Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

TUỔI MỚI LỚN VÀ VẤN ĐỀ TÌNH DỤC

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư Viện Trường THCS THPT Suối Nho (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:32' 23-10-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
1

2

3

Ebook miễn phí tại : SACHMOI.NET

Lời giới thiệu
Sức khỏe là vốn quý của con người, từ thời trẻ thơ đến lúc răng long
tóc bạc. Cái vốn ấy tùy cách nuôi dưỡng, sử dụng của mỗi người mà luôn
giữ được phong độ sung mãn, hoặc bị hao hụt dần dẫn đến suy kiệt.
Sức khỏe tốt là ước mơ của bất kỳ ai, cũng là ước mơ chung của cộng
đồng xã hội xưa nay, nhất là trong thời đại công nghệ phát triển, lắm thành
tựu nhưng cũng lắm rủi ro ngày nay, ước mơ đó khó trở thành hiện thực
nếu thiếu các kiến thức về y học.
Tủ sách Sức Khỏe và Đời Sống được thành lập – do sự phối hợp thực
hiện của báo Sức Khỏe và Đời Sống, Nhà Xuất bản Phụ Nữ và Công ty cổ
phần văn hóa Phương Nam – với mục đích cung cấp cho bạn những kiến
thức căn bản về y học và sức khỏe. Nội dung được biên soạn bởi các thầy
thuốc, bác sĩ Đông, Tây y danh tiếng, có uy tín. Những vấn đề y học cổ kim
thường thấy trong đời sống con người được mở rộng qua nhiều đề tài, các
kiến thức chuyên ngành được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, súc tích, hy vọng
sẽ mang đến cho bạn đọc nhiều thông tin bổ ích, thiết thực. Trong đợt ra
mắt Tủ sách lần này, xin trân trọng giới thiệu 6 cuốn về đề tài giáo dục giới
tính:
- Tình dục dưới góc độ văn hóa.
- Tuổi mới lớn và vấn đề tình dục.
- Tình dục sau hôn nhân.
- Tình dục lúc bóng xế chiều tà.
- Chữa trị bệnh bất lực bằng y học cổ truyền.
- Chữa trị bệnh bất lực bằng y học hiện đại.
Rất mong Tủ sách Sức Khỏe và Đời Sống sẽ mãi là người đồng hành
thân thiết của bạn.
Nhà Xuất bản Phụ Nữ
 
 

4

SỨC KHỎE, TÌNH DỤC & CÁC HIỂM
HỌA CỦA TUỔI MỚI LỚN
BS. HỒ ĐẮC DUY
- Phần lớn bệnh mắc phải ở tuổi mới lớn bắt nguồn từ nghiện ma túy và
bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- Tử vong ở tuổi này là do tai nạn giao thông và nạn bạo hành.
- Hoạt động tình dục sớm là hành vi có nguy cơ cao nhiễm HIV
- Quan hệ tình dục trước hôn nhân qua thăm dò của một số nghiên cứu.
- Vai trò của gia đình đối với tuổi mới lớn.
Tuổi mới lớn là thời kỳ giữa trẻ em và người lớn, là nhóm những người
mang đặc tính riêng biệt và theo Tổ chức Y tế thế giới, tuổi đó bắt đầu từ 10
– 19 tuổi. ở nước ta, nhóm này chiếm đa số trong biểu đồ dân số. Thời kỳ
này thường được xác định bằng sự bắt đầu lớn lên và phát triển mau lẹ về
mặt sinh học và tâm lý, xã hội, môi trường là các yếu tố quan trọng ảnh
hưởng từ khi trẻ bắt đầu ý thức cho đến khi kết thúc giai đoạn này. Nếu
chúng ta để ý, quan tâm và hiểu biết thấu đáo về những thay đổi sinh học,
tâm lý của tuổi mới lớn, những thay đổi của môi trường tác động trên
chúng, các hệ lụy pháp lý, đạo đức, các phong trào, mode, quan niệm về lối
sống, âm nhạc, y phục, trò giải trí, các vi phạm luật pháp hay tội ác... thì
khả dĩ có thể cung cấp cho chúng ta thêm những thông tin để tìm ra biện
pháp cụ thể hóa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tuổi mới lớn tốt hơn,
trong đó vấn đề xì ke ma túy và các bệnh lây qua đường tình dục và hiểm
họa AIDS phải là quan tâm hàng đầu.
Sự phát triển phân chia giới tính dậy thì bắt đầu từ 12 – 14 tuổi, ở nữ
sớm hơn nam 1 tuổi, nhưng thời gian kéo dài tuổi dậy thì lại có sự khác
nhau, ở nam là 3 năm, ở nữ thời gian này dài hơn có thể kéo dài đến 8 năm,
trung bình là 5 năm.
Để xác định sự trưởng thành chín mùi ở tuổi mới lớn thì việc trao đổi
quá trình lớn lên ở trẻ, thăm khám thực thể và một vài xét nghiệm có thể
giúp cho cha mẹ hoặc người thầy thuốc nhận dạng được các vấn đề bệnh lý
như chậm lớn, suy dinh dưỡng hay các vấn đề tâm lý trong độ tuổi này.
Từ 14 – 16 tuổi
- Sự phát triển cơ thể về mặt giới tính nhanh và khá đầy đủ có thể là
ngòi nổ đưa đến việc xuất hiện các xung động tình dục. Do tác động của sự

5

hấp dẫn của người khác phái sẽ đưa đến tình trạng thủ dâm hoặc thực
nghiệm hoạt động tình dục (nam với gái điếm, nữ với bạn).
- Đây là thời kỳ phát triển mau lẹ về mặt nhận thức và bắt đầu hiểu các
quan niệm trừu tượng, cũng là lúc mà vô số câu hỏi được đặt ra về các giá
trị đạo đức, thẩm mỹ, xã hội v.v... Lúc này, ảnh hưởng của gia đình, môi
trường xã hội rất quan trọng. Những hoài nghi về việc làm của người lớn,
sự phán xét của xã hội dễ làm tổn thương những giá trị đạo đức trong sáng
mà trẻ đã được dạy dỗ. Bản ngã của trẻ đã mang một nét đặc trưng cá biệt
và dễ đưa đến ứng xử bốc đồng cũng như các “hành vi nổi loạn”.
Từ 17 – 20 tuổi
Tức là cuối giai đoạn của tuổi mới lớn, là thời kỳ thiết lập bản sắc con
người, vừa có mối quan hệ riêng tư vừa có khuynh hướng tham gia xã hội.
Trong một hội nghị chuyên đề Technical Cooperation Among
Developing Countries (TCDC) tổ chức tại Bắc Kinh vào 10/1996, đại biểu
của Việt Nam cho biết tuổi này là 15 – 19 tuổi và lực lượng này đang trở
thành nhân tố quan trọng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội
tương lai.
Bệnh tật và tử vong ở tuổi mới lớn
Người ta cho rằng: tuổi mới lớn là thời kỳ lành mạnh nhất trong cuộc
đời “mười bảy bẻ gãy sừng trâu” như ông cha ta đã từng nói. Nhưng nay,
nếu nhìn và đánh giá lại tình trạng sức khỏe với sự phát triển của xã hội
như sự ô nhiễm môi trường, đô thị hóa, phát triển giao thông truyền tin và
một số vấn đề mới nảy sinh mà xã hội truyền thống xưa không có như
dùng, lạm dụng và nghiện ngập ma túy, rượu, các bệnh lây qua đường tình
dục, AIDS, nạn bạo hành trên đường phố, tai nạn xe cộ, giết người, hiếp
dâm, tự tử và bệnh tâm thần... thì ta thấy có sự gia tăng đáng kể tỷ lệ tử
vong ở tuổi mới lớn và thanh niên.
Ngoài các bệnh truyền nhiễm, bẩm sinh tim mạch, ung thư v.v... chiếm
một tỷ lệ tử vong rất ít, còn lại là bắt nguồn từ nghiện ma túy, hoạt động
tình dục và tai nạn giao thông.
Trong một công trình nghiên cứu về “Kiến thức, thái độ hành vi sinh
sản ở tuổi Thiếu niên học sinh TP.HCM” trên 1.464 em của GS. Phạm Gia
Đức, cho thấy:
Về kiến thức với câu hỏi
- Khi nào thì phụ nữ dễ có thai? Có 613 em trả lời đúng, 22,7% không
biết.

6

- Kiến thức về các bệnh lây qua đường tình dục: trên 94% trả lời đúng
nhưng chỉ có 58% biết đúng về cách phòng ngừa, gần phân nửa biết sai
hoặc không biết cách phòng bệnh.
Về hành vi
Quan hệ tình dục: chỉ có 37 em trong số 1.464 có quan hệ tình dục ở
tuổi mới lớn, chiếm tỷ lệ 2,5%, trong đó quan hệ tình dục với bạn trai hay
gái là 81,5%, còn lại là quan hệ có hôn phối chính thức.
Trong bản tin AIDS số 6 – 1997 của Viện Pasteur TP. HCM về “Kết quả
thăm dò quan niệm về tình dục trên một nhóm thanh niên” với 64,7% có
gia đình thì gần một nửa là họ đồng ý có thể chấp nhận được việc quan hệ
tình dục trước hôn nhân, nam là 47,6% so với 37,3% ở phái nữ. Nếu như
38,1% phái nam có quan hệ tình dục trên hai người thì chỉ có 5,9% phái nữ
trả lời có.
Các kiến thức thu nhận được của các em phần lớn từ trường học:
74,2%; từ Trung tâm y tế cộng đồng là 37,8%, nghĩa là từ xã hội bên ngoài.
Trong khi đó, vai trò của gia đình và các bệnh viện còn rất thấp.
Người ta nhận thấy: qua các thống kê thì tuổi muốn hiểu biết về những
thông tin đó là từ 15 tuổi trở lên chiếm từ 47,6% đến 95,4% khi đến tuổi
trưởng thành.
Văn hóa truyền thống, tập tục, quan niệm nam nữ thọ thọ bất thân, nói
đến vấn đề tính dục là một điều cấm kỵ hoặc e ngại, giáo dục giới tính
trong gia đình chưa được chấp nhận... là những yếu tố đẩy tuổi mới lớn tìm
hiểu vấn đề qua những thông tin lệch lạc, thiếu tinh thần khoa học, được
truyền miệng hay qua các sách báo, phim ảnh, băng hình nhảm nhí, bạo lực
và đồi trụy.
 

7

DẬY THÌ CHẬM
BS. ĐÀO XUÂN DŨNG
Nhiều bậc cha mẹ có lo lắng chính đáng khi thấy con mình phát triển
chậm hơn trẻ cùng lứa ở tuổi vị thành niên – vấn đề thật đáng quan tâm
nhưng cũng cần biết quan sát và chờ đợi vì không phải mọi biểu hiện chậm
dậy thì đều là bệnh lý...
Những trẻ phát triển chậm về giới tính và thể chất thường được xem là
dậy thì chậm. Ở con gái, sự phát triển chậm về giới tính căn cứ vào dấu
hiệu vú không to lên khi đã 14 tuổi hoặc kể từ khi vú bắt đầu to cho đến khi
có kinh lần đầu kéo dài quá 5 năm. Ở con trai, chậm phát triển giới tính căn
cứ vào dấu hiệu tinh hoàn không to ra khi được 14 tuổi hoặc thời gian kể từ
khi bắt đầu cho đến khi hoàn chỉnh sự phát triển cơ quan sinh dục ngoài
quá 5 năm. Những em gái có phát triển những đặc tính giới thứ phát nhưng
tới 16 tuổi vẫn không có kinh lần đầu cần được khám để xem có phải đã bị
vô kinh nguyên phát không.
Những em có dấu hiệu dậy thì chậm được phân chia thành 3 loại dựa
trên sự đánh giá về lâm sàng:
1. Có vẻ như bình thường.
2. Có dấu hiệu bất thường về nhiễm sắc thể.
3. Có vẻ như có bệnh mãn tính.
Nếu nghi ngờ có bệnh mãn tính thì bác sĩ sẽ cho làm các xét nghiệm
chung theo thông lệ vì có thể cung cấp nhiều thông tin quan trọng. Các xét
nghiệm đo nồng độ TSH (hormon kích tuyến giáp), T4 (hormon tuyến
giáp), FSH (hormon kích thích nang noãn), LH (hormon tạo thành thể
vàng) và prolactin trong huyết thanh được chỉ định khi nghi ngờ có bất
thường về hormon. Test kích thích với GnRH sẽ mang lại lợi ích cho chẩn
đoán. Phương pháp MRI (hình ảnh cộng hưởng từ) để đánh giá não và
tuyến yên nếu có bất thường về trục đồi thị – tuyến yên. Vì không phải vị
thành niên nào cũng có những đặc điểm lâm sàng điển hình cho nên cần
phân tích nhiễm sắc thể, nhất là đối với những em gái có tầm vóc thấp kèm
dậy thì chậm
Chẩn đoán dậy thì chậm
Chậm phát triển về thể tạng: Tuổi dậy thì có thể đến chậm ở cả những
trẻ khỏe mạnh. Những trẻ này có chiều cao và cân nặng bình thường khi
sinh ra và có vẻ phát triển bình thường trong vài năm đầu, rồi mới tụt
8

xuống dưới đường cong phát triển thứ 5 trên biểu đồ phát triển chuẩn, sau
đó mới lấy lại tốc độ phát triển bình thường và tiếp tục theo một đường
cong thấp. Các em này có nồng độ FSH, LH và estradiol hoặc testosterone
của thời kỳ trước dậy thì. Vì test kích thích bằng GnRH cho thấy có đáp
ứng kiểu trước dậy thì cho nên khó phân biệt với tình trạng thiếu hụt kích
dục tố bệnh lý trừ phi có cấu trúc cơ thể hoặc có các chỉ số sinh hóa bất
thường của trục đồi thị – tuyến yên. Sự phát triển dậy thì tự nhiên sẽ đến và
trẻ sẽ trở thành người lớn bình thường. Do diễn biến như vậy nên đến nay
việc điều trị hãy còn là vấn đề tranh cãi. Một số chuyên gia cho rằng chỉ
cần theo dõi, trong khi nhiều người khác lại đề nghị kích thích bằng steroid
giới để thúc đẩy quá trình dậy thì. Dậy thì muộn cũng có thể xảy ra ở
những trẻ luyện tập thể thao quá nhiều, có rối loạn về hành vi ăn uống hoặc
bị thiếu dinh dưỡng.
Thiểu năng tuyến yên: do nhiều bệnh có tác động đến trục đồi thị –
tuyến yên. Phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của chức năng tuyến nội tiết,
các em sẽ thể hiện sự kém phát triển, thiểu năng tuyến giáp thứ phát, suy
chức năng tuyến thượng thận và đái tháo nhạt cũng như dậy thì chậm, hội
chứng Kallman phối hợp với chứng mất hay giảm khứu giác và suy chức
năng tuyến sinh dục do thiếu kích dục tố. Việc điều trị nhằm vào nguyên
nhân chính với liệu pháp hormon thay thế.
Bất thường về nhiễm sắc thể: có thể có ở dậy thì chậm. Ở các em gái,
thường gặp nhất là hội chứng Turner (tỷ lệ khoảng 1/3.000 trẻ gái sinh ra
sống). Trong những trường hợp này, bệnh nhân có thể chỉ có dấu hiệu kém
phát triển và dậy thì chậm hoặc có những dấu hiệu đặc thù rõ rệt hơn của
bệnh như sụp nếp góc mắt trong, cổ ngắn, có yếm, “lồng ngực hình mai
rùa” (gồ lên như cái khiên) với núm vú cách xa nhau. Ở con trai, bất
thường phổ biến nhất là hội chứng Klinefelter (tỷ lệ khoảng 1/700 trẻ trai
sinh ra sống); bệnh nhân điển hình có tầm vóc cao lớn, thân hình giống
người bị hoạn (nghĩa là chi dưới dài nhưng cánh tay tương đối ngắn, tỷ lệ
thân/cánh tay lớn hơn 1.0). Tinh hoàn nhỏ (đường kính khoảng 1,5 x 5cm)
nhưng chắc, thường kèm theo vú to (dấu hiệu chủ yếu). Những hội chứng
khác (ví dụ hội chứng Noonan) cũng có ở dậy thì chậm.
Tóm lại, nhiều vấn đề về thể chất và sinh hóa liên quan tới những rối
loạn tuổi dậy thì có thể chữa trị có kết quả. Tuổi dậy thì đã là một tiến trình
khó khăn đối với vị thành niên bình thường nhưng càng gay go hơn với
những em có sai lạc trong độ tuổi này, do đó cần được các bác sĩ có hiểu

9

biết và kinh nghiệm chăm sóc. Liệu pháp tâm lý đóng vai trò rất quan trọng
nhằm giúp các em phát triển lành mạnh về thể chất và tâm lý.
Tanner và Marshall đã phân chia tuổi dậy thì làm 5 giai đoạn (chỉ để
tham khảo vì mỗi dân tộc có khác nhau):
Ở con trai:
Giai đoạn 1: Cơ quan sinh dục còn ở giai đoạn trước dậy thì, tinh hoàn
dưới 2,5cm – mới chỉ có lông tơ ở vùng mu, mỗi năm phát triển từ 5–6cm,
tuyến thượng thận bắt đầu hoạt động.
Giai đoạn 2: Da bìu mỏng và đỏ dần (11,9 tuổi); tinh hoàn 2,5–3,2cm;
gốc dương vật lơ thơ vài sợi lông (12,3 tuổi); mỗi năm phát triển 5–6cm.
Giảm mỡ trên toàn cơ thể.
Giai đoạn 3: Dương vật dài ra (13,2 tuổi), tinh hoàn 3,3–4cm; lông mu
dày và xoăn (13,9 tuổi); phát triển nhanh từ 7–8cm/năm; vú to (13,2 tuổi);
vỡ giọng 13,5 tuổi; cơ bắp phát triển.
Giai đoạn 4: Dương vật và các tuyến phát triển, da bìu thâm (14,3 tuổi);
tinh hoàn 4,1–4,5cm; lông như người trưởng thành nhưng chưa mọc lên
đến đường giữa (14,7 tuổi); lớn phổng 10cm/năm (13,8 tuổi); mọc lông
nách (14 tuổi); vỡ giọng (14,1 tuổi); trứng cá 14,3 tuổi.
Giai đoạn 5:   Cơ quan sinh dục trưởng thành (15,1 tuổi); tinh hoàn trên
4,5cm; lông mu kiểu người lớn và lan ra tới giữa đùi nhưng chưa tới đường
trắng (15,3 tuổi); giảm hoặc ngừng phát triển (khoảng 17 tuổi); mọc râu
(14,9 tuổi); cơ bắp tiếp tục phát triển sau giai đoạn 5.
Ở con gái:
Giai đoạn 1: Vú mới nhô lên như thời chưa dậy thì, mới chỉ có lông tơ,
mỗi năm phát triển 5–6cm; tuyến thượng thận bắt đầu hoạt động mạnh;
buồng trứng phát triển.
Giai đoạn 2: Vú như chũm cau, quầng vú to ra (11,2 tuổi); lông thưa
thớt ở môi lớn âm vật phát triển nhanh, 7–8cm/năm; âm vật to ra, môi lớn
thâm lại, tử cung to hơn.
Giai đoạn 3:   Mô vú phát triển vượt ra ngoài quầng vú, không có ranh
giới, lông rậm hơn và xoăn, lan qua vùng mu (12,7 tuổi); lớn phổng khoảng
8cm/năm (12,5 tuổi); lông nách, mu (13,1 tuổi), trứng cá (13,3 tuổi).
Giai đoạn 4:   Núm vú và quầng vú nổi rõ hơn (13,1 tuổi); lông kiểu
người lớn nhưng chưa lan tới đường giữa đùi (13,4 tuổi); giảm phát triển,
mỗi năm tăng dưới 7cm, có kinh lần đầu (13,3 tuổi); kinh đều hàng tháng
13,9 tuổi.

10

Giai đoạn 5: Vú người lớn, núm vú rõ (14,6 tuổi); lông kiểu người lớn,
mọc lan ra tới giữa đùi nhưng chưa tới đường trắng (14,6 tuổi); ngừng phát
triển, cơ thể như người trưởng thành.
 

11

VẺ ĐẸP CỦA SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TÍNH
BS. ĐÀO XUÂN DŨNG
Sự khác biệt giữa hai giới nam và nữ đã được sinh học chứng minh,
tâm lý học cũng đã có những khám phá và xã hội học thì khẳng định.
Tại sao con trai thích đá bóng, con gái thích chơi búp bê?
Về mặt sinh học, khi mới 6 tháng tuổi, bé gái thường chỉ nhìn trái bóng
một cách thoáng qua rồi quay sang nhìn thứ khác, trong khi bé trai như
muốn nhào ra khỏi tay mẹ, muốn sờ mó và bắt lấy trái bóng. Khi được 2
tuổi, trẻ đã cảm nhận được giới tính của mình cùng những khác biệt hóa, vì
thế chúng có những trò chơi đặc trưng riêng.
Các nhà tâm lý học cho rằng: các bé trai thích hoạt động thành nhóm và
có tính tập thể, có thế mới bộc lộ được bản chất hiếu động. Còn các bé gái
lại ưa thích kết thành đôi bạn (thậm chí với một búp bê) hoặc chỉ với một
nhóm nhỏ. Nếu như con trai muốn đóng vai “bố” thì con gái đã biết sau này
sẽ trở thành “mẹ” và thích đóng vai “mẹ”...
Cha mẹ thường ngạc nhiên khi thấy con trai đòi chơi búp bê, trong khi
đa số thích trò chơi điện tử, xem video hay vô tuyến, chúng thích phim hoạt
hình, thể thao hay phim hành động, trong khi con gái lại ưa thích phim
nhiều tập tình cảm. Con gái cũng thích thể thao nhưng là những môn thể
thao cá nhân như bơi lội, trượt băng nghệ thuật hơn là những môn thể thao
tập thể, tranh giành nhau quả bóng.
Con gái thường dịu dàng, nhạy cảm
Hình như có vai trò của hormon nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy trong
năm đầu tiên, nếu như các bé trai và gái có số lần khóc và la hét bằng nhau,
thì các bé gái lại hay cười hơn và biết bập bẹ nói trước, hay bắt chước và có
mối quan hệ thân thiết hơn với mọi người xung quanh. Nhà tâm thần học
Alain Braconiner đã nhận xét rằng “các bé gái có sự phát triển tốt hơn về
ngôn ngữ diễn tả những cảm xúc của mình”. Đến tuổi trưởng thành, những
nghiên cứu cũng cho thấy kết quả tương tự: phụ nữ vừa bộc lộ dễ dàng hơn
những cảm xúc của họ vừa có sự thông cảm hơn với người khác. Điều đó
không có nghĩa phụ nữ yếu đuối hơn nam giới, nhưng họ có khả năng bày
tỏ cảm xúc một cách rõ ràng hơn.
Người lớn thường không muốn các bé gái phải tức giận cũng như
không muốn các bé trai phải buồn rầu và sợ hãi. Cha mẹ cũng thường coi
12

con gái là yếu ớt, cần được quan tâm chăm sóc hơn, con gái sớm học được
điều đó và áp dụng ngay đối với những người xung quanh. Còn đối với con
trai, chúng phải tỏ ra can đảm để trở thành người “đàn ông chân chính” sau
này. Mẫu hình giáo dục như thế không thay đổi trong suốt tuổi vị thành
niên. Nhà tâm lý học Yvonne Castella nhấn mạnh rằng từ 3 – 6 tuổi ít có sự
khác biệt giữa hai giới về ý thức chăm sóc. Từ 7 – 11 tuổi, con gái tỏ ra có
khả năng chăm sóc người khác hơn, ngay ở tuổi 12, nhiều bé gái đã bộc lộ
ý muốn làm một nghề mang tính vị tha.
Cha mẹ cũng thường có cách đánh giá khác nhau về thái độ của con trai
và con gái, khi con trai khóc, thường cho rằng vì nó tức giận điều gì, nhưng
con gái khóc lại cho rằng vì nó sợ.
Con gái phát triển sớm hơn
Nói chung, con gái có thành tích học tập tốt hơn và ít bị lưu ban hơn, có
tỷ lệ đông hơn khi kết thúc trung học phổ thông (năm 1999, ở Pháp tỷ lệ
học sinh nữ dự thi hết cấp trung học là 52%) và tỷ lệ đỗ cũng cao hơn. Điều
này phù hợp về mặt sinh học vì qua nghiên cứu những cặp sinh đôi một trai
một gái, cho thấy, con gái khỏe hơn con trai, biết đi sớm hơn. Có lẽ hormon
testosterone có vai trò quyết định trong sự phát triển, nhưng đừng quên
rằng mọi người lúc đầu đều là giới nữ, chỉ đến tuần lễ thứ 7 của thai kỳ mới
biệt hóa.
Con gái lắm lời hơn
Vỏ não bên trái (phần chỉ huy ngôn ngữ) nói chung phát triển chậm hơn
phần bên phải ở trẻ nhỏ, nhưng với con trai, sự trưởng thành của vỏ não trái
còn chậm hơn nữa, trong khi hormon nữ lại có tác dụng đẩy nhanh sự phát
triển của vỏ não trái. Có lẽ vì thế mà phần não chi phối ngôn ngữ của nam
giới kém phát triển hơn nữ.
Các nhà tâm lý cho rằng các bé gái thường nói sớm hơn là do chúng
luôn muốn được mẹ quan tâm. Khác với con trai có một mẫu hình để đồng
nhất ngay là người bố, con gái cho rằng chỉ khi lớn lên mới là phụ nữ vì
chúng luôn nghe thấy những lời nhắc nhở: “Khi nào con có kinh, có ngực
hay sinh đẻ...”. Con gái có nhu cầu rất mạnh mẽ được nói, chuyện trò với
cả búp bê, qua đó biểu lộ bản sắc giới, xúc cảm đồng thời nhập vai người
khác.
Con trai hay gây chuyện
Tính hay gây gổ của con trai có liên quan đến nồng độ testosterone.
Hormon nam rất cao ở con trai khi mới sinh (cũng như hormon nữ rất cao ở
trẻ sơ sinh gái), nhưng sau đó giảm dần rõ rệt, đến 3 – 4 tuổi lại tăng và

13

tăng cao nhất ở tuổi dậy thì. Những nghiên cứu cho thấy trong năm đầu,
con trai không hay gây gổ hơn con gái. Con trai sống trong môi trường hay
gây gổ cũng khiến nồng độ testosterone tăng lên, nhưng nếu bị khép vào
hoàn cảnh có kỷ luật lại hạ thấp.
Phân tâm học cho rằng: con trai có tâm lý lo hãi bị cắt “chim” nên tự
bảo vệ bằng các đồ chơi có tính chiến đấu (gươm, súng lục...) và muốn trở
thành những siêu nhân hay tự cho mình là những con vật kỳ quái. Đã có
nhiều cách giải thích nguồn gốc tính hung hăng, thích gây gổ của con trai,
nhà tâm thần học Aldo Naouri cho rằng: đó là cách chống lại tâm lý muốn
chiếm hữu đứa con trai hay chống lại ảnh hưởng của người mẹ. Trong cuốn
sách “XY tạo ra bản sắc nam giới”, Hisabeth Badinter còn bổ sung rằng đó
là cách để khẳng định nam tính đối với gốc nữ tính.
Kỳ vọng xã hội cũng góp phần tạo nên tính cách đó của con trai. Cha
mẹ thường có thái độ phân biệt giới tính rõ rệt khi gặp xung đột hay phẫn
nộ, họ thường khuyên con gái chín bỏ làm mười, hòa giải, bỏ qua nhưng lại
khuyến khích con trai, phải biết tự bảo vệ để không bị bất hạnh.
Con gái có khuynh hướng về văn, con trai về toán
Hormon estrogen chủ yếu có ở con gái đã tạo ra sự phát triển nhanh các
tế bào não. Ngay từ khi còn là bào thai, bán cầu não phải ở thai nhi gái đã
phát triển nhanh hơn và có liên hệ với bán cầu não trái. Con trai lại chưa
phát triển đủ để có mối liên hệ đó, não ở con trai tuy có mối liên hệ phong
phú ngay ở mỗi bán cầu nhưng nghèo nàn về mối liên hệ với não trái. Đó là
một trong những cách giải thích vì sao con trai giỏi hơn con gái về môn lý
và toán vì 2 môn này phụ thuộc nhiều hơn vào sự phát triển của não phải.
Lịch sử nhân loại cho thấy hầu như chỉ có nam giới làm công việc săn
bắt do đó khả năng định hướng trong không gian tốt hơn (có lẽ vì thế mà tư
duy trừu tượng phát triển hơn), trong khi con gái nói sớm và gẫy gọn hơn,
đọc nhiều hơn nên phát triển nhiều cảm xúc. Điều đó giải thích vì sao con
trai thường kém hơn về ngôn ngữ và khả năng diễn tả cảm xúc, tuy nhiên,
có điều may mắn là những mối liên hệ mới ở não vẫn tiếp tục được tạo ra
trong suốt thời niên thiếu.
Con trai hiếu thắng
Hormon testosterone có tác dụng trực tiếp đến não, làm cho nam nhạy
cảm với những vấn đề về đẳng cấp và đua tranh. Tính cách này thể hiện
ngay từ bé (thi với nhau xem ai tiểu xa nhất, khoe bố là công an...), và tiếp
tục phát triển ở tuổi trưởng thành, trong khi con gái có ý thức hợp tác hơn,
không bận tâm lắm đến chuyện hơn thua.

14

Một công trình nghiên cứu ở tuổi mẫu giáo cho thấy rằng tính thích hơn
người khác, tính đẳng cấp, mệnh lệnh, huênh hoang, dọa nạt là những tính
đặc trưng ở con trai, còn ở con gái thường khép kín, dễ thỏa thuận với
nhau, chỉ hay nói. Nam tính thể hiện cả ở sự ham muốn thành công, quyền
lực và được mọi người ngưỡng mộ. Tính muốn hơn người còn giúp cho
nam giới chống lại sự trầm cảm và lo hãi. Con trai thường hay bị ngã xe
đạp nhiều gấp đôi con gái không phải vì vụng về mà vì sẵn sàng chấp nhận
nguy cơ để chứng tỏ mình.
Tính cách nói trên có nguồn gốc từ lịch sử hàng nghìn năm săn bắt, đã
tạo cho giới nam sở thích khám phá và mạo hiểm, luôn phải gắng sức và
vượt qua những thử thách. Còn phụ nữ cũng phát triển nhiều tính cách
riêng là hệ quả của thời kỳ hái lượm (trong lịch sử tiến hóa của loài người),
làm công việc gì cũng khéo léo, tỷ mỉ và kiên nhẫn hơn.
Sự khác biệt về giới tính không tạo nên sự đối lập mà trái lại đó
chính là vẻ đẹp
Bình đẳng giới không có nghĩa là san bằng sự khác biệt về giới tính mà
chính là sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước cộng đồng xã hội. Giáo
dục con cái cần tôn trọng sự khác biệt về giới tính và cần hiểu rằng nếu như
một số giá trị của nam tính (ý chí đua tranh, vươn lên, không chịu thua
kém, hung hăng…) bị xem là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội – bạo
lực, tội phạm, phá rối an ninh xã hội, tạo ra sự bất bình đẳng… – thì những
giá trị khác như tính tự tin, ý chí vượt khó, tính mạo hiểm, không chịu
khuất phục, đè nén… lại chính là những điều kiện để hình thành nên những
phẩm chất cao đẹp. Những tính cách đó tồn tại ở mỗi cá nhân cùng với
những giá trị truyền thống mà phụ nữ vốn có (đầu óc thực tế, biết chia sẻ,
thông cảm, độ lượng, dịu dàng, khiêm nhường…) đã g
 
Gửi ý kiến