HỒ CHÍ MINH TIỂU SỬ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:32' 15-01-2024
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:32' 15-01-2024
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HỒ CHÍ MINH - TIỂU SỬ
Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Hồ Chí Minh - Tiểu sử / B.s.: Chu Đức Tính (ch.b.),
Vũ Thị Nhị, Phạm Thị Lai... - Tái bản. - H. : Chính trị Quốc
gia, 2017. - 332tr. ; 18cm
ĐTTS ghi: Bảo tàng Hồ Chí Minh
1. Hồ Chí Minh, 1890-1969, Lãnh tụ Cách mạng,
chính trị gia, Việt Nam 2. Tiểu sử
959.704092 - dc23
CTH0490p-CIP
CHỦ BIÊN
TS. CHU ĐỨC TÍNH
NHÓM BIÊN SOẠN
VŨ THỊ NHỊ
PHẠM THỊ LAI
LÊ THỊ LIÊN
TS. VĂN THỊ THANH MAI
NGUYỄN TƯỜNG VÂN
NGUYỄN THANH NGA
PHẠM THU HÀ
ThS. NGUYỄN THÚY ĐỨC
ĐỖ THỊ MỸ AN
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là kết tinh trí tuệ,
bản lĩnh và khí phách Việt Nam được nâng cao tầm
vóc trong thời đại mới. Điếu văn của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng trước anh linh Người đã
đánh giá: “Hơn 60 năm qua, từ buổi thiếu niên cho
đến phút cuối cùng, Hồ Chủ tịch đã cống hiến trọn
đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời
oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng
và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”.
Người đã có công lao to lớn sáng lập và rèn luyện
Đảng ta, sáng lập ra Nhà nước ta, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và là người cha thân yêu của các lực lượng
vũ trang. Với những đóng góp vượt thời đại cho dân
tộc và cho nhân loại, UNESCO đã tôn vinh Người là
Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất
với nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu
tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã
cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân
tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu
tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc,
5
dân chủ và tiến bộ xã hội... Sự đóng góp quan trọng
về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các
lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh
của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân
dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện
thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc
khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu
cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.
Bằng thiên tài trí tuệ và bản lĩnh cách mạng của
mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công
hệ quan điểm cách mạng toàn diện, hệ thống và sáng
tạo để truyền bá vào Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng
sản Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ
nguyên độc lập, tự do.
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương
sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về tinh
thần đoàn kết chiến đấu, về đạo đức cách mạng: Trung
với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng.
Sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch
Hồ Chí Minh vĩ đại là tài sản tinh thần vô giá của các thế
hệ người Việt Nam, luôn tỏa sáng soi đường cho cách
mạng Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi vẻ vang
và đang vững bước trên con đường đổi mới vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Ngày 27-3-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra
Chỉ thị số 23-CT/TW Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên
truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai
6
đoạn mới. Tiếp đó, ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị ban
hành Chỉ thị số 06-CT/TW Về tổ chức cuộc vận động
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Qua hơn 4 năm thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị,
cuộc vận động đã đạt kết quả bước đầu, góp phần vào
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kết quả triển khai
cuộc vận động đã khẳng định việc học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất quan trọng và
cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước
mắt mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp
cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Vì vậy, ngày
14-5-2011, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 03-CT/TW Về tiếp
tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh, với mục đích, yêu cầu và những nội
dung chủ yếu cụ thể cần thực hiện.
Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của
Bộ Chính trị đã đạt được những kết quả bước đầu,
góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một
số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
Tuy nhiên, việc học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh còn có những hạn chế. Do đó, ngày
15-5-2006, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số
05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thiết thực phục vụ việc thực hiện Chỉ thị số
05-CT/TW và đáp ứng nhu cầu của bạn đọc tìm hiểu
7
về cuộc đời, sự nghiệp của Bác, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ tư cuốn sách
Hồ Chí Minh - Tiểu sử.
Cuốn sách do tập thể cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh
biên soạn, TS. Chu Đức Tính - nguyên Giám đốc Bảo
tàng làm chủ biên dựa trên cơ sở các cuốn sách đã
được xuất bản: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và
sự nghiệp, in lần thứ 7, Nhà xuất bản Sự thật, 1987;
Hồ Chí Minh tiểu sử, Nhà xuất bản Lý luận chính
trị, 2006; Hồ Chí Minh: Toàn tập, 15 tập, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2011; Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, 10 tập, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật, 2016 và một số sách, tư liệu của
Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Kế thừa một số cuốn tiểu sử viết về Bác trước
đây, bằng những tư liệu chân thực, cuốn sách trình
bày một cách vắn tắt nhưng tương đối đầy đủ và có
hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, rất thích hợp với đông đảo bạn đọc.
Trong quá trình biên soạn, các tác giả đã hết
sức cố gắng, song không tránh khỏi những hạn chế,
thiếu sót. Rất mong bạn đọc góp ý, phê bình.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 9 năm 2017
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
8
Chương I
THỜI NIÊN THIẾU
(1890-1911)
Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời thơ ấu tên là
Nguyễn Sinh Cung1, sinh ngày 19-5-1890, tại
quê ngoại là làng Hoàng Trù (còn gọi là làng
Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Kim Liên,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), trong một gia
đình nhà Nho, nguồn gốc nông dân.
Cha của Người là Nguyễn Sinh Sắc
(Nguyễn Sinh Huy), sinh năm 1862, mất năm 1929,
quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen)
___________
1. Trong một bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
năm 1954, Người ghi tên còn nhỏ của mình là
Nguyễn Sinh Côn (Bản chụp bút tích, lưu Kho Tư
liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh).
9
cùng thuộc xã Chung Cự, nay là xã Kim Liên,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông Nguyễn
Sinh Sắc xuất thân từ gia đình nông dân, mồ
côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó làm việc và
ham học. Vì vậy, ông được nhà Nho Hoàng
Xuân Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn
Sinh đem về nuôi. Là người ham học và thông
minh, lại được nhà Nho Hoàng Xuân Đường hết
lòng chăm sóc, dạy dỗ, ông thi đỗ Phó bảng và
sống bằng nghề dạy học. Đối với các con, ông
Sắc giáo dục ý thức lao động và học tập để hiểu
đạo lý làm người. Khi còn trẻ, như nhiều người
có chí đương thời, ông dùi mài kinh sử, quyết
chí đi thi. Nhưng càng học, càng hiểu đời, ông
nhận thấy: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô
lệ, hựu nô lệ”, nghĩa là “Quan trường là nô lệ
trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn”. Do
đó, sau khi đỗ Phó bảng, được giao một chức
quan nhỏ, nhưng vốn có tinh thần yêu nước,
khảng khái, ông thường chống đối lại bọn quan
trên và thực dân Pháp. Vì vậy, sau một thời
gian làm quan, ông bị chúng cách chức và thải
hồi. Ông vào Nam Bộ làm thầy thuốc, sống cuộc
đời thanh bạch cho đến lúc qua đời.
10
Mẹ của Người là Hoàng Thị Loan, sinh
năm 1868, mất năm 1901, là một phụ nữ cần
mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm
ruộng và dệt vải, hết lòng thương yêu và chăm
lo cho chồng con.
Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có
tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884,
mất năm 1954. Anh của Người là Nguyễn Sinh
Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh
năm 1888, mất năm 1950. Em của Người là
Nguyễn Sinh Nhuận (thường gọi là bé Xin),
sinh năm 1900, vì ốm yếu nên sớm qua đời. Các
anh chị của Người lớn lên đều chịu ảnh hưởng
của ông bà, cha mẹ, chăm làm việc và rất
thương người, đều là những người yêu nước, đã
tham gia phong trào yêu nước và bị thực dân
Pháp và triều đình phong kiến bắt bớ tù đày.
Từ lúc ra đời đến tuổi lên 5, Nguyễn Sinh
Cung sống ở quê nhà trong sự chăm sóc đầy
tình thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ, lớn
lên trong truyền thống tốt đẹp của quê hương,
hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa
trong cuộc sống và bất khuất trước kẻ thù.
Nguyễn Sinh Cung ham hiểu biết, thích nghe
chuyện và hay hỏi những điều mới lạ, từ các
11
hiện tượng thiên nhiên đến những chuyện cổ
tích mà bà ngoại và mẹ thường kể.
Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng với
gia đình chuyển vào Huế lần thứ nhất, khi ông
Nguyễn Sinh Sắc vào Kinh thi hội. Từ cuối
năm 1895 đến đầu năm 1901, Nguyễn Sinh
Cung sống cùng cha mẹ tại Huế, ở nhờ nhà
một người quen ở trong thành nội (nay là số
nhà 112, đường Mai Thúc Loan). Đó là những
năm tháng gia đình ông Sắc sống trong cảnh
gieo neo, thiếu thốn. Bà Hoàng Thị Loan làm
nghề dệt vải, còn ông Sắc ngoài thời gian học,
phải đi chép chữ thuê để kiếm sống, để học và
dự thi.
Năm 1898, ông Nguyễn Sinh Sắc dự thi hội
lần thứ hai nhưng vẫn không đỗ. Cuộc sống gia
đình càng thêm chật vật khó khăn. Gần cuối
năm 1898, theo lời mời của ông Nguyễn Sĩ Độ,
ông Nguyễn Sinh Sắc về dạy học cho một số học
sinh ở làng Dương Nỗ, tại ngôi nhà của ông
Nguyễn Sĩ Khuyến (em trai ông Nguyễn Sĩ Độ),
xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên,
cách thành phố Huế 6 km. Nguyễn Sinh Cung
cùng anh theo cha về đây và bắt đầu học chữ
Hán tại lớp học của cha.
12
Cuối năm 1900, ông Nguyễn Sinh Sắc được
cử đi coi thi ở trường thi hương Thanh Hóa.
Ông đưa Nguyễn Sinh Khiêm đi cùng, còn
Nguyễn Sinh Cung thì về sống với mẹ trong nội
thành Huế. Bà Loan sinh bé Xin trong hoàn
cảnh khó khăn, túng thiếu nên lâm bệnh và
qua đời. Chẳng bao lâu sau, bé Xin quá yếu
cũng theo mẹ. Mới 11 tuổi, Nguyễn Sinh Cung
đã chịu nỗi đau mất mẹ và em.
Hơn 5 năm sống ở kinh thành Huế, Nguyễn
Sinh Cung thấy được nhiều điều mới lạ. So với
quê hương xứ Nghệ, Huế có nhiều nhà cửa to
đẹp, nhiều cung điện uy nghiêm. Nguyễn Sinh
Cung cũng thấy ở Huế có nhiều lớp người,
những người Pháp thống trị nghênh ngang,
hách dịch và tàn ác; những ông quan Nam
triều bệ vệ trong những chiếc áo gấm, hài
nhung, mũ cánh chuồn, nhưng khúm núm rụt
rè; còn phần đông người lao động thì chịu
chung số phận đau khổ và tủi nhục. Đó là những
người nông dân rách rưới mà người Pháp gọi là
bọn nhà quê, những phu khuân vác, những người
cu ly kéo xe tay, những trẻ em nghèo khổ, lang
thang trên đường phố... Những hình ảnh đó đã
in sâu vào ký ức của Nguyễn Sinh Cung.
13
Được tin vợ qua đời, ông Nguyễn Sinh Sắc
vội trở lại Huế, đưa con về quê. Sau khi thu
xếp cuộc sống cho các con, được sự động viên
của bà con trong họ ngoài làng, ông Nguyễn
Sinh Sắc lại vào Huế dự kỳ thi hội năm Tân
Sửu. Lần này đi thi ông mang tên mới là
Nguyễn Sinh Huy.
Tháng 5-1901, ông Nguyễn Sinh Huy đậu
Phó bảng khoa thi hội Tân Sửu. Khoảng tháng
9-1901, Nguyễn Sinh Cung cùng gia đình
chuyển về sống ở quê nội. Ông Nguyễn Sinh
Huy làm lễ vào làng cho hai con trai với tên
mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và
Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).
Tại quê nhà, Nguyễn Tất Thành được gửi
đến học chữ Hán với các thầy giáo Hoàng Phan
Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần
Thân. Các thầy đều là những người yêu nước.
Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện
qua các buổi bàn luận thời cuộc giữa các thầy
với các sĩ phu yêu nước. Nguyễn Tất Thành dần
dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các
bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan.
Trong những người mà ông Sắc thường gặp gỡ
có ông Phan Bội Châu. Giống như nhiều nhà
14
Nho yêu nước lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng
day dứt trước hiện tình đất nước và số phận
của dân tộc. Con người nhiệt huyết ấy trong lúc
rượu say vẫn thường ngâm hai câu thơ của
Viên Mai:
“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn chương”.
Nghĩa là:
“Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách,
Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”.
Câu thơ đã tác động nhiều đến Nguyễn Tất
Thành và góp phần định hướng cho người thiếu
niên sớm có hoài bão lớn.
Lớn dần lên, càng đi vào cuộc sống của
người dân địa phương, Nguyễn Tất Thành càng
thấm thía thân phận cùng khổ của người dân
mất nước. Đó là nạn thuế khóa nặng nề cùng
với việc nhân dân bị bắt làm phu xây dựng
đường trong tỉnh, làm đường từ Cửa Rào, đi
Xiêng Khoảng (Lào) nơi rừng thiêng nước độc.
Những cuộc ra đi không có ngày về, nhân dân
lầm than, ai oán.
Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành
theo cha đến xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương,
tỉnh Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Tại đây
15
Nguyễn Tất Thành lại có dịp nghe chuyện thời
cuộc của các sĩ phu đến đàm đạo với cha mình.
Cuối năm 1904, Nguyễn Tất Thành theo
cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh
Hà Tĩnh, khi ông Sắc đến đây dạy học. Ngoài
thời gian học tập, Nguyễn Tất Thành thường
theo cha đến các vùng trong tỉnh như làng
Đông Thái, quê hương của Phan Đình Phùng,
thăm các di tích thành Lục niên, miếu thờ La
Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, v.v..
Tháng 7-1905, Nguyễn Tất Thành theo cha
đến huyện Kiến Xương, Thái Bình, trong dịp ông
Nguyễn Sinh Sắc đi gặp các sĩ phu ở vùng đó.
Khoảng tháng 9-1905, Nguyễn Tất Thành
và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn Sinh Huy
xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường
tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh.
Chính tại ngôi trường này, Nguyễn Tất Thành
lần đầu tiên được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do Bình đẳng - Bác ái.
Những chuyến đi này giúp Nguyễn Tất
Thành mở rộng thêm tầm nhìn và tầm suy
nghĩ. Anh nhận thấy ở đâu người dân cũng lam
lũ đói khổ, nên dường như trong họ đang âm ỷ
những đốm lửa muốn thiêu cháy bọn áp bức bóc
16
lột thực dân phong kiến. Trước cảnh thống khổ
của nhân dân, anh đã sớm “có chí đuổi thực
dân Pháp giải phóng đồng bào”.
Sau nhiều năm lần lữa việc đi làm quan,
cuối tháng 5-1906, ông Nguyễn Sinh Huy vào
kinh đô nhậm chức. Nguyễn Tất Thành và anh
trai cùng đi theo cha. Vào Huế, Nguyễn Tất
Thành cùng với anh trai được cha cho đi học
Trường tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên,
lớp dự bị (cours préparatoire, tháng 9-1906);
lớp sơ đẳng (cours élémentaire, tháng 9-1907).
Ở Huế, lần này xảy ra một sự kiện đáng ghi
nhớ trong cuộc đời của Nguyễn Tất Thành.
Tháng 4-1908, anh tham gia cuộc biểu tình
chống thuế của nông dân tỉnh Thừa Thiên, khởi
đầu cho cuộc tranh đấu suốt đời vì quyền lợi
của nhân dân lao động. Vì những hoạt động
yêu nước, tham gia cuộc đấu tranh của nông
dân, Nguyễn Tất Thành bị thực dân Pháp để ý
theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Huy cũng bị chúng
khiển trách vì đã để cho con trai có những hoạt
động bài Pháp.
Tuy nhiên, tháng 8-1908, Nguyễn Tất Thành,
với tên gọi Nguyễn Sinh Côn, vẫn được ông Hiệu
trưởng Quốc học Sukê (Chouquet) tiếp nhận vào
17
học tại trường. Tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành
vào lớp trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen) tại
Trường Quốc học Huế.
Trong thời gian học tại Trường Quốc học
Huế, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc nhiều
với sách báo Pháp. Các thầy giáo của Trường
Quốc học Huế có người Pháp và cả người Việt
Nam, cũng có những người yêu nước như thầy
Hoàng Thông, thầy Lê Văn Miến. Chính nhờ
ảnh hưởng của các thầy giáo yêu nước và sách
báo tiến bộ mà anh được tiếp xúc, ý muốn đi
sang phương Tây tìm hiểu tình hình các nước
và học hỏi những thành tựu của văn minh
nhân loại từng bước lớn dần trong tâm trí của
Nguyễn Tất Thành. Cùng thời gian đó, Nguyễn
Tất Thành còn được nghe kể về những hành
động của những ông vua yêu nước như Thành
Thái, Duy Tân và những bàn luận về con đường
cứu nước trong các sĩ phu yêu nước.
Khoảng tháng 6-1909, Nguyễn Tất Thành
rời Trường Quốc học Huế theo cha vào Bình
Định, khi ông được bổ nhiệm chức Tri huyện
Bình Khê. Trong thời gian ở Bình Khê, Nguyễn
Tất Thành thường được cha dẫn đi thăm các sĩ
18
phu trong vùng và thăm di tích lịch sử vùng
Tây Sơn.
Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha
gửi học tiếp chương trình lớp cao đẳng (lớp nhất cours supérieur), tại Trường tiểu học Pháp - Việt
Quy Nhơn. Ông Nguyễn Sinh Sắc hiểu khả năng
và chí hướng người con trai thứ của mình nên đã
tạo điều kiện cho anh được tiếp tục học lên.
Tháng 6-1910, Nguyễn Tất Thành hoàn
thành chương trình tiểu học. Sau khi nghe tin
cha bị cách chức Tri huyện Bình Khê, bị triệu
hồi về Kinh, anh không theo cha trở về Huế mà
quyết định đi tiếp xuống phía Nam. Trên
đường từ Quy Nhơn vào Sài Gòn, Nguyễn Tất
Thành dừng chân ở Phan Thiết. Ở đây anh xin
vào làm trợ giáo (moniteur), được giao dạy một
số môn, đồng thời phụ trách các hoạt động
ngoại khóa của Trường Dục Thanh, một trường
tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội và
Nguyễn Quý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông,
một nhân sĩ yêu nước) thành lập năm 1907.
Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm
những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ
Nguyễn Thông để đọc. Lần đầu tiên anh được
tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà
19
khai sáng Pháp như Rútxô (Rousseau), Vônte
(Voltaire), Môngtétxkiơ (Montesquieu). Sự tiếp
cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc
anh tìm đường đi ra nước ngoài.
Tháng 2-1911, Nguyễn Tất Thành rời Phan
Thiết vào Sài Gòn. Anh ở tạm tại trụ sở các chi
nhánh của Liên Thành công ty đặt tại Sài Gòn,
như nhà số 3, đường Tổng đốc Phương (nay là
số 5, đường Châu Văn Liêm); nhà số 128, Khánh
Hội. Ở Sài Gòn một thời gian ngắn, anh thường
đi vào các xóm thợ nghèo, làm quen với những
thanh niên cùng lứa tuổi. Ở đâu anh cũng thấy
nhân dân lao động bị đọa đày, khổ nhục.
Nguyễn Tất Thành cũng hay đến những cửa
hàng ở gần cảng Sài Gòn, nơi chuyên nhận giặt
là quần áo cho các thủy thủ trên tàu Pháp, để
tìm cách xin việc làm trên tàu, thực hiện ước
mơ có những chuyến đi xa.
Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành
sinh ra và lớn lên khi nước ta bị thực dân Pháp
xâm lăng và đã trở thành một nước thuộc địa
nửa phong kiến. Nhân dân bị nô lệ, đói khổ,
lầm than. Quê hương có truyền thống đấu
tranh anh dũng, chống giặc ngoại xâm. Thời
gian 10 năm sống ở Kinh đô Huế - trung tâm
20
văn hóa, chính trị của đất nước, tiếp xúc với
nền văn hóa mới, với phong trào Duy Tân, đã
cho Nguyễn Tất Thành nhiều hiểu biết mới.
Nhìn lại các phong trào yêu nước như phong
trào Cần Vương, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa
Hương Khê do cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo;
phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu;
phong trào Đông Kinh nghĩa thục; cuộc khởi
nghĩa Yên Thế do cụ Hoàng Hoa Thám lãnh
đạo; cuộc vận động cải cách của cụ Phan Châu
Trinh và phong trào chống thuế của nông dân
Trung Kỳ, anh rất khâm phục và coi trọng các
bậc tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không
đi theo con đường đó. Thực tiễn thất bại của các
phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra
nhiều câu hỏi và tác động đến chí hướng của
Nguyễn Tất Thành, để rồi anh có một quyết
định chính xác và táo bạo là xuất dương tìm
đường cứu nước.
21
Chương II
TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
(1911-1920)
Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên
là Văn Ba xin làm phụ bếp trên tàu Đô đốc
Latútsơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville),
một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của
hãng Năm Sao đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn
đi Mácxây (Marseille), Pháp.
Ngày 5-6-1911, trên con tàu Đô đốc Latútsơ
Tơrêvin, từ bến cảng thành phố Sài Gòn (nay là
Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tất Thành
rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.
Về mục đích ra đi của mình, năm 1923
Người đã trả lời một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi
độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba
chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái... Tôi rất
muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn
22
tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ
ấy”1. Một lần khác trả lời một nhà văn Mỹ,
Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có
ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi
nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách
thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có
người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước
ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra
sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”2.
Theo hành trình của tàu, Nguyễn Tất
Thành đã dừng chân ở cảng Mácxây, cảng Lơ
Havơrơ (Le Havre) của Pháp. Những ngày đầu
tiên trên đất Pháp, được chứng kiến ở Pháp
cũng có những người nghèo như ở Việt Nam,
anh nhận thấy có những người Pháp trên đất
Pháp tốt và lịch sự hơn những tên thực dân
Pháp ở Đông Dương.
Không dừng lại ở Pháp, năm 1912, Nguyễn
Tất Thành làm thuê cho một chiếc tàu của hãng
Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) đi vòng quanh
châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng
của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
___________
1. Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923.
2. Báo Nhân dân, ngày 18-5-1965.
23
Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan,
Rêuyniông... Đến đâu anh cũng thấy cảnh khổ
cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã
man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Một trong
những cảnh ấy anh đã trông thấy ở Đaca
(Dacar): “Đến Đaca, bể nổi sóng rất dữ. Tàu
không thể vào bờ. Cũng không thể thả canô
xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn
Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi
ra chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn người da đen
nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ
bị sóng bể cuốn đi”1. Cảnh tượng đó làm cho
Nguyễn Tất Thành rất đau xót. Anh liên tưởng
một cách tự nhiên đến số phận của người dân
Việt Nam, đồng bào khốn khổ của anh. Họ cũng
là nạn nhân của sự hung ác, vô nhân đạo của
bọn thực dân. Những sự việc như vậy diễn ra
khắp nơi trên đường anh đi qua, tạo nên ở anh
mối đồng cảm sâu sắc với số phận chung của
nhân dân các nước thuộc địa.
___________
1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội,
1975, tr.23.
24
Nguyễn Tất Thành theo con tàu tiếp tục đi
qua Máctiních (Martinique) (Trung Mỹ), Urugoay
và Áchentina (Nam Mỹ) và dừng lại ở nước Mỹ
cuối năm 1912. Tại đây, anh có dịp tìm hiểu
cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ
với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch
sử. Anh vừa đi làm thuê để kiếm sống vừa tìm
hiểu đời sống của những người lao động Mỹ.
Anh đã đến thăm quận Brúclin (Brooklyn) của
thành phố Niu Oóc (New York). Anh đi xe điện
ngầm đến khu Háclem (Harlem) để tìm hiểu
đời sống và cuộc đấu tranh chống phân biệt
chủng tộc của những người da đen.
Với mục đích ra đi để tìm hiểu, do vậy, trong
thời gian tàu dỡ hàng và lấy hàng, Nguyễn Tất
Thành đã tranh thủ lúc rỗi rãi đi xem xét nhiều
nơi, từ những khu phố hoa lệ nổi tiếng thế giới
với những ngôi nhà cao chọc trời ở Niu Oóc đến
những ngôi nhà ổ chuột ở khu Háclem.
Dừng chân ở nước Mỹ không lâu nhưng
Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra bộ mặt thật
của đế quốc Hoa Kỳ. Đằng sau khẩu hiệu “cộng
hòa dân chủ” của giai cấp tư sản Mỹ là những
thủ đoạn bóc lột nhân dân lao động rất tàn bạo.
25
Anh cảm thông sâu sắc với đời sống của người
dân lao động da đen và rất căm giận bọn phân
biệt chủng tộc, hành hình người da đen một
cách man rợ, mà sau này anh đã viết lại trong
bài báo Hành hình kiểu Linsơ.
Khoảng đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành
theo tàu rời Mỹ trở về Lơ Havơrơ, sau đó sang
Anh. Đến nước Anh, để kiếm tiền sinh sống,
anh nhận cào tuyết cho một trường học, rồi làm
thợ đốt lò. Công việc hết sức nặng nhọc, nhưng
sau mỗi ngày anh đều tranh thủ thời gian học
tiếng Anh.
Từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư
liên hệ với cụ Phan Châu Trinh, lúc này đang ở
Pháp, thông báo tình hình sinh hoạt, học tập
của mình, hỏi thăm tình hình người thân của
cụ Phan. Trong thư, Nguyễn Tất Thành cũng
bày tỏ và thăm dò ý kiến của cụ Phan về tình
hình thời cuộc.
Cuối năm 1913, sau hai tuần nghỉ việc vì bị
cảm, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ở khách
sạn Đraytơn Cơớc, đại lộ Đraytơn, khu Oét
Ilinh (Drayton Court, Drayton Av., West Ealing),
phía tây Luân Đôn.
26
Một thời gian sau, Nguyễn Tất Thành lại
chuyển sang làm phụ bếp ở khách sạn Cáclơtơn
(Carlton), phố Hây Makét, một khách sạn sang
nổi tiếng ở Luân Đôn. Nguyễn Tất Thành làm
việc dưới sự điều khiển của vua bếp Étcốpphie
(Escophier), một người Pháp có tư tưởng tiến bộ.
Nguyễn Tất Thành được giao nhiệm vụ thu dọn
và rửa bát, đĩa, nồi, chảo, v.v.. Những người giàu
có khi ăn uống rất lãng phí, bỏ thừa khá nhiều,
có khi cả một phần tư con gà. Anh gói lại những
miếng ngon đưa cho nhà bếp. Ông Étcốpphie
chú ý tới việc làm đó và hỏi anh: “Tại sao anh
không quẳng thức ăn thừa vào thùng như
những người kia?
- Không nên vứt đi. Ông có thể cho người
nghèo những thứ ấy.
- Ông bạn trẻ của tôi ơi, anh nghe tôi. Ông
Étcốpphie vừa nói vừa cười và có vẻ bằng lòng.
Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh
lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp,
làm ngon anh sẽ được nhiều tiền. Anh bằng
lòng chứ?”1.
___________
1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr.29.
27
Từ đó, ông chuyển anh vào chỗ làm bánh
với mức lương cao hơn.
Tại Anh, Nguyễn Tất Thành đã hăng hái
tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trời của
nhiều nhà chính trị và triết học, tham gia Hội
những người lao động hải ngoại, ủng hộ cuộc
đấu tranh yêu nước của nhân dân Ailen. Cũng
trong thời gian này anh được đọc một tờ báo
Anh đưa tin về ông Terence Mac Swiney, Thị
trưởng thành phố Cork, nhà đại ái quốc Ailen,
đấu tranh chống đế quốc Anh, bị bắt. Trong tù
ông đã tuyệt thực. Ông nằm nghiêng một phía,
không ăn, không cử động hơn 40 ngày và hy
sinh. Hàng ngàn người Ailen lưu vong nối nhau
thành hàng dài trên đường phố Luân Đôn đưa
tiễn ông Mac Swiney về yên nghỉ tại Cork.
Nguyễn Tất Thành hết sức xúc động và cảm
phục tinh thần bất khuất của ông: “Can đảm
biết bao! Dũng cảm biết bao! Một dân tộc có
những người như ông Cúc sẽ không bao giờ
đầu hàng”1.
___________
1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr.29.
28
Giữa lúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất
diễn ra ác liệt, tình hình Đông Dương đang có
những biến động, vào khoảng cuối năm 1917,
Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp để có
điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào
Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.
Trở lại Pháp, đến Thủ đô Pari, lúc đầu
Nguyễn Tất Thành ở phố Sarôn (Charonne)
trong một thời gian ngắn; từ ngày 7 đến 11-61919 ở nhà số 10, phố Xtốckhôm (Stokholm);
ngày 12-6-1919, chuyển đến ở nhà số 56 phố
Mơxiên lơ Pơranhxơ (Monsieur le Prince);
tháng 7-1919, ở nhà số 6, phố Vila đê Gôbơlanh
(Villa des Gobelins), quận 13; ngày 14-7-1921,
chuyển đến ở nhà số 12, phố Buyô. Trong
tháng 7-1921, Nguyễn Tất Thành chuyển đến
nhà số 9, ngõ Côngpoanh (Compoint), quận 17,
một trong những khu lao động nghèo nhất của
Thủ đô nước Pháp. Ngày 14-3-1923, anh đến ở
nhà số 3, phố Mácsê đê Patơriácsơ (Marché
des Patriaches).
Thời gian đầu khi tới Pari, chưa có giấy tờ
hợp pháp, Nguyễn Tất Thành được các đồng chí
trong Ban đón tiếp những người lao động nhập
29
cư của Đảng Xã hội Pháp giúp đỡ. Trong khi
chờ các đồng chí tìm cho giấy tờ quân dịch hợp
pháp, anh phải sống ẩn náu, hạn chế đi lại để
tránh sự kiểm tra của cảnh sát. Cuộc sống của
anh lúc đó gặp rất nhiều khó khăn. Vừa hoạt
động chính trị, vừa phải kiếm sống một cách
chật vật, khi thì làm thuê cho một hiệu ảnh,
khi thì vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệ
Trung Hoa, nhưng anh vẫn kiên trì, hăng say
học tập và hoạt động. Anh thường xuyên gặp gỡ
với những người Việt Nam ở Pháp, có tư tưởng
và khuynh hướng tiến bộ như Phan Châu
Trinh, Phan Văn Trường. Nguyễn Ái Quốc từng
bước tham gia vào cuộc đấu tranh của phong
trào công nhân và lao động Pháp.
Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành
gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi vì sao
vào Đảng, anh trả lời: Vì đây là tổ chức duy
nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách
mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.
Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất
kết thúc. Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước đế
quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị ở
Vécxây (Versailles) (Pháp). Hội nghị này còn
30
gọi là Hội nghị hòa bình Pari, nhưng thực chất
đó là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng
trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân
dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp
bức. Văn kiện chính của hội nghị là Hiệp ước
Vécxây xác định sự thất bại của nước Đức và
các nước Đồng minh của Đức, phân chia lại bản
đồ thế giới theo hướng có lợi cho các đế quốc
thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.
Thay mặt Hội những người yêu nước Việt
Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành cùng Phan
Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu
sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị
Vécxây. Dưới bản Yêu sách, Nguyễn Tất Thành
ký tên: Nguyễn Ái Quốc. Đây là lần đầu tiên tên
gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nguyễn Ái Quốc
tới lâu đài Vécxây gửi bản Yêu sách cho văn
phòng Hội nghị, sau đó lần lượt gửi bản Yêu
sách đến các đoàn đại biểu các nước Đồng minh
dự hội nghị. Hầu hết các đoàn đại biểu đều có
thư trả lời Nguyễn Ái Quốc.
Bản Yêu sách gồm tám điểm:
“1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản
xứ bị án tù chính trị;
31
2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng
cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng
những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu
châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng
làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận
trung thực nhất trong nhân dân An Nam;
3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;
4. Tự do lập hội và hội họp;
5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất
dương;
6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ
thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho
người bản xứ;
7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ
ra các đạo luật;
8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản
xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp
để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện
vọng của người bản xứ”1.
Nguyễn Ái Quốc còn tự tay viết Yêu sách
bằng hai thứ tiếng: một bản bằng chữ quốc ngữ
___________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t.1, tr.469-470.
32
theo thể văn vần, nhan đề Việt Nam yêu cầu ca và
một bản chữ Hán nhan đề An Nam nhân dân
thỉnh nguyện thư. Anh đến Nhà in Sácpăngchiê,
số 70 phố Gôbơlanh, bỏ tiền túi của mình thuê
in 6.000 bản Yêu sách của nhân dân An Nam
để phân phát trong các cuộc hội họp, míttinh,
phát đi nhiều nơi và bí mật gửi về Việt Nam.
Thực dân Pháp bắt đầu chú ý tới người có
tên Nguyễn Ái Quốc. Trong một lần đến theo
dõi buổi nói chuyện ở Hội trường Hooctiquyntơ
tại Pari, viên mật thám Pháp Pôn Ácnu (Paul
Arnoux) chuyên theo dõi người Việt Nam sống
ở Pari, tận mắt chứng kiến Nguyễn Ái Quốc
đang phân phát truyền đơn in bản Yêu sách
cho những người có mặt, đã phải thốt lên dự
cảm: “Con người thanh niên mảnh khảnh và
đầy sức sống này có thể là người sẽ đặt chữ
thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở
Đông Dương”1.
Bản Yêu sách phản ánh nguyện vọng của
nhân dân Việt Nam không được hội nghị xem xét.
___________
1. Hồng...
Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Hồ Chí Minh - Tiểu sử / B.s.: Chu Đức Tính (ch.b.),
Vũ Thị Nhị, Phạm Thị Lai... - Tái bản. - H. : Chính trị Quốc
gia, 2017. - 332tr. ; 18cm
ĐTTS ghi: Bảo tàng Hồ Chí Minh
1. Hồ Chí Minh, 1890-1969, Lãnh tụ Cách mạng,
chính trị gia, Việt Nam 2. Tiểu sử
959.704092 - dc23
CTH0490p-CIP
CHỦ BIÊN
TS. CHU ĐỨC TÍNH
NHÓM BIÊN SOẠN
VŨ THỊ NHỊ
PHẠM THỊ LAI
LÊ THỊ LIÊN
TS. VĂN THỊ THANH MAI
NGUYỄN TƯỜNG VÂN
NGUYỄN THANH NGA
PHẠM THU HÀ
ThS. NGUYỄN THÚY ĐỨC
ĐỖ THỊ MỸ AN
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là kết tinh trí tuệ,
bản lĩnh và khí phách Việt Nam được nâng cao tầm
vóc trong thời đại mới. Điếu văn của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng trước anh linh Người đã
đánh giá: “Hơn 60 năm qua, từ buổi thiếu niên cho
đến phút cuối cùng, Hồ Chủ tịch đã cống hiến trọn
đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời
oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng
và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”.
Người đã có công lao to lớn sáng lập và rèn luyện
Đảng ta, sáng lập ra Nhà nước ta, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và là người cha thân yêu của các lực lượng
vũ trang. Với những đóng góp vượt thời đại cho dân
tộc và cho nhân loại, UNESCO đã tôn vinh Người là
Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất
với nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu
tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã
cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân
tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu
tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc,
5
dân chủ và tiến bộ xã hội... Sự đóng góp quan trọng
về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các
lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh
của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân
dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện
thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc
khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu
cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.
Bằng thiên tài trí tuệ và bản lĩnh cách mạng của
mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công
hệ quan điểm cách mạng toàn diện, hệ thống và sáng
tạo để truyền bá vào Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng
sản Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ
nguyên độc lập, tự do.
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương
sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về tinh
thần đoàn kết chiến đấu, về đạo đức cách mạng: Trung
với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng.
Sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch
Hồ Chí Minh vĩ đại là tài sản tinh thần vô giá của các thế
hệ người Việt Nam, luôn tỏa sáng soi đường cho cách
mạng Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi vẻ vang
và đang vững bước trên con đường đổi mới vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Ngày 27-3-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra
Chỉ thị số 23-CT/TW Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên
truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai
6
đoạn mới. Tiếp đó, ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị ban
hành Chỉ thị số 06-CT/TW Về tổ chức cuộc vận động
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Qua hơn 4 năm thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị,
cuộc vận động đã đạt kết quả bước đầu, góp phần vào
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kết quả triển khai
cuộc vận động đã khẳng định việc học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất quan trọng và
cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước
mắt mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp
cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Vì vậy, ngày
14-5-2011, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 03-CT/TW Về tiếp
tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh, với mục đích, yêu cầu và những nội
dung chủ yếu cụ thể cần thực hiện.
Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của
Bộ Chính trị đã đạt được những kết quả bước đầu,
góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một
số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
Tuy nhiên, việc học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh còn có những hạn chế. Do đó, ngày
15-5-2006, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số
05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thiết thực phục vụ việc thực hiện Chỉ thị số
05-CT/TW và đáp ứng nhu cầu của bạn đọc tìm hiểu
7
về cuộc đời, sự nghiệp của Bác, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ tư cuốn sách
Hồ Chí Minh - Tiểu sử.
Cuốn sách do tập thể cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh
biên soạn, TS. Chu Đức Tính - nguyên Giám đốc Bảo
tàng làm chủ biên dựa trên cơ sở các cuốn sách đã
được xuất bản: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và
sự nghiệp, in lần thứ 7, Nhà xuất bản Sự thật, 1987;
Hồ Chí Minh tiểu sử, Nhà xuất bản Lý luận chính
trị, 2006; Hồ Chí Minh: Toàn tập, 15 tập, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2011; Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, 10 tập, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật, 2016 và một số sách, tư liệu của
Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Kế thừa một số cuốn tiểu sử viết về Bác trước
đây, bằng những tư liệu chân thực, cuốn sách trình
bày một cách vắn tắt nhưng tương đối đầy đủ và có
hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, rất thích hợp với đông đảo bạn đọc.
Trong quá trình biên soạn, các tác giả đã hết
sức cố gắng, song không tránh khỏi những hạn chế,
thiếu sót. Rất mong bạn đọc góp ý, phê bình.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 9 năm 2017
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
8
Chương I
THỜI NIÊN THIẾU
(1890-1911)
Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời thơ ấu tên là
Nguyễn Sinh Cung1, sinh ngày 19-5-1890, tại
quê ngoại là làng Hoàng Trù (còn gọi là làng
Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Kim Liên,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), trong một gia
đình nhà Nho, nguồn gốc nông dân.
Cha của Người là Nguyễn Sinh Sắc
(Nguyễn Sinh Huy), sinh năm 1862, mất năm 1929,
quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen)
___________
1. Trong một bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
năm 1954, Người ghi tên còn nhỏ của mình là
Nguyễn Sinh Côn (Bản chụp bút tích, lưu Kho Tư
liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh).
9
cùng thuộc xã Chung Cự, nay là xã Kim Liên,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông Nguyễn
Sinh Sắc xuất thân từ gia đình nông dân, mồ
côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó làm việc và
ham học. Vì vậy, ông được nhà Nho Hoàng
Xuân Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn
Sinh đem về nuôi. Là người ham học và thông
minh, lại được nhà Nho Hoàng Xuân Đường hết
lòng chăm sóc, dạy dỗ, ông thi đỗ Phó bảng và
sống bằng nghề dạy học. Đối với các con, ông
Sắc giáo dục ý thức lao động và học tập để hiểu
đạo lý làm người. Khi còn trẻ, như nhiều người
có chí đương thời, ông dùi mài kinh sử, quyết
chí đi thi. Nhưng càng học, càng hiểu đời, ông
nhận thấy: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô
lệ, hựu nô lệ”, nghĩa là “Quan trường là nô lệ
trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn”. Do
đó, sau khi đỗ Phó bảng, được giao một chức
quan nhỏ, nhưng vốn có tinh thần yêu nước,
khảng khái, ông thường chống đối lại bọn quan
trên và thực dân Pháp. Vì vậy, sau một thời
gian làm quan, ông bị chúng cách chức và thải
hồi. Ông vào Nam Bộ làm thầy thuốc, sống cuộc
đời thanh bạch cho đến lúc qua đời.
10
Mẹ của Người là Hoàng Thị Loan, sinh
năm 1868, mất năm 1901, là một phụ nữ cần
mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm
ruộng và dệt vải, hết lòng thương yêu và chăm
lo cho chồng con.
Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có
tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884,
mất năm 1954. Anh của Người là Nguyễn Sinh
Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh
năm 1888, mất năm 1950. Em của Người là
Nguyễn Sinh Nhuận (thường gọi là bé Xin),
sinh năm 1900, vì ốm yếu nên sớm qua đời. Các
anh chị của Người lớn lên đều chịu ảnh hưởng
của ông bà, cha mẹ, chăm làm việc và rất
thương người, đều là những người yêu nước, đã
tham gia phong trào yêu nước và bị thực dân
Pháp và triều đình phong kiến bắt bớ tù đày.
Từ lúc ra đời đến tuổi lên 5, Nguyễn Sinh
Cung sống ở quê nhà trong sự chăm sóc đầy
tình thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ, lớn
lên trong truyền thống tốt đẹp của quê hương,
hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa
trong cuộc sống và bất khuất trước kẻ thù.
Nguyễn Sinh Cung ham hiểu biết, thích nghe
chuyện và hay hỏi những điều mới lạ, từ các
11
hiện tượng thiên nhiên đến những chuyện cổ
tích mà bà ngoại và mẹ thường kể.
Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng với
gia đình chuyển vào Huế lần thứ nhất, khi ông
Nguyễn Sinh Sắc vào Kinh thi hội. Từ cuối
năm 1895 đến đầu năm 1901, Nguyễn Sinh
Cung sống cùng cha mẹ tại Huế, ở nhờ nhà
một người quen ở trong thành nội (nay là số
nhà 112, đường Mai Thúc Loan). Đó là những
năm tháng gia đình ông Sắc sống trong cảnh
gieo neo, thiếu thốn. Bà Hoàng Thị Loan làm
nghề dệt vải, còn ông Sắc ngoài thời gian học,
phải đi chép chữ thuê để kiếm sống, để học và
dự thi.
Năm 1898, ông Nguyễn Sinh Sắc dự thi hội
lần thứ hai nhưng vẫn không đỗ. Cuộc sống gia
đình càng thêm chật vật khó khăn. Gần cuối
năm 1898, theo lời mời của ông Nguyễn Sĩ Độ,
ông Nguyễn Sinh Sắc về dạy học cho một số học
sinh ở làng Dương Nỗ, tại ngôi nhà của ông
Nguyễn Sĩ Khuyến (em trai ông Nguyễn Sĩ Độ),
xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên,
cách thành phố Huế 6 km. Nguyễn Sinh Cung
cùng anh theo cha về đây và bắt đầu học chữ
Hán tại lớp học của cha.
12
Cuối năm 1900, ông Nguyễn Sinh Sắc được
cử đi coi thi ở trường thi hương Thanh Hóa.
Ông đưa Nguyễn Sinh Khiêm đi cùng, còn
Nguyễn Sinh Cung thì về sống với mẹ trong nội
thành Huế. Bà Loan sinh bé Xin trong hoàn
cảnh khó khăn, túng thiếu nên lâm bệnh và
qua đời. Chẳng bao lâu sau, bé Xin quá yếu
cũng theo mẹ. Mới 11 tuổi, Nguyễn Sinh Cung
đã chịu nỗi đau mất mẹ và em.
Hơn 5 năm sống ở kinh thành Huế, Nguyễn
Sinh Cung thấy được nhiều điều mới lạ. So với
quê hương xứ Nghệ, Huế có nhiều nhà cửa to
đẹp, nhiều cung điện uy nghiêm. Nguyễn Sinh
Cung cũng thấy ở Huế có nhiều lớp người,
những người Pháp thống trị nghênh ngang,
hách dịch và tàn ác; những ông quan Nam
triều bệ vệ trong những chiếc áo gấm, hài
nhung, mũ cánh chuồn, nhưng khúm núm rụt
rè; còn phần đông người lao động thì chịu
chung số phận đau khổ và tủi nhục. Đó là những
người nông dân rách rưới mà người Pháp gọi là
bọn nhà quê, những phu khuân vác, những người
cu ly kéo xe tay, những trẻ em nghèo khổ, lang
thang trên đường phố... Những hình ảnh đó đã
in sâu vào ký ức của Nguyễn Sinh Cung.
13
Được tin vợ qua đời, ông Nguyễn Sinh Sắc
vội trở lại Huế, đưa con về quê. Sau khi thu
xếp cuộc sống cho các con, được sự động viên
của bà con trong họ ngoài làng, ông Nguyễn
Sinh Sắc lại vào Huế dự kỳ thi hội năm Tân
Sửu. Lần này đi thi ông mang tên mới là
Nguyễn Sinh Huy.
Tháng 5-1901, ông Nguyễn Sinh Huy đậu
Phó bảng khoa thi hội Tân Sửu. Khoảng tháng
9-1901, Nguyễn Sinh Cung cùng gia đình
chuyển về sống ở quê nội. Ông Nguyễn Sinh
Huy làm lễ vào làng cho hai con trai với tên
mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và
Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).
Tại quê nhà, Nguyễn Tất Thành được gửi
đến học chữ Hán với các thầy giáo Hoàng Phan
Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần
Thân. Các thầy đều là những người yêu nước.
Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện
qua các buổi bàn luận thời cuộc giữa các thầy
với các sĩ phu yêu nước. Nguyễn Tất Thành dần
dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các
bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan.
Trong những người mà ông Sắc thường gặp gỡ
có ông Phan Bội Châu. Giống như nhiều nhà
14
Nho yêu nước lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng
day dứt trước hiện tình đất nước và số phận
của dân tộc. Con người nhiệt huyết ấy trong lúc
rượu say vẫn thường ngâm hai câu thơ của
Viên Mai:
“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn chương”.
Nghĩa là:
“Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách,
Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”.
Câu thơ đã tác động nhiều đến Nguyễn Tất
Thành và góp phần định hướng cho người thiếu
niên sớm có hoài bão lớn.
Lớn dần lên, càng đi vào cuộc sống của
người dân địa phương, Nguyễn Tất Thành càng
thấm thía thân phận cùng khổ của người dân
mất nước. Đó là nạn thuế khóa nặng nề cùng
với việc nhân dân bị bắt làm phu xây dựng
đường trong tỉnh, làm đường từ Cửa Rào, đi
Xiêng Khoảng (Lào) nơi rừng thiêng nước độc.
Những cuộc ra đi không có ngày về, nhân dân
lầm than, ai oán.
Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành
theo cha đến xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương,
tỉnh Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Tại đây
15
Nguyễn Tất Thành lại có dịp nghe chuyện thời
cuộc của các sĩ phu đến đàm đạo với cha mình.
Cuối năm 1904, Nguyễn Tất Thành theo
cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh
Hà Tĩnh, khi ông Sắc đến đây dạy học. Ngoài
thời gian học tập, Nguyễn Tất Thành thường
theo cha đến các vùng trong tỉnh như làng
Đông Thái, quê hương của Phan Đình Phùng,
thăm các di tích thành Lục niên, miếu thờ La
Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, v.v..
Tháng 7-1905, Nguyễn Tất Thành theo cha
đến huyện Kiến Xương, Thái Bình, trong dịp ông
Nguyễn Sinh Sắc đi gặp các sĩ phu ở vùng đó.
Khoảng tháng 9-1905, Nguyễn Tất Thành
và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn Sinh Huy
xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường
tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh.
Chính tại ngôi trường này, Nguyễn Tất Thành
lần đầu tiên được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do Bình đẳng - Bác ái.
Những chuyến đi này giúp Nguyễn Tất
Thành mở rộng thêm tầm nhìn và tầm suy
nghĩ. Anh nhận thấy ở đâu người dân cũng lam
lũ đói khổ, nên dường như trong họ đang âm ỷ
những đốm lửa muốn thiêu cháy bọn áp bức bóc
16
lột thực dân phong kiến. Trước cảnh thống khổ
của nhân dân, anh đã sớm “có chí đuổi thực
dân Pháp giải phóng đồng bào”.
Sau nhiều năm lần lữa việc đi làm quan,
cuối tháng 5-1906, ông Nguyễn Sinh Huy vào
kinh đô nhậm chức. Nguyễn Tất Thành và anh
trai cùng đi theo cha. Vào Huế, Nguyễn Tất
Thành cùng với anh trai được cha cho đi học
Trường tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên,
lớp dự bị (cours préparatoire, tháng 9-1906);
lớp sơ đẳng (cours élémentaire, tháng 9-1907).
Ở Huế, lần này xảy ra một sự kiện đáng ghi
nhớ trong cuộc đời của Nguyễn Tất Thành.
Tháng 4-1908, anh tham gia cuộc biểu tình
chống thuế của nông dân tỉnh Thừa Thiên, khởi
đầu cho cuộc tranh đấu suốt đời vì quyền lợi
của nhân dân lao động. Vì những hoạt động
yêu nước, tham gia cuộc đấu tranh của nông
dân, Nguyễn Tất Thành bị thực dân Pháp để ý
theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Huy cũng bị chúng
khiển trách vì đã để cho con trai có những hoạt
động bài Pháp.
Tuy nhiên, tháng 8-1908, Nguyễn Tất Thành,
với tên gọi Nguyễn Sinh Côn, vẫn được ông Hiệu
trưởng Quốc học Sukê (Chouquet) tiếp nhận vào
17
học tại trường. Tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành
vào lớp trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen) tại
Trường Quốc học Huế.
Trong thời gian học tại Trường Quốc học
Huế, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc nhiều
với sách báo Pháp. Các thầy giáo của Trường
Quốc học Huế có người Pháp và cả người Việt
Nam, cũng có những người yêu nước như thầy
Hoàng Thông, thầy Lê Văn Miến. Chính nhờ
ảnh hưởng của các thầy giáo yêu nước và sách
báo tiến bộ mà anh được tiếp xúc, ý muốn đi
sang phương Tây tìm hiểu tình hình các nước
và học hỏi những thành tựu của văn minh
nhân loại từng bước lớn dần trong tâm trí của
Nguyễn Tất Thành. Cùng thời gian đó, Nguyễn
Tất Thành còn được nghe kể về những hành
động của những ông vua yêu nước như Thành
Thái, Duy Tân và những bàn luận về con đường
cứu nước trong các sĩ phu yêu nước.
Khoảng tháng 6-1909, Nguyễn Tất Thành
rời Trường Quốc học Huế theo cha vào Bình
Định, khi ông được bổ nhiệm chức Tri huyện
Bình Khê. Trong thời gian ở Bình Khê, Nguyễn
Tất Thành thường được cha dẫn đi thăm các sĩ
18
phu trong vùng và thăm di tích lịch sử vùng
Tây Sơn.
Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha
gửi học tiếp chương trình lớp cao đẳng (lớp nhất cours supérieur), tại Trường tiểu học Pháp - Việt
Quy Nhơn. Ông Nguyễn Sinh Sắc hiểu khả năng
và chí hướng người con trai thứ của mình nên đã
tạo điều kiện cho anh được tiếp tục học lên.
Tháng 6-1910, Nguyễn Tất Thành hoàn
thành chương trình tiểu học. Sau khi nghe tin
cha bị cách chức Tri huyện Bình Khê, bị triệu
hồi về Kinh, anh không theo cha trở về Huế mà
quyết định đi tiếp xuống phía Nam. Trên
đường từ Quy Nhơn vào Sài Gòn, Nguyễn Tất
Thành dừng chân ở Phan Thiết. Ở đây anh xin
vào làm trợ giáo (moniteur), được giao dạy một
số môn, đồng thời phụ trách các hoạt động
ngoại khóa của Trường Dục Thanh, một trường
tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội và
Nguyễn Quý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông,
một nhân sĩ yêu nước) thành lập năm 1907.
Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm
những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ
Nguyễn Thông để đọc. Lần đầu tiên anh được
tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà
19
khai sáng Pháp như Rútxô (Rousseau), Vônte
(Voltaire), Môngtétxkiơ (Montesquieu). Sự tiếp
cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc
anh tìm đường đi ra nước ngoài.
Tháng 2-1911, Nguyễn Tất Thành rời Phan
Thiết vào Sài Gòn. Anh ở tạm tại trụ sở các chi
nhánh của Liên Thành công ty đặt tại Sài Gòn,
như nhà số 3, đường Tổng đốc Phương (nay là
số 5, đường Châu Văn Liêm); nhà số 128, Khánh
Hội. Ở Sài Gòn một thời gian ngắn, anh thường
đi vào các xóm thợ nghèo, làm quen với những
thanh niên cùng lứa tuổi. Ở đâu anh cũng thấy
nhân dân lao động bị đọa đày, khổ nhục.
Nguyễn Tất Thành cũng hay đến những cửa
hàng ở gần cảng Sài Gòn, nơi chuyên nhận giặt
là quần áo cho các thủy thủ trên tàu Pháp, để
tìm cách xin việc làm trên tàu, thực hiện ước
mơ có những chuyến đi xa.
Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành
sinh ra và lớn lên khi nước ta bị thực dân Pháp
xâm lăng và đã trở thành một nước thuộc địa
nửa phong kiến. Nhân dân bị nô lệ, đói khổ,
lầm than. Quê hương có truyền thống đấu
tranh anh dũng, chống giặc ngoại xâm. Thời
gian 10 năm sống ở Kinh đô Huế - trung tâm
20
văn hóa, chính trị của đất nước, tiếp xúc với
nền văn hóa mới, với phong trào Duy Tân, đã
cho Nguyễn Tất Thành nhiều hiểu biết mới.
Nhìn lại các phong trào yêu nước như phong
trào Cần Vương, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa
Hương Khê do cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo;
phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu;
phong trào Đông Kinh nghĩa thục; cuộc khởi
nghĩa Yên Thế do cụ Hoàng Hoa Thám lãnh
đạo; cuộc vận động cải cách của cụ Phan Châu
Trinh và phong trào chống thuế của nông dân
Trung Kỳ, anh rất khâm phục và coi trọng các
bậc tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không
đi theo con đường đó. Thực tiễn thất bại của các
phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra
nhiều câu hỏi và tác động đến chí hướng của
Nguyễn Tất Thành, để rồi anh có một quyết
định chính xác và táo bạo là xuất dương tìm
đường cứu nước.
21
Chương II
TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
(1911-1920)
Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên
là Văn Ba xin làm phụ bếp trên tàu Đô đốc
Latútsơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville),
một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của
hãng Năm Sao đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn
đi Mácxây (Marseille), Pháp.
Ngày 5-6-1911, trên con tàu Đô đốc Latútsơ
Tơrêvin, từ bến cảng thành phố Sài Gòn (nay là
Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tất Thành
rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.
Về mục đích ra đi của mình, năm 1923
Người đã trả lời một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi
độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba
chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái... Tôi rất
muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn
22
tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ
ấy”1. Một lần khác trả lời một nhà văn Mỹ,
Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có
ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi
nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách
thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có
người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước
ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra
sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”2.
Theo hành trình của tàu, Nguyễn Tất
Thành đã dừng chân ở cảng Mácxây, cảng Lơ
Havơrơ (Le Havre) của Pháp. Những ngày đầu
tiên trên đất Pháp, được chứng kiến ở Pháp
cũng có những người nghèo như ở Việt Nam,
anh nhận thấy có những người Pháp trên đất
Pháp tốt và lịch sự hơn những tên thực dân
Pháp ở Đông Dương.
Không dừng lại ở Pháp, năm 1912, Nguyễn
Tất Thành làm thuê cho một chiếc tàu của hãng
Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) đi vòng quanh
châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng
của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
___________
1. Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923.
2. Báo Nhân dân, ngày 18-5-1965.
23
Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan,
Rêuyniông... Đến đâu anh cũng thấy cảnh khổ
cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã
man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Một trong
những cảnh ấy anh đã trông thấy ở Đaca
(Dacar): “Đến Đaca, bể nổi sóng rất dữ. Tàu
không thể vào bờ. Cũng không thể thả canô
xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn
Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi
ra chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn người da đen
nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ
bị sóng bể cuốn đi”1. Cảnh tượng đó làm cho
Nguyễn Tất Thành rất đau xót. Anh liên tưởng
một cách tự nhiên đến số phận của người dân
Việt Nam, đồng bào khốn khổ của anh. Họ cũng
là nạn nhân của sự hung ác, vô nhân đạo của
bọn thực dân. Những sự việc như vậy diễn ra
khắp nơi trên đường anh đi qua, tạo nên ở anh
mối đồng cảm sâu sắc với số phận chung của
nhân dân các nước thuộc địa.
___________
1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội,
1975, tr.23.
24
Nguyễn Tất Thành theo con tàu tiếp tục đi
qua Máctiních (Martinique) (Trung Mỹ), Urugoay
và Áchentina (Nam Mỹ) và dừng lại ở nước Mỹ
cuối năm 1912. Tại đây, anh có dịp tìm hiểu
cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ
với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch
sử. Anh vừa đi làm thuê để kiếm sống vừa tìm
hiểu đời sống của những người lao động Mỹ.
Anh đã đến thăm quận Brúclin (Brooklyn) của
thành phố Niu Oóc (New York). Anh đi xe điện
ngầm đến khu Háclem (Harlem) để tìm hiểu
đời sống và cuộc đấu tranh chống phân biệt
chủng tộc của những người da đen.
Với mục đích ra đi để tìm hiểu, do vậy, trong
thời gian tàu dỡ hàng và lấy hàng, Nguyễn Tất
Thành đã tranh thủ lúc rỗi rãi đi xem xét nhiều
nơi, từ những khu phố hoa lệ nổi tiếng thế giới
với những ngôi nhà cao chọc trời ở Niu Oóc đến
những ngôi nhà ổ chuột ở khu Háclem.
Dừng chân ở nước Mỹ không lâu nhưng
Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra bộ mặt thật
của đế quốc Hoa Kỳ. Đằng sau khẩu hiệu “cộng
hòa dân chủ” của giai cấp tư sản Mỹ là những
thủ đoạn bóc lột nhân dân lao động rất tàn bạo.
25
Anh cảm thông sâu sắc với đời sống của người
dân lao động da đen và rất căm giận bọn phân
biệt chủng tộc, hành hình người da đen một
cách man rợ, mà sau này anh đã viết lại trong
bài báo Hành hình kiểu Linsơ.
Khoảng đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành
theo tàu rời Mỹ trở về Lơ Havơrơ, sau đó sang
Anh. Đến nước Anh, để kiếm tiền sinh sống,
anh nhận cào tuyết cho một trường học, rồi làm
thợ đốt lò. Công việc hết sức nặng nhọc, nhưng
sau mỗi ngày anh đều tranh thủ thời gian học
tiếng Anh.
Từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư
liên hệ với cụ Phan Châu Trinh, lúc này đang ở
Pháp, thông báo tình hình sinh hoạt, học tập
của mình, hỏi thăm tình hình người thân của
cụ Phan. Trong thư, Nguyễn Tất Thành cũng
bày tỏ và thăm dò ý kiến của cụ Phan về tình
hình thời cuộc.
Cuối năm 1913, sau hai tuần nghỉ việc vì bị
cảm, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ở khách
sạn Đraytơn Cơớc, đại lộ Đraytơn, khu Oét
Ilinh (Drayton Court, Drayton Av., West Ealing),
phía tây Luân Đôn.
26
Một thời gian sau, Nguyễn Tất Thành lại
chuyển sang làm phụ bếp ở khách sạn Cáclơtơn
(Carlton), phố Hây Makét, một khách sạn sang
nổi tiếng ở Luân Đôn. Nguyễn Tất Thành làm
việc dưới sự điều khiển của vua bếp Étcốpphie
(Escophier), một người Pháp có tư tưởng tiến bộ.
Nguyễn Tất Thành được giao nhiệm vụ thu dọn
và rửa bát, đĩa, nồi, chảo, v.v.. Những người giàu
có khi ăn uống rất lãng phí, bỏ thừa khá nhiều,
có khi cả một phần tư con gà. Anh gói lại những
miếng ngon đưa cho nhà bếp. Ông Étcốpphie
chú ý tới việc làm đó và hỏi anh: “Tại sao anh
không quẳng thức ăn thừa vào thùng như
những người kia?
- Không nên vứt đi. Ông có thể cho người
nghèo những thứ ấy.
- Ông bạn trẻ của tôi ơi, anh nghe tôi. Ông
Étcốpphie vừa nói vừa cười và có vẻ bằng lòng.
Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh
lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp,
làm ngon anh sẽ được nhiều tiền. Anh bằng
lòng chứ?”1.
___________
1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr.29.
27
Từ đó, ông chuyển anh vào chỗ làm bánh
với mức lương cao hơn.
Tại Anh, Nguyễn Tất Thành đã hăng hái
tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trời của
nhiều nhà chính trị và triết học, tham gia Hội
những người lao động hải ngoại, ủng hộ cuộc
đấu tranh yêu nước của nhân dân Ailen. Cũng
trong thời gian này anh được đọc một tờ báo
Anh đưa tin về ông Terence Mac Swiney, Thị
trưởng thành phố Cork, nhà đại ái quốc Ailen,
đấu tranh chống đế quốc Anh, bị bắt. Trong tù
ông đã tuyệt thực. Ông nằm nghiêng một phía,
không ăn, không cử động hơn 40 ngày và hy
sinh. Hàng ngàn người Ailen lưu vong nối nhau
thành hàng dài trên đường phố Luân Đôn đưa
tiễn ông Mac Swiney về yên nghỉ tại Cork.
Nguyễn Tất Thành hết sức xúc động và cảm
phục tinh thần bất khuất của ông: “Can đảm
biết bao! Dũng cảm biết bao! Một dân tộc có
những người như ông Cúc sẽ không bao giờ
đầu hàng”1.
___________
1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr.29.
28
Giữa lúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất
diễn ra ác liệt, tình hình Đông Dương đang có
những biến động, vào khoảng cuối năm 1917,
Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp để có
điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào
Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.
Trở lại Pháp, đến Thủ đô Pari, lúc đầu
Nguyễn Tất Thành ở phố Sarôn (Charonne)
trong một thời gian ngắn; từ ngày 7 đến 11-61919 ở nhà số 10, phố Xtốckhôm (Stokholm);
ngày 12-6-1919, chuyển đến ở nhà số 56 phố
Mơxiên lơ Pơranhxơ (Monsieur le Prince);
tháng 7-1919, ở nhà số 6, phố Vila đê Gôbơlanh
(Villa des Gobelins), quận 13; ngày 14-7-1921,
chuyển đến ở nhà số 12, phố Buyô. Trong
tháng 7-1921, Nguyễn Tất Thành chuyển đến
nhà số 9, ngõ Côngpoanh (Compoint), quận 17,
một trong những khu lao động nghèo nhất của
Thủ đô nước Pháp. Ngày 14-3-1923, anh đến ở
nhà số 3, phố Mácsê đê Patơriácsơ (Marché
des Patriaches).
Thời gian đầu khi tới Pari, chưa có giấy tờ
hợp pháp, Nguyễn Tất Thành được các đồng chí
trong Ban đón tiếp những người lao động nhập
29
cư của Đảng Xã hội Pháp giúp đỡ. Trong khi
chờ các đồng chí tìm cho giấy tờ quân dịch hợp
pháp, anh phải sống ẩn náu, hạn chế đi lại để
tránh sự kiểm tra của cảnh sát. Cuộc sống của
anh lúc đó gặp rất nhiều khó khăn. Vừa hoạt
động chính trị, vừa phải kiếm sống một cách
chật vật, khi thì làm thuê cho một hiệu ảnh,
khi thì vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệ
Trung Hoa, nhưng anh vẫn kiên trì, hăng say
học tập và hoạt động. Anh thường xuyên gặp gỡ
với những người Việt Nam ở Pháp, có tư tưởng
và khuynh hướng tiến bộ như Phan Châu
Trinh, Phan Văn Trường. Nguyễn Ái Quốc từng
bước tham gia vào cuộc đấu tranh của phong
trào công nhân và lao động Pháp.
Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành
gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi vì sao
vào Đảng, anh trả lời: Vì đây là tổ chức duy
nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách
mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.
Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất
kết thúc. Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước đế
quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị ở
Vécxây (Versailles) (Pháp). Hội nghị này còn
30
gọi là Hội nghị hòa bình Pari, nhưng thực chất
đó là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng
trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân
dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp
bức. Văn kiện chính của hội nghị là Hiệp ước
Vécxây xác định sự thất bại của nước Đức và
các nước Đồng minh của Đức, phân chia lại bản
đồ thế giới theo hướng có lợi cho các đế quốc
thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.
Thay mặt Hội những người yêu nước Việt
Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành cùng Phan
Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu
sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị
Vécxây. Dưới bản Yêu sách, Nguyễn Tất Thành
ký tên: Nguyễn Ái Quốc. Đây là lần đầu tiên tên
gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nguyễn Ái Quốc
tới lâu đài Vécxây gửi bản Yêu sách cho văn
phòng Hội nghị, sau đó lần lượt gửi bản Yêu
sách đến các đoàn đại biểu các nước Đồng minh
dự hội nghị. Hầu hết các đoàn đại biểu đều có
thư trả lời Nguyễn Ái Quốc.
Bản Yêu sách gồm tám điểm:
“1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản
xứ bị án tù chính trị;
31
2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng
cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng
những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu
châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng
làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận
trung thực nhất trong nhân dân An Nam;
3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;
4. Tự do lập hội và hội họp;
5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất
dương;
6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ
thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho
người bản xứ;
7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ
ra các đạo luật;
8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản
xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp
để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện
vọng của người bản xứ”1.
Nguyễn Ái Quốc còn tự tay viết Yêu sách
bằng hai thứ tiếng: một bản bằng chữ quốc ngữ
___________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t.1, tr.469-470.
32
theo thể văn vần, nhan đề Việt Nam yêu cầu ca và
một bản chữ Hán nhan đề An Nam nhân dân
thỉnh nguyện thư. Anh đến Nhà in Sácpăngchiê,
số 70 phố Gôbơlanh, bỏ tiền túi của mình thuê
in 6.000 bản Yêu sách của nhân dân An Nam
để phân phát trong các cuộc hội họp, míttinh,
phát đi nhiều nơi và bí mật gửi về Việt Nam.
Thực dân Pháp bắt đầu chú ý tới người có
tên Nguyễn Ái Quốc. Trong một lần đến theo
dõi buổi nói chuyện ở Hội trường Hooctiquyntơ
tại Pari, viên mật thám Pháp Pôn Ácnu (Paul
Arnoux) chuyên theo dõi người Việt Nam sống
ở Pari, tận mắt chứng kiến Nguyễn Ái Quốc
đang phân phát truyền đơn in bản Yêu sách
cho những người có mặt, đã phải thốt lên dự
cảm: “Con người thanh niên mảnh khảnh và
đầy sức sống này có thể là người sẽ đặt chữ
thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở
Đông Dương”1.
Bản Yêu sách phản ánh nguyện vọng của
nhân dân Việt Nam không được hội nghị xem xét.
___________
1. Hồng...
 









Các ý kiến mới nhất