ĐIỆN BIÊN PHỦ QUA NHỮNG TRANG HỒI ỨC - TẬP 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:58' 30-12-2024
Dung lượng: 65.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:58' 30-12-2024
Dung lượng: 65.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
L I ^ I^ V
M
^ k ỉ ù v H l K ^íỉ-.ì:MM
*2 n h à xuất bần q u â n đội n h â n dân
NHÀ XUẤT BẢN MONG BẠN ĐỌC
GÓP Ý KIẾN, PHÊ BÌNH
V-V24
828 - 2003
QĐND - 2004
ĐIỆN BIÊN PB J
QUANHŨNG TDANG Hồ l ủc
TẬP II
1 RƯỜNG ĐA: HUC VINH
T-!ÒNGTiN-THƯV!ỆN
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Hà Nội - 2004
Chỉ đạo nội dung:
Thiếu tướng NGUYỂN
q uang thống
Đại tá LÊ PHÚC NGUYÊN
Sưu tầm biên soạn:
Đại tá, nhà văn NGUYẺN HổNG HÀ
Trung tá (CN) DUƠNG THỤC HUƠNG
Trung tá (CN) TẢNG BÁ QUYỆN
Thiếu tá (CN) NGUYỄN THU HẲn G
GẶP LẠI NGƯỜI
“ĐÁN H” QUẢ BỘC PHÁ NGÀN CÂN*
QUÁCH ĐẠI HẢI
Qua nhiều lần trực tiêp khảo sát địa hình, chúng tôi
quyết định mở cửa hầm phía sau đồi Al. Công việc thật
^ an khổ. Đất rắn như đá, nhát cuốc chim bổ xuống tóe
lửa. Bọn địch nghe tiếng động lập tức quẳng hàng
chùm lựu đạn xuông. Một tổ chiến đấu được lập ra ỏ
ngay cửa mở để bảo vệ cho công binh làm việc. Tôi bảo
anh em căng ni-lông trên miệng cửa hâm dôc như mai
nhà, lựu đạn địch ném xuống đều bị văng xuông nổ ở
chân đồi. Cửa hầm đã vào sâu, đất đá chuyển ra như
thế nào? Tôi huy động toàn bộ “ruột tượng” đựng gạo
vào v iệ c chứa đất và lần lượt đổ rải ở chân đồi để giữ bí
mật. Đường hầm càng vào sâu càng thiếu không khí.
Chiến sĩ ta thay nhau vào từng tổ, nhưng cũng chỉ được
dăm ba phút lại phải trườn ra để thở. Khó khăn vẫn
chưa hết. Hầm vào càng sâu càng khó định hướng cho
thẳng. Anh em từng người một cầm quạt nan cách
nhau một mét quạt không khí vào hầm và dùng những
* Báo Quán đội nhân dân, thứ 7 số 197, ngày 9-4-1994.
nén hương cắm thẳng hàng để định hướng. Hàng chục
ngày đêm, cứ như vậy, cái thuốn của tử thần ngày càng
lách sâu vào tim căn cứ Al . Bọn địch nghe tiếng thình
thịch từ lòng đất vọng lên, biết Việt Minh đào hầm
ngầm, chúng vô cùng hoảng hốt, liên tục mở hàng loạt
những đợt phản kích có cả xe tăng yểm hộ hòng nôhg ra
lấp cửa hầm. Chiên sĩ ta được trang bị thêm vũ khí đều
bẻ gãy hêt lượt những cuộc tấn công của giặc, kiên
quyết bảo vệ đường hầm.
Công việc gần xong, tôi nhận mật lệnh: Phải thiết
kê quả bộc phá không dưới một ngàn cân để lèn vào
hầm. Một khôi lượng thuốc nổ lớn như vậy kiếm đâu ra
bây giò? Một lần nữa trí tuệ tập thể lại thắng. Không
quản quy hiểm vất vả, các chiến sĩ công binh đi tìm
thuốc nổ, đến những nơi có máy bay địch bị cao xạ ta
bắn rơi cưa bom chưa nổ để lấy thuốc. Đúng hẹn, lượng
nổ đã đủ ngàn cân. Tôi bố trí tới ba bộ điểm hỏa vừa
điện vừa dây cháy chậm để đề phong bất trắc. Tôi tự
đặt cho mình nhiệm vụ, nếu cần sẽ làm luôn nụ xòe cho
khối nổ. Trời Điện Biên mưa tầm tã, ẩm ướt. cửa hầm
và con đường hào bùn non nhão nhoẹt. Các chiến sĩ đã
cởi áo đê che mưa cho những gói bộc phá. Đúng ngày
giò quy định, hàng trăm gói thuốc nổ đã lèn chặt vào
cuôi hầm hết thành một khối địa lôi lớn chưa từng có.
Dây và kíp đã sẵn sàng. Chiều ngày 6 tháng 5 năm
1954 bộ đội ta ở các chôt được lệnh bí m ật rút về vị trí
an toàn.
Tô. và đồng đội vô cùng xúc động, hồi hộp lo lắng
cầm chắc chô"t quay chò lệnh. Đúng giò G, tôi điểm hỏa.
Một quầng lửa chói lòe, kèm theo một tiếng nổ rung
chuyển cà lòng chảo Điện Biên Phủ. Đất đồi Al tung
lên như vôi bột. Cột khói và bụi như cái nấm khổng lồ
bọc k:n lấy quả đồi. Khu trung tâm đồi Al phút chốc
phơi ra trần trụi, không còn sức đê kháng. Tướng
Đò Cat phải đầu hàng sau tiếng nổ của quả bộc phá
điểm huyệt đúng 1 ngày (7-5-1954). 40 năm đã qua, cái
hô" bộ: phá ấy vẫn còn sâu dây cỏ mọc xanh rì.
GẶP MỘT CHIẾN S ĩ ĐIỆ N BIÊ N
ĐƯỢC BÁC HỒ THƯỞNG ÌlUY HIẸ U'
HÀ ĐÔNG
Đó là đại tá Bạch Ngọc Giáp, hiện đang công tác ở
Bộ Tư lệnh pháo binh.
Đại tá, nguyên là trun g đội trưởng C ll9 - một đại
đội có nhiê u điểu đặc biệt. Là đơn vỊ pháo binh xe kéo
đầu tiên của quân đội, xuất hiện lần đầu tron g chiến
dich Hoa Binh năm 1952. Lại cũng là đơn vị có vinh dự
được bắn phát pháo đầu tiên tại Him Lam mở màn
chiến dịch Điện Biên Phủ. Trên lá chắn của khẩu pháo
105 ly ấy có dòng chữ quyết tâm của chiến sĩ ta: “Đã
thăn g Hòa Bình, nhất định thắn g Trần Đình ” (tên gọi
của chiến dịch Điện Biên Phủ).
Đại đội có truyề n thốn g “đán h giỏi bắn trún g”. Rất
là
thiêu khí tài bảo đảm , trận đầu vẫn bắn trúng . Rơi
đơn VỊ đâu tiên ứng dụng đài quan s á t phía trưốc ớng
vị
dụng kiêu băn chuy ên di mục tiêu, hoặc cũng là đơifi
đâu tiên thực hiện bắn chi viện hai mục tiêu cùng itnột
luc. Khi chiên dịch kết thúc thắn g lợi, bộ đội pháo b"iưh
* Báo Quăn đội nhăn dân, thứ 7 sô' 199, ra ngày 23-4-1994
đưỢc thương cò “Quyết chiến quyết thắng” thì đại đội
này đã được trao giữ.
Đại tá Bạch Ngọc Giáp ở cương vị trung đội trưởng
đến hết chiến dịch. Sau ngày chiến thắng, một vinh dự
đến với Bạch Ngọc Giáp; được đại diện cho bộ đội pháo
binh đi trong đoàn chiến sĩ Điện Biên về ATK chúc thọ
Bác Hồ nhân dịp Người 64 tuổi. Đoàn do đồng chí
Hoàng Cầm, trung đoàn trưởng trung đoàn 209 (Đại
đoàn 312) làm đoàn trưởng. Đại tá hồi tưởng:
- Chung tôi rất vui sướng và cảm động, vì thật bất
ngờ. Trên đường đi, anh em bàn nhau sẽ làm gì, nói gì
khi gặp Bác. Dù bàn kỹ lắm, nhưng khi đứng trước Bác
thì lại chả biết làm gì, nói gì.
vể đến ATK, chúng tôi vào một lán chờ. Anh Văn
(Đại tưóng Võ Nguyên Giáp) ra gặp, ân cần hỏi thăm
sức khỏe, sửa lại quần áo cho chúng tôi, cử chỉ thân
thiết như người anh cả trong gia đình. Chừng 5 phút
sau, Bác ra. Người nhanh nhẹn ôm hôn và bắt tay
chúng tói. Tôi nhớ, Bác gầy nhưng khỏe. Bác khen, bộ
đội ta đanh giỏi ở Điện Biên Phủ, rồi bảo: “Bây giò Bác
cùng các chú đóng kịch nhé”. Thế là chúng tôi đứng sắp
hàng. Bác lần lượt gắn huân chương, huy hiệu Điện
Biên Phủ, huy hiệu Bác Hồ và một ngôi sao đỏ (quà
tặng của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô hồi đó)
cho chúng tôi. (Trong ảnh, Người giơ tay chào là đồng
chí Bạch Ngọc Giáp). Thật khó mà nói lại cảm xúc khi
ây. Chúng tôi như bị mê đi trong niềm vinh dự lớn lao.
Anh Văn cười bảo: “Các chiến sĩ ta ngoài mặt trận thì
dũng cảm thế, nhưng ở đây thì hiền thế. Lành lắm”.
Trưa hôm đó, chúng tôi đưọc dùng cơm cùng VỚI
Bác. Có cả nhà quay phim Xô-viết Các-men và Hoàng
thân Xu-pha-nu-vông dự. Bác cháu trò chuyện vui vẻ.
Có “chi tiết” này, anh Vinh người nhỏ nhất ăn xong
trưốc, đứng dậy. Bác kéo xuông, chỉ vào bát cơm rồi
nhắc; “Chú vét cho hết kẻo phf'. Một lời nhắc tiết kiệm
cụ thể.
Sau đó chúng tôi ở lại ATK khoảng một tuần nữa, đi
nói chuyện chiến đấu cho các cơ quan và đơn vị. Hầu
như hôm nào, anh Thận (đồng chí Trường Chinh) cũng
sang gặp và nói chuyện với chúng tôi. Nhiều lần anh
nhắc “tương lai Hiệp định Giơ-ne-vơ sẽ được ký, nhưng
nhiệm vụ của quân đội vẫn rất nặng nề”.
Mới rồi đại tá Bạch Ngọc Giáp đã cùng các cán bộ cũ
và cán bộ hiện tại của đại đội ngược đường số 6 về lại
trận địa xưa. Bâng khuâng cảnh cũ sau 42 năm, xen
lẫn tự hào. Đại tá đã có buổi tâm sự cùng lớp cán bộ,
chiến sĩ 94 của C119 anh hùng, nói lại quá trình hình
thành nên truyền thống của bộ đội pháo binh và của
riêng đại đội.
10
ĐIỂU BIỂT THÊM
VỂ TRẬN PHÒNG NG ự TRÊN Đ ồ l A l'
Thiêu tướng NGUYỄN ĐÔN T ự
(Nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5)
Sau hai đợt tấn công không thành công của trung
đoàn 174 và trung đoàn 102, tiểu đoàn 255 (gọi tắt là
tiểu đoàn 5) của trung đoàn 174 được lệnh thay thế
trung đoàn 102 và tổ chức phòng ngự một phần ba quả
đồi Al mà quân ta đã chiếm được.
Địch có một tiểu đoàn vẫn giữ được 2/3 quả đồi, địa
thế cao hơn, quân mói được thay thế; bọn chỉ huy có
kinh nghiệm đánh phản kích và dùng hỏa lực pháo cối
đánh chặn đường t.iến của quân ta nhưng cũng khiếp
đảm trước các đợt Xung phong mãnh liệt của bộ đội ta.
Tiểu đoàn 5 đưcợc bổ sung quân số, vũ khí đầy đủ,
80% là tân binh (đ£^ sô là tân binh địch hậu đã quen với
chiến trận), 50% cế^n bộ trung đội, đại đội mới được đề
bạt lên nhưng đều trưởng thành trong chiên đấu. Mỗi
đại đội đều có một chi bộ. Trung đoàn trưởng Nguyễn
Báo Quân đội nhfin dân cuối tuần, ngày 5-5-1996.
11
Hữu An phô biên kinh nghiệm trận đánh đợt đầu, nhấn
mạnh địch sẽ giành giật quyết liệt phần đất đã mất nên
phải đào hầm hào thật tô"t, tổ chức các trận địa liên
hoàn giữa đồi Al, đồi Cháy, đồi F, kết hỢp chặt chẽ giữa
hỏa lực và lực lượng cđ động. Trung đoàn sẽ cung cấp gỗ
làm nắp hầm hào, hỗ trỢ hỏa lực của trung đoàn, đại
đoàn, đảm bảơ^hông tin giữa các trận địa.
Theo kê hoạch của tiểu đoàn, C925 được bố trí trên
đồi A l, C924 trên đồi Cháy có một trung đội cơ động
sẵn sàng tăng cường cho Al, C653 bố trí một trung đội
trên đồi F, còn lại làm lực lượng cơ động cho tiểu đoàn,
C926 trỢ chiên, bô" trí ở đồi Cháy, nhiệm vụ đào công sự
rất nặng nể: Đường giao thông hào nốì giữa các trận
địa, hai đường hào từ suối cạn lên đồi Al, trên mỗi trận
địa phải có hệ thốhg hầm chiến đấu ngang dọc, hầm
hào phải có nắp chịu được pháo 155 ly và cối 120 ly.
Giao thông hào phải đủ rộng để cơ động bộ đội, tiếp tế,
tải thương. Phải có hầm cho các loại vũ khí, hầm cho
thương binh, hầm ở chân đồi để bộ đội luân phiên nghỉ
ngơi. Chỉ huy sồ của tiểu đoàn do công binh đào. Tôi bị
ngỢp trưốc khối lượng đào hầm hào chưa kể đến việc
phải đối phó hàng ngày, hàng giò với hoạt động của
địch. Tôi nghĩ vấn đề quyết định để hoàn thành nhiệm
vụ lúc này là khả năng tổ chức của cán bộ và công tác
động viên cán bộ, chiến sĩ hết lòng vì nhiệm vụ. Thực tê
sau này đã chứng minh trong chiến tranh người cán bộ,
chiên sĩ đưỢc động viên tốt có thể làm nên những điều
12
kỳ diệu, co khi không tưởng tượng là con người có thể
làm dưỢc.
Khi trung đoàn 102 bắt đầu rút, tiểu đoàn chia ngay 2
tiểu đội của C925 vào cắm hai chốt sát địch. Ngay trong
đêm phải dào được hầm chiến đấu, hầm ẩn nấp và hầm
cho trung liên. Lực lượng này được hỏa lực của tiểu
đoàn, trung đoàn sẵn sàng yểm trỢ. Ngay ngày hôm
sau địch dùng pháo cốì yểm trỢ cho một mũi thọc sang
để hòng đay lực lượng của ta ra khỏi Al nhưng ta đã
kịp thòi dùng pháo cối, đại liên bắn chặn rất quyết liệt
buộc địch phải co lại. Việc đào công sự do đó rất khó
khăn và không bảo đảm được an toàn, cán bộ tiểu đội
và chiến sĩ đề xuất ý kiến phải làm con lăn bằng rơm
thì mối tránh được đạn bắn thẳng từ đỉnh đồi.
Việc đào hầm hào trên đồi Al là khó khăn và phức
tạp nhất. Hào giao thông của địch sâu lm70 đã bị pháo
của ta, của địch bắn sập hết, chôn vùi nhiều xác chêt.
Lô cốt nắp bằng thân cây gỗ trên xếp nhiều bao cát
cũng bị sập, trong mỗi lô côt cũng có vài xác chết. Cuộc
tấn công từ đêm 30 tháng 3 đến lúc này đã 5-6 ngày,
thỉnh thoảng lại có trận mưa rào ngắn, nên xác chết
bắt đầu tầốì rữa, ruồi nhặng từng đàn, mùi hôi thối
nồng nặc. Căn cứ vào thực tê địa hình, có đoạn hào
chúng tôi đào mới, có đoạn phải khơi lại hào cũ của
địch, cũng có chỗ phải dùng lại lô cốt cũ. Nghĩa là
không thê tránh được việc mà cán bộ, chiến sĩ ngại
nhất là giắi quyết xác chết. Chúng tôi dồn xác địch vào
mấy ngách hào đất lấp còn nông và đổ đầy đất lên. Đặc
13
biệt còn một sô" tử sĩ của ta còn sót lại (nhận dạng bảng
đôi giày vải hoặc dép cao su), chúng tôi lấy vải dù bọc
lại và chuyển về sau. Không thể tưởng tượng nổi sự
chịu đựng gian khổ của cán bộ, chiến sĩ. Công tác chính
trị đã thành công trong việc động viên tinh thần tự giá(;
vì nhiệm vụ của bộ đội. Lấy một ví dụ: Yêu cầu của tiểu
đoàn là mài xẻng thật sắc để đào công sự được nhanh
được chiến sĩ biến thành khẩu hiệu: “Mài xẻng sắc cạo
râu được”.
Sự phản ứng của địch rất ác liệt: CỐI 120 ly bắn
thường xuyên, pháo Hồng Cúm nhằm vào đỉnh đồi
Cháy, đồi F và đường tiến quân từ phía sau lên. Ngày
nào cũng có thương vong. Chân tay dầm bùn ngâm xác
chết mà không có nước rửa, trước khi ăn thì thật kinh
khủng. Phải dùng vải dù để lau tay, bọc tay để cầm cơm
nắm hoặc dùng đũa, dùng bát. Trung đoàn phải tiếp tê'
nước để mỗi ngày chiến sĩ trên đồi Al được rửa tay
chân mặt mũi một lần, 3 ngày được tắm một lần (thực
ra đưỢc một chậu nước đủ để lau người).
Đồi F thấp hơn đồi Al, trực tiếp bị hỏa lực bắn
thẳng của địch trên đỉnh đồi Al nèn việc đào trận địa ở
đây cũng rất khó khăn, bị thương vong nhiều, ngay khi
trận địa đã được hoàn thành, việc đi lại cũng rất nguy
hiểm, cán bộ, chiến sĩ gọi đồi F là “tử địa”.
Đồi Cháy có trận địa hỏa lực của tiểu đoàn trực tiếp
uy hiếp đỉnh đồi A l, là cái gai trước m ắt địch nên ngoài
pháo chúng còn dùng máy bay ném bom để hủy diệt.
14 •
Một lần ném bom không trúng, bom rơi xuông sườn đồi
trúng hầm chỉ huy của C924 lúc chi ủy đang họp, tất cả
hy sinh. Đây là thiệt hại đau nhất của tiểu đoàn trong
thòi gian phòng ngự.
Hai đường hào song song tiến gần vào các lô côt của
địch. Việc bám sát địch ngày đêm giúp ta đẩy lùi nhiều
lần địch đánh lấn sang ta. Trong chiến đâu phòng ngự
hai bên tiếp cận nhau thì sự sẵn sàng chiến đâu rất cao
mới đảm bảo thắng lợi, vũ khí sử dụng là lựu đạn và
tiểu liên của lực lượng phía trước. Và muôn giữ vững và
cải thiện thế phòng ngự, phải kết hỢp với tấn công. Việc
tổ chức bắn tỉa những tên địch ló đầu ra hoặc di chuyển
ngoài công sự đạt hiệu quả lốn.
Giữa tháng 4, chúng tôi nhận được kê hoạch đánh
hầm ngầm trên đỉnh đồi Al: Công binh sẽ đào bí mật
một đường hầm tới hầm ngầm của địch và dùng một
tấn thuốc nổ để đánh sập hầm đó. Tiểu đoàn 5 có nhiệm
vụ bảo đảm an toàn trong suôb quá trình đào cho đến
khi quả bộc phá ruổ, đồng thòi giúp đỡ công binh làm
nhiệm vụ (chuyển gần 60m^ đất ra phía sau). Ngày 20
tháng 4 năm 1954, khởi công đào, lúc đầu định kích
thưóc có thê đi khom được nhưng thực tế càng vào sâu
càng khó đào nên kích thước càng hẹp lại. Tôi bô" trí
một tiểu đội toàn cựu binh do một trung đội trưởng chỉ
huy đưỢc trang bị đậy đủ tiểu liên và lựu đạn, sẽ chiến
đấu sống chết với địqh không để địch lọt xuông phá cửa
hầm. Để đánh lạc hướng chú ý của địch, chúng tôi nghi
binh ở hướng hào cụt phía bắc, thưòng tập kích bằng
15
hỏa lực các lô côt của địch. Đặc biệt trận tấn công dámh
chiếm hai ụ súng sô" 7 và số 8 của địch đêm 1 th á n ^ 5
năm 1954, tổ ba người đã chiếm được 2 ụ đó thì 2 tị 'hy
sinh, chỉ còn 1 người bị thương nhưng vẫn chiến đìấu
giữ được cho đến khi được tổ thứ hai lên tăng viện,
Trong những ngày căng thẳng trên đồi Al, chính Ltrị
viên tiểu đoàn Đỗ Long đã nắm vững nhiệm vụ và
những chỉ thị của trung đoàn, là khéo léo đưa ra nhữững
khẩu hiệu thiết thực, kịp thòi phát động được tin h thhần
tự giác dũng cảm, không sỢ hy sinh gian khổ cửa ccán
bộ, chiến sĩ. Không thể quên được chính trị ph(ó titiểu
đoàn Trần Quế, thường trực ở phía sau lo cơm nưước,
vận chuyển được áo quần, giày dép, tân binh bổ suung,
thương binh tử sĩ (hàng trăm người nên khá phức tạạp).
Đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi nhưng thườờng
ít được nhắc đến. Tiểu đoàn phó Dương Bắc Bình nmới
được bổ sung nhưng phải lăn ngay vào cuộc chiến đỉlấu,
cùng với đại đội trưởng Lương Văn Tài (sau Nguyyễn
Khắc Huy thay) và đại đội phó Lê Quyên tham gia vvào
mọi hoạt động của đơn vỊ, khi địch tấn công sang cũũng
chiến đấu như các chiến sĩ. ở trên đồi Al, sống chết cchỉ
gang tấc, không thể chỉ tay năm ngón, mà mọi cấp ccán
bộ phải hòa vào cuộc sống và chiến đâ'u của chiến sĩ t thì
mới có thể chỉ huy được. Rồi biết bao người dũng cảảm
khác như y tá Hiểu, chiến sĩ liên lạc Chà, tiểu dđội
trưỏng Si dân tộc Tày đã nhiều lần cứu tôi thoát chíêt,
được để bạt lên trung đội phó nhưng không nhận vì l^m
tiểu đội trưởng vừa với khả năng.
16
Đếr. ngày 5 tháng 5 năm 1954, thì đào xong đường
hầm dai khoảng 50 mét. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết
định lây tiếng nổ của quả bộc phá l.OOOkg vào 20 giò 30
ngàv 6 tháng 5 năm 1954 làm hiệu lệnh tấn công của cả
mặt trận. Bộ phận cuối cùng của tiểu đoàn, tôi phụ
trách bảo vệ cửa hầm rút trước giò “G” 5 phút. Mọi
người chò đợi một tiếng nổ long tròi nhưng thực tê chỉ
có một tiếng “ục” trong lòng đất, đất đá tung lên tròi và
rơi xuống rào rào. Trung tá Pu-giê người chỉ huy cứ
điểm dồi AI viết hồi ký: “Lúc 20 giờ 30 mìn nổ. Trước
tiên rr.ột sự rung chuyển chạy suôt mỏm đồi, đât đá
rung chuyến và một tiêng nổ át các tiếng động khác
tiếng gầm kéo dài vài giây với âm lượng trâm. Đinh đôi
bị vẹt, vị trí của đại đội 2 mất tăm, quân Việt Nam vào
cửa mớ chiếm miệng phễu trên đỉnh bên trên chúng tôi.
Một lúc sau tôi mới hiểu rõ tình th ể '.
Đên 4 giò 30 sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, tiểu
đoàn 1 và tiểu đoàn 9 trung đoàn 174 hoàn toàn làm
chủ đồi Al. Địch thú nhận từ 30 tháng 3 năm 1954 đến
ngày 7 tháng 5 Iiqm 1954 đã mât 4 tiêu đoàn trên đôi
A1.
Đại đoàn 316 đánh giá tiểu đoàn 255 “đã hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ phòng thủ” tiểu đoàn đã góp
phần vào chiến th4ng oanh liệt trên đồi Al, quả đồi mãi
mãi đi vào lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ.
17
KỶ NIỆM MỘT THỜ r
PHƯƠ NG LIÊN
Hơn 40 nam đa troi qua, kê từ chiên tliắn g Điện
Biên Phủ 7-5-1954, nhưn g kỷ niệm về một thòi khói lửa
vẫn hằn sâu trong ký ức nhữn g ai đã từng hiến d.âng
tuổi xuân đẹp đẽ cho độc lập tự do của dân tộc. Tôi t hấy
điều đó trong mắt chị Nguyễn Thị Như - nữ y tá đội
điGu tri 4 thuọc Đại đoàn 304 - khi chị kê cho tói n.ghe
về nhữn g kỷ niệm năm nào.
Hồi ấy, trong chiến dịch Điện Biên Phủ chị Như
phục vụ tại khu Trun g Trọng, do ông Đào Đình Đức
(nay la giao sư, thây thuôc nhân dân, nguy ên Viện
trưởn g Viện lâm sàng nhiệt đới Trun g ương) chỉ huy.
Khi chiên dich nô súng, thương binh từ tuyên tr'ước
chuyển về rất đông, có lúc lên tỏi 130-150 người. Tnong
điêu kiện khó khàn về lán trại, thiếu thôh về thtuốc
men, bông băng ... các bác sĩ, y tá, nhán viên trong toàn
khu đã cùng nhau dốc sức, khắc phục kịp thời để cứu
chữa cho anh em thươ ng bệnh binh. Bệnh binh chủ yếu
bị sôt rét, suy nhưỢc và mắc phải một càn bệnh mới
Báo Quân đội nhăn dân cuối tuần, ra ngàv 10-5-199'8.
18
trong chiôii dịch này: bệnh Hyste rie (cứ một bệnh nhan
hô “xung ohong, tiên lên” là nhiều người khác lại hô
theo, cập giường hoặc vùng chạy, vừa chạy vừa la hét
ầm ĩ làm huyên náo cả khu giữa đêm khuya). Lúc ây,
các ch. phai cố gắng chạy theo giữ lại, khuyên nhủ và
đưa các anh về guíòng. Một ngày làm việc của các chị
bắt đầu tu 6 giò sáng đến 9 giò tối, nhiều đêm còn phải
thức trắng. Các chị phải luân phiên nhau làm mọi công
việc từ phân loại, sao sổ thuôc, lĩnh thuôc, cho thương
binh àn uấng, thay băng đên việc khiêng cáng, làm vệ
sinh cá nhân... nhất là những thươn g binh bi thung
ruột làm 'hậu môn nhân tạo” các chât thai đưa sang
cạnh sườn bôc mùi khó chịu, nhưng với tâm lòng cua
người em gái, của đồng đội, chị Như cùng các bạn luôn
túc trực dể lau chùi, lo giặt giũ băng gạc để kịp thời
dùngc hocác ca sau. Những ngày đêm ấy, trời mưa tâm
tã nhưng không thể ngăn nổi thế tiến công của quân ta
cũng nhu tấm lòng tận tụy của những y, bác sĩ đội điều
trị 4 đôi với anh em thương binh. Chị Như tâm sự:
Trong ch ến dịch, bọn tôi không có thời gian nô đùa. Tất
cả đểu gốp rút, nhanh chóng, kịp thòi. Cũng có lúc ngôi
gạn hỏi nhau chuyện yêu đương nhưng ý nhị lăm,
không lộ liễu. Nhiều khi mong muôn nhất lại là một
bữa ngủ cho ra trò. Những hôm bị ốm sốt rét, “chuyện
phụ nữ” chi mong có một chút thuốc, một chút nước
nhưng pầải đi thật xa mới tìm được vũng “trâu đăm (!)
để lấy nước dùr,g...”. Thiếu thốn, khó khăn là thế
nhưng cliị Như v4n cùng anh em trong đơn vỊ phục vụ
19
ngày đêm, đoàn kết trong tình đồng đội, thưdn g yôu
giup đơ nhau hơn anh em một nhà, cùng chia sẻ cho
nhau tưng cuộn len nho bé, từng tâm chăn chiên mỏng
manh trong những ngày rét mướt... Vì vậy tình cảnỉ
giữa thươn g bệnh binh và các y, bác sĩ gắn bó rất thân
thiết. Nhữn g cuộc chia tay giữa người ra tiền tuyến VH
ngươi ve tuyen sau mà đứng giữa là những nhân viên
đội điều trị 4 không sao giấu nổi nhữn g giọt nước mắt
nghẹn ngào. Bận bịu đến nỗi các chị không có thời gian
chăm sóc hay nghĩ đến chuyện riêng tư của chính
minh . Cung nhieu la thư gưi tình cảm đén vối chi
nhưn g rồi mọi việc cũng qua đi. Duy chỉ có một người
một người con trai mà đến nay vẫn in sâu trong trái
tim chị - đó là hệt sĩ Vĩnh Huyên. Quen nhau từ năm
1948, chị coi Huyên như một người em trai tthân thiết,
anh chi van thư tư qua lai khi môi người ở môt đơn vị
khac nhau. Cuoi nam 1951, tình cờ Đai đôi 53 của
Huyê n đóng quân gần đơn vị chị. Hai người lại có thòi
gian gạp gơ, tam sự bao chuyên vui buôn. Trước buổi
len đương anh len gưi cho chị bức thư, trong đó có đoạn'
Tư khi quen biêt chị, Huyên đã tim ở chị một người chị
hiên lành, thật thà, thân thiết và thú thật Vtới chị là...
Huyê n đã yêu chị, hình ảnh chị theo Huyê n trong lúc
hanh quân, lúc chiên đâu”. Sau lần ây, amh đi rồi
không trở lại. Anh đã anh dũng hy sinh để lại trong chị
bao thươn g tiêc, ân hận. Còn biết bao lòi chị muốn nói
với anh, đê anh hiểu chị hơn, để hai người stẽ mãi mãi
20
trở thành bạn thân thiết dẫu rằng về tuổi là như hai
chị em. Nhúng anh đã đi xa rôi...
Day dứt, nhớ thương anh, chị càng hăng say cùng
đồng đội hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhữn g tin chiến
thắng dồn dập là phần thưởng quý giá nhất đối với
những nữ V tá hêt lòng vì đông đội như chi. Cang V U I
mừng hơn khi tận mắt không còn phải chứng kiến cảnh
đồng đôi thàn yêu phai ra đi V I thieu thuoc men, V I bom
đạn giặc thù, các anh ra đi bên giương bẹnh ma miẹng
vẫn hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm .
Kết thúc chiến dịch, chị Như tiếp tục phục vụ trong
ngành quân y. Đên nay ba ngươi con cua co gai xư Vinh
năm nào đểu đã trưởng thành , chị cũng về hưu hơn 10
năm nhưng nhữn g ky niêm ve mọt thơi con gai, ve tinh
đồng chí đồng đội trong nhữn g ngày gian khổ nhưn g
đầy hào hùng ây, chi vân nhơ rat ro va thươn g nhac lại
với thái đô trân trong. Bơi chi nghi: Đo la nhưn g ky
niệm vô giá mà không dê mây ai có được.
21
HẬU PHƯƠNG CẢ NƯỚC ĐẢ GIÚP
ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐÁNH GIẶC THẾ NÀO?*
TRẦN C ư
1. NHỬNG KHÓ KHĂN
HẬU CẦN CHIẾN DỊCH CHƯA TỪNG c ó
Thật vậy! Trước khi được đứng vỊ trí thứ 3 thế giới
về xuất khẩu gạo thì Việt Nam đã phải lo chạy gạo để
đánh giặc vô cùng vất vả, đặt biệt là ở chiến dịch Điện
Biên Phủ.
Các chiến dịch trước nhiều khi không thành công
cũng chỉ vì không đủ gạo, như chiến dịch Hoàng Hoa
Thám ta dùng chiên thuật đánh điểm diệt viện, nhưng
tướng Đò Cát đã cho lính cô thủ trong đồn vối lô-côt bê
tông côt sắt, quân ta không “gặm” nổi và nó cũng không
cho quân đên cứu viện; quân ta phụC kích hai bên
đường chò mãi địch không đến để cho ta diệt, ta hết
lương thực nên phải bảo nhau rút. Thế là địch liền tung
* Báo Quân đội nhân dân cuối tuần, ra ngày 25-4-1999, 2-5
9-5-1999.
22
máy bay lên chặn đầu đường rút, đông thơi cho đại bac
các cứ điểm lân cậ n dot theo gót. Thê có the COI la thua,
chỉ vì không có gạo! ức nổ máu măt.
Đên chiên dịch Điện Biên Phu thì các kho khăn đo
lại càng to lớn bội phần vì có mấy đặc điểm sau đây:
+ Thứ nhất đây là trận công kiên vào tập đoàn cứ
điểm mạnh nhất Đông Dương của quân Phap, neu ta
phải huy động một lực lượng bộ đội và dân cong rat lơn
để lại chiến đáu hiệp đồng binh chung dài ngay do đo
công tác hậu cân phai bao đam mọt khoi lượng vu khi
đạn dược, lương thực, thuốíc men lớn chưa từng có, mà
phải đưa tối nhan h nhất liên tục và dài ngày; phải bảo
đảm kỹ thuật cao nhất và phức tạp nhât so vơi cac
chiến dịch khác.
+ Thứ hai là nhu cầu cung cấp tiếp tê ấy lại phải
giải quyết trong điều kiện và hoàn cảnh cực kỳ khó
khăn. Hậu phương xa tiền tuyến gần 500 km trên một
vùng rừng núị bao la hiểm trở, đường vận tải cơ giới đã
bị hư hỏng. 1^1 không có đường thủy; thời tiết khí hậu ơ
Tây Bắc này lại khắc nghiệt, mưa nắng thất thường,
dân cư Tây
thưa thớt, đòi sống kinh tê quá nghèo
nàn lạc hậu l^ị vừa thoát khỏi ách thông trị của giặc từ
năm 1952,
bị địch chiếm đóng suốt mấy chục
năm (Lai Châ^)
|;bổ phỉ quấy nhiễu.
Hãy chi
về gạo ăn cho bộ đội tại chiên trương.
Chủ nhiệm tậu cần mặt trận cho biết là phải lo gạo
nuôi quân n-ang bằng nuôi cả thành phố Hải Phòng
23
t
hai mươi vạn dân. Mà phải đánh nhan h giải quyố
nhan h độ một tuần rồi rút cho “sớm chợ”, như lính
thườ ng nói vui, chứ kéo dài thì gạo đâu mà ăn?
Hơn nữa đây là chiên dịch công kiên dài ngày, binh
hoa lực đem sư dụng rất lớn, lại tác chiến ở một điểrn
nhất định, nên tuyê n vận tải cung cấp tiếp tế đểu
hướn g vê một nơi quá rõ là lòng chảo Điện Biên nên
mạn g lưới đường sá, xe cộ hệ thốn g kho tàng bố trí dọc
đường không thể giữ được bí mật, bất ngò. Địch đã tận
g
dụng ưu thê của không quân và pháo binh sẽ tập trun
mọi khả năng của máy bay và đại bác đánh phá ác liệt
nhăm căt đứt hậu phương với tiền tuyế n phá hủy cơ sở
vạt chat ky thuậ t cua ta. Cho nên có thể nói ngoài cuộc
chiên đấu ác liệt ở trong lòng chảo Điện Biên Phủ còn
co cuộc chiên đâu nữa trên tuyê n hậu cần giữa ta và
địch cũng sẽ hết sức quyết liệt.
Rồi đánh lón kéo dài chiến đấu ác liệt trong chiến
hào trên cánh đồng Điện Biên Phủ dưói ưu th ế của phi
pháo địch, nhất định số thươ ng vong sẽ lán, sức khỏe
g
của bộ đội sẽ bị giảm sút, công tác nuôi dưõng, phòn
g
bẹnh cứu chữa cho bộ đội, dân công cũng sẽ gặp nhữn
khó khăn rất lốn.
Đó là về khác h quan!
Còn về chủ quan của quân ta thì từ trtxóic đến nay
trình độ lãnh đạo chỉ huy và tổ chức hậu cần của cán bộ
và chiế n sĩ, tuy cũng có đôi chút, nhưn g vẫn còn non
g
yêu và so với yêu cầu của chiến dịch này thì rất khôn
đu, khon g thê trán h khỏi bỡ ngỡ sai sót
24
Như vậy à vấn đề hậu phương hậu cần cung cấp
tiếp tế là vấr đề nổi lên khó khăn nhất khiến ta phải
cân nhắc rất iỹ.
Để giải qiyết tất cả những khó khăn trên, phải có
một quyết tân ghê gớm cùng với trình độ tô chức cực kỳ
giỏi, nâng thính khoa học mà dân tộc ta chưa bao giờ
phải giải quy«t một vấn đề lớn như thê.
2 CÒN CÁI KHÓ CỦA NA-VA?
Về phía Na-va, một tướng thao lược không phải
hạng tồi khi (hấp nhận trận đánh bằng cách chọn Điện
Biên Phủ, cũng đã rất chú ý đến vấn đề hậu cần, như
mọi tướng lĩnh trong lịch sử từ xưa đến nay, từ Ha-ni-ban
khi đem quân vượt dãy núi An-pơ, Phi-líp II Tây Ban
Nha, đưa hạm đội Ar-ma-da bất khả chiến thắng sang
đánh nước A.nh, đến Na-pô-lê-ông tiến vào đồng bằng
sông Pô hav kéo quân vào nưốc Nga mênh mông tuyết
phủ, cũng dều rất chú ý đến vấn đề hậu cần; cho đên
gần đây khi quân Mỹ gây chiến tranh vùng Vịnh, sở dĩ
áp đảo 1-rắc CQi^g là do có một hậu cần khổng lồ tối tân,
hiện đại, mà \lỹ vẫn tự hào.
Còn Na-V\, khi cho quân nhảy dù xuôhg Điện Biên
Phủ với trên 10 tiểu đoàn, 2 trung đoàn pháo nặng, để
làm 3 nhiệm vụ; niột cái nút bít đường quân ta sang
Lào, đồng tlpi xây dựng nó thành một tập đoàn cứ
(ìiểm mạnh ihất Đông Dương, một pháo đài bất khả
25
xâm phạm, đồng thòi là một cái nhọt kéo quân ta lên
giao chiến thì nó lại là cái máy nghiền thịt ghê gớm, lần
này quyết cho quân Việt Minh một trận biết tay.
Nhưng kéo hàng gần 2 vạn quân lên đây với đủ xe
tăng, đại bác các loại súng đạn tốì tân và từ các tấm
thép lớn làm nóc hầm cho đến lương thực (lại cả rượu
vang) cho đến tờ giấy, cái đinh, nhất nhất đểu phải
dùng máy bay chở lên để tiếp tê cho cái “hàng không
mẫu hạm khổng lồ mắc cạn trên rừng núi Tây Bắc heo
hút” này, Na-va cho rằng với cầu hàng không hiện đại
tối tân của Mỹ giúp đều có thể giải quyết được hết.
Tính cụ thể những ngày đầu, tháng đầu, phải dùng
máy bay chuyên chở 36.000 tấn vật liệu và từ 500 tấn
lên đến 3.000 tấn dây thép gai cho việc xây dựng tập
đoàn cứ điểm, phải mâT 1.200 chuyến bay vận tải CAI,
bay từ Hà Nội (hay Hải Phòng) lên Điện Biên Phủ,
quay vòng nếu phải có 80 chuyến một ngày, thì phải
mất 5 tháng. Lại tính không quân có thể hạ cánh 100
lần chiếc và thả dù từ 100 đến 200 tấn/ngày, thừa sức
để nuôi mấy vạn quân tinh nhuệ ở đây. Tất cả là nhò
cầu hàng không bay tít trên trời cao, Việt Minh không
có cách gì ngăn cản đưỢc. Với lực lượng không quân
hùng hậu lúc bấy giò, lại thêm sự giúp đỡ về không
quân hùng hậu của Hoa Kỳ, Na-va tin tưởng rằng trong
tình huống nào cũng vẫn giữ được Điện Biên Phủ nêỉi
đã đề nghị chính phủ Pháp cho phép: “Chấp nhận chiêVi
đấu ở Điện Biên Phủ và bảo vệ Điện Biên Phủ bằng bất
cứ giá nào!”.
26
Và Na-va cũng khá sâu sát, đi kiểm tra cụ thể
Điện Biên Phủ trước ngày ta tấn công Him Lam và
ghi nhận rằng: “Ngày 13 tháng 3 bộ đội đồn trú có đủ
tất cả những lượng tiếp tế đã dự định: 9 ngày ăn, 8
ngày ét-xăng, 6 cơ số đạn cho từng tiểu đoàn bộ binh;
6,5 cơ sô" đạn cho pháo 105; 7 cơ số cho pháo 155;8 cơ
sô" cho cô"i 120;9 cơ sô" cho pháo 75 (của xe tăng M24).
Rồi đằng sau “3.000 tấn dây thép gai được căng la liệt
có đủ các thứ vũ khí, khí tài đặc biệt như súng phun
lửa, mìn, na-pan chôn dưới đất, hàng rào điện tử là
là mặt đất, phương tiện chô'ng đạn khói, máy hồng
ngoại, v.v và v.v...
Mức cung câ"p hàng ngày trong trường hỢp bị công
kích là 70 tấn theo mức chiến đấu trung bình và là 96
tấn theo mức chiên đấu ác liệt (xem “Đông Dương hấp
hốì” của Na-va).
Na-va lại cũng nắm được khả năng tiếp tế, cung cấp
của đối phương: “Việt Minh chỉ có 2 trung đoàn, 15.000
viên đạn 105 ly, 5.000 viên 75 ly, 25.000 viên đạn côi,
45.000 viên cao pháo, đúng là muối bỏ bể ném vào tập
đoàn cứ điểm. Việt Minh lại có 3 đường tiếp tê" tối Điện
Biên Phủ nhưng sức vận tải rất thấp, đường xấu, hỏng
nặng hoặc mới làm, lại có tới 40 địa điểm dễ bị đánh
phá. Còn phần lớn là lực lượng “cu ly” (danh từ hỗn
xược mà Tây thực dân thường dùng để gọi dân công)
mỗi người gánh 20kg đi lên đến Điện Biên Phủ thì đổ
vào mồm mất 18kg, còn 2 kg cho bộ đội tác chiến. Thế
thì đánh đấm íh!”.
27
Cho nên Na-va nắm chắc phần thắng, đinh ninh
rằng đôi phương nghèo nàn lạc hậu không thể nào vượt
qua được những khó khăn cực kỳ lớn của hậu cần.
Nhưng ông ta có biết đâu, như một dòng suối bí mật
và lặng lẽ, bộ đội và dân công Việt Nam vẫn hành quân
lên Điện Biên Phủ khép kín dần vòng vây, chạy đua
tiếp tế với 227 chiếc máy bay đủ các loại của cầu hàng
không của Na-va.
Tôi nhó những ngày chưa nổ súng tấn công Điện
Biên Phủ, một hôm ở chỉ huy sở Mường Phăng, được
nghe anh Văn nói vui: “ở đây không phải chỉ có Võ
Nguyên Giáp là tướng mà còn có một ồng tướng nữa, là
tướng gạo!”.
Và anh cười thật hỏm hỉnh, sau đó tôi càng hiểu rõ
khi anh ghi trong hồi ký:
Riêng về gạo phải dựng
hẳn một bảng biểu đồ. Mỗi sáng đã thành một thói
quen khi mối ngủ dậy là tôi nhìn ngay vào biểu đồ, xem
sô gạo nhập vào các kho mặt trận đêm trước là bao
nhiêu... Tôi dành liền mấy ngày không theo dõi tác
chiến ngồi họp cùng các anh Bình, anh Thiện, anh Nam
bàn cách giải quyết khâu yếu này. Trong chiến dịch các
đồng chí phụ trách công tác hậu cần đã gặp những khó
khăn vượt quá sức mình. Nhưng trận này Đảng chỉ cho
ta phải thắng không được thua.
Một sô lớn cán bộ của mặt trận được phân phối ngay
xuông các tuyến cung cấp để đẩy mạnh hoạt động.
Đúng 6 giò sáng, tôi đứng bên máy điện thoại trực tiếp
28
nhận báo cáo sô" lượng gạo, đạn vận chuyển trong
dêm của hậu cần... Đường chì đỏ trên bảng biểu đồ
nhích dần lên cao, nhưng môi lo của ch...
M
^ k ỉ ù v H l K ^íỉ-.ì:MM
*2 n h à xuất bần q u â n đội n h â n dân
NHÀ XUẤT BẢN MONG BẠN ĐỌC
GÓP Ý KIẾN, PHÊ BÌNH
V-V24
828 - 2003
QĐND - 2004
ĐIỆN BIÊN PB J
QUANHŨNG TDANG Hồ l ủc
TẬP II
1 RƯỜNG ĐA: HUC VINH
T-!ÒNGTiN-THƯV!ỆN
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Hà Nội - 2004
Chỉ đạo nội dung:
Thiếu tướng NGUYỂN
q uang thống
Đại tá LÊ PHÚC NGUYÊN
Sưu tầm biên soạn:
Đại tá, nhà văn NGUYẺN HổNG HÀ
Trung tá (CN) DUƠNG THỤC HUƠNG
Trung tá (CN) TẢNG BÁ QUYỆN
Thiếu tá (CN) NGUYỄN THU HẲn G
GẶP LẠI NGƯỜI
“ĐÁN H” QUẢ BỘC PHÁ NGÀN CÂN*
QUÁCH ĐẠI HẢI
Qua nhiều lần trực tiêp khảo sát địa hình, chúng tôi
quyết định mở cửa hầm phía sau đồi Al. Công việc thật
^ an khổ. Đất rắn như đá, nhát cuốc chim bổ xuống tóe
lửa. Bọn địch nghe tiếng động lập tức quẳng hàng
chùm lựu đạn xuông. Một tổ chiến đấu được lập ra ỏ
ngay cửa mở để bảo vệ cho công binh làm việc. Tôi bảo
anh em căng ni-lông trên miệng cửa hâm dôc như mai
nhà, lựu đạn địch ném xuống đều bị văng xuông nổ ở
chân đồi. Cửa hầm đã vào sâu, đất đá chuyển ra như
thế nào? Tôi huy động toàn bộ “ruột tượng” đựng gạo
vào v iệ c chứa đất và lần lượt đổ rải ở chân đồi để giữ bí
mật. Đường hầm càng vào sâu càng thiếu không khí.
Chiến sĩ ta thay nhau vào từng tổ, nhưng cũng chỉ được
dăm ba phút lại phải trườn ra để thở. Khó khăn vẫn
chưa hết. Hầm vào càng sâu càng khó định hướng cho
thẳng. Anh em từng người một cầm quạt nan cách
nhau một mét quạt không khí vào hầm và dùng những
* Báo Quán đội nhân dân, thứ 7 số 197, ngày 9-4-1994.
nén hương cắm thẳng hàng để định hướng. Hàng chục
ngày đêm, cứ như vậy, cái thuốn của tử thần ngày càng
lách sâu vào tim căn cứ Al . Bọn địch nghe tiếng thình
thịch từ lòng đất vọng lên, biết Việt Minh đào hầm
ngầm, chúng vô cùng hoảng hốt, liên tục mở hàng loạt
những đợt phản kích có cả xe tăng yểm hộ hòng nôhg ra
lấp cửa hầm. Chiên sĩ ta được trang bị thêm vũ khí đều
bẻ gãy hêt lượt những cuộc tấn công của giặc, kiên
quyết bảo vệ đường hầm.
Công việc gần xong, tôi nhận mật lệnh: Phải thiết
kê quả bộc phá không dưới một ngàn cân để lèn vào
hầm. Một khôi lượng thuốc nổ lớn như vậy kiếm đâu ra
bây giò? Một lần nữa trí tuệ tập thể lại thắng. Không
quản quy hiểm vất vả, các chiến sĩ công binh đi tìm
thuốc nổ, đến những nơi có máy bay địch bị cao xạ ta
bắn rơi cưa bom chưa nổ để lấy thuốc. Đúng hẹn, lượng
nổ đã đủ ngàn cân. Tôi bố trí tới ba bộ điểm hỏa vừa
điện vừa dây cháy chậm để đề phong bất trắc. Tôi tự
đặt cho mình nhiệm vụ, nếu cần sẽ làm luôn nụ xòe cho
khối nổ. Trời Điện Biên mưa tầm tã, ẩm ướt. cửa hầm
và con đường hào bùn non nhão nhoẹt. Các chiến sĩ đã
cởi áo đê che mưa cho những gói bộc phá. Đúng ngày
giò quy định, hàng trăm gói thuốc nổ đã lèn chặt vào
cuôi hầm hết thành một khối địa lôi lớn chưa từng có.
Dây và kíp đã sẵn sàng. Chiều ngày 6 tháng 5 năm
1954 bộ đội ta ở các chôt được lệnh bí m ật rút về vị trí
an toàn.
Tô. và đồng đội vô cùng xúc động, hồi hộp lo lắng
cầm chắc chô"t quay chò lệnh. Đúng giò G, tôi điểm hỏa.
Một quầng lửa chói lòe, kèm theo một tiếng nổ rung
chuyển cà lòng chảo Điện Biên Phủ. Đất đồi Al tung
lên như vôi bột. Cột khói và bụi như cái nấm khổng lồ
bọc k:n lấy quả đồi. Khu trung tâm đồi Al phút chốc
phơi ra trần trụi, không còn sức đê kháng. Tướng
Đò Cat phải đầu hàng sau tiếng nổ của quả bộc phá
điểm huyệt đúng 1 ngày (7-5-1954). 40 năm đã qua, cái
hô" bộ: phá ấy vẫn còn sâu dây cỏ mọc xanh rì.
GẶP MỘT CHIẾN S ĩ ĐIỆ N BIÊ N
ĐƯỢC BÁC HỒ THƯỞNG ÌlUY HIẸ U'
HÀ ĐÔNG
Đó là đại tá Bạch Ngọc Giáp, hiện đang công tác ở
Bộ Tư lệnh pháo binh.
Đại tá, nguyên là trun g đội trưởng C ll9 - một đại
đội có nhiê u điểu đặc biệt. Là đơn vỊ pháo binh xe kéo
đầu tiên của quân đội, xuất hiện lần đầu tron g chiến
dich Hoa Binh năm 1952. Lại cũng là đơn vị có vinh dự
được bắn phát pháo đầu tiên tại Him Lam mở màn
chiến dịch Điện Biên Phủ. Trên lá chắn của khẩu pháo
105 ly ấy có dòng chữ quyết tâm của chiến sĩ ta: “Đã
thăn g Hòa Bình, nhất định thắn g Trần Đình ” (tên gọi
của chiến dịch Điện Biên Phủ).
Đại đội có truyề n thốn g “đán h giỏi bắn trún g”. Rất
là
thiêu khí tài bảo đảm , trận đầu vẫn bắn trúng . Rơi
đơn VỊ đâu tiên ứng dụng đài quan s á t phía trưốc ớng
vị
dụng kiêu băn chuy ên di mục tiêu, hoặc cũng là đơifi
đâu tiên thực hiện bắn chi viện hai mục tiêu cùng itnột
luc. Khi chiên dịch kết thúc thắn g lợi, bộ đội pháo b"iưh
* Báo Quăn đội nhăn dân, thứ 7 sô' 199, ra ngày 23-4-1994
đưỢc thương cò “Quyết chiến quyết thắng” thì đại đội
này đã được trao giữ.
Đại tá Bạch Ngọc Giáp ở cương vị trung đội trưởng
đến hết chiến dịch. Sau ngày chiến thắng, một vinh dự
đến với Bạch Ngọc Giáp; được đại diện cho bộ đội pháo
binh đi trong đoàn chiến sĩ Điện Biên về ATK chúc thọ
Bác Hồ nhân dịp Người 64 tuổi. Đoàn do đồng chí
Hoàng Cầm, trung đoàn trưởng trung đoàn 209 (Đại
đoàn 312) làm đoàn trưởng. Đại tá hồi tưởng:
- Chung tôi rất vui sướng và cảm động, vì thật bất
ngờ. Trên đường đi, anh em bàn nhau sẽ làm gì, nói gì
khi gặp Bác. Dù bàn kỹ lắm, nhưng khi đứng trước Bác
thì lại chả biết làm gì, nói gì.
vể đến ATK, chúng tôi vào một lán chờ. Anh Văn
(Đại tưóng Võ Nguyên Giáp) ra gặp, ân cần hỏi thăm
sức khỏe, sửa lại quần áo cho chúng tôi, cử chỉ thân
thiết như người anh cả trong gia đình. Chừng 5 phút
sau, Bác ra. Người nhanh nhẹn ôm hôn và bắt tay
chúng tói. Tôi nhớ, Bác gầy nhưng khỏe. Bác khen, bộ
đội ta đanh giỏi ở Điện Biên Phủ, rồi bảo: “Bây giò Bác
cùng các chú đóng kịch nhé”. Thế là chúng tôi đứng sắp
hàng. Bác lần lượt gắn huân chương, huy hiệu Điện
Biên Phủ, huy hiệu Bác Hồ và một ngôi sao đỏ (quà
tặng của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô hồi đó)
cho chúng tôi. (Trong ảnh, Người giơ tay chào là đồng
chí Bạch Ngọc Giáp). Thật khó mà nói lại cảm xúc khi
ây. Chúng tôi như bị mê đi trong niềm vinh dự lớn lao.
Anh Văn cười bảo: “Các chiến sĩ ta ngoài mặt trận thì
dũng cảm thế, nhưng ở đây thì hiền thế. Lành lắm”.
Trưa hôm đó, chúng tôi đưọc dùng cơm cùng VỚI
Bác. Có cả nhà quay phim Xô-viết Các-men và Hoàng
thân Xu-pha-nu-vông dự. Bác cháu trò chuyện vui vẻ.
Có “chi tiết” này, anh Vinh người nhỏ nhất ăn xong
trưốc, đứng dậy. Bác kéo xuông, chỉ vào bát cơm rồi
nhắc; “Chú vét cho hết kẻo phf'. Một lời nhắc tiết kiệm
cụ thể.
Sau đó chúng tôi ở lại ATK khoảng một tuần nữa, đi
nói chuyện chiến đấu cho các cơ quan và đơn vị. Hầu
như hôm nào, anh Thận (đồng chí Trường Chinh) cũng
sang gặp và nói chuyện với chúng tôi. Nhiều lần anh
nhắc “tương lai Hiệp định Giơ-ne-vơ sẽ được ký, nhưng
nhiệm vụ của quân đội vẫn rất nặng nề”.
Mới rồi đại tá Bạch Ngọc Giáp đã cùng các cán bộ cũ
và cán bộ hiện tại của đại đội ngược đường số 6 về lại
trận địa xưa. Bâng khuâng cảnh cũ sau 42 năm, xen
lẫn tự hào. Đại tá đã có buổi tâm sự cùng lớp cán bộ,
chiến sĩ 94 của C119 anh hùng, nói lại quá trình hình
thành nên truyền thống của bộ đội pháo binh và của
riêng đại đội.
10
ĐIỂU BIỂT THÊM
VỂ TRẬN PHÒNG NG ự TRÊN Đ ồ l A l'
Thiêu tướng NGUYỄN ĐÔN T ự
(Nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5)
Sau hai đợt tấn công không thành công của trung
đoàn 174 và trung đoàn 102, tiểu đoàn 255 (gọi tắt là
tiểu đoàn 5) của trung đoàn 174 được lệnh thay thế
trung đoàn 102 và tổ chức phòng ngự một phần ba quả
đồi Al mà quân ta đã chiếm được.
Địch có một tiểu đoàn vẫn giữ được 2/3 quả đồi, địa
thế cao hơn, quân mói được thay thế; bọn chỉ huy có
kinh nghiệm đánh phản kích và dùng hỏa lực pháo cối
đánh chặn đường t.iến của quân ta nhưng cũng khiếp
đảm trước các đợt Xung phong mãnh liệt của bộ đội ta.
Tiểu đoàn 5 đưcợc bổ sung quân số, vũ khí đầy đủ,
80% là tân binh (đ£^ sô là tân binh địch hậu đã quen với
chiến trận), 50% cế^n bộ trung đội, đại đội mới được đề
bạt lên nhưng đều trưởng thành trong chiên đấu. Mỗi
đại đội đều có một chi bộ. Trung đoàn trưởng Nguyễn
Báo Quân đội nhfin dân cuối tuần, ngày 5-5-1996.
11
Hữu An phô biên kinh nghiệm trận đánh đợt đầu, nhấn
mạnh địch sẽ giành giật quyết liệt phần đất đã mất nên
phải đào hầm hào thật tô"t, tổ chức các trận địa liên
hoàn giữa đồi Al, đồi Cháy, đồi F, kết hỢp chặt chẽ giữa
hỏa lực và lực lượng cđ động. Trung đoàn sẽ cung cấp gỗ
làm nắp hầm hào, hỗ trỢ hỏa lực của trung đoàn, đại
đoàn, đảm bảơ^hông tin giữa các trận địa.
Theo kê hoạch của tiểu đoàn, C925 được bố trí trên
đồi A l, C924 trên đồi Cháy có một trung đội cơ động
sẵn sàng tăng cường cho Al, C653 bố trí một trung đội
trên đồi F, còn lại làm lực lượng cơ động cho tiểu đoàn,
C926 trỢ chiên, bô" trí ở đồi Cháy, nhiệm vụ đào công sự
rất nặng nể: Đường giao thông hào nốì giữa các trận
địa, hai đường hào từ suối cạn lên đồi Al, trên mỗi trận
địa phải có hệ thốhg hầm chiến đấu ngang dọc, hầm
hào phải có nắp chịu được pháo 155 ly và cối 120 ly.
Giao thông hào phải đủ rộng để cơ động bộ đội, tiếp tế,
tải thương. Phải có hầm cho các loại vũ khí, hầm cho
thương binh, hầm ở chân đồi để bộ đội luân phiên nghỉ
ngơi. Chỉ huy sồ của tiểu đoàn do công binh đào. Tôi bị
ngỢp trưốc khối lượng đào hầm hào chưa kể đến việc
phải đối phó hàng ngày, hàng giò với hoạt động của
địch. Tôi nghĩ vấn đề quyết định để hoàn thành nhiệm
vụ lúc này là khả năng tổ chức của cán bộ và công tác
động viên cán bộ, chiến sĩ hết lòng vì nhiệm vụ. Thực tê
sau này đã chứng minh trong chiến tranh người cán bộ,
chiên sĩ đưỢc động viên tốt có thể làm nên những điều
12
kỳ diệu, co khi không tưởng tượng là con người có thể
làm dưỢc.
Khi trung đoàn 102 bắt đầu rút, tiểu đoàn chia ngay 2
tiểu đội của C925 vào cắm hai chốt sát địch. Ngay trong
đêm phải dào được hầm chiến đấu, hầm ẩn nấp và hầm
cho trung liên. Lực lượng này được hỏa lực của tiểu
đoàn, trung đoàn sẵn sàng yểm trỢ. Ngay ngày hôm
sau địch dùng pháo cốì yểm trỢ cho một mũi thọc sang
để hòng đay lực lượng của ta ra khỏi Al nhưng ta đã
kịp thòi dùng pháo cối, đại liên bắn chặn rất quyết liệt
buộc địch phải co lại. Việc đào công sự do đó rất khó
khăn và không bảo đảm được an toàn, cán bộ tiểu đội
và chiến sĩ đề xuất ý kiến phải làm con lăn bằng rơm
thì mối tránh được đạn bắn thẳng từ đỉnh đồi.
Việc đào hầm hào trên đồi Al là khó khăn và phức
tạp nhất. Hào giao thông của địch sâu lm70 đã bị pháo
của ta, của địch bắn sập hết, chôn vùi nhiều xác chêt.
Lô cốt nắp bằng thân cây gỗ trên xếp nhiều bao cát
cũng bị sập, trong mỗi lô côt cũng có vài xác chết. Cuộc
tấn công từ đêm 30 tháng 3 đến lúc này đã 5-6 ngày,
thỉnh thoảng lại có trận mưa rào ngắn, nên xác chết
bắt đầu tầốì rữa, ruồi nhặng từng đàn, mùi hôi thối
nồng nặc. Căn cứ vào thực tê địa hình, có đoạn hào
chúng tôi đào mới, có đoạn phải khơi lại hào cũ của
địch, cũng có chỗ phải dùng lại lô cốt cũ. Nghĩa là
không thê tránh được việc mà cán bộ, chiến sĩ ngại
nhất là giắi quyết xác chết. Chúng tôi dồn xác địch vào
mấy ngách hào đất lấp còn nông và đổ đầy đất lên. Đặc
13
biệt còn một sô" tử sĩ của ta còn sót lại (nhận dạng bảng
đôi giày vải hoặc dép cao su), chúng tôi lấy vải dù bọc
lại và chuyển về sau. Không thể tưởng tượng nổi sự
chịu đựng gian khổ của cán bộ, chiến sĩ. Công tác chính
trị đã thành công trong việc động viên tinh thần tự giá(;
vì nhiệm vụ của bộ đội. Lấy một ví dụ: Yêu cầu của tiểu
đoàn là mài xẻng thật sắc để đào công sự được nhanh
được chiến sĩ biến thành khẩu hiệu: “Mài xẻng sắc cạo
râu được”.
Sự phản ứng của địch rất ác liệt: CỐI 120 ly bắn
thường xuyên, pháo Hồng Cúm nhằm vào đỉnh đồi
Cháy, đồi F và đường tiến quân từ phía sau lên. Ngày
nào cũng có thương vong. Chân tay dầm bùn ngâm xác
chết mà không có nước rửa, trước khi ăn thì thật kinh
khủng. Phải dùng vải dù để lau tay, bọc tay để cầm cơm
nắm hoặc dùng đũa, dùng bát. Trung đoàn phải tiếp tê'
nước để mỗi ngày chiến sĩ trên đồi Al được rửa tay
chân mặt mũi một lần, 3 ngày được tắm một lần (thực
ra đưỢc một chậu nước đủ để lau người).
Đồi F thấp hơn đồi Al, trực tiếp bị hỏa lực bắn
thẳng của địch trên đỉnh đồi Al nèn việc đào trận địa ở
đây cũng rất khó khăn, bị thương vong nhiều, ngay khi
trận địa đã được hoàn thành, việc đi lại cũng rất nguy
hiểm, cán bộ, chiến sĩ gọi đồi F là “tử địa”.
Đồi Cháy có trận địa hỏa lực của tiểu đoàn trực tiếp
uy hiếp đỉnh đồi A l, là cái gai trước m ắt địch nên ngoài
pháo chúng còn dùng máy bay ném bom để hủy diệt.
14 •
Một lần ném bom không trúng, bom rơi xuông sườn đồi
trúng hầm chỉ huy của C924 lúc chi ủy đang họp, tất cả
hy sinh. Đây là thiệt hại đau nhất của tiểu đoàn trong
thòi gian phòng ngự.
Hai đường hào song song tiến gần vào các lô côt của
địch. Việc bám sát địch ngày đêm giúp ta đẩy lùi nhiều
lần địch đánh lấn sang ta. Trong chiến đâu phòng ngự
hai bên tiếp cận nhau thì sự sẵn sàng chiến đâu rất cao
mới đảm bảo thắng lợi, vũ khí sử dụng là lựu đạn và
tiểu liên của lực lượng phía trước. Và muôn giữ vững và
cải thiện thế phòng ngự, phải kết hỢp với tấn công. Việc
tổ chức bắn tỉa những tên địch ló đầu ra hoặc di chuyển
ngoài công sự đạt hiệu quả lốn.
Giữa tháng 4, chúng tôi nhận được kê hoạch đánh
hầm ngầm trên đỉnh đồi Al: Công binh sẽ đào bí mật
một đường hầm tới hầm ngầm của địch và dùng một
tấn thuốc nổ để đánh sập hầm đó. Tiểu đoàn 5 có nhiệm
vụ bảo đảm an toàn trong suôb quá trình đào cho đến
khi quả bộc phá ruổ, đồng thòi giúp đỡ công binh làm
nhiệm vụ (chuyển gần 60m^ đất ra phía sau). Ngày 20
tháng 4 năm 1954, khởi công đào, lúc đầu định kích
thưóc có thê đi khom được nhưng thực tế càng vào sâu
càng khó đào nên kích thước càng hẹp lại. Tôi bô" trí
một tiểu đội toàn cựu binh do một trung đội trưởng chỉ
huy đưỢc trang bị đậy đủ tiểu liên và lựu đạn, sẽ chiến
đấu sống chết với địqh không để địch lọt xuông phá cửa
hầm. Để đánh lạc hướng chú ý của địch, chúng tôi nghi
binh ở hướng hào cụt phía bắc, thưòng tập kích bằng
15
hỏa lực các lô côt của địch. Đặc biệt trận tấn công dámh
chiếm hai ụ súng sô" 7 và số 8 của địch đêm 1 th á n ^ 5
năm 1954, tổ ba người đã chiếm được 2 ụ đó thì 2 tị 'hy
sinh, chỉ còn 1 người bị thương nhưng vẫn chiến đìấu
giữ được cho đến khi được tổ thứ hai lên tăng viện,
Trong những ngày căng thẳng trên đồi Al, chính Ltrị
viên tiểu đoàn Đỗ Long đã nắm vững nhiệm vụ và
những chỉ thị của trung đoàn, là khéo léo đưa ra nhữững
khẩu hiệu thiết thực, kịp thòi phát động được tin h thhần
tự giác dũng cảm, không sỢ hy sinh gian khổ cửa ccán
bộ, chiến sĩ. Không thể quên được chính trị ph(ó titiểu
đoàn Trần Quế, thường trực ở phía sau lo cơm nưước,
vận chuyển được áo quần, giày dép, tân binh bổ suung,
thương binh tử sĩ (hàng trăm người nên khá phức tạạp).
Đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi nhưng thườờng
ít được nhắc đến. Tiểu đoàn phó Dương Bắc Bình nmới
được bổ sung nhưng phải lăn ngay vào cuộc chiến đỉlấu,
cùng với đại đội trưởng Lương Văn Tài (sau Nguyyễn
Khắc Huy thay) và đại đội phó Lê Quyên tham gia vvào
mọi hoạt động của đơn vỊ, khi địch tấn công sang cũũng
chiến đấu như các chiến sĩ. ở trên đồi Al, sống chết cchỉ
gang tấc, không thể chỉ tay năm ngón, mà mọi cấp ccán
bộ phải hòa vào cuộc sống và chiến đâ'u của chiến sĩ t thì
mới có thể chỉ huy được. Rồi biết bao người dũng cảảm
khác như y tá Hiểu, chiến sĩ liên lạc Chà, tiểu dđội
trưỏng Si dân tộc Tày đã nhiều lần cứu tôi thoát chíêt,
được để bạt lên trung đội phó nhưng không nhận vì l^m
tiểu đội trưởng vừa với khả năng.
16
Đếr. ngày 5 tháng 5 năm 1954, thì đào xong đường
hầm dai khoảng 50 mét. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết
định lây tiếng nổ của quả bộc phá l.OOOkg vào 20 giò 30
ngàv 6 tháng 5 năm 1954 làm hiệu lệnh tấn công của cả
mặt trận. Bộ phận cuối cùng của tiểu đoàn, tôi phụ
trách bảo vệ cửa hầm rút trước giò “G” 5 phút. Mọi
người chò đợi một tiếng nổ long tròi nhưng thực tê chỉ
có một tiếng “ục” trong lòng đất, đất đá tung lên tròi và
rơi xuống rào rào. Trung tá Pu-giê người chỉ huy cứ
điểm dồi AI viết hồi ký: “Lúc 20 giờ 30 mìn nổ. Trước
tiên rr.ột sự rung chuyển chạy suôt mỏm đồi, đât đá
rung chuyến và một tiêng nổ át các tiếng động khác
tiếng gầm kéo dài vài giây với âm lượng trâm. Đinh đôi
bị vẹt, vị trí của đại đội 2 mất tăm, quân Việt Nam vào
cửa mớ chiếm miệng phễu trên đỉnh bên trên chúng tôi.
Một lúc sau tôi mới hiểu rõ tình th ể '.
Đên 4 giò 30 sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, tiểu
đoàn 1 và tiểu đoàn 9 trung đoàn 174 hoàn toàn làm
chủ đồi Al. Địch thú nhận từ 30 tháng 3 năm 1954 đến
ngày 7 tháng 5 Iiqm 1954 đã mât 4 tiêu đoàn trên đôi
A1.
Đại đoàn 316 đánh giá tiểu đoàn 255 “đã hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ phòng thủ” tiểu đoàn đã góp
phần vào chiến th4ng oanh liệt trên đồi Al, quả đồi mãi
mãi đi vào lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ.
17
KỶ NIỆM MỘT THỜ r
PHƯƠ NG LIÊN
Hơn 40 nam đa troi qua, kê từ chiên tliắn g Điện
Biên Phủ 7-5-1954, nhưn g kỷ niệm về một thòi khói lửa
vẫn hằn sâu trong ký ức nhữn g ai đã từng hiến d.âng
tuổi xuân đẹp đẽ cho độc lập tự do của dân tộc. Tôi t hấy
điều đó trong mắt chị Nguyễn Thị Như - nữ y tá đội
điGu tri 4 thuọc Đại đoàn 304 - khi chị kê cho tói n.ghe
về nhữn g kỷ niệm năm nào.
Hồi ấy, trong chiến dịch Điện Biên Phủ chị Như
phục vụ tại khu Trun g Trọng, do ông Đào Đình Đức
(nay la giao sư, thây thuôc nhân dân, nguy ên Viện
trưởn g Viện lâm sàng nhiệt đới Trun g ương) chỉ huy.
Khi chiên dich nô súng, thương binh từ tuyên tr'ước
chuyển về rất đông, có lúc lên tỏi 130-150 người. Tnong
điêu kiện khó khàn về lán trại, thiếu thôh về thtuốc
men, bông băng ... các bác sĩ, y tá, nhán viên trong toàn
khu đã cùng nhau dốc sức, khắc phục kịp thời để cứu
chữa cho anh em thươ ng bệnh binh. Bệnh binh chủ yếu
bị sôt rét, suy nhưỢc và mắc phải một càn bệnh mới
Báo Quân đội nhăn dân cuối tuần, ra ngàv 10-5-199'8.
18
trong chiôii dịch này: bệnh Hyste rie (cứ một bệnh nhan
hô “xung ohong, tiên lên” là nhiều người khác lại hô
theo, cập giường hoặc vùng chạy, vừa chạy vừa la hét
ầm ĩ làm huyên náo cả khu giữa đêm khuya). Lúc ây,
các ch. phai cố gắng chạy theo giữ lại, khuyên nhủ và
đưa các anh về guíòng. Một ngày làm việc của các chị
bắt đầu tu 6 giò sáng đến 9 giò tối, nhiều đêm còn phải
thức trắng. Các chị phải luân phiên nhau làm mọi công
việc từ phân loại, sao sổ thuôc, lĩnh thuôc, cho thương
binh àn uấng, thay băng đên việc khiêng cáng, làm vệ
sinh cá nhân... nhất là những thươn g binh bi thung
ruột làm 'hậu môn nhân tạo” các chât thai đưa sang
cạnh sườn bôc mùi khó chịu, nhưng với tâm lòng cua
người em gái, của đồng đội, chị Như cùng các bạn luôn
túc trực dể lau chùi, lo giặt giũ băng gạc để kịp thời
dùngc hocác ca sau. Những ngày đêm ấy, trời mưa tâm
tã nhưng không thể ngăn nổi thế tiến công của quân ta
cũng nhu tấm lòng tận tụy của những y, bác sĩ đội điều
trị 4 đôi với anh em thương binh. Chị Như tâm sự:
Trong ch ến dịch, bọn tôi không có thời gian nô đùa. Tất
cả đểu gốp rút, nhanh chóng, kịp thòi. Cũng có lúc ngôi
gạn hỏi nhau chuyện yêu đương nhưng ý nhị lăm,
không lộ liễu. Nhiều khi mong muôn nhất lại là một
bữa ngủ cho ra trò. Những hôm bị ốm sốt rét, “chuyện
phụ nữ” chi mong có một chút thuốc, một chút nước
nhưng pầải đi thật xa mới tìm được vũng “trâu đăm (!)
để lấy nước dùr,g...”. Thiếu thốn, khó khăn là thế
nhưng cliị Như v4n cùng anh em trong đơn vỊ phục vụ
19
ngày đêm, đoàn kết trong tình đồng đội, thưdn g yôu
giup đơ nhau hơn anh em một nhà, cùng chia sẻ cho
nhau tưng cuộn len nho bé, từng tâm chăn chiên mỏng
manh trong những ngày rét mướt... Vì vậy tình cảnỉ
giữa thươn g bệnh binh và các y, bác sĩ gắn bó rất thân
thiết. Nhữn g cuộc chia tay giữa người ra tiền tuyến VH
ngươi ve tuyen sau mà đứng giữa là những nhân viên
đội điều trị 4 không sao giấu nổi nhữn g giọt nước mắt
nghẹn ngào. Bận bịu đến nỗi các chị không có thời gian
chăm sóc hay nghĩ đến chuyện riêng tư của chính
minh . Cung nhieu la thư gưi tình cảm đén vối chi
nhưn g rồi mọi việc cũng qua đi. Duy chỉ có một người
một người con trai mà đến nay vẫn in sâu trong trái
tim chị - đó là hệt sĩ Vĩnh Huyên. Quen nhau từ năm
1948, chị coi Huyên như một người em trai tthân thiết,
anh chi van thư tư qua lai khi môi người ở môt đơn vị
khac nhau. Cuoi nam 1951, tình cờ Đai đôi 53 của
Huyê n đóng quân gần đơn vị chị. Hai người lại có thòi
gian gạp gơ, tam sự bao chuyên vui buôn. Trước buổi
len đương anh len gưi cho chị bức thư, trong đó có đoạn'
Tư khi quen biêt chị, Huyên đã tim ở chị một người chị
hiên lành, thật thà, thân thiết và thú thật Vtới chị là...
Huyê n đã yêu chị, hình ảnh chị theo Huyê n trong lúc
hanh quân, lúc chiên đâu”. Sau lần ây, amh đi rồi
không trở lại. Anh đã anh dũng hy sinh để lại trong chị
bao thươn g tiêc, ân hận. Còn biết bao lòi chị muốn nói
với anh, đê anh hiểu chị hơn, để hai người stẽ mãi mãi
20
trở thành bạn thân thiết dẫu rằng về tuổi là như hai
chị em. Nhúng anh đã đi xa rôi...
Day dứt, nhớ thương anh, chị càng hăng say cùng
đồng đội hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhữn g tin chiến
thắng dồn dập là phần thưởng quý giá nhất đối với
những nữ V tá hêt lòng vì đông đội như chi. Cang V U I
mừng hơn khi tận mắt không còn phải chứng kiến cảnh
đồng đôi thàn yêu phai ra đi V I thieu thuoc men, V I bom
đạn giặc thù, các anh ra đi bên giương bẹnh ma miẹng
vẫn hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm .
Kết thúc chiến dịch, chị Như tiếp tục phục vụ trong
ngành quân y. Đên nay ba ngươi con cua co gai xư Vinh
năm nào đểu đã trưởng thành , chị cũng về hưu hơn 10
năm nhưng nhữn g ky niêm ve mọt thơi con gai, ve tinh
đồng chí đồng đội trong nhữn g ngày gian khổ nhưn g
đầy hào hùng ây, chi vân nhơ rat ro va thươn g nhac lại
với thái đô trân trong. Bơi chi nghi: Đo la nhưn g ky
niệm vô giá mà không dê mây ai có được.
21
HẬU PHƯƠNG CẢ NƯỚC ĐẢ GIÚP
ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐÁNH GIẶC THẾ NÀO?*
TRẦN C ư
1. NHỬNG KHÓ KHĂN
HẬU CẦN CHIẾN DỊCH CHƯA TỪNG c ó
Thật vậy! Trước khi được đứng vỊ trí thứ 3 thế giới
về xuất khẩu gạo thì Việt Nam đã phải lo chạy gạo để
đánh giặc vô cùng vất vả, đặt biệt là ở chiến dịch Điện
Biên Phủ.
Các chiến dịch trước nhiều khi không thành công
cũng chỉ vì không đủ gạo, như chiến dịch Hoàng Hoa
Thám ta dùng chiên thuật đánh điểm diệt viện, nhưng
tướng Đò Cát đã cho lính cô thủ trong đồn vối lô-côt bê
tông côt sắt, quân ta không “gặm” nổi và nó cũng không
cho quân đên cứu viện; quân ta phụC kích hai bên
đường chò mãi địch không đến để cho ta diệt, ta hết
lương thực nên phải bảo nhau rút. Thế là địch liền tung
* Báo Quân đội nhân dân cuối tuần, ra ngày 25-4-1999, 2-5
9-5-1999.
22
máy bay lên chặn đầu đường rút, đông thơi cho đại bac
các cứ điểm lân cậ n dot theo gót. Thê có the COI la thua,
chỉ vì không có gạo! ức nổ máu măt.
Đên chiên dịch Điện Biên Phu thì các kho khăn đo
lại càng to lớn bội phần vì có mấy đặc điểm sau đây:
+ Thứ nhất đây là trận công kiên vào tập đoàn cứ
điểm mạnh nhất Đông Dương của quân Phap, neu ta
phải huy động một lực lượng bộ đội và dân cong rat lơn
để lại chiến đáu hiệp đồng binh chung dài ngay do đo
công tác hậu cân phai bao đam mọt khoi lượng vu khi
đạn dược, lương thực, thuốíc men lớn chưa từng có, mà
phải đưa tối nhan h nhất liên tục và dài ngày; phải bảo
đảm kỹ thuật cao nhất và phức tạp nhât so vơi cac
chiến dịch khác.
+ Thứ hai là nhu cầu cung cấp tiếp tê ấy lại phải
giải quyết trong điều kiện và hoàn cảnh cực kỳ khó
khăn. Hậu phương xa tiền tuyến gần 500 km trên một
vùng rừng núị bao la hiểm trở, đường vận tải cơ giới đã
bị hư hỏng. 1^1 không có đường thủy; thời tiết khí hậu ơ
Tây Bắc này lại khắc nghiệt, mưa nắng thất thường,
dân cư Tây
thưa thớt, đòi sống kinh tê quá nghèo
nàn lạc hậu l^ị vừa thoát khỏi ách thông trị của giặc từ
năm 1952,
bị địch chiếm đóng suốt mấy chục
năm (Lai Châ^)
|;bổ phỉ quấy nhiễu.
Hãy chi
về gạo ăn cho bộ đội tại chiên trương.
Chủ nhiệm tậu cần mặt trận cho biết là phải lo gạo
nuôi quân n-ang bằng nuôi cả thành phố Hải Phòng
23
t
hai mươi vạn dân. Mà phải đánh nhan h giải quyố
nhan h độ một tuần rồi rút cho “sớm chợ”, như lính
thườ ng nói vui, chứ kéo dài thì gạo đâu mà ăn?
Hơn nữa đây là chiên dịch công kiên dài ngày, binh
hoa lực đem sư dụng rất lớn, lại tác chiến ở một điểrn
nhất định, nên tuyê n vận tải cung cấp tiếp tế đểu
hướn g vê một nơi quá rõ là lòng chảo Điện Biên nên
mạn g lưới đường sá, xe cộ hệ thốn g kho tàng bố trí dọc
đường không thể giữ được bí mật, bất ngò. Địch đã tận
g
dụng ưu thê của không quân và pháo binh sẽ tập trun
mọi khả năng của máy bay và đại bác đánh phá ác liệt
nhăm căt đứt hậu phương với tiền tuyế n phá hủy cơ sở
vạt chat ky thuậ t cua ta. Cho nên có thể nói ngoài cuộc
chiên đấu ác liệt ở trong lòng chảo Điện Biên Phủ còn
co cuộc chiên đâu nữa trên tuyê n hậu cần giữa ta và
địch cũng sẽ hết sức quyết liệt.
Rồi đánh lón kéo dài chiến đấu ác liệt trong chiến
hào trên cánh đồng Điện Biên Phủ dưói ưu th ế của phi
pháo địch, nhất định số thươ ng vong sẽ lán, sức khỏe
g
của bộ đội sẽ bị giảm sút, công tác nuôi dưõng, phòn
g
bẹnh cứu chữa cho bộ đội, dân công cũng sẽ gặp nhữn
khó khăn rất lốn.
Đó là về khác h quan!
Còn về chủ quan của quân ta thì từ trtxóic đến nay
trình độ lãnh đạo chỉ huy và tổ chức hậu cần của cán bộ
và chiế n sĩ, tuy cũng có đôi chút, nhưn g vẫn còn non
g
yêu và so với yêu cầu của chiến dịch này thì rất khôn
đu, khon g thê trán h khỏi bỡ ngỡ sai sót
24
Như vậy à vấn đề hậu phương hậu cần cung cấp
tiếp tế là vấr đề nổi lên khó khăn nhất khiến ta phải
cân nhắc rất iỹ.
Để giải qiyết tất cả những khó khăn trên, phải có
một quyết tân ghê gớm cùng với trình độ tô chức cực kỳ
giỏi, nâng thính khoa học mà dân tộc ta chưa bao giờ
phải giải quy«t một vấn đề lớn như thê.
2 CÒN CÁI KHÓ CỦA NA-VA?
Về phía Na-va, một tướng thao lược không phải
hạng tồi khi (hấp nhận trận đánh bằng cách chọn Điện
Biên Phủ, cũng đã rất chú ý đến vấn đề hậu cần, như
mọi tướng lĩnh trong lịch sử từ xưa đến nay, từ Ha-ni-ban
khi đem quân vượt dãy núi An-pơ, Phi-líp II Tây Ban
Nha, đưa hạm đội Ar-ma-da bất khả chiến thắng sang
đánh nước A.nh, đến Na-pô-lê-ông tiến vào đồng bằng
sông Pô hav kéo quân vào nưốc Nga mênh mông tuyết
phủ, cũng dều rất chú ý đến vấn đề hậu cần; cho đên
gần đây khi quân Mỹ gây chiến tranh vùng Vịnh, sở dĩ
áp đảo 1-rắc CQi^g là do có một hậu cần khổng lồ tối tân,
hiện đại, mà \lỹ vẫn tự hào.
Còn Na-V\, khi cho quân nhảy dù xuôhg Điện Biên
Phủ với trên 10 tiểu đoàn, 2 trung đoàn pháo nặng, để
làm 3 nhiệm vụ; niột cái nút bít đường quân ta sang
Lào, đồng tlpi xây dựng nó thành một tập đoàn cứ
(ìiểm mạnh ihất Đông Dương, một pháo đài bất khả
25
xâm phạm, đồng thòi là một cái nhọt kéo quân ta lên
giao chiến thì nó lại là cái máy nghiền thịt ghê gớm, lần
này quyết cho quân Việt Minh một trận biết tay.
Nhưng kéo hàng gần 2 vạn quân lên đây với đủ xe
tăng, đại bác các loại súng đạn tốì tân và từ các tấm
thép lớn làm nóc hầm cho đến lương thực (lại cả rượu
vang) cho đến tờ giấy, cái đinh, nhất nhất đểu phải
dùng máy bay chở lên để tiếp tê cho cái “hàng không
mẫu hạm khổng lồ mắc cạn trên rừng núi Tây Bắc heo
hút” này, Na-va cho rằng với cầu hàng không hiện đại
tối tân của Mỹ giúp đều có thể giải quyết được hết.
Tính cụ thể những ngày đầu, tháng đầu, phải dùng
máy bay chuyên chở 36.000 tấn vật liệu và từ 500 tấn
lên đến 3.000 tấn dây thép gai cho việc xây dựng tập
đoàn cứ điểm, phải mâT 1.200 chuyến bay vận tải CAI,
bay từ Hà Nội (hay Hải Phòng) lên Điện Biên Phủ,
quay vòng nếu phải có 80 chuyến một ngày, thì phải
mất 5 tháng. Lại tính không quân có thể hạ cánh 100
lần chiếc và thả dù từ 100 đến 200 tấn/ngày, thừa sức
để nuôi mấy vạn quân tinh nhuệ ở đây. Tất cả là nhò
cầu hàng không bay tít trên trời cao, Việt Minh không
có cách gì ngăn cản đưỢc. Với lực lượng không quân
hùng hậu lúc bấy giò, lại thêm sự giúp đỡ về không
quân hùng hậu của Hoa Kỳ, Na-va tin tưởng rằng trong
tình huống nào cũng vẫn giữ được Điện Biên Phủ nêỉi
đã đề nghị chính phủ Pháp cho phép: “Chấp nhận chiêVi
đấu ở Điện Biên Phủ và bảo vệ Điện Biên Phủ bằng bất
cứ giá nào!”.
26
Và Na-va cũng khá sâu sát, đi kiểm tra cụ thể
Điện Biên Phủ trước ngày ta tấn công Him Lam và
ghi nhận rằng: “Ngày 13 tháng 3 bộ đội đồn trú có đủ
tất cả những lượng tiếp tế đã dự định: 9 ngày ăn, 8
ngày ét-xăng, 6 cơ số đạn cho từng tiểu đoàn bộ binh;
6,5 cơ sô" đạn cho pháo 105; 7 cơ số cho pháo 155;8 cơ
sô" cho cô"i 120;9 cơ sô" cho pháo 75 (của xe tăng M24).
Rồi đằng sau “3.000 tấn dây thép gai được căng la liệt
có đủ các thứ vũ khí, khí tài đặc biệt như súng phun
lửa, mìn, na-pan chôn dưới đất, hàng rào điện tử là
là mặt đất, phương tiện chô'ng đạn khói, máy hồng
ngoại, v.v và v.v...
Mức cung câ"p hàng ngày trong trường hỢp bị công
kích là 70 tấn theo mức chiến đấu trung bình và là 96
tấn theo mức chiên đấu ác liệt (xem “Đông Dương hấp
hốì” của Na-va).
Na-va lại cũng nắm được khả năng tiếp tế, cung cấp
của đối phương: “Việt Minh chỉ có 2 trung đoàn, 15.000
viên đạn 105 ly, 5.000 viên 75 ly, 25.000 viên đạn côi,
45.000 viên cao pháo, đúng là muối bỏ bể ném vào tập
đoàn cứ điểm. Việt Minh lại có 3 đường tiếp tê" tối Điện
Biên Phủ nhưng sức vận tải rất thấp, đường xấu, hỏng
nặng hoặc mới làm, lại có tới 40 địa điểm dễ bị đánh
phá. Còn phần lớn là lực lượng “cu ly” (danh từ hỗn
xược mà Tây thực dân thường dùng để gọi dân công)
mỗi người gánh 20kg đi lên đến Điện Biên Phủ thì đổ
vào mồm mất 18kg, còn 2 kg cho bộ đội tác chiến. Thế
thì đánh đấm íh!”.
27
Cho nên Na-va nắm chắc phần thắng, đinh ninh
rằng đôi phương nghèo nàn lạc hậu không thể nào vượt
qua được những khó khăn cực kỳ lớn của hậu cần.
Nhưng ông ta có biết đâu, như một dòng suối bí mật
và lặng lẽ, bộ đội và dân công Việt Nam vẫn hành quân
lên Điện Biên Phủ khép kín dần vòng vây, chạy đua
tiếp tế với 227 chiếc máy bay đủ các loại của cầu hàng
không của Na-va.
Tôi nhó những ngày chưa nổ súng tấn công Điện
Biên Phủ, một hôm ở chỉ huy sở Mường Phăng, được
nghe anh Văn nói vui: “ở đây không phải chỉ có Võ
Nguyên Giáp là tướng mà còn có một ồng tướng nữa, là
tướng gạo!”.
Và anh cười thật hỏm hỉnh, sau đó tôi càng hiểu rõ
khi anh ghi trong hồi ký:
Riêng về gạo phải dựng
hẳn một bảng biểu đồ. Mỗi sáng đã thành một thói
quen khi mối ngủ dậy là tôi nhìn ngay vào biểu đồ, xem
sô gạo nhập vào các kho mặt trận đêm trước là bao
nhiêu... Tôi dành liền mấy ngày không theo dõi tác
chiến ngồi họp cùng các anh Bình, anh Thiện, anh Nam
bàn cách giải quyết khâu yếu này. Trong chiến dịch các
đồng chí phụ trách công tác hậu cần đã gặp những khó
khăn vượt quá sức mình. Nhưng trận này Đảng chỉ cho
ta phải thắng không được thua.
Một sô lớn cán bộ của mặt trận được phân phối ngay
xuông các tuyến cung cấp để đẩy mạnh hoạt động.
Đúng 6 giò sáng, tôi đứng bên máy điện thoại trực tiếp
28
nhận báo cáo sô" lượng gạo, đạn vận chuyển trong
dêm của hậu cần... Đường chì đỏ trên bảng biểu đồ
nhích dần lên cao, nhưng môi lo của ch...
 








Các ý kiến mới nhất