại: Tiểu thuyết, Hài hước, Văn học Anh

Bộ sách: 100 Cuốn sách giá trị nhất thế giới
Công ty phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: NXB Văn Học

Dịch Giả: Petal Lê
Số trang: 328
Ngày xuất bản: 05-2010

Giới thiệu:
 
Bọn hắn có bốn mạng (tính cả con chó), và bọn hắn tiến hành chuyến
du hành sông Thames để đời này với một lý do chính đáng không để
đâu cho hết: để thư giãn. Quả thật, nếu không tính đến sự cứng đầu
cứng cổ của mớ hành lý, sự vô ơn của con thuyền, sự quỷ quyệt của cái
ấm trà, sự om sòm của bầy thiên nga (v.v. và v.v.) thì ái chà, bọn hắn
quả đã được thư giãn thật. Thêm vào đó, bọn hắn còn được biết thế
nào là một chuyến du hành đích thực…

  
Nhờ đó, độc giả có thể ngấu nghiến từng câu từng chữ những câu
chuyện ly kỳ hấp dẫn mà gã J. ấy đã vui lòng kể lại, có thể xuýt xoa
trước tầng tầng lớp lớp kiến thức văn hóa, lịch sử, địa lý trong tác
phẩm, có thể tấm tắc trước văn phong, có thể cười lăn trước những
chi tiết khôn lường, có thể vỗ đùi đánh đét mà ngưỡng mộ văn tài của
tác giả. Và, xin nhắc độc giả rằng, đây không phải một câu chuyện, đây
là bản tường thuật chân thực không thể bỏ lỡ về một chuyến du hành
sông nước “độc nhất vô nhị”…
 
Mời các bạn đón đọc Ba Gã Cùng Thuyền (Chưa kể con chó) của tác
giả Jerome K. Jerome.
 

MỤC LỤC
LỜI TÁC GIẢ
LỜI TỰA CHO LẦN XUẤT BẢN ĐẦU TIÊN
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
CHƯƠNG 8
CHƯƠNG 9
CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11
CHƯƠNG 12
CHƯƠNG 13
CHƯƠNG 14

CHƯƠNG 15
CHƯƠNG 16
CHƯƠNG 17
CHƯƠNG 18
CHƯƠNG 19

LỜI TỰA CHO LẦN XUẤT BẢN ĐẦU TIÊN
Phần lớn vẻ đẹp của cuốn sách này không nằm ở phong cách văn
chương hay phạm vi và sự hữu dụng của những thông tin nó truyền tải mà
nằm nhiều hơn ở sự chân thực đơn giản của nó. Các trang sách lưu giữ
những sự kiện thật sự đã xảy ra. Tất cả những gì đã được thực hiện là tô
điểm cho chúng chút màu sắc; và cũng không tốn kém thêm cho việc này
lắm. George, Harris và Montmorency đều không phải là những hình mẫu
thơ ca mà là những tạo vật bằng xương bằng thịt - nhất là George, nhân vật
có trọng lượng khoảng hơn bảy chục ký lô. Một số tác phẩm khác có thể
xuất sắc hơn cuốn này về độ sâu sắc của tư tưởng và kiến thức về bản chất
con người: một số cuốn khác có thể trội về mức độ độc đáo và độ dài;
nhưng xét về tính chân thực vô vọng và không thể cứu chữa được của cuốn
sách này, cho đến nay vẫn chưa có cuốn nào vượt qua được nó. Điều này,
hơn tất cả những điểm duyên dáng khác của nó, có lẽ sẽ khiến cho cuốn
sách đáng giá trong mắt những độc giả nghiêm túc nhất; và sẽ bổ sung
thêm sức nặng cho bài học mà câu chuyện này dạy cho chúng ta.
London, tháng Tám năm 1889

CHƯƠNG 1
Ba thương binh - Những bệnh tật của George và Harris - Nạn nhân của
một trăm linh bảy căn bệnh vô phương cứu chữa - Những đơn thuốc cứu
mạng - Cách chữa bệnh gan ở trẻ con - Nhất trí rằng cả bọn đã làm việc
quá sức và cần được nghỉ ngơi - Một tuần bò lê trên biển? - George đề
xuất ý tưởng con sông - Montmorency đệ đơn phản đối - Kiến nghị ban
đầu được thực hiện với tỉ lệ nhất trí ba trên một.
BỌN TÔI CÓ BỐN MẠNG - George, William Samuel Harris, tôi và
con Montmorency. Cả bọn đang ngồi trong phòng tôi, hút thuốc và tán
chuyện về tình trạng tồi tệ của mỗi thằng - dĩ nhiên, ý tôi là tồi tệ trên
phương diện y học.
Cả bọn đều cảm thấy khó ở trong người và lo sốt vó về vấn đề này.
Harris nói thỉnh thoảng hắn gặp phải những cơn choáng váng ghê gớm, và
rằng lúc ấy gần như hắn không biết mình đang làm gì nữa; sau đó đến lượt
George than thở rằng chính hắn cũng có những cơn chóng mặt, và cũng
gần như không biết mình lúc ấy đang làm gì nữa. Còn tôi thì gan có vấn
đề. Tôi biết chính gan của tôi trục trặc, là vì tôi vừa mới đọc một tờ quảng
cáo thuốc chữa gan, trong ấy liệt kê chi tiết ti tỉ các triệu chứng khác nhau
để một người có thể xác định được khi nào thì gan mình có vấn đề. Tôi có
tất cả các triệu chứng ấy.
Thật là một việc hết sức lạ thường, nhưng tôi chưa bao giờ đọc một tờ
quảng cáo thuốc nào mà không buộc phải đau đớn kết luận rằng tôi đang
mắc phải chính căn bệnh được nhắc đến trong ấy và ở dạng nguy hiểm
nhất. Có vẻ như mọi triệu chứng của các loại bệnh đều y hệt tất cả những
gì tôi đã cảm thấy.
Tôi nhớ có hôm đã đến Bảo tàng Anh để tra cứu cách điều trị cho một
cơn ươn người mà tôi có cảm giác mình đang mắc phải - sốt dị ứng phấn
hoa, tôi cho là thế. Tôi tìm ra cuốn sách, đọc xong tất cả những gì định đọc;
và sau đó, trong một khoảnh khắc không suy nghĩ, tôi vẩn vơ lật các trang
sách, bắt đầu nghiên cứu các loại bệnh tật nói chung một cách lơ đãng. Tôi
đã quên béng mất căn bệnh đầu tiên mình mắc phải là gì - một kiểu tai họa
khủng khiếp ghê rợn nào đấy, tôi biết thế - và, trước khi liếc qua độ nửa

danh sách “các triệu chứng báo trước” thì tôi đã hoàn toàn dám chắc thật sự
mình đã mắc phải nó rồi.
Tôi ngồi chết lặng một lúc vì kinh hãi; và sau đó, trong nỗi tuyệt vọng
bơ phờ, tôi lại tiếp tục lật giở các trang sách. Tôi giở mục bệnh thương hàn
- đọc các triệu chứng - nhận ra rằng mình bị thương hàn, chắc là đã bị hàng
tháng trời rồi mà không hề hay biết - băn khoăn không biết mình còn mắc
phải bệnh gì nữa; đọc đến bệnh St Vitus's Dance(1) - y như rằng, tôi cũng đã
mắc bệnh ấy - tôi bắt đầu thấy quan tâm đến trường hợp của mình và
quyết định sẽ xem xét đến cùng, vì thế tôi bèn lần theo bảng chữ cái - bắt
đầu từ [bệnh sốt rét(2), rồi nhận ra là mình đang phát ốm vì nó, và rằng giai
đoạn cấp tính sẽ bắt đầu trong độ hai tuần nữa thôi. Đến bệnh Bright(3) thì
thật tôi nhẹ cả người khi thấy mình chỉ mắc ở dạng biến thể, và, theo như
những gì được biết, tôi có thể thọ thêm nhiều năm nữa. Bệnh thổ tả(4) mà
tôi bị thì có các biến chứng ghê gớm; và có vẻ như từ bụng mẹ chui ra tôi
đã mắc bệnh bạch hầu(5). Tôi nghiên cứu một cách cẩn thận hết hai mươi
sáu chữ cái, và căn bệnh duy nhất tôi có thể kết luận mình không mắc phải
là bệnh sản giật(6).
Lúc đầu tôi có cảm giác khá bị xúc phạm trước việc này; có vẻ như đó
là một bệnh nhẹ. Can cớ gì mà tôi lại không bị bệnh sản giật? Tại sao lại có
cái kiểu chừa lại gây cảm giác bị đối xử bất công này? Tuy nhiên, sau một
lúc thì cảm giác cay cú cũng dịu đi. Tôi kiểm điểm lại rằng mình đã mắc
phải tất cả các căn bệnh khác đã được biết đến trong ngành dược lý, tôi bắt
đầu trở nên bớt ích kỷ hơn và quyết định mình sẽ tiếp tục nghiên cứu mà
không cần mắc bệnh sản giật cũng được. Bệnh gút ở dạng ác tính nhất đã
xuất hiện và túm lấy tôi mà tôi chẳng hay biết gì, và bệnh nhiễm trùng(7)
thì rõ ràng tôi đã mắc phải từ lúc còn là một thằng nhóc. Không còn bệnh
nào sau bệnh nhiễm trùng [vần Z], vì thế tôi kết luận là mình không mắc
bệnh nào khác nữa.
Tôi ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Tôi tự nhủ, theo quan điểm y học thì rõ
ràng mình hẳn phải là một ca thú vị lắm, tôi mà được mang đến lớp học thì
đúng là của quý! Đám sinh viên sẽ không cần phải “thực tập ở các bệnh
viện” nếu đã có tôi. Tôi đã có nguyên một cái bệnh viện trong người rồi
đây. Tất cả những gì bọn họ cần là đi vòng quanh người tôi mà nghiên cứu
và sau đó thì cứ thế mà nhận bằng tốt nghiệp.

Rồi tôi tự hỏi không biết mình phải tồn tại trên đời này bao lâu. Thế là
tôi thử tự khám cho mình xem sao. Tôi tự bắt mạch. Đầu tiên chả thấy
mạch đâu cả. Sau đó bỗng nhiên mạch bắt đầu đập. Tôi rút đồng hồ ra
đếm. Mạch tôi đập một trăm bốn mươi bảy nhịp một phút. Tôi thử nghe
tim. Chẳng nghe được gì. Nó đã ngừng đập rồi còn đâu. Sắp sửa bị thuyết
phục bởi ý tưởng ấy thì tôi chợt nghĩ trái tim lúc nào cũng ở đó, và chắc
chắn nó vẫn đang đập, nhưng tôi không thể giải thích nổi chuyện này. Tôi
tự gõ vào tất cả mọi chỗ phía trước người mình, từ đoạn tôi gọi là eo lưng
lên đầu, vòng sang cả hai bên nữa, và một chút phía đằng sau. Nhưng chẳng
thấy gì cả. Tôi thử xem xét lưỡi. Tôi đã thè lưỡi ra hết cỡ rồi nhắm một
mắt lại và cố gắng nghiên cứu nó thật kỹ càng bằng con mắt kia. Chỉ nhìn
thấy mỗi chót lưỡi, và điều duy nhất tôi có thể rút ra được một cách chắc
chắn hơn trước đó là mình đã bị bệnh sốt ban đỏ.
Khi đi vào cái phòng đọc ấy tôi là một người khỏe mạnh vui tươi, thế
mà lúc lê khỏi đó lại thành kẻ suy nhược hom hem tàn tạ thế đấy.
Tôi đến gặp bác sĩ riêng của mình. Đó là một người bạn cũ, và mỗi khi
tôi nghĩ mình ốm cậu ta đều bắt mạch, xem lưỡi tôi, chuyện trò với tôi về
thời tiết, tất cả đều miễn phí; vì thế tôi nghĩ tôi sẽ đền đáp lại bằng cách
đến thăm cậu ta bây giờ. “Điều một bác sĩ muốn là thực nghiệm,“ tôi nghĩ.
“Cậu ta sẽ có được mình. Cậu ta sẽ được thực nghiệm với mình còn nhiều
hơn cả với ba vạn chín nghìn bệnh nhân xoàng xĩnh tầm thường kia, mỗi
người chỉ có mỗi một hay hai thứ bệnh trong người là cùng.” Thế là tôi đi
thẳng tới chỗ bạn tôi, và cậu ta hỏi:
“Thế nào, cậu bị làm sao?”
Tôi bảo:
“Bạn thân yêu ơi, tớ sẽ không làm cậu mất thời gian bằng cách kể cho
cậu biết tớ bị bệnh gì đâu. Đời ngắn lắm, và cậu có thể sẽ tạch trước khi tớ
nói xong mất. Nhưng tớ sẽ cho cậu biết tớ không bị bệnh gì. Tớ không bị
sản giật. Tớ không thể nói cho cậu biết tại sao, nhưng thực tế là tớ không
mắc bệnh ấy. Tuy nhiên, tất cả các bệnh khác tớ đều mắc cả.”
Và tôi kể cho cậu ta nghe mình đã khám phá được tất cả những điều đó
bằng cách nào.

Thế là cậu ta dang rộng hai cánh tay tôi ra rồi nhìn xuống người tôi,
đồng thời giữ chặt cổ tay tôi, sau đó nện tôi một phát vào lồng ngực đúng
lúc tôi không hề chờ đợi điều đó - thật là hành động bần tiện hết sức, tôi
xin nói thế - và ngay lập tức tương thêm một cú húc bằng đầu. Sau đó cậu
ta ngồi xuống và viết một đơn thuốc, gập lại đưa cho tôi, tôi cho vào túi và
ra về.
Tôi không buồn mở đơn ra mà đến ngay hiệu thuốc gần nhất đưa cho
tay bán hàng. Tay này đọc xong rồi trả lại.
Anh ta nói không có thứ ấy.
Tôi nói:
“Anh có phải dược sĩ không?”
Anh ta bảo:
“Tôi là dược sĩ. Nếu tôi mở một chỗ kết hợp giữa cửa hàng hợp tác xã
và khách sạn gia đình thì tôi mới giúp anh được. Tôi chỉ là một dược sĩ, và
điều đó khiến tôi không giúp anh được.”
Tôi đọc đơn thuốc. Nó ghi thế này:
Bít tết..................4 lạng
Bia đắng.............1/2 lít
6 tiếng dùng một lần
Đi bộ..................16 km mỗi sáng
Lên giường.........đúng 11h mỗi tối
Và không nhồi nhét vào đầu những thứ cậu không hiểu.
Tôi làm theo chỉ dẫn và kết quả thật mỹ mãn - xin tự lên tiếng về việc
này - mạng tôi đã được cứu và tôi vẫn tiếp tục sống nhăn răng.
Còn bây giờ, trở lại với tờ quảng cáo thuốc chữa gan, tôi đã có các triệu
chứng và không còn nhầm lẫn gì nữa, triệu chứng tiêu biểu nhất là “không
muốn lao động ở bất kỳ hình thức nào”.
Thật không lời nào tả xiết được những gì tôi đã phải chịu đựng với căn
bệnh này. Từ lúc đẻ ra tôi đã là nạn nhân của nó. Đến khi thành một thằng
nhóc, bệnh này vẫn gần như không để tôi yên lấy một ngày. Lúc đó người

ta không biết là gan tôi có vấn đề. Y khoa thời đấy còn xa mới tiến bộ
được như ngày nay, và người ta thường đổ riệt nó thành bệnh lười.
“Sao hả, cái thằng ranh con xấu xa chuyên trốn việc kia,” người ta bảo,
“bò dậy làm gì đi chứ!” - mà dĩ nhiên không hề biết rằng tôi bị ốm.
Và họ không cho tôi thuốc; chỉ cho tôi dăm cục u vào đầu. Mà lạ lùng
thay, thường thì lúc ấy mấy cục u trên đầu này đã chữa khỏi bệnh của tôi tạm thời thôi. Tôi đã biết một cục u trên đầu có tác dụng với lá gan của tôi,
nó khiến tôi xoắn đít lên đi chỗ nọ chỗ kia và làm những gì người ta bảo
mà không mất thêm nhiều thời gian nữa, tác dụng còn hơn cả nguyên một
hộp thuốc thời nay.
Bạn biết đấy, thường thì thế - những bài thuốc đơn giản kiểu cũ đôi khi
còn hiệu nghiệm hơn cả một mớ thuốc tướng ở phòng khám bệnh.
Chúng tôi ngồi đó cả nửa tiếng, kể lể cho nhau về cái sự đau ốm của
mình. Tôi giải thích cho George và William Harris nghe tôi thấy khó chịu
thế nào lúc thức dậy vào buổi sáng, William Harris kể chúng tôi nghe hắn
cảm thấy ươn mình ra sao khi đi ngủ, còn George thì đứng trên tấm thảm
trải trước lò sưởi làm một vài điệu bộ thông minh và biểu cảm mạnh mẽ để
minh họa cho việc mình đã ốm đau ra sao trong đêm.
Bạn biết rồi đấy, George tưởng tượng hắn đang ốm: nhưng thực ra
chẳng bao giờ có chuyện gì với hắn cả.
Lúc này, bà Poppets gõ cửa hỏi xem chúng tôi đã sẵn sàng ăn tối chưa.
Bọn tôi nhìn nhau cười buồn bã và nói rằng có lẽ chúng tôi nên cố nuốt
chút gì đó thì hơn. Harris bảo thường thì có cái gì đó trong dạ dày sẽ giữ
được căn bệnh trong tầm kiểm soát; và bà Poppets mang khay thức ăn vào,
sau đó chúng tôi lết ra bàn, ăn hương ăn hoa, ít bít tết, hành tây và vài cái
bánh nướng nhân đại hoàng.
Lúc đó tôi hẳn là suy nhược lắm rồi; vì tôi thấy mới có nửa tiếng mà
hình như tôi đã chẳng còn hứng thú với bất kỳ món gì nữa - đúng là một
việc bất thường - và lại còn không muốn ăn tí pho mát nào.
Miễn cưỡng ăn cho xong nhiệm vụ, chúng tôi lại rót đầy ly, châm tẩu
lên và tiếp tục chủ đề tình trạng sức khỏe. Thật sự vấn đề của chúng tôi là
gì thì không kẻ nào có thể biết chắc; nhưng tất cả đều nhất trí rằng nó - dù
nó có là gì đi nữa - thì cũng do làm việc quá nhiều mà ra cả.

“Thứ chúng ta cần là nghỉ ngơi,” Harris nói.
“Nghỉ ngơi và thay đổi triệt để,” George nói. “Đầu óc căng thẳng quá
độ làm toàn bộ các cơ quan rơi vào tình trạng suy thoái chung. Thay đổi
môi trường và không cần phải động não sẽ giúp phục hồi lại sự cân bằng
của tinh thần.”
George có người bà con mà nghề nghiệp khai trong giấy phạt của cảnh
sát là sinh viên y khoa, vì thế chuyện hắn có cách diễn tả sự việc hơi theo
chiều hướng y học kiểu truyền thống gia đình như thế là hoàn toàn tự
nhiên thôi.
Tôi đồng ý với George và bảo rằng chúng tôi nên tìm nơi hẻo lánh cổ
kính nào đó, tránh xa đám đông ồn ã cuồng loạn và nghỉ ngơi chơi không
cả một tuần lễ chan hòa ánh nắng giữa những con đường nhỏ vắng lặng ở
đó - một góc yên tĩnh dường như đã bị lãng quên, được các bà tiên giấu đi
khỏi tầm với của thế giới ồn ào - một cái tổ chim kỳ quái cheo leo trên
vách Thời Gian mà tại đó, những làn sóng ồn ào của thời đại này nghe sẽ
có vẻ xa xôi mờ nhạt.
Harris bảo theo hắn thì chẳng ổn tí nào. Hắn nói hắn thừa biết mấy cái
nơi mà tôi ám chỉ; người ở đấy đều lên giường khò từ tám giờ tối, và ta
không tài nào kiếm nổi một tờ Referee dù có đổi bằng tình hay tiền đi nữa,
mà lại còn phải cuốc bộ cả chục dặm mới mua được thuốc lá.
“Không,” Harris nói, “nếu muốn nghỉ ngơi và thay đổi không khí thì
chẳng có gì hay hơn một chuyến đi biển.”
Tôi phản đối kịch liệt ý tưởng đi chơi biển. Một chuyến đi biển thì cũng
tốt đấy nếu ta dành hẳn vài tháng cho nó, nhưng nếu chỉ có một tuần thì
thật quá tệ.
Ta khởi hành vào thứ Hai, trong lòng đinh ninh rằng mình đang đi
hưởng thụ. Ta thong dong vẫy tay tạm biệt bạn hữu trên bờ biển, châm
chiếc tẩu to nhất, nghênh ngang trên boong như thể mình là thuyền trưởng
Cook, Ngài Francis Drake và Christopher Columbus ba trong một vậy. Sang
ngày thứ Ba, ta ước gì đã không đi chuyến này. Thứ Tư, thứ Năm và thứ
Sáu, ta ước gì mình đã chết. Ngày thứ Bảy ta đã nuốt được ít nước thịt bò
hầm, có thể ngồi trên boong và trả lời bằng một nụ cười ngọt ngào đờ đẫn
mỗi khi có người nào tử tế hỏi xem giờ ta thấy thế nào. Đến Chủ nhật, ta

bắt đầu có thể đi lại và ăn được thức ăn đặc. Rồi sáng thứ Hai tuần sau, khi
đứng bên mép tàu, chờ bước lên bờ với túi và ô trong tay, ta mới bắt đầu
thấy thích chuyến đi vô cùng.
Tôi nhớ anh rể mình đã có một chuyến đi biển ngắn để cải thiện sức
khỏe. Anh ấy mua vé giường nằm khứ hồi từ London đến Liverpool; và
khi đến Liverpool, điều duy nhất anh ấy băn khoăn là làm sao bán cái vé
chặng về đó đi.
Cái vé được rao bán trên toàn thành phố với mức giá hạ ghê gớm, ấy là
tôi nghe kể thế; và cuối cùng được bán với giá mười tám xu cho một cậu
thanh niên trông có vẻ cáu kỉnh vừa được bác sĩ khuyên nên đến bờ biển để
tập thể dục.
“Bờ biển!” anh rể tôi nói, thân ái nhét chiếc vé vào tay cậu ta. “Sao nào,
rồi cậu sẽ có đủ để mà hưởng thụ cả đời; còn tập thể dục ấy à! Sao chứ,
ngồi lên con tàu đó đi, rồi cậu sẽ được tập nhiều hơn cả vận động viên
biểu diễn nhào lộn trên đất liền ấy chứ.”
Còn anh ấy - anh rể của tôi - đi về bằng tàu hỏa. Anh ấy nói Hỏa xa Tây
Bắc là đã đủ tốt cho sức khỏe của anh ấy lắm rồi.
Một người quen khác của tôi có một tuần du lịch men bờ biển, và, trước
khi chuyến đi bắt đầu, chiêu đãi viên đến chỗ anh này hỏi xem anh ta thích
trả tiền sau từng bữa hay trả trước cho tất cả.
Tay chiêu đãi viên gợi ý cách thứ hai vì như thế thì rẻ hơn nhiều. Hắn
nói họ sẽ phục vụ anh chàng kia tất cả các bữa ăn cho cả tuần chỉ với hai
bảng rưỡi. Bữa sáng sẽ có cá, tiếp theo là thịt nướng. Bữa trưa được phục
vụ lúc một giờ và gồm bốn món. Bữa tối lúc sáu giờ - có xúp, cá, món khai
vị, thịt lợn nguyên súc, thịt gia cầm, xa lát, bánh nướng, pho mát và món
tráng miệng. Và một bữa ăn khuya nhẹ có thịt lúc mười giờ.
Bạn tôi nghĩ cậu ta sẽ hợp với gói dịch vụ ăn uống giá hai bảng rưỡi
này (cậu ta là một thực khách nồng nhiệt), và đã làm đúng như thế.
Bữa trưa được phục vụ ngay khi họ rời Sheerness. Cậu ta không thấy
đói như đã tưởng, và tự lấy làm vui lòng với một ít thịt bò luộc, một ít dâu
và kem. Suốt cả buổi chiều cậu ta phân vân suy nghĩ, và lúc thì cậu ta thấy
có vẻ như đã hàng tuần liền mình chẳng ăn gì ngoài thịt bò luộc, lúc lại có
vẻ như hàng năm trời nay anh chàng chỉ sống nhờ có dâu và kem.


Cả thịt bò lẫn dâu và kem có vẻ đều không làm thỏa lòng cậu ta, chẳng
thỏa lòng tí nào ấy chứ.
Lúc sáu giờ, người ta đến thông báo cho cậu ta biết bữa tối đã sẵn sàng.
Tuyên bố này chẳng gợi lên trong cậu ta chút hứng khởi nào, nhưng cảm
thấy sẽ có một phần của hai bảng rưỡi kia bị phung phí, cậu ta bèn vịn vào
dây rợ đồ đạc trên tàu để xuống phòng ăn. Một mùi thơm dễ chịu của hành
tây và dăm bông nóng trộn lẫn mùi cá khô và rau xanh chào đón cậu ta dưới
chân cầu thang; ngay sau đó tay chiêu đãi viên xuất hiện với một nụ cười
ngọt xớt:
“Tôi có thể phục vụ ngài món gì đây, thưa ngài?”
“Đưa tôi ra khỏi đây,” cậu ta yếu ớt đáp lại.
Và họ nhanh chóng đưa cậu ta lên, đỡ đến nơi kín gió rồi để lại đó.
Suốt bốn ngày tiếp theo cậu ta sống thanh bạch và hoàn toàn chay tịnh
chỉ nhờ ít bánh bích quy Thuyền Trưởng mỏng dính (ý tôi là bánh bích quy
mỏng chứ không phải thuyền trưởng) và nước soda, nhưng đến hôm thứ
Bảy thì cậu ta tự tin đến ngạo mạn và đã bước vào xơi một ít trà loãng và
bánh mì khô, còn đến thứ Hai thì cậu đã xì xụp nước xuýt gà. Cậu ta rời
con tàu hôm thứ Ba, và khi nó phì khói đi khỏi bến tàu thì cậu chòng chọc
nhìn theo đầy nuối tiếc.
“Đi mất rồi,” cậu ta nói, “nó đi mất rồi, với mớ thức ăn đáng giá hai
bảng của tớ, mà tớ vẫn chưa đụng đến.”
Cậu ta còn nói, nếu họ cho thêm một ngày nữa, cậu ta nghĩ mình sẽ lấy
lại được công bằng cho vụ ấy.
Thế nên tôi phản đối ra mặt cái trò đi biển này. Như tôi đã giải thích,
đây không phải là vì bản thân tôi. Tôi chẳng bao giờ chóng mặt cả. Nhưng
mà tôi lo cho George. George nói hắn hoàn toàn ổn, và thích thế hơn,
nhưng hắn khuyên Harris và tôi đừng có nghĩ về việc ấy, vì theo hắn thì
chắc cả hai chúng tôi sẽ lừ đừ thôi. Harris thì bảo rằng đối với hắn, việc
người ta làm thế nào mà lại bị say sóng được luôn luôn là một bí ẩn - và
hắn nghĩ chắc người ta làm thế là có chủ đích cả, như kiểu để làm màu làm
mè chẳng hạn - và rằng hắn thường ước gì mình có thể làm thế, ấy nhưng
có bao giờ làm được đâu.

Thế rồi hắn kể cho chúng tôi nghe các giai thoại rằng hắn đã vượt qua
biển Manche giữa lúc thời tiết khủng khiếp đến độ người ta phải buộc
hành khách vào giường, rằng hắn và ông thuyền trưởng là hai người duy
nhất trụ vững được trên boong mà không bị say sóng. Thỉnh thoảng nhân
vật lại là hắn và một người bạn nào đó vẫn còn khỏe; nhưng nói chung đều
là hắn và một người khác. Nếu không phải hắn và một người khác thì là
một mình hắn.
Đây là một sự thật lạ lùng, nhưng chẳng có ai lại say sóng - trên đất
liền. Trên biển quả là ta gặp phải vô khối kẻ say sóng thảm hại, đầy cả một
tàu ấy chứ; nhưng trên đất liền thì tôi chưa từng gặp người nào có vấn đề
gì liên quan đến chuyện say sóng cả. Còn việc cả hàng nghìn hàng nghìn
thủy thủ kém cỏi tụ tập trên các con tàu đã chui lủi đi đâu khi lên bờ thì vẫn
còn là một bí ẩn.
Nếu mọi người đều như anh chàng tôi gặp trên tàu đi Yarmouth một
ngày nọ thì tôi đã có thể dễ dàng giải thích cái điều có vẻ như rất bí ẩn đó
rồi. Tôi còn nhớ, lúc đó tàu mới rời khỏi bến Southend, và anh ta đang thò
người ra ngoài qua một ô cửa sổ bên mạn tàu trong tư thế hết sức nguy
hiểm. Tôi bước đến xem có giúp được anh ta không.
“Này! Lùi vào trong tí đi,” tôi nói, lắc vai anh ta. “Anh sẽ rơi ra ngoài
mất thôi.”
“Ôi trời ơi! Ước gì tôi rơi ra ngoài đi cho rồi,” là câu trả lời duy nhất
tôi nhận được; vậy là tôi phải để anh ta lại đó.
Ba tuần sau, tôi gặp lại anh chàng trong quán cà phê của một khách sạn
ở Bath, đang diễn thuyết về các chuyến phiêu lưu của mình và nồng nhiệt
bày tỏ rằng anh ta yêu thích biển đến nhường nào.
“Thủy thủ cừ chứ!” anh ta trả lời câu hỏi có vẻ ghen tỵ của một chàng
thanh niên lịch thiệp, “à có một lần tôi thấy hơi chóng mặt, xin thú nhận
như thế. Đó là khi chúng tôi đi qua Mũi Hảo Vọng. Sáng hôm sau thì tàu
đắm.”
Tôi nói:
“Không phải là hôm nọ anh hơi ngất ngư ở gần bến Southend và chỉ
mong được ném ra ngoài tàu à?”
“Bến Southend!” anh ta đáp lại với vẻ mặt bối rối.

“Đúng, xuống Yarmouth, thứ Sáu ba tuần trước ấy.”
“Ồ, à... phải rồi,” anh ta trả lời, mặt sáng lên; “giờ thì tôi nhớ ra rồi.
Chiều hôm ấy tôi bị đau đầu. Anh biết đấy, món dưa góp ấy mà. Đúng là
món dưa góp đáng xấu hổ nhất tôi từng được nếm trên một con thuyền
đáng kính. Anh có ăn tí nào không?”
Về phần mình, tôi đã khám phá ra một biện pháp tuyệt vời để chống
say sóng, đó là tự cân bằng cơ thể. Ta đứng ở giữa boong nhé, và khi tàu
nhồi lên hụp xuống thì ta cũng đu đưa cơ thể theo để giữ cho người mình
lúc nào cũng thẳng. Khi phía đầu tàu nhồi lên, ta ngả về phía trước cho đến
khi sàn tàu gần chạm vào mũi mình; rồi đến khi đuôi tàu nhồi lên thì ta lại
ngả về phía sau. Làm như thế này trong độ một hai tiếng thì tuyệt chẳng có
vấn đề gì, nhưng ta không thể giữ cân bằng kiểu ấy suốt cả tuần được.
George bảo:
“Hay đi ngược sông nhỉ.”
Hắn bảo chúng tôi cần không khí trong lành, vận động và sự yên tĩnh,
và sự thay đổi liên tục của cảnh trí sẽ chiếm hết chỗ trong tâm trí chúng tôi
(chiếm chỗ của cả những cái gì đấy chẳng ai biết trong tâm trí Harris nữa);
vận động nhiều sẽ khiến chúng tôi ăn ngon miệng và ngủ ngon giấc.
Harris nói hắn không nghĩ George cần đến bất cứ hoạt động nào có xu
hướng khiến thằng cha đó buồn ngủ hơn bình thường, vì như thế có khi lại
nguy hiểm. Hắn bảo hắn không hiểu George làm cách nào để có thể ngủ
nhiều hơn nữa, vì rõ là mỗi ngày chỉ có hai mươi tư tiếng, mùa hè hay mùa
đông thì cũng thế; nhưng cứ thử tính đến chuyện thằng cha nà
 
Gửi ý kiến