tieng viet 4

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thùy Dung
Ngày gửi: 08h:20' 16-05-2025
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thùy Dung
Ngày gửi: 08h:20' 16-05-2025
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1.
Lời giới thiệu:
Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Tiếng Việt lớp 4 đặt ra
mục tiêu toàn diện cho học sinh. Đầu tiên, về kỹ năng nghe và nói, học sinh cần
nghe hiểu rõ nội dung từ bài đọc, trò chuyện đến thảo luận, và cần kết hợp khả
năng kể chuyện, miêu tả, hỏi đáp với việc bày tỏ ý kiến cá nhân dựa trên nội dung
bài học và cuộc sống xung quanh. Đồng thời, họ cũng cần phát âm một cách rõ
ràng và tự nhiên. Về kỹ năng đọc, học sinh lớp 4 cần đọc hiểu nghĩa chung và chi
tiết của bài, đồng thời nhận biết các phép tu từ và nghệ thuật ngôn ngữ. Khi viết,
họ cần biết cách viết chính xác, sáng sủa, đồng thời áp dụng đúng kiến thức về
ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng và cấu trúc câu. Tự chỉnh sửa và sửa chữa bài viết
cũng là một phần quan trọng. Cuối cùng, về kiến thức ngôn ngữ, học sinh cần hiểu
và sử dụng đúng từ vựng, ngữ pháp, và ngữ âm. Học sinh cũng cần nhận biết được
giá trị văn hóa trong tiếng Việt và biết yêu quý ngôn ngữ này.
Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua hình thức chơi trong việc rèn
luyện kỹ năng nghe - nói cho học sinh lớp 4 theo chương trình GDPT 2018 mang
một ý nghĩa đặc biệt. Đầu tiên, chơi giúp tăng cường hứng thú học tập cho học
sinh, khiến cho việc học trở nên dễ dàng và không còn là gánh nặng. Qua trò chơi,
không chỉ kiến thức được học sinh tiếp thu mà tư duy thực hành và kỹ năng giao
tiếp cũng được phát triển mạnh mẽ. Họ có cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế,
tự tin thể hiện bản thân và cải thiện khả năng nghe nói. Hơn nữa, trò chơi tạo nên
một môi trường học tập năng động, sôi nổi và tích cực, khuyến khích sự tham gia
và tương tác chặt chẽ giữa học sinh và giáo viên. Tóm lại, hình thức chơi không
chỉ nâng cao kỹ năng nghe - nói cho học sinh mà còn giúp các em phát triển toàn
diện trong quá trình học tập.
Chính vì tầm quan trọng đó, tôi đã chọn chuyên đề: "Nâng cao năng lực
tổ chức dạy học thông qua chơi để rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong môn
Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018 tại lớp 4A, trường Tiểu học Tam
Quan I" để nghiên cứu.
2
2. Tên sáng kiến: "Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua chơi để
rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018
tại lớp 4A, trường Tiểu học Tam Quan I".
3. Tác giả sáng kiến:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy Dung
Giáo viên: Trường Tiểu học Tam Quan I – Tam Đảo - Vĩnh Phúc.
Số điện thoại: 0378.680.475
Email: nguyenthithuydung.gvc1tamquan1@vinhphuc.edu.vn
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Nguyễn Thị Thùy Dung - Giáo viên Trường Tiểu học Tam Quan I - Tam
Đảo - Vĩnh Phúc
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến :
- Áp dụng trong giảng dạy ở các phân môn Tiếng Việt lớp 4
- Đối tượng: Học sinh lớp 4A, trường Tiểu học Tam Quan I
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 9 năm học 2023 – 2024
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1. Cơ sở lí luận
a. Khái niệm và vai trò của học thông qua chơi
* Khái niệm:
Dạy học thông qua chơi là phương pháp giáo dục sử dụng các trò chơi để truyền
đạt kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Phương pháp này khai thác tính
vui chơi tự nhiên của trẻ, biến quá trình học tập thành hoạt động hấp dẫn và bổ
ích.
* Vai trò của học thông qua chơi:
- Tăng cường hứng thú học tập: Trò chơi giúp học sinh cảm thấy vui vẻ, hứng thú
với bài học, tạo động lực học tập.
3
- Phát triển kĩ năng mềm: Thông qua các trò chơi, học sinh có thể rèn luyện kĩ
năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo.
- Tăng cường khả năng ghi nhớ: Học thông qua chơi giúp học sinh ghi nhớ kiến
thức một cách tự nhiên và bền vững.
- Phát triển toàn diện: Trò chơi không chỉ phát triển trí tuệ mà còn phát triển thể
chất, tình cảm, xã hội cho học sinh.
7.2. Cơ sở thực tiễn
Học sinh lớp 4 bắt đầu có khả năng tư duy trừu tượng và logic tốt hơn. Các
em thích thú với các hoạt động học tập mang tính tương tác cao và có yếu tố vui
chơi. Các em cũng dễ dàng tiếp thu kiến thức qua các hoạt động thực hành và trải
nghiệm thực tế. Do đó, việc áp dụng các trò chơi trong dạy học sẽ tạo ra môi
trường học tập hứng thú và hiệu quả hơn.
7.3. Thực trạng vấn đề:
* Thuận lợi
+ Về phía nhà trường
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm tạo điều kiện hết mức cho việc
dạy học của giáo viên và học tập của học sinh.
- Chương trình học cập nhật: Nhà trường đang áp dụng những chương trình
giáo trình mới, nhấn mạnh vào việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ, đặc biệt là nghe
và nói.
+ Về phía giáo viên
- Tập huấn và cập nhật chương trình: Nhiều giáo viên đã được tập huấn về
phương pháp giảng dạy, giúp họ tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh kiến thức một
cách sinh động và hiệu quả.
- Nắm vững chương trình: Giáo viên đã nắm rõ và làm chủ chương trình
giảng dạy, giúp họ tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng nghe - nói cho học sinh.
- Tích cực học tập nâng cao trình độ: Nhiều giáo viên luôn cập nhật các
phương pháp giảng dạy mới, tham gia các khóa đào tạo để nâng cao năng lực
giảng dạy.
4
+ Về phía học sinh
- Hứng thú học tập: Học sinh lớp 4 thường rất năng động và hứng thú, dễ
dàng tiếp thu kỹ năng mới nếu được học tập một cách sinh động.
- Sẵn lòng tham gia các hoạt động: Học sinh rất hứng thú khi tham gia vào
các hoạt động nhóm, trò chơi, giúp các em phát triển kỹ năng nghe - nói một cách
tự nhiên.
- Môi trường học đa dạng: Với sự phổ biến của internet và phương tiện
truyền thông, học sinh dễ dàng tiếp xúc với nhiều nguồn tài nguyên giáo dục, giúp
họ nâng cao kỹ năng nghe - nói.
* Khó khăn
+ Về phía nhà trường
- Thiếu hạ tầng: Điều kiện còn nhiều khó khăn, còn thiếu hụt về hạ tầng
phục vụ dạy và học, như phòng học không đảm bảo yêu cầu về chất lượng âm
thanh.
- Kinh phí hạn chế: Ngân sách dành cho giáo dục tại một số trường chưa đủ
để cập nhật giáo trình mới hoặc tổ chức các khóa đào tạo cho giáo viên.
- Áp lực chương trình: Số lượng kiến thức cần truyền đạt trong chương trình
học khá nhiều, khiến nhà trường có ít không gian để tập trung vào việc rèn kỹ
năng nghe - nói.
+ Về phía giáo viên
- Gánh nặng giảng dạy: Một số giáo viên phải giảng dạy cho lớp học có số
lượng học sinh lớn, gây khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động tập trung vào
kỹ năng nghe - nói.
- Thiếu phương pháp mới: Không phải tất cả giáo viên đều được trang bị
đầy đủ các phương pháp giảng dạy hiện đại và hiệu quả cho kỹ năng nghe - nói.
- Áp lực về thời gian: Do áp lực từ chương trình học, giáo viên thường khó
có đủ thời gian để tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng nghe - nói cho học sinh.
+ Về phía học sinh
Môi trường học tại nhà không thuận lợi: Một số học sinh sống trong môi
trường gia đình không thuận lợi cho việc học tập, như tiếng ồn, thiếu tài nguyên
5
học tập.
Áp lực học bài: Học sinh cần phải đối mặt với áp lực học bài và ôn tập cho
các môn khác, làm giảm thời gian và tập trung cho việc luyện nghe - nói.
Thiếu tự tin: Một số học sinh thiếu tự tin khi thực hiện kỹ năng nghe - nói
trước lớp, gây ra sự lùi bước và e dè trong việc tham gia hoạt động.
Tiến hành khảo sát hứng thú và kĩ năng nghe nói của các em, tôi thu được
kết quả không mấy khả quan, cụ thể như sau:
BẢNG KHẢO SÁT HỨNG THÚ HỌC TIẾNG VIỆT
Thời điểm khảo sát: Tháng 9/2023
Thời điểm khảo
sát
Đầu năm
TSHS
35
Rất thích
Thích
TS
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
3
8,57
6
17,14
Bình
Không
thường
thích
TS
11
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
31,43
15
42,86
* Vai trò, ý nghĩa của biện pháp:
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy việc tổ chức hoạt động tổ chức dạy
học thông qua chơi để rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong môn Tiếng Việt đã mang
lại hiệu quả cao. Tiết học được hình thành một cách nhẹ nhàng, hứng khởi, vừa
huy động được sự tập trung chú ý, kích hoạt năng lực tích cực của học sinh, vừa
đảm bảo đạt mục tiêu của bài học nhờ đó kết quả học tập được nâng cao. Từ đó
hình thành cho học sinh các năng lực tư duy lập luận, vận dụng, tự học, giao tiếp
và các phẩm chất tự tin, tự chủ, yêu thương, nhân ái.
7.4. Nội dung biện pháp:
Trong quá trình dạy học, tôi đã sử dụng các biện pháp sau:
7.4.1. Biện pháp 1: Thực hiện dạy học tích hợp và dạy học phân hóa nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh
+ Mục tiêu:
- Giúp học sinh kết nối kiến thức từ các môn học khác nhau, phát triển tư
duy toàn diện và linh hoạt.
6
- Tạo điều kiện cho học sinh phát triển tối đa khả năng cá nhân thông qua
việc tổ chức dạy học phù hợp với năng lực, sở thích và trình độ của từng học sinh.
- Khuyến khích tính chủ động, sáng tạo và tình yêu học tập từ phía học sinh.
+ Các bước tiến hành:
- Đánh giá năng lực và sở thích của học sinh: Giáo viên cần phân tích để
xác định năng lực, sở thích và nhu cầu học tập của học sinh.
- Lựa chọn và thiết kế nội dung học: Dựa trên đánh giá năng lực và sở thích,
giáo viên sẽ lựa chọn và thiết kế nội dung giảng dạy tích hợp từ nhiều môn học.
- Phân hóa đối tượng: Dựa vào năng lực và sở thích của học sinh, giáo viên
sẽ chia thành các nhóm học sinh với nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp.
- Thực hiện dạy học: Giáo viên tiến hành giảng dạy theo bài học đã thiết
kế, đồng thời tạo điều kiện để học sinh thực hành, thảo luận và trải nghiệm.
- Đánh giá và điều chỉnh: Sau mỗi bài học, giáo viên cần đánh giá kết quả
học tập và tiến trình của học sinh để điều chỉnh phương pháp và nội dung giảng
dạy cho phù hợp.
+ Ví dụ:
- Chủ đề: “Quê hương trong tôi” trong môn Tiếng Việt lớp 4.
- Mục tiêu: Phát triển kỹ năng nghe- nói thông qua việc kể về cảnh đẹp quê
hương, đồng thời kết hợp kiến thức từ môn Địa lí về đặc điểm vùng miền.
- Nội dung: Học sinh được chia thành các nhóm. Mỗi nhóm sẽ chọn một
địa danh và tìm hiểu về nó. Sau đó, mỗi nhóm sẽ thuyết trình về địa danh đó trước
lớp, kết hợp với việc trình bày bằng tranh, ảnh và video.
- Kết quả: Học sinh không chỉ phát triển kỹ năng nghe - nói mà còn mở
rộng kiến thức về địa lý, lịch sử và văn hóa của các địa danh trong nước.
a. Dạy học tích hợp
+ Mục tiêu:
- Khuyến khích sự liên kết giữa các môn học, giúp học sinh kết nối thông
tin và kiến thức từ các nguồn khác nhau, tạo nên một cấu trúc kiến thức toàn diện.
- Tăng cường sự hứng thú, tạo động lực học tập cho học sinh thông qua việc
khám phá và trải nghiệm.
7
- Phát triển kỹ năng nghe-nói của học sinh trong một môi trường học tập đa
chiều, thực tế.
+ Các bước tiến hành:
- Xác định chủ đề chung: Giáo viên lựa chọn một chủ đề mà có thể kết nối
giữa các môn học.
- Lập kế hoạch và thiết kế bài giảng: Dựa vào chủ đề đã chọn, giáo viên lên
kế hoạch bài giảng sao cho có sự tích hợp giữa nhiều môn.
- Chuẩn bị tài nguyên và vật liệu: Giáo viên tìm kiếm và chuẩn bị các tài
liệu, công cụ, đồ dùng liên quan đến chủ đề.
- Thực hiện giảng dạy: Dạy học theo kế hoạch đã lên, khuyến khích học
sinh thảo luận, trải nghiệm và tự mình khám phá.
- Đánh giá và phản hồi: Giáo viên đánh giá quá trình và kết quả học tập của
học sinh, đồng thời cung cấp phản hồi để học sinh biết cách cải thiện.
+ Ví dụ:
- Chủ đề: "Mùa thu và những bài thơ về mùa thu".
- Nội dung: Học sinh sẽ được khám phá về mùa thu thông qua các bài thơ
về mùa thu trong môn Tiếng Việt. Họ cũng sẽ học về các đặc điểm của mùa thu
trong môn Khoa học và Lịch sử văn hóa.
- Tiến trình: Giáo viên giới thiệu và đọc một số bài thơ về mùa thu. Học
sinh sau đó sẽ thảo luận về cảm xúc, hình ảnh mà bài thơ mang lại và so sánh với
kiến thức các em đã học ở môn Khoa học về mùa thu. Cuối cùng, học sinh sẽ tự
sáng tác bài thơ hoặc viết bài văn ngắn về mùa thu dựa trên những gì các em đã
học và trải nghiệm.
b. Dạy học phân hóa
+ Mục tiêu:
- Tạo ra môi trường học tập phù hợp với trình độ, năng lực và nhu cầu riêng
biệt của mỗi học sinh.
- Giúp mỗi học sinh phát triển tối đa tiềm năng của mình.
- Khuyến khích sự tham gia tích cực và chủ động của học sinh trong quá
trình học tập.
8
+ Các bước tiến hành:
- Đánh giá trình độ và nhu cầu của học sinh: Trước tiên, giáo viên cần biết
rõ về năng lực, kiến thức và nhu cầu của mỗi học sinh.
- Chia nhóm học sinh: Dựa vào kết quả đánh giá, giáo viên chia học sinh
thành các nhóm dựa trên trình độ và nhu cầu học tập.
- Thiết kế bài giảng phù hợp cho mỗi nhóm: Bài giảng được thiết kế sao
cho phù hợp với trình độ và nhu cầu của mỗi nhóm học sinh.
- Thực hiện giảng dạy: Giáo viên sẽ giảng dạy theo nội dung đã chuẩn bị
cho từng nhóm, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh thảo luận, trao đổi và tự học.
- Đánh giá và điều chỉnh: Sau khi giảng dạy, giáo viên cần đánh giá hiệu
suất học tập của mỗi nhóm và điều chỉnh bài giảng hoặc phương pháp giảng dạy
nếu cần.
+ Ví dụ:
- Giáo viên đã đánh giá và chia lớp học thành 3 nhóm: Nhóm nâng cao,
nhóm trung bình và nhóm cần củng cố kiến thức.
- Nhóm nâng cao: Giáo viên sẽ giới thiệu các bài thơ phức tạp hơn, khuyến
khích học sinh phân tích sâu về nghĩa và ngữ cảm trong bài thơ, và tự sáng tác bài
thơ.
- Nhóm trung bình: Giáo viên sẽ giới thiệu các bài thơ có độ khó vừa phải
và khuyến khích học sinh trao đổi, thảo luận về nghĩa và cảm xúc khi đọc thơ.
- Nhóm cần củng cố kiến thức: Giáo viên sẽ tập trung vào việc giảng giải,
giúp học sinh hiểu rõ nghĩa và cấu trúc của bài thơ, cung cấp các hoạt động trò
chơi giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và yêu thích môn học.
7.4.2. Biện pháp 2: Lựa chọn, vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật
dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và phù hợp nội dung bài
+ Mục tiêu:
- Giúp học sinh nắm vững kiến thức và kĩ năng thông qua việc tương tác
tích cực trong quá trình học.
- Tạo ra môi trường học tập thân thiện, động viên và khích lệ học sinh tham
gia vào các hoạt động dạy và học.
9
- Đảm bảo hiệu quả dạy học, giúp học sinh phát triển toàn diện cả về kiến
thức lẫn kỹ năng.
+ Các bước tiến hành:
- Đánh giá và xác định nội dung bài học: Giáo viên cần rõ ràng về mục tiêu
và nội dung của bài học.
- Tìm hiểu và lựa chọn phương pháp dạy học: Dựa vào nội dung bài học và
đặc điểm lứa tuổi học sinh, giáo viên lựa chọn phương pháp phù hợp.
- Thiết kế bài giảng kết hợp với các hoạt động, trò chơi giáo dục: Giáo viên
có thể thiết kế bài giảng kết hợp với các hoạt động nhóm, trò chơi giáo dục để
tăng tính thú vị và sự tham gia của học sinh.
- Thực hiện giảng dạy và tổ chức hoạt động: Trong quá trình giảng dạy,
giáo viên cần linh hoạt trong việc vận dụng các kĩ thuật và phương pháp để đáp
ứng nhu cầu và trình độ của học sinh.
- Đánh giá và phản hồi: Sau mỗi tiết học, giáo viên cần thu thập phản hồi
từ học sinh, đánh giá hiệu suất học tập và điều chỉnh phương pháp dạy học nếu
cần.
+ Ví dụ:
- Trong bài học về "Điều kì diệu", giáo viên có thể tổ chức trò chơi "Ai
nhanh hơn" để đoán tên bạn bè qua giọng nói và tạo những kiến thức cơ sở ban
đầu để vào bài học mới. Trò chơi này yêu cầu học sinh chia thành các nhóm, mỗi
nhóm sẽ lần lượt đoán tên 1 bạn của nhóm khác qua giọng nói.
- Nhóm nào trả lời đúng và nhanh nhất sẽ giành chiến thắng. Qua trò chơi
này, học sinh có cơ hội tăng cường tư duy nhanh và kỹ năng làm việc nhóm, học
sinh hứng khởi bước vào bài học mới.
10
7.4.3. Biện pháp 3: Khai thác, sử dụng hiệu quả đồ dùng, các thiết bị, công cụ
hỗ trợ dạy học
+ Mục tiêu:
- Tăng cường sự sinh động, trực quan trong bài giảng giúp học sinh dễ dàng
nắm bắt và ghi nhớ kiến thức.
- Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể tương tác, trải nghiệm và thực
hành trong quá trình học.
- Nâng cao chất lượng bài giảng, giúp học sinh phát triển kỹ năng nghe và
nói một cách hiệu quả.
+ Các bước tiến hành:
- Đánh giá và lựa chọn: Giáo viên cần xác định rõ nhu cầu của bài học và
lựa chọn thiết bị, công cụ phù hợp.
- Chuẩn bị và sắp xếp: Trước tiết học, giáo viên cần chuẩn bị kỹ lưỡng, test
thử để đảm bảo các thiết bị hoạt động tốt.
- Tích hợp vào bài giảng: Trong quá trình dạy, giáo viên nên tích hợp linh
hoạt việc sử dụng thiết bị vào bài giảng, điều này giúp bài học trở nên phong phú
và sinh động hơn.
- Hướng dẫn học sinh sử dụng: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách sử
dụng các thiết bị một cách an toàn và hiệu quả.
- Đánh giá và điều chỉnh: Sau tiết học, giáo viên cần đánh giá hiệu suất của
11
việc sử dụng thiết bị và điều chỉnh cho các bài học sau.
+ Ví dụ: Trong bài học về "Nhà phát minh và bà cụ", giáo viên có thể sử
dụng máy chiếu để trình chiếu hình ảnh minh họa các nhân vật, cảnh quan trong
truyện. Đồng thời, giáo viên có thể kết hợp việc sử dụng băng ghi âm để đọc
truyện, giúp học sinh hình dung rõ hơn về nội dung và phong cách kể chuyện.
Điều này không chỉ giúp bài học trở nên sinh động hơn mà còn giúp học sinh phát
triển kỹ năng nghe hiểu qua giọng đọc của người kể chuyện.
Giáo viên sử dụng trình chiếu để chiếu các hình ảnh, sự việc nêu trong
câu chuyện “Nhà phát minh và bà cụ”
12
7.4.4. Biện pháp 4: Thực hiện lồng ghép “Học thông qua Chơi” vào các hoạt
động học tập trong dạy học tiết “Nói và nghe”
+ Mục tiêu:
- Mục tiêu của giải pháp này là tạo ra môi trường học tập thú vị và tăng
cường kỹ năng nghe - nói của học sinh trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình
GDPT 2018 bằng cách sử dụng một số trò chơi.
- Giúp học sinh trở nên độc lập, tự chủ, tích cực tương tác xã hội, sáng tạo,
thích ứng tốt với mọi hoàn cảnh và có khả năng giải quyết vấn đề tốt.
- Giúp học sinh hình thành nhận thức, kỹ năng tìm hiểu kiến thức và tư duy
sáng tạo.
- Giúp HS khám phá và tìm hiểu về kiến thức đồng thời giúp phát triển khả
năng tự điều chỉnh và tự chủ của các em.
- Giúp học sinh biết cách chia sẻ ý tưởng, thể hiện bản thân, thương lượng
và thỏa hiệp khi chơi với bạn, ứng xử hợp lý với nhóm bạn chơi cùng.
+ Các bước tiến hành:
- Lựa chọn trò chơi phù hợp: Chọn một số trò chơi mà học sinh có thể tham
gia để rèn luyện kỹ năng nghe - nói và phù hợp với nội dung học tập. Trò chơi
nên thú vị, phù hợp với độ tuổi và trình độ của học sinh.
- Giới thiệu trò chơi: Trước khi bắt đầu, giáo viên cần giới thiệu trò chơi và
cung cấp hướng dẫn cho học sinh về cách tham gia và mục tiêu của trò chơi.
- Tạo nhóm hoặc cặp: Phân chia học sinh thành các nhóm hoặc cặp để tham
gia vào trò chơi. Việc làm việc theo nhóm sẽ tạo cơ hội cho họ tương tác và thực
hành kỹ năng nghe-nói cùng nhau.
- Thực hiện trò chơi: Chơi trò chơi và đảm bảo rằng mọi học sinh tham gia
tích cực. Giáo viên nên theo dõi tiến trình và cung cấp hỗ trợ khi cần thiết.
- Phản hồi và thảo luận: Sau khi hoàn thành trò chơi, tổ chức một phiên
thảo luận về kết quả, cách thực hiện và những điểm học sinh có thể cải thiện. Hãy
khuyến khích học sinh chia sẻ ý kiến và trải nghiệm của họ.
Ví dụ 1:
+ Trò chơi: Nghe đọc đoạn, đoán tên bài.
13
+ Mục đích: Rèn kỹ năng đọc đúng rõ ràng một đoạn văn trong bài đã học
luyện kỹ năng đọc hiểu ở nghe hiểu và nhớ tên các bài tập đọc đã học.
+ Đồ dùng: Sách giáo khoa Tiếng Việt 4.
+ Cách chơi: Hai nhóm tham gia chơi ngồi đối diện nhau, cử trưởng nhóm
điều hành chung cả nhóm bốc thăm để chọn nhóm đọc trước. Nhóm bốc được
chọn đọc trước, được mở sách giáo khoa để chọn đoạn đọc trong một số bài tập
đọc đã nêu ra. Nhóm còn lại nghe để đoán tên bài tập đọc đã học sau khi đoán
xong thì nhóm 2 lại thực hiện đọc đoạn văn đã chọn và nhóm 1 lại đoán tên bài
tập đọc đã học. Mỗi nhóm được thực hiện ba lần đoán tên bài và đọc. Hai nhóm
tham gia chơi đều được tính điểm để so sánh khi trò chơi kết thúc giáo viên sẽ
chọn nhóm nào được nhiều điểm hơn nhóm đó sẽ thắng cuộc.
* Lưu ý: Khi đoán tên bài cả hai nhóm đều không được mở sách giáo khoa,
nhóm 2 có thể lấy nội dung của bài tập đọc mà nhóm 1 đọc nhưng cần chọn đoạn
văn khác trong bài đoạn văn. Đoạn văn nên ngắn gọn không quá dài.
Trò chơi này có thể áp dụng cho các giờ ôn tập giữa học kì 1, cuối học kì
1, giữa học kì 2 và cuối học kì 2 của môn Tiếng Việt lớp 4.
Ví dụ 2:
+ Trò chơi: Nghe và vẽ.
+ Mục đích: Rèn kỹ năng nghe – hiểu và miêu tả được bức tranh mình đã
vẽ có liên quan gì đến nội dung bài mình đã được học.
14
+ Đồ dùng: Giấy vẽ, bút chì và màu.
+ Cách chơi: Giáo viên đọc một đoạn văn hoặc miêu tả một bức tranh, học
sinh lắng nghe và vẽ lại theo những gì mình nghe được.
Bước 1: Giáo viên đọc đoạn văn miêu tả.
Bước 2: Học sinh lắng nghe và vẽ lại.
Bước 3: Học sinh chia sẻ và so sánh các bước vẽ.
7.4.5. Biện pháp 5: Tổ chức các hoạt động nhóm để khuyến khích học sinh làm
việc cùng nhau, thảo luận và tương tác bằng Tiếng Việt
+ Mục tiêu: Khuyến khích học sinh lớp 4 làm việc cùng nhau, thảo luận và
tương tác bằng Tiếng Việt thông qua các hoạt động nhóm. Mục tiêu chính là cải
thiện kỹ năng nghe - nói của học sinh, mở rộng từ vựng, và phát triển khả năng
hợp tác và giao tiếp.
+ Các bước tiến hành:
- Lập kế hoạch hoạt động nhóm: Giáo viên xác định mục tiêu cụ thể của
hoạt động nhóm, ví dụ: Xây dựng một câu chuyện, giải quyết một vấn đề hoặc
thảo luận về một đề tài Tiếng Việt. Chia lớp thành các nhóm nhỏ, đảm bảo sự đa
dạng trong cách học và kỹ năng ngôn ngữ của học sinh trong từng nhóm.
- Chọn hoạt động nhóm phù hợp: Chọn hoạt động nhóm phù hợp với mục
tiêu học tập.
- Hướng dẫn cho học sinh: Giáo viên cung cấp hướng dẫn rõ ràng về nhiệm
15
vụ và mục tiêu của hoạt động nhóm. Hướng dẫn về cách tham gia tích cực trong
nhóm, lắng nghe ý kiến của người khác và đóng góp ý kiến của mình. Phân công
nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhóm.
- Thực hiện hoạt động nhóm: Học sinh trong từng nhóm bắt đầu thực hiện
hoạt động theo hướng dẫn của giáo viên. Họ phải làm việc cùng nhau để đạt được
mục tiêu đã đề ra. Học sinh sử dụng Tiếng Việt để trao đổi ý kiến, thảo luận, và
làm việc với nhau.
- Theo dõi và đánh giá: Giáo viên quan sát tiến trình của các nhóm, cung
cấp phản hồi và hỗ trợ khi cần thiết. Sau hoạt động nhóm, tổ chức một buổi thảo
luận tổng hợp để đánh giá kết quả của hoạt động và kỹ năng ngôn ngữ của học
sinh.
+ Ví dụ 1: Trong tiết Luyện từ và câu “Trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn”Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 tập 2 (trang 57).
- Mục tiêu: Giúp học sinh phát triển kĩ năng lắng nghe, giao tiếp, hợp tác
với bạn thông qua hoạt động nhóm đôi.
- Các bước tiến hành:
+ Lập kế hoạch hoạt động nhóm: Giáo viên xác định yêu cầu của đề, cho
học sinh hoạt động nhóm.
+ Chọn hoạt động nhóm phù hợp: Cho học sinh hoạt động nhóm đôi.
+ Hướng dẫn cho học sinh: Yêu cầu học sinh hoạt động nhóm đôi, thảo luận
tìm các trạng ngữ của câu và cho biết chúng bổ sung thông tin gì bằng cách làm
vào phiếu bài tập.
+ Thực hiện hoạt động nhóm: Học sinh thảo luận và viết vào phiếu bài tập.
+ Theo dõi và đánh giá: Giáo viên quan sát tiến trình của các nhóm, giúp
đỡ các nhóm. Sau đó cho học sinh chữa bài, nhận xét và đánh giá.
+ Ví dụ 2: Trong tiết Luyện từ và câu “Động từ”- Sách giáo khoa Tiếng
Việt 4 tập 1 (trang 41).
GV tiến hàng các bước tương tự như trên, kết quả thu được là những bài vẽ
sơ đồ tư duy tổng hợp kiến thức về động từ, giúp học sinh rèn khả năng ghi nhớ
kiến thức và truyền đạt thông tin một cách dễ dàng và có hệ thống hơn.
16
Đại diện các nhóm lên trình bày sơ đồ tư duy về động từ
7.4.6. Biện pháp 6: Phối kết hợp giữa nhà trường và gia đình
+ Mục tiêu: Cùng nhà trường và gia đình tạo ra một môi trường học tập tích
cực và hỗ trợ học sinh lớp 4 trong việc nâng cao khả năng tổ chức dạy học thông
qua trò chơi để rèn luyện kỹ năng nghe-nói trong môn Tiếng Việt.
+ Các bước tiến hành:
- Họp thông tin và giới thiệu chương trình: Tổ chức buổi họp thông tin đầu
năm học để giới thiệu chương trình học và mục tiêu của năm học liên quan đến
việc sử dụng trò chơi để rèn luyện kỹ năng nghe - nói. Giới thiệu cho phụ huynh
các trò chơi mà học sinh sẽ tham gia và lý do tại sao chúng có ý nghĩa trong việc
học Tiếng Việt.
- Hướng dẫn và cung cấp tài liệu cho gia đình: Tạo tài liệu hướng dẫn cho
phụ huynh về cách sử dụng trò chơi ngôn ngữ để rèn luyện kỹ năng nghe-nói tại
nhà. Cung cấp cho họ danh sách trò chơi, ví dụ cụ thể, và tài liệu học tập mà họ
có thể sử dụng cùng con cái.
- Tạo sự hòa nhập thông qua hoạt động cộng đồng: Tổ chức các sự kiện và
hoạt động cộng đồng liên quan đến việc học thông qua chơi. Ví dụ, có thể tổ chức
buổi triển lãm trò chơi ngôn ngữ hoặc buổi họp trò chuyện giữa giáo viên và phụ
huynh để chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức.
17
+ Ví dụ:
Trường tổ chức buổi họp thông tin đầu năm và giới thiệu chương trình học
Tiếng Việt lớp 4 với sự hợp tác của gia đình. Giáo viên giới thiệu các trò chơi như
“Lật hình từ vựng” và “Tạo câu chuyện” và giải thích cách chúng giúp cải thiện
kỹ năng ngôn ngữ của học sinh. Sau đó, trường cung cấp cho phụ huynh một bộ
tài liệu hướng dẫn về cách sử dụng các trò chơi này tại nhà và tạo một môi trường
học tập tích cực.
8. Những thông tin cần được bảo mật: Không có thông tin cần bảo mật.
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
9.1. Đối với nhà trường
- Tăng cường đầu tư: Nhà trường nên tăng cường đầu tư vào việc mua sắm
đồ dùng, công cụ và thiết bị hỗ trợ dạy học, giúp việc tổ chức dạy học thông qua
trò chơi trở nên phong phú và thực tế hơn.
- Đào tạo cho giáo viên: Tổ chức các khoá đào tạo về kỹ thuật tổ chức dạy
học thông qua trò chơi, giúp giáo viên có thêm kiến thức và kỹ năng trong việc áp
dụng phương pháp này.
- Tạo điều kiện: Nhà trường cần tạo ra một môi trường học tập linh hoạt,
nơi giáo viên và học sinh có thể tự do sáng tạo và thực hiện các hoạt động học tập
qua trò chơi.
9.2. Đối với tổ chuyên môn
- Nghiên cứu và chia sẻ: Tổ chuyên môn nên tạo ra một cơ chế chia sẻ các
trò chơi giáo dục, kỹ thuật dạy học và các tài liệu liên quan để giáo viên có thể
học hỏi và áp dụng.
- Hợp tác: Khuyến khích sự hợp tác giữa các giáo viên trong tổ chuyên môn,
giúp họ có cơ hội trao đổi kinh nghiệm và học hỏi từ nhau.
- Đánh giá và phản hồi: Tổ chuyên môn nên thường xuyên tổ chức các buổi
đánh giá và phản hồi cho giáo viên, giúp họ nhận biết và hoàn thiện hơn trong
việc dạy học.
9.3. Đối với giáo viên
18
- Tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ: Giáo viên cần tự trang bị kiến
thức và kỹ năng về việc tổ chức dạy học thông qua trò chơi.
- Sáng tạo: Khuyến khích giáo viên sáng tạo trong việc thiết kế và áp dụng
các trò chơi vào bài giảng của mình, giúp bài học trở nên sinh động và thú vị hơn.
- Tương tác với học sinh: Giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập mở
lòng, nơi học sinh có thể tự do thể hiện ý kiến, đặt câu hỏi và tham gia vào trò
chơi một cách tích cực.
Dưới đây là một số tài liệu tham khảo phổ biến và có thể được sử dụng khi
nghiên cứu về việc "Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua chơi để rèn
luyện kĩ năng nghe-nói trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018":
10. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng biện pháp.
10. 1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng biện pháp theo ý kiến của tác giả
Tôi đã thực hiện các biện pháp trên trong các giờ dạy cho học sinh lớp 4
tại trường Tiểu học Tam Quan I qua năm học 2023 - 2024 và đã thu được những
kết quả nhất định. Đến cuối năm học, tôi thấy các em có tiến bộ rõ rệt. Đó là
động lực giúp tôi và các GV trong trường nỗ lực hết mình trong công tác giảng
dạy của nhà trường.
Việc "Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua chơi để rèn luyện kỹ
năng nghe - nói trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018 tại lớp 4A,
trường Tiểu học Tam Quan I" mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng. Đầu tiên, nó tạo
ra một môi trường học tập tích cực, nơi học sinh được hòa mình vào trải nghiệm
học tập thú vị và thoải mái, thúc đẩy động lực và hứng thú trong việc học. Khi
học sinh tham gia vào các trò chơi thực tế, họ không chỉ học, mà còn phải nghe,
tương tác và phản hồi, giúp họ phát triển kỹ năng nghe hiểu và phản xạ nói một
cách tự nhiên và thực tiễn. Hơn nữa, trò chơi khuyến khích học sinh phải tư duy
sáng tạo, quan sát và đưa ra quyết định một cách chủ động. Điều này không chỉ
nâng cao kỹ năng tư duy của họ mà còn tăng cường tính chủ động trong học tập.
Quan trọng hơn, môi trường học tập đầy tính nhân văn được tạo ra khi giáo viên
và học sinh cùng tham gia, làm cho mối quan hệ giữa họ trở nên gần gũi hơn. Với
19
sự kết hợp giữa học và chơi, giáo viên có cơ hội truyền đạt kiến thức một cách
sinh động và hiệu quả, giúp học sinh tiếp thu nhanh chóng và lưu giữ lâu dài.
Đồng thời, việc áp dụng kỹ năng nghe - nói vào thực tế thông qua trò chơi giúp
học sinh cải thiện khả năng giao tiếp và sự hiểu biết về văn hóa tiếng Việt.
Chuyên đề “Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua chơi để rèn
luyện kĩ năng nghe - nói trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018
tại lớp 4A, trường Tiểu học Tam Quan I” đã minh chứng sự kết hợp hài hòa giữa
việc học và chơi, đem lại lợi ích đáng kể cho quá trình giảng dạy. Học sinh trở
nên chủ động, tư duy sáng tạo và tăng cường tương tác xã hội. Các giáo viên cũng
sáng tạo hơn, biết cách vận dụng linh hoạt các công cụ, thiết bị trong bài giảng,
làm cho tiết học sinh động và thu hút. Đồng thời, môi trường học tập thoải mái,
vui vẻ đã giúp học sinh giảm áp lực và tăng động lực học tập. Sự hợp tác chặt chẽ
giữa nhà trường, giáo viên và học sinh cũng là điểm nổi bật, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc áp dụng sáng kiến. Tuy nhiên, việc triển khai sáng kiến cần vượt qua
một số thách thức, như việc tối ưu việc sử dụng công cụ hỗ trợ hay đào tạo giáo
viên. Chuyên đề này mở ra hướng dạy mới mẻ, hứa hẹn mang đến nhiều lợi ích
cho giáo dục phổ thông.
Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 4, tôi thường xuyên thực
hiện tốt các giải pháp trên; ngoài ra tôi cùng đồng nghiệp thường dự giờ rút kinh
nghiệm, thống nhất cách dạy và giáo dục HS. Tôi nhận thấy hứng thú học tập
môn Tiếng Việt của học sinh có sự thay đổi hết sức khả quan như sau:
BẢNG SO SÁNH HỨNG THÚ HỌC TIẾNG VIỆT
Thời điểm khảo sát: Tháng 5/2024
Rất thích
Thời điểm khảo sát
Thích
Bình thường Không thích
TSHS
TS
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
Đầu năm
35
3
8,57
6
17,14
11
31,43
15
42,86
Cuối năm
35
10
28,57
18
51,23
7
25,7
0
0
20
Nhìn vào bảng tổng hợp, tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh có hứng thú với việc
học Tiếng Việt đạt chiếm 80%. Đây là tín hiệu đáng mừng cho việc áp dụng biện
pháp cho năm học 2023 - 2024.
10.2. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
Sau khi giới thiệu biện pháp với tổ chuyên môn và đồng nghiệp khác, phần
đông các thầy cô trong hội đồng sư phạm cũng có nhận định như bản thân tôi.
Học sinh không còn lo lắng, sợ sệt mỗi khi học môn Tiếng Việt. Các
em tích cực đón nhận giờ học. Học sinh biết lắng nghe, chia sẻ, kĩ năng nói
và nghe của các em tiến bộ rõ rệt. Học sinh hứng thú với giờ học và hăng say
phát biểu bài.
Trên đây là một số biện pháp của bản thân tôi trong việc giúp học sinh học lớp
4 học tốt hoàn thiện kĩ n...
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1.
Lời giới thiệu:
Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Tiếng Việt lớp 4 đặt ra
mục tiêu toàn diện cho học sinh. Đầu tiên, về kỹ năng nghe và nói, học sinh cần
nghe hiểu rõ nội dung từ bài đọc, trò chuyện đến thảo luận, và cần kết hợp khả
năng kể chuyện, miêu tả, hỏi đáp với việc bày tỏ ý kiến cá nhân dựa trên nội dung
bài học và cuộc sống xung quanh. Đồng thời, họ cũng cần phát âm một cách rõ
ràng và tự nhiên. Về kỹ năng đọc, học sinh lớp 4 cần đọc hiểu nghĩa chung và chi
tiết của bài, đồng thời nhận biết các phép tu từ và nghệ thuật ngôn ngữ. Khi viết,
họ cần biết cách viết chính xác, sáng sủa, đồng thời áp dụng đúng kiến thức về
ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng và cấu trúc câu. Tự chỉnh sửa và sửa chữa bài viết
cũng là một phần quan trọng. Cuối cùng, về kiến thức ngôn ngữ, học sinh cần hiểu
và sử dụng đúng từ vựng, ngữ pháp, và ngữ âm. Học sinh cũng cần nhận biết được
giá trị văn hóa trong tiếng Việt và biết yêu quý ngôn ngữ này.
Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua hình thức chơi trong việc rèn
luyện kỹ năng nghe - nói cho học sinh lớp 4 theo chương trình GDPT 2018 mang
một ý nghĩa đặc biệt. Đầu tiên, chơi giúp tăng cường hứng thú học tập cho học
sinh, khiến cho việc học trở nên dễ dàng và không còn là gánh nặng. Qua trò chơi,
không chỉ kiến thức được học sinh tiếp thu mà tư duy thực hành và kỹ năng giao
tiếp cũng được phát triển mạnh mẽ. Họ có cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế,
tự tin thể hiện bản thân và cải thiện khả năng nghe nói. Hơn nữa, trò chơi tạo nên
một môi trường học tập năng động, sôi nổi và tích cực, khuyến khích sự tham gia
và tương tác chặt chẽ giữa học sinh và giáo viên. Tóm lại, hình thức chơi không
chỉ nâng cao kỹ năng nghe - nói cho học sinh mà còn giúp các em phát triển toàn
diện trong quá trình học tập.
Chính vì tầm quan trọng đó, tôi đã chọn chuyên đề: "Nâng cao năng lực
tổ chức dạy học thông qua chơi để rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong môn
Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018 tại lớp 4A, trường Tiểu học Tam
Quan I" để nghiên cứu.
2
2. Tên sáng kiến: "Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua chơi để
rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018
tại lớp 4A, trường Tiểu học Tam Quan I".
3. Tác giả sáng kiến:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy Dung
Giáo viên: Trường Tiểu học Tam Quan I – Tam Đảo - Vĩnh Phúc.
Số điện thoại: 0378.680.475
Email: nguyenthithuydung.gvc1tamquan1@vinhphuc.edu.vn
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Nguyễn Thị Thùy Dung - Giáo viên Trường Tiểu học Tam Quan I - Tam
Đảo - Vĩnh Phúc
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến :
- Áp dụng trong giảng dạy ở các phân môn Tiếng Việt lớp 4
- Đối tượng: Học sinh lớp 4A, trường Tiểu học Tam Quan I
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 9 năm học 2023 – 2024
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1. Cơ sở lí luận
a. Khái niệm và vai trò của học thông qua chơi
* Khái niệm:
Dạy học thông qua chơi là phương pháp giáo dục sử dụng các trò chơi để truyền
đạt kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Phương pháp này khai thác tính
vui chơi tự nhiên của trẻ, biến quá trình học tập thành hoạt động hấp dẫn và bổ
ích.
* Vai trò của học thông qua chơi:
- Tăng cường hứng thú học tập: Trò chơi giúp học sinh cảm thấy vui vẻ, hứng thú
với bài học, tạo động lực học tập.
3
- Phát triển kĩ năng mềm: Thông qua các trò chơi, học sinh có thể rèn luyện kĩ
năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo.
- Tăng cường khả năng ghi nhớ: Học thông qua chơi giúp học sinh ghi nhớ kiến
thức một cách tự nhiên và bền vững.
- Phát triển toàn diện: Trò chơi không chỉ phát triển trí tuệ mà còn phát triển thể
chất, tình cảm, xã hội cho học sinh.
7.2. Cơ sở thực tiễn
Học sinh lớp 4 bắt đầu có khả năng tư duy trừu tượng và logic tốt hơn. Các
em thích thú với các hoạt động học tập mang tính tương tác cao và có yếu tố vui
chơi. Các em cũng dễ dàng tiếp thu kiến thức qua các hoạt động thực hành và trải
nghiệm thực tế. Do đó, việc áp dụng các trò chơi trong dạy học sẽ tạo ra môi
trường học tập hứng thú và hiệu quả hơn.
7.3. Thực trạng vấn đề:
* Thuận lợi
+ Về phía nhà trường
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm tạo điều kiện hết mức cho việc
dạy học của giáo viên và học tập của học sinh.
- Chương trình học cập nhật: Nhà trường đang áp dụng những chương trình
giáo trình mới, nhấn mạnh vào việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ, đặc biệt là nghe
và nói.
+ Về phía giáo viên
- Tập huấn và cập nhật chương trình: Nhiều giáo viên đã được tập huấn về
phương pháp giảng dạy, giúp họ tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh kiến thức một
cách sinh động và hiệu quả.
- Nắm vững chương trình: Giáo viên đã nắm rõ và làm chủ chương trình
giảng dạy, giúp họ tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng nghe - nói cho học sinh.
- Tích cực học tập nâng cao trình độ: Nhiều giáo viên luôn cập nhật các
phương pháp giảng dạy mới, tham gia các khóa đào tạo để nâng cao năng lực
giảng dạy.
4
+ Về phía học sinh
- Hứng thú học tập: Học sinh lớp 4 thường rất năng động và hứng thú, dễ
dàng tiếp thu kỹ năng mới nếu được học tập một cách sinh động.
- Sẵn lòng tham gia các hoạt động: Học sinh rất hứng thú khi tham gia vào
các hoạt động nhóm, trò chơi, giúp các em phát triển kỹ năng nghe - nói một cách
tự nhiên.
- Môi trường học đa dạng: Với sự phổ biến của internet và phương tiện
truyền thông, học sinh dễ dàng tiếp xúc với nhiều nguồn tài nguyên giáo dục, giúp
họ nâng cao kỹ năng nghe - nói.
* Khó khăn
+ Về phía nhà trường
- Thiếu hạ tầng: Điều kiện còn nhiều khó khăn, còn thiếu hụt về hạ tầng
phục vụ dạy và học, như phòng học không đảm bảo yêu cầu về chất lượng âm
thanh.
- Kinh phí hạn chế: Ngân sách dành cho giáo dục tại một số trường chưa đủ
để cập nhật giáo trình mới hoặc tổ chức các khóa đào tạo cho giáo viên.
- Áp lực chương trình: Số lượng kiến thức cần truyền đạt trong chương trình
học khá nhiều, khiến nhà trường có ít không gian để tập trung vào việc rèn kỹ
năng nghe - nói.
+ Về phía giáo viên
- Gánh nặng giảng dạy: Một số giáo viên phải giảng dạy cho lớp học có số
lượng học sinh lớn, gây khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động tập trung vào
kỹ năng nghe - nói.
- Thiếu phương pháp mới: Không phải tất cả giáo viên đều được trang bị
đầy đủ các phương pháp giảng dạy hiện đại và hiệu quả cho kỹ năng nghe - nói.
- Áp lực về thời gian: Do áp lực từ chương trình học, giáo viên thường khó
có đủ thời gian để tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng nghe - nói cho học sinh.
+ Về phía học sinh
Môi trường học tại nhà không thuận lợi: Một số học sinh sống trong môi
trường gia đình không thuận lợi cho việc học tập, như tiếng ồn, thiếu tài nguyên
5
học tập.
Áp lực học bài: Học sinh cần phải đối mặt với áp lực học bài và ôn tập cho
các môn khác, làm giảm thời gian và tập trung cho việc luyện nghe - nói.
Thiếu tự tin: Một số học sinh thiếu tự tin khi thực hiện kỹ năng nghe - nói
trước lớp, gây ra sự lùi bước và e dè trong việc tham gia hoạt động.
Tiến hành khảo sát hứng thú và kĩ năng nghe nói của các em, tôi thu được
kết quả không mấy khả quan, cụ thể như sau:
BẢNG KHẢO SÁT HỨNG THÚ HỌC TIẾNG VIỆT
Thời điểm khảo sát: Tháng 9/2023
Thời điểm khảo
sát
Đầu năm
TSHS
35
Rất thích
Thích
TS
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
3
8,57
6
17,14
Bình
Không
thường
thích
TS
11
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
31,43
15
42,86
* Vai trò, ý nghĩa của biện pháp:
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy việc tổ chức hoạt động tổ chức dạy
học thông qua chơi để rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong môn Tiếng Việt đã mang
lại hiệu quả cao. Tiết học được hình thành một cách nhẹ nhàng, hứng khởi, vừa
huy động được sự tập trung chú ý, kích hoạt năng lực tích cực của học sinh, vừa
đảm bảo đạt mục tiêu của bài học nhờ đó kết quả học tập được nâng cao. Từ đó
hình thành cho học sinh các năng lực tư duy lập luận, vận dụng, tự học, giao tiếp
và các phẩm chất tự tin, tự chủ, yêu thương, nhân ái.
7.4. Nội dung biện pháp:
Trong quá trình dạy học, tôi đã sử dụng các biện pháp sau:
7.4.1. Biện pháp 1: Thực hiện dạy học tích hợp và dạy học phân hóa nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh
+ Mục tiêu:
- Giúp học sinh kết nối kiến thức từ các môn học khác nhau, phát triển tư
duy toàn diện và linh hoạt.
6
- Tạo điều kiện cho học sinh phát triển tối đa khả năng cá nhân thông qua
việc tổ chức dạy học phù hợp với năng lực, sở thích và trình độ của từng học sinh.
- Khuyến khích tính chủ động, sáng tạo và tình yêu học tập từ phía học sinh.
+ Các bước tiến hành:
- Đánh giá năng lực và sở thích của học sinh: Giáo viên cần phân tích để
xác định năng lực, sở thích và nhu cầu học tập của học sinh.
- Lựa chọn và thiết kế nội dung học: Dựa trên đánh giá năng lực và sở thích,
giáo viên sẽ lựa chọn và thiết kế nội dung giảng dạy tích hợp từ nhiều môn học.
- Phân hóa đối tượng: Dựa vào năng lực và sở thích của học sinh, giáo viên
sẽ chia thành các nhóm học sinh với nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp.
- Thực hiện dạy học: Giáo viên tiến hành giảng dạy theo bài học đã thiết
kế, đồng thời tạo điều kiện để học sinh thực hành, thảo luận và trải nghiệm.
- Đánh giá và điều chỉnh: Sau mỗi bài học, giáo viên cần đánh giá kết quả
học tập và tiến trình của học sinh để điều chỉnh phương pháp và nội dung giảng
dạy cho phù hợp.
+ Ví dụ:
- Chủ đề: “Quê hương trong tôi” trong môn Tiếng Việt lớp 4.
- Mục tiêu: Phát triển kỹ năng nghe- nói thông qua việc kể về cảnh đẹp quê
hương, đồng thời kết hợp kiến thức từ môn Địa lí về đặc điểm vùng miền.
- Nội dung: Học sinh được chia thành các nhóm. Mỗi nhóm sẽ chọn một
địa danh và tìm hiểu về nó. Sau đó, mỗi nhóm sẽ thuyết trình về địa danh đó trước
lớp, kết hợp với việc trình bày bằng tranh, ảnh và video.
- Kết quả: Học sinh không chỉ phát triển kỹ năng nghe - nói mà còn mở
rộng kiến thức về địa lý, lịch sử và văn hóa của các địa danh trong nước.
a. Dạy học tích hợp
+ Mục tiêu:
- Khuyến khích sự liên kết giữa các môn học, giúp học sinh kết nối thông
tin và kiến thức từ các nguồn khác nhau, tạo nên một cấu trúc kiến thức toàn diện.
- Tăng cường sự hứng thú, tạo động lực học tập cho học sinh thông qua việc
khám phá và trải nghiệm.
7
- Phát triển kỹ năng nghe-nói của học sinh trong một môi trường học tập đa
chiều, thực tế.
+ Các bước tiến hành:
- Xác định chủ đề chung: Giáo viên lựa chọn một chủ đề mà có thể kết nối
giữa các môn học.
- Lập kế hoạch và thiết kế bài giảng: Dựa vào chủ đề đã chọn, giáo viên lên
kế hoạch bài giảng sao cho có sự tích hợp giữa nhiều môn.
- Chuẩn bị tài nguyên và vật liệu: Giáo viên tìm kiếm và chuẩn bị các tài
liệu, công cụ, đồ dùng liên quan đến chủ đề.
- Thực hiện giảng dạy: Dạy học theo kế hoạch đã lên, khuyến khích học
sinh thảo luận, trải nghiệm và tự mình khám phá.
- Đánh giá và phản hồi: Giáo viên đánh giá quá trình và kết quả học tập của
học sinh, đồng thời cung cấp phản hồi để học sinh biết cách cải thiện.
+ Ví dụ:
- Chủ đề: "Mùa thu và những bài thơ về mùa thu".
- Nội dung: Học sinh sẽ được khám phá về mùa thu thông qua các bài thơ
về mùa thu trong môn Tiếng Việt. Họ cũng sẽ học về các đặc điểm của mùa thu
trong môn Khoa học và Lịch sử văn hóa.
- Tiến trình: Giáo viên giới thiệu và đọc một số bài thơ về mùa thu. Học
sinh sau đó sẽ thảo luận về cảm xúc, hình ảnh mà bài thơ mang lại và so sánh với
kiến thức các em đã học ở môn Khoa học về mùa thu. Cuối cùng, học sinh sẽ tự
sáng tác bài thơ hoặc viết bài văn ngắn về mùa thu dựa trên những gì các em đã
học và trải nghiệm.
b. Dạy học phân hóa
+ Mục tiêu:
- Tạo ra môi trường học tập phù hợp với trình độ, năng lực và nhu cầu riêng
biệt của mỗi học sinh.
- Giúp mỗi học sinh phát triển tối đa tiềm năng của mình.
- Khuyến khích sự tham gia tích cực và chủ động của học sinh trong quá
trình học tập.
8
+ Các bước tiến hành:
- Đánh giá trình độ và nhu cầu của học sinh: Trước tiên, giáo viên cần biết
rõ về năng lực, kiến thức và nhu cầu của mỗi học sinh.
- Chia nhóm học sinh: Dựa vào kết quả đánh giá, giáo viên chia học sinh
thành các nhóm dựa trên trình độ và nhu cầu học tập.
- Thiết kế bài giảng phù hợp cho mỗi nhóm: Bài giảng được thiết kế sao
cho phù hợp với trình độ và nhu cầu của mỗi nhóm học sinh.
- Thực hiện giảng dạy: Giáo viên sẽ giảng dạy theo nội dung đã chuẩn bị
cho từng nhóm, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh thảo luận, trao đổi và tự học.
- Đánh giá và điều chỉnh: Sau khi giảng dạy, giáo viên cần đánh giá hiệu
suất học tập của mỗi nhóm và điều chỉnh bài giảng hoặc phương pháp giảng dạy
nếu cần.
+ Ví dụ:
- Giáo viên đã đánh giá và chia lớp học thành 3 nhóm: Nhóm nâng cao,
nhóm trung bình và nhóm cần củng cố kiến thức.
- Nhóm nâng cao: Giáo viên sẽ giới thiệu các bài thơ phức tạp hơn, khuyến
khích học sinh phân tích sâu về nghĩa và ngữ cảm trong bài thơ, và tự sáng tác bài
thơ.
- Nhóm trung bình: Giáo viên sẽ giới thiệu các bài thơ có độ khó vừa phải
và khuyến khích học sinh trao đổi, thảo luận về nghĩa và cảm xúc khi đọc thơ.
- Nhóm cần củng cố kiến thức: Giáo viên sẽ tập trung vào việc giảng giải,
giúp học sinh hiểu rõ nghĩa và cấu trúc của bài thơ, cung cấp các hoạt động trò
chơi giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và yêu thích môn học.
7.4.2. Biện pháp 2: Lựa chọn, vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật
dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và phù hợp nội dung bài
+ Mục tiêu:
- Giúp học sinh nắm vững kiến thức và kĩ năng thông qua việc tương tác
tích cực trong quá trình học.
- Tạo ra môi trường học tập thân thiện, động viên và khích lệ học sinh tham
gia vào các hoạt động dạy và học.
9
- Đảm bảo hiệu quả dạy học, giúp học sinh phát triển toàn diện cả về kiến
thức lẫn kỹ năng.
+ Các bước tiến hành:
- Đánh giá và xác định nội dung bài học: Giáo viên cần rõ ràng về mục tiêu
và nội dung của bài học.
- Tìm hiểu và lựa chọn phương pháp dạy học: Dựa vào nội dung bài học và
đặc điểm lứa tuổi học sinh, giáo viên lựa chọn phương pháp phù hợp.
- Thiết kế bài giảng kết hợp với các hoạt động, trò chơi giáo dục: Giáo viên
có thể thiết kế bài giảng kết hợp với các hoạt động nhóm, trò chơi giáo dục để
tăng tính thú vị và sự tham gia của học sinh.
- Thực hiện giảng dạy và tổ chức hoạt động: Trong quá trình giảng dạy,
giáo viên cần linh hoạt trong việc vận dụng các kĩ thuật và phương pháp để đáp
ứng nhu cầu và trình độ của học sinh.
- Đánh giá và phản hồi: Sau mỗi tiết học, giáo viên cần thu thập phản hồi
từ học sinh, đánh giá hiệu suất học tập và điều chỉnh phương pháp dạy học nếu
cần.
+ Ví dụ:
- Trong bài học về "Điều kì diệu", giáo viên có thể tổ chức trò chơi "Ai
nhanh hơn" để đoán tên bạn bè qua giọng nói và tạo những kiến thức cơ sở ban
đầu để vào bài học mới. Trò chơi này yêu cầu học sinh chia thành các nhóm, mỗi
nhóm sẽ lần lượt đoán tên 1 bạn của nhóm khác qua giọng nói.
- Nhóm nào trả lời đúng và nhanh nhất sẽ giành chiến thắng. Qua trò chơi
này, học sinh có cơ hội tăng cường tư duy nhanh và kỹ năng làm việc nhóm, học
sinh hứng khởi bước vào bài học mới.
10
7.4.3. Biện pháp 3: Khai thác, sử dụng hiệu quả đồ dùng, các thiết bị, công cụ
hỗ trợ dạy học
+ Mục tiêu:
- Tăng cường sự sinh động, trực quan trong bài giảng giúp học sinh dễ dàng
nắm bắt và ghi nhớ kiến thức.
- Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể tương tác, trải nghiệm và thực
hành trong quá trình học.
- Nâng cao chất lượng bài giảng, giúp học sinh phát triển kỹ năng nghe và
nói một cách hiệu quả.
+ Các bước tiến hành:
- Đánh giá và lựa chọn: Giáo viên cần xác định rõ nhu cầu của bài học và
lựa chọn thiết bị, công cụ phù hợp.
- Chuẩn bị và sắp xếp: Trước tiết học, giáo viên cần chuẩn bị kỹ lưỡng, test
thử để đảm bảo các thiết bị hoạt động tốt.
- Tích hợp vào bài giảng: Trong quá trình dạy, giáo viên nên tích hợp linh
hoạt việc sử dụng thiết bị vào bài giảng, điều này giúp bài học trở nên phong phú
và sinh động hơn.
- Hướng dẫn học sinh sử dụng: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách sử
dụng các thiết bị một cách an toàn và hiệu quả.
- Đánh giá và điều chỉnh: Sau tiết học, giáo viên cần đánh giá hiệu suất của
11
việc sử dụng thiết bị và điều chỉnh cho các bài học sau.
+ Ví dụ: Trong bài học về "Nhà phát minh và bà cụ", giáo viên có thể sử
dụng máy chiếu để trình chiếu hình ảnh minh họa các nhân vật, cảnh quan trong
truyện. Đồng thời, giáo viên có thể kết hợp việc sử dụng băng ghi âm để đọc
truyện, giúp học sinh hình dung rõ hơn về nội dung và phong cách kể chuyện.
Điều này không chỉ giúp bài học trở nên sinh động hơn mà còn giúp học sinh phát
triển kỹ năng nghe hiểu qua giọng đọc của người kể chuyện.
Giáo viên sử dụng trình chiếu để chiếu các hình ảnh, sự việc nêu trong
câu chuyện “Nhà phát minh và bà cụ”
12
7.4.4. Biện pháp 4: Thực hiện lồng ghép “Học thông qua Chơi” vào các hoạt
động học tập trong dạy học tiết “Nói và nghe”
+ Mục tiêu:
- Mục tiêu của giải pháp này là tạo ra môi trường học tập thú vị và tăng
cường kỹ năng nghe - nói của học sinh trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình
GDPT 2018 bằng cách sử dụng một số trò chơi.
- Giúp học sinh trở nên độc lập, tự chủ, tích cực tương tác xã hội, sáng tạo,
thích ứng tốt với mọi hoàn cảnh và có khả năng giải quyết vấn đề tốt.
- Giúp học sinh hình thành nhận thức, kỹ năng tìm hiểu kiến thức và tư duy
sáng tạo.
- Giúp HS khám phá và tìm hiểu về kiến thức đồng thời giúp phát triển khả
năng tự điều chỉnh và tự chủ của các em.
- Giúp học sinh biết cách chia sẻ ý tưởng, thể hiện bản thân, thương lượng
và thỏa hiệp khi chơi với bạn, ứng xử hợp lý với nhóm bạn chơi cùng.
+ Các bước tiến hành:
- Lựa chọn trò chơi phù hợp: Chọn một số trò chơi mà học sinh có thể tham
gia để rèn luyện kỹ năng nghe - nói và phù hợp với nội dung học tập. Trò chơi
nên thú vị, phù hợp với độ tuổi và trình độ của học sinh.
- Giới thiệu trò chơi: Trước khi bắt đầu, giáo viên cần giới thiệu trò chơi và
cung cấp hướng dẫn cho học sinh về cách tham gia và mục tiêu của trò chơi.
- Tạo nhóm hoặc cặp: Phân chia học sinh thành các nhóm hoặc cặp để tham
gia vào trò chơi. Việc làm việc theo nhóm sẽ tạo cơ hội cho họ tương tác và thực
hành kỹ năng nghe-nói cùng nhau.
- Thực hiện trò chơi: Chơi trò chơi và đảm bảo rằng mọi học sinh tham gia
tích cực. Giáo viên nên theo dõi tiến trình và cung cấp hỗ trợ khi cần thiết.
- Phản hồi và thảo luận: Sau khi hoàn thành trò chơi, tổ chức một phiên
thảo luận về kết quả, cách thực hiện và những điểm học sinh có thể cải thiện. Hãy
khuyến khích học sinh chia sẻ ý kiến và trải nghiệm của họ.
Ví dụ 1:
+ Trò chơi: Nghe đọc đoạn, đoán tên bài.
13
+ Mục đích: Rèn kỹ năng đọc đúng rõ ràng một đoạn văn trong bài đã học
luyện kỹ năng đọc hiểu ở nghe hiểu và nhớ tên các bài tập đọc đã học.
+ Đồ dùng: Sách giáo khoa Tiếng Việt 4.
+ Cách chơi: Hai nhóm tham gia chơi ngồi đối diện nhau, cử trưởng nhóm
điều hành chung cả nhóm bốc thăm để chọn nhóm đọc trước. Nhóm bốc được
chọn đọc trước, được mở sách giáo khoa để chọn đoạn đọc trong một số bài tập
đọc đã nêu ra. Nhóm còn lại nghe để đoán tên bài tập đọc đã học sau khi đoán
xong thì nhóm 2 lại thực hiện đọc đoạn văn đã chọn và nhóm 1 lại đoán tên bài
tập đọc đã học. Mỗi nhóm được thực hiện ba lần đoán tên bài và đọc. Hai nhóm
tham gia chơi đều được tính điểm để so sánh khi trò chơi kết thúc giáo viên sẽ
chọn nhóm nào được nhiều điểm hơn nhóm đó sẽ thắng cuộc.
* Lưu ý: Khi đoán tên bài cả hai nhóm đều không được mở sách giáo khoa,
nhóm 2 có thể lấy nội dung của bài tập đọc mà nhóm 1 đọc nhưng cần chọn đoạn
văn khác trong bài đoạn văn. Đoạn văn nên ngắn gọn không quá dài.
Trò chơi này có thể áp dụng cho các giờ ôn tập giữa học kì 1, cuối học kì
1, giữa học kì 2 và cuối học kì 2 của môn Tiếng Việt lớp 4.
Ví dụ 2:
+ Trò chơi: Nghe và vẽ.
+ Mục đích: Rèn kỹ năng nghe – hiểu và miêu tả được bức tranh mình đã
vẽ có liên quan gì đến nội dung bài mình đã được học.
14
+ Đồ dùng: Giấy vẽ, bút chì và màu.
+ Cách chơi: Giáo viên đọc một đoạn văn hoặc miêu tả một bức tranh, học
sinh lắng nghe và vẽ lại theo những gì mình nghe được.
Bước 1: Giáo viên đọc đoạn văn miêu tả.
Bước 2: Học sinh lắng nghe và vẽ lại.
Bước 3: Học sinh chia sẻ và so sánh các bước vẽ.
7.4.5. Biện pháp 5: Tổ chức các hoạt động nhóm để khuyến khích học sinh làm
việc cùng nhau, thảo luận và tương tác bằng Tiếng Việt
+ Mục tiêu: Khuyến khích học sinh lớp 4 làm việc cùng nhau, thảo luận và
tương tác bằng Tiếng Việt thông qua các hoạt động nhóm. Mục tiêu chính là cải
thiện kỹ năng nghe - nói của học sinh, mở rộng từ vựng, và phát triển khả năng
hợp tác và giao tiếp.
+ Các bước tiến hành:
- Lập kế hoạch hoạt động nhóm: Giáo viên xác định mục tiêu cụ thể của
hoạt động nhóm, ví dụ: Xây dựng một câu chuyện, giải quyết một vấn đề hoặc
thảo luận về một đề tài Tiếng Việt. Chia lớp thành các nhóm nhỏ, đảm bảo sự đa
dạng trong cách học và kỹ năng ngôn ngữ của học sinh trong từng nhóm.
- Chọn hoạt động nhóm phù hợp: Chọn hoạt động nhóm phù hợp với mục
tiêu học tập.
- Hướng dẫn cho học sinh: Giáo viên cung cấp hướng dẫn rõ ràng về nhiệm
15
vụ và mục tiêu của hoạt động nhóm. Hướng dẫn về cách tham gia tích cực trong
nhóm, lắng nghe ý kiến của người khác và đóng góp ý kiến của mình. Phân công
nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhóm.
- Thực hiện hoạt động nhóm: Học sinh trong từng nhóm bắt đầu thực hiện
hoạt động theo hướng dẫn của giáo viên. Họ phải làm việc cùng nhau để đạt được
mục tiêu đã đề ra. Học sinh sử dụng Tiếng Việt để trao đổi ý kiến, thảo luận, và
làm việc với nhau.
- Theo dõi và đánh giá: Giáo viên quan sát tiến trình của các nhóm, cung
cấp phản hồi và hỗ trợ khi cần thiết. Sau hoạt động nhóm, tổ chức một buổi thảo
luận tổng hợp để đánh giá kết quả của hoạt động và kỹ năng ngôn ngữ của học
sinh.
+ Ví dụ 1: Trong tiết Luyện từ và câu “Trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn”Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 tập 2 (trang 57).
- Mục tiêu: Giúp học sinh phát triển kĩ năng lắng nghe, giao tiếp, hợp tác
với bạn thông qua hoạt động nhóm đôi.
- Các bước tiến hành:
+ Lập kế hoạch hoạt động nhóm: Giáo viên xác định yêu cầu của đề, cho
học sinh hoạt động nhóm.
+ Chọn hoạt động nhóm phù hợp: Cho học sinh hoạt động nhóm đôi.
+ Hướng dẫn cho học sinh: Yêu cầu học sinh hoạt động nhóm đôi, thảo luận
tìm các trạng ngữ của câu và cho biết chúng bổ sung thông tin gì bằng cách làm
vào phiếu bài tập.
+ Thực hiện hoạt động nhóm: Học sinh thảo luận và viết vào phiếu bài tập.
+ Theo dõi và đánh giá: Giáo viên quan sát tiến trình của các nhóm, giúp
đỡ các nhóm. Sau đó cho học sinh chữa bài, nhận xét và đánh giá.
+ Ví dụ 2: Trong tiết Luyện từ và câu “Động từ”- Sách giáo khoa Tiếng
Việt 4 tập 1 (trang 41).
GV tiến hàng các bước tương tự như trên, kết quả thu được là những bài vẽ
sơ đồ tư duy tổng hợp kiến thức về động từ, giúp học sinh rèn khả năng ghi nhớ
kiến thức và truyền đạt thông tin một cách dễ dàng và có hệ thống hơn.
16
Đại diện các nhóm lên trình bày sơ đồ tư duy về động từ
7.4.6. Biện pháp 6: Phối kết hợp giữa nhà trường và gia đình
+ Mục tiêu: Cùng nhà trường và gia đình tạo ra một môi trường học tập tích
cực và hỗ trợ học sinh lớp 4 trong việc nâng cao khả năng tổ chức dạy học thông
qua trò chơi để rèn luyện kỹ năng nghe-nói trong môn Tiếng Việt.
+ Các bước tiến hành:
- Họp thông tin và giới thiệu chương trình: Tổ chức buổi họp thông tin đầu
năm học để giới thiệu chương trình học và mục tiêu của năm học liên quan đến
việc sử dụng trò chơi để rèn luyện kỹ năng nghe - nói. Giới thiệu cho phụ huynh
các trò chơi mà học sinh sẽ tham gia và lý do tại sao chúng có ý nghĩa trong việc
học Tiếng Việt.
- Hướng dẫn và cung cấp tài liệu cho gia đình: Tạo tài liệu hướng dẫn cho
phụ huynh về cách sử dụng trò chơi ngôn ngữ để rèn luyện kỹ năng nghe-nói tại
nhà. Cung cấp cho họ danh sách trò chơi, ví dụ cụ thể, và tài liệu học tập mà họ
có thể sử dụng cùng con cái.
- Tạo sự hòa nhập thông qua hoạt động cộng đồng: Tổ chức các sự kiện và
hoạt động cộng đồng liên quan đến việc học thông qua chơi. Ví dụ, có thể tổ chức
buổi triển lãm trò chơi ngôn ngữ hoặc buổi họp trò chuyện giữa giáo viên và phụ
huynh để chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức.
17
+ Ví dụ:
Trường tổ chức buổi họp thông tin đầu năm và giới thiệu chương trình học
Tiếng Việt lớp 4 với sự hợp tác của gia đình. Giáo viên giới thiệu các trò chơi như
“Lật hình từ vựng” và “Tạo câu chuyện” và giải thích cách chúng giúp cải thiện
kỹ năng ngôn ngữ của học sinh. Sau đó, trường cung cấp cho phụ huynh một bộ
tài liệu hướng dẫn về cách sử dụng các trò chơi này tại nhà và tạo một môi trường
học tập tích cực.
8. Những thông tin cần được bảo mật: Không có thông tin cần bảo mật.
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
9.1. Đối với nhà trường
- Tăng cường đầu tư: Nhà trường nên tăng cường đầu tư vào việc mua sắm
đồ dùng, công cụ và thiết bị hỗ trợ dạy học, giúp việc tổ chức dạy học thông qua
trò chơi trở nên phong phú và thực tế hơn.
- Đào tạo cho giáo viên: Tổ chức các khoá đào tạo về kỹ thuật tổ chức dạy
học thông qua trò chơi, giúp giáo viên có thêm kiến thức và kỹ năng trong việc áp
dụng phương pháp này.
- Tạo điều kiện: Nhà trường cần tạo ra một môi trường học tập linh hoạt,
nơi giáo viên và học sinh có thể tự do sáng tạo và thực hiện các hoạt động học tập
qua trò chơi.
9.2. Đối với tổ chuyên môn
- Nghiên cứu và chia sẻ: Tổ chuyên môn nên tạo ra một cơ chế chia sẻ các
trò chơi giáo dục, kỹ thuật dạy học và các tài liệu liên quan để giáo viên có thể
học hỏi và áp dụng.
- Hợp tác: Khuyến khích sự hợp tác giữa các giáo viên trong tổ chuyên môn,
giúp họ có cơ hội trao đổi kinh nghiệm và học hỏi từ nhau.
- Đánh giá và phản hồi: Tổ chuyên môn nên thường xuyên tổ chức các buổi
đánh giá và phản hồi cho giáo viên, giúp họ nhận biết và hoàn thiện hơn trong
việc dạy học.
9.3. Đối với giáo viên
18
- Tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ: Giáo viên cần tự trang bị kiến
thức và kỹ năng về việc tổ chức dạy học thông qua trò chơi.
- Sáng tạo: Khuyến khích giáo viên sáng tạo trong việc thiết kế và áp dụng
các trò chơi vào bài giảng của mình, giúp bài học trở nên sinh động và thú vị hơn.
- Tương tác với học sinh: Giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập mở
lòng, nơi học sinh có thể tự do thể hiện ý kiến, đặt câu hỏi và tham gia vào trò
chơi một cách tích cực.
Dưới đây là một số tài liệu tham khảo phổ biến và có thể được sử dụng khi
nghiên cứu về việc "Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua chơi để rèn
luyện kĩ năng nghe-nói trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018":
10. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng biện pháp.
10. 1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng biện pháp theo ý kiến của tác giả
Tôi đã thực hiện các biện pháp trên trong các giờ dạy cho học sinh lớp 4
tại trường Tiểu học Tam Quan I qua năm học 2023 - 2024 và đã thu được những
kết quả nhất định. Đến cuối năm học, tôi thấy các em có tiến bộ rõ rệt. Đó là
động lực giúp tôi và các GV trong trường nỗ lực hết mình trong công tác giảng
dạy của nhà trường.
Việc "Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua chơi để rèn luyện kỹ
năng nghe - nói trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018 tại lớp 4A,
trường Tiểu học Tam Quan I" mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng. Đầu tiên, nó tạo
ra một môi trường học tập tích cực, nơi học sinh được hòa mình vào trải nghiệm
học tập thú vị và thoải mái, thúc đẩy động lực và hứng thú trong việc học. Khi
học sinh tham gia vào các trò chơi thực tế, họ không chỉ học, mà còn phải nghe,
tương tác và phản hồi, giúp họ phát triển kỹ năng nghe hiểu và phản xạ nói một
cách tự nhiên và thực tiễn. Hơn nữa, trò chơi khuyến khích học sinh phải tư duy
sáng tạo, quan sát và đưa ra quyết định một cách chủ động. Điều này không chỉ
nâng cao kỹ năng tư duy của họ mà còn tăng cường tính chủ động trong học tập.
Quan trọng hơn, môi trường học tập đầy tính nhân văn được tạo ra khi giáo viên
và học sinh cùng tham gia, làm cho mối quan hệ giữa họ trở nên gần gũi hơn. Với
19
sự kết hợp giữa học và chơi, giáo viên có cơ hội truyền đạt kiến thức một cách
sinh động và hiệu quả, giúp học sinh tiếp thu nhanh chóng và lưu giữ lâu dài.
Đồng thời, việc áp dụng kỹ năng nghe - nói vào thực tế thông qua trò chơi giúp
học sinh cải thiện khả năng giao tiếp và sự hiểu biết về văn hóa tiếng Việt.
Chuyên đề “Nâng cao năng lực tổ chức dạy học thông qua chơi để rèn
luyện kĩ năng nghe - nói trong môn Tiếng Việt lớp 4 chương trình GDPT 2018
tại lớp 4A, trường Tiểu học Tam Quan I” đã minh chứng sự kết hợp hài hòa giữa
việc học và chơi, đem lại lợi ích đáng kể cho quá trình giảng dạy. Học sinh trở
nên chủ động, tư duy sáng tạo và tăng cường tương tác xã hội. Các giáo viên cũng
sáng tạo hơn, biết cách vận dụng linh hoạt các công cụ, thiết bị trong bài giảng,
làm cho tiết học sinh động và thu hút. Đồng thời, môi trường học tập thoải mái,
vui vẻ đã giúp học sinh giảm áp lực và tăng động lực học tập. Sự hợp tác chặt chẽ
giữa nhà trường, giáo viên và học sinh cũng là điểm nổi bật, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc áp dụng sáng kiến. Tuy nhiên, việc triển khai sáng kiến cần vượt qua
một số thách thức, như việc tối ưu việc sử dụng công cụ hỗ trợ hay đào tạo giáo
viên. Chuyên đề này mở ra hướng dạy mới mẻ, hứa hẹn mang đến nhiều lợi ích
cho giáo dục phổ thông.
Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 4, tôi thường xuyên thực
hiện tốt các giải pháp trên; ngoài ra tôi cùng đồng nghiệp thường dự giờ rút kinh
nghiệm, thống nhất cách dạy và giáo dục HS. Tôi nhận thấy hứng thú học tập
môn Tiếng Việt của học sinh có sự thay đổi hết sức khả quan như sau:
BẢNG SO SÁNH HỨNG THÚ HỌC TIẾNG VIỆT
Thời điểm khảo sát: Tháng 5/2024
Rất thích
Thời điểm khảo sát
Thích
Bình thường Không thích
TSHS
TS
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
TS
Tỷ lệ
Đầu năm
35
3
8,57
6
17,14
11
31,43
15
42,86
Cuối năm
35
10
28,57
18
51,23
7
25,7
0
0
20
Nhìn vào bảng tổng hợp, tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh có hứng thú với việc
học Tiếng Việt đạt chiếm 80%. Đây là tín hiệu đáng mừng cho việc áp dụng biện
pháp cho năm học 2023 - 2024.
10.2. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
Sau khi giới thiệu biện pháp với tổ chuyên môn và đồng nghiệp khác, phần
đông các thầy cô trong hội đồng sư phạm cũng có nhận định như bản thân tôi.
Học sinh không còn lo lắng, sợ sệt mỗi khi học môn Tiếng Việt. Các
em tích cực đón nhận giờ học. Học sinh biết lắng nghe, chia sẻ, kĩ năng nói
và nghe của các em tiến bộ rõ rệt. Học sinh hứng thú với giờ học và hăng say
phát biểu bài.
Trên đây là một số biện pháp của bản thân tôi trong việc giúp học sinh học lớp
4 học tốt hoàn thiện kĩ n...
 








Các ý kiến mới nhất