Tìm kiếm Giáo án
Mở rộng vốn từ lớp 5

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nghiem Phuong
Ngày gửi: 23h:13' 05-08-2024
Dung lượng: 137.5 KB
Số lượt tải: 22
Nguồn:
Người gửi: Nghiem Phuong
Ngày gửi: 23h:13' 05-08-2024
Dung lượng: 137.5 KB
Số lượt tải: 22
Số lượt thích:
0 người
1. Đặt vấn đề.
Ngôn ngữ là chìa khóa để con người tiếp cận với thế giới xung quanh, là
phương tiện duy nhất lưu trữ và truyền tải nguồn tri thức của nhân loại đến với
mỗi con người. Sự khác biệt về ngôn ngữ là rào cản ngăn sự giao thoa văn hóa
giữa các dân tộc trên thế giới.
Trong nhà trường, tiếng Việt là công cụ của các hoạt động dạy và học.
Đối với người học, nắm vững tiếng Việt mới có thể nắm vững những kiến thức
và kĩ năng trong các môn học.
Đối với học sinh vùng dân tộc thiểu số, thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ
trong quá trình giao tiếp với gia đình cũng như ngoài cộng đồng dân tộc đã hạn
chế sự phát triển của tiếng Việt. Tiếng Việt đối với các em là ngôn ngữ thứ 2 và
ngôn ngữ này các em chỉ sử dụng trong quá trình học ở trường. Thậm chí, các
em chỉ sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp với thầy, cô còn giao tiếp với bạn bè các
em lại trở lại với ngôn ngữ dân tộc của mình. Chính vì vậy, vấn đề phát âm
không chuẩn tiếng Việt, viết sai lỗi chính tả, dùng từ không đúng nghĩa, không
hiểu nghĩa của từ, không biết sử dụng dấu câu, không diễn đạt được ý muốn nói
bằng tiếng Việt,… Nói chung, kĩ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh dân tộc
trong giao tiếp là rất hạn chế. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình tiếp thu
kiến thức của các em.
Là một giáo viên giảng dạy trong một ngôi trường thuộc vùng sâu, vùng
xa của tỉnh Lào Cai, với 100% học sinh trong trường là dân tộc Mông nên tôi
phần nào hiểu được sự khó khăn của các em khi sử dụng tiếng Việt. Điều các em
còn thiếu ở đây chính là vốn từ tiếng Việt. Vốn từ tiếng Việt nghèo nàn làm các
em gặp khó khăn trong quá trình học tập ở tất cả các môn học.
Công tác trên vùng cao đến nay cũng đã 10 năm, qua 10 năm đồng hành
cùng các em tôi nhận thấy rằng các em gặp rất nhiều khó khăn trong học tập các
phân môn của tiếng Việt nói riêng, cũng như trong cả quá trình học tập nói
chung. Trong quá trình giảng dạy của bản thân, tôi đã cố gắng nghiên cứu, tìm
tòi một số biện pháp để giúp các em mở rộng được vốn từ tiếng Việt cho bản
thân nhằm giúp các em học tập tốt hơn.
Với những lí do trên, nên tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp mở rộng
vốn từ tiếng Việt cho học sinh lớp 5” để muốn trao đổi một vài kinh nghiệm với
đồng nghiệp, giúp việc học tập của học sinh được nhẹ nhàng hơn, và cùng góp
một phần nhỏ hoàn thành mục tiêu chung của giáo dục huyện nhà: “Tiếng Việt
là sự sống còn của giáo dục Si Ma Cai”.
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Cơ sở lí luận
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói
riêng là một quá trình liên tục. Quá trình đó đi từ đơn giản đến phức tạp tùy
thuộc vào nhận thức, vào hoàn cảnh sống, vào nhiệm vụ học tập của các em ở
từng giai đoạn. Sự lĩnh hội về từ vựng – một đơn vị ngôn ngữ nằm trong quy
luật ấy.
Ban đầu là việc nhận biết những từ có cấu tạo đơn giản (từ đơn đơn âm)
như nhà, bàn, chạy, chơi, đỏ, vui; sau là nhận biết và sử dụng các từ có cấu tạo
phức tạp hơn (từ láy, từ ghép) như nhà cửa, nhà hàng, chạy nhảy, chạy chọt, vui
chơi, vui miệng, vui vẻ, xanh đỏ, xanh xao, xanh rờn… Vốn từ của các em được
mở rộng dần cùng quá trình tiếp nhận các nội dung học tập ở từng khối lớp, quá
trình giao tiếp ở những phạm vi rộng hơn.
Nâng cao vốn từ có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ.
Việc giúp học sinh nâng cao vốn từ là giúp cho các em nắm ngôn ngữ làm
phương tiện giao tiếp. Để học sinh nâng cao vốn từ thì trước hết phải dạy cho
các em nắm được từ ngữ, tạo cho các em năng lực sử dụng từ ngữ, nắm được
các từ ngữ thông dụng tối thiểu về thế giới xung quanh công việc của học sinh ở
trường, ở nhà, tình cảm gia đình và vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước con người…
Vốn từ của học sinh được làm giàu dựa trên những ngữ liệu chủ yếu là
những bài tập đọc, những câu chuyện kể, các bài tập về mở rộng vốn từ trong
luyện từ và câu, các bài tập làm văn… Từ lớp 2 tất cả các nội dung có liên quan
đến từ ngữ đều được sắp xếp theo chủ đề. Nói cách khác cung cấp từ ngữ theo
chủ đề là cơ sở của tính tuần tự trong dạy từ ngữ và nâng cao vốn từ ở tiểu học.
Một số đặc điểm tâm lí của học sinh dân tộc thiểu số:
Học sinh người dân tộc thiểu số thường gặp khó khăn trong việc thiết lập
và duy trì các mối quan hệ với giáo viên, với các bạn học là người Kinh.
Khó thích ứng với môi trường mới nên thường rụt rè, sợ sệt, ít nói, ngại
giao tiếp với các bạn người Kinh.
Các em thường mặc cảm, tự ti vì cảm thấy thua kém với mọi người, hay
giữ khoảng cách.
Ở trường học, các em thường lúng túng trong giao tiếp vì vốn từ của các
em còn hạn chế nên dẫn đến ngại sử dụng tiếng Việt. Các em chỉ dùng tiếng mẹ
đẻ để giao tiếp với bạn bè ở trường.
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.2.1. Thuận lợi
Trường PTDTBT TH & THCS xã Quan Hồ Thẩn là một đơn vị đóng
trên địa bàn thôn Seo Cán Hồ, Xã Quan Hồ Thẩn, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
Việc dạy tiếng Việt trong nhà trường rất được BGH nhà trường quan
tâm nên đã dành rất nhiều thời lượng cho các phân môn Tiếng Việt trong
chương trình học. Mặt khác, để giúp học sinh mạnh dạn, tự tin hơn trong giao
tiếp với thầy cô, bạn bè, BGH nhà trường đã tạo điều kiện cho giáo viên chủ
nhiệm, trong mỗi buổi học được dành ra 15 phút đầu giờ hoặc cuối buổi để giao
tiếp với học sinh cũng như tổ chức các hoạt động khuyến khích học sinh sử dụng
tiếng Việt.
2.2.2. Khó khăn
Điều tra vốn từ tiếng Việt của học sinh lớp 5A thông qua bài khảo sát
chất lượng đầu năm, kết quả cụ thể như sau:
TSHS
HT
CHT
22
Đọc
Viết
Đọc
Viết
18
15
4
7
(Có những học sinh chỉ hoàn thành một nội dung hoặc không hoàn thành
cả 2 nội dung khảo sát)
Qua điều tra, tôi nhận thấy một số nguyên nhân chủ yếu làm cho việc
học tập môn Tiếng Việt của các em gặp khó khăn, như sau:
+ Vì 100% học sinh trong trường là học sinh dân tộc Mông nên môi
trường giao tiếp tiếng Việt của các em bị hạn chế.
+ Vốn tiếng Việt của học sinh dân tộc khi bắt đầu vào học tiểu học hầu
như là không có hoặc là có rất ít. Bước chân vào lớp 1, các em vừa phải học từ,
tiếng, vần với một ngôn ngữ mới, vừa phải học cách hiểu nghĩa của các từ ngữ
đó. Đối với tư duy còn non của các em như vậy, việc tiếp thu không hiệu quả là
điều khó tránh khỏi.
+ Các em không có nhiều điều kiện tiếp xúc nhiều với tiếng Việt.
+ Nhận thức của phụ huynh về vai trò của tiếng Việt đối với con em của
mình chưa được quan tâm. Điều này xuất phát từ vấn đề phụ huynh của các em
cũng không biết tiếng Việt hoặc có biết nhưng không có thói quen sử dụng,
chính vì thế cũng hình thành ở các em thói quen đó.
+ Nhiều thầy, cô trong quá trình giảng dạy chỉ tập trung vào quá trình
truyền đạt kiến thức cho các em mà bỏ qua điều cơ bản và quan trọng không
kém, đó là giao tiếp với học sinh. Đối với các em học sinh dân tộc, việc khuyến
khích các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp không hề khó, điều này có được là
phụ thuộc vào chính người thầy, người cô.
Hiện nay, học sinh dân tộc bậc tiểu học đa số chưa đạt yêu cầu cơ bản về
các kĩ năng bắt buộc học sinh phải đạt được như: nghe, nói, đọc, viết ở bộ môn
tiếng Việt. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho học sinh dân
tộc gặp khó khăn trong quá trình tiếp thu tri thức những môn học khác trong quá
trình học tập.
Một số lỗi thường gặp mà học sinh dân tộc thường hay mắc phải trong
học tập cũng như trong giao tiếp:
- Thường xuyên nói và viết dấu thanh không đúng:
Vd: gần gũi - gậm gúi, mặc áo - mắc áo,…
- Hay nhầm lẫn giữa các phụ âm đầu và âm cuối:
+ Âm đầu: ngh, ng, g: ngang - gang,…
+ Âm cuối: c - t, n - m, n - ng : chắc - chắt, cắt - cắc,…
+ Khó phát âm các tiếng nguyên âm đôi: iê (yê), uô, ươ,…
- Không phân biệt được các danh từ riêng, danh từ chung nên khi viết
hay bị sai.
- Khả năng đọc, hiểu văn bản còn nhiều hạn chế.
- Các em thường nói, viết câu không đủ thành phần (chủ ngữ hoặc vị ngữ)
- Trong viết văn các em thường sử dụng nhiều câu, từ không có nghĩa
hoặc nghĩa không phù hợp với văn cảnh.
- Sử dụng nhiều từ ngữ không phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.3.1. Xây dựng môi trường học tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
Môi trường học tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số rất hạn hẹp,
phần lớn do gia đình các em ở những nơi hẻo lánh và sống theo cộng đồng dân
tộc mình nên rất ít giao lưu, tiếp xúc với các dân tộc khác, đời sống văn hóa tinh
thần không phát triển. Vì vậy, để mở rộng, phát triển tiếng Việt cho học sinh dân
tộc, cần mở rộng môi trường học tiếng Việt cho các em:
a) Tạo môi trường tiếng Việt ở nơi cư trú:
Động viên, khuyến khích các em tăng cường sử dụng tiếng Việt để giao
tiếp trong cuộc sống hàng ngày tại gia đình, trong cộng đồng dân cư mình sống.
Bởi lẽ các em sẽ tự tin hơn khi giao tiếp với những người thân trong gia đình
mình. Để làm được điều đó thì nhận thức về vai trò của tiếng Việt trong cộng
đồng và trong mỗi gia đình phải được nâng cao. Là giáo viên, tôi đã phải thường
xuyên gặp mặt trực tiếp phụ huynh học sinh để vận động gia đình tạo điều kiện
cho các em được đi học đầy đủ, cũng qua những lần gặp gỡ đó, tôi đã có cơ hội
tuyên truyền đến gia đình của các em về tầm quan trọng của tiếng Việt và từ đó
vận động các phụ huynh học nói và sử dụng tiếng Việt thường xuyên với con em
mình. Vận động các gia đình cố gắng trang bị các phương tiện thông tin đại
chúng: tivi, đài, báo,… và tích cực tham gia các hoạt động văn hóa xã hội,…
Mặc dù, tôi nhận thấy hiệu quả chưa thực sự rõ rệt vì biện pháp này cần có thời
gian nhưng những kết quả bước đầu rất khả quan. Nhận thức về tầm quan trọng
của tiếng Việt ở chính bản thân các em được nâng lên, các em đã thường xuyên
sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, còn biết hướng dẫn mọi người trong gia đình,
đặc biệt là các em nhỏ nói tiếng Việt.
b) Tạo môi trường tiếng Việt ở trường học:
Tăng cường tiếp xúc với học sinh ở mọi lúc, mọi nơi để nắm được khả
năng vốn từ của các em. Cũng qua đó, giúp các em mạnh dạn hơn trong giao
tiếp. Dành nhiều thời gian để uốn nắn, sửa chữa, bổ sung thêm nhiều vốn từ cho
các em. Khuyến khích các em sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với bạn bè, thầy
cô ở trường. Tôi đã sử dụng một số biện pháp mạnh là đưa vào nội quy lớp học
một số quy định: không sử dụng tiếng dân tộc khi trao đổi bài với bạn,…
Khuyến khích, động viên học sinh tham gia các hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp theo chủ đề do nhà trường tổ chức để các em có điều kiện rèn
luyện và bồi đắp vốn từ của mình, và cũng giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn.
Ví dụ: Phối hợp với bên Đội để tổ chức các cuộc thi về tìm hiểu lịch sử
nhà trường, tìm hiểu về an toàn giao thông,… Ở các cuộc thi này, việc xây dựng
câu hỏi phù hợp với các em là rất cần thiết. Câu hỏi theo hình thức lựa chọn các
phương án được chúng tôi sử dụng chủ yếu.
Bên cạnh đó, môi trường tiếng Việt trong lớp sẽ phong phú, thu hút các
em hơn với các góc học tập trong lớp được trang trí bắt mắt, nội dung phong
phú, lôi cuốn: lớp tôi đã thiết kế góc cây từ vựng tiếng Việt với nhiều chủ đề,
chủ điểm tương ứng với các từ ngữ gần gũi, có giải nghĩa và câu sử dụng mẫu
giúp các em dễ dàng hơn khi sử dụng. Góc thư viện trong lớp thật cần thiết và
hữu ích. Có lẽ đây là góc học tập mà các em thích nhất. Với thư viện góc lớp, tôi
đã lựa chọn rất nhiều những quyển truyện, sách, báo với nội dung gần gũi nhưng
không kém phần hấp dẫn, lôi cuốn với các em sẽ giúp các em phát triển kĩ
năng đọc tiếng Việt, từ đó cũng mở rộng vốn từ cho các em.
2.3.2. Mở rộng vốn từ tiếng Việt cho học sinh dân tộc thông qua dạy học
tích hợp.
Mở rộng vốn từ thông qua dạy học tích hợp giữa các phân môn của môn
Tiếng Việt, tích hợp các môn học khác.
Ở tiểu học, môn Tiếng Việt được chia thành các phân môn ứng với sự
phát triển các kĩ năng tiếng Việt của học sinh: Tập đọc (kĩ năng đọc, hiểu);
Chính tả (kĩ năng nghe - viết), Luyện từ và câu - Tập làm văn (kĩ năng vận dụng
trong giao tiếp). Vừa giúp học sinh phát triển các kĩ năng vừa cung cấp kiến
thức, ngoài các kiến thức về tiếng Việt còn các kiến thức về khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội. Các phân môn này có mối quan hệ mất thiết với nhau, tuy
nhiên chúng ta phải điều chỉnh sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của
mình, sao cho hiệu quả giáo dục đạt được là tốt nhất.
Ví dụ: Trong tiết kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia, đây là tiết
học mà các em phải vận dụng khả năng tiếng Việt của bản thân kết hợp với kĩ
năng quan sát để nêu lại một sự việc mà bản thân đã chứng kiến hoặc trải
nghiệm. Với học sinh người Kinh, các em sẽ không gặp nhiều khó khăn khi kể,
nhưng với học sinh dân tộc, kĩ năng sử dụng tiếng Việt chưa thành thạo, lúc này
giáo viên phải hướng dẫn, đưa ra gợi ý chi tiết để các em dựa vào để kể. Gợi ý
hay chính là hệ thống các câu hỏi xoay quanh chủ đề của bài để học sinh trả lời:
- Mở đầu câu chuyện: hướng dẫn học sinh tự giới thiệu về câu chuyện mình
đã được chứng kiến hoặc tham gia theo đúng đề bài qua một số câu hỏi gợi ý
như sau:
+ Em sẽ kể cho cô và các bạn nghe câu chuyện gì? (về tấm gương người
tốt, việc tốt,...)
+ Câu chuyện diễn ra vào thời gian nào? Ở đâu?
+ Một mình em chứng kiến hoặc tham gia hay còn có các bạn khác cùng
tham gia?...
- Diễn biến của câu chuyện:
+ Câu chuyện đó diễn ra như thế nào?
+ Em hoặc người đó, bạn đó,… đã giải quyết vấn đề đó ra sao?
- Kết thúc câu chuyện:
+ Em thấy ý nghĩa của những hành động, việc làm đó như thế nào?
+ Em đã nhận thấy hoặc học tập được điều gì?
+ Qua câu chuyện em muốn truyền tới cô và các bạn thông điệp gì?...
Tuy vào nội dung của đề bài mà chúng ta có thể xây dựng câu hỏi phù hợp
với từng đối tượng học sinh trong lớp. Với những học sinh còn gặp nhiều khó
khăn trong quá trình sử dụng tiếng Việt, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi sát
với đề bài hơn,…
Việc mở rộng vốn từ cho học sinh phải được duy trì thường xuyên, đòi
hỏi mỗi giáo viên phải có sự kiên trì, sáng tạo trong quá trình dạy học. Dạy học
phù hợp với đối tượng học sinh của mình.
2.3.3. Mở rộng vốn từ thông qua việc cung cấp vốn từ thường xuyên
cho học sinh thông qua mọi hoạt động học tập.
Xuất phát từ thực trạng ngôn ngữ, khả năng diễn đạt ngôn ngữ còn nhiều
hạn chế của học sinh dân tộc thiểu số, vốn từ nghèo nàn của các em đã ảnh
hưởng rất lớn đến việc bày tỏ tư tưởng, tình cảm trong quá trình học. Vì vậy,
việc cung cấp vốn từ, phát triển vốn từ cho các em là nhiệm vụ thiết yếu, đóng
vai trò quyết định sự phát triển toàn diện của các em.
Trong quá trình học tập và giao tiếp với học sinh, chúng ta nên lựa chọn
và phân bố vốn từ ngữ cần cung cấp, ví dụ như:
Căn cứ trên tần số sử dụng của một số từ nào đó trong hoạt động giao
tiếp để lựa chọn vốn từ ngữ cần cung cấp. Với những từ ngữ thường xuất hiện
trong hoạt động giao tiếp hàng ngày của các em như các chủ đề về gia đình,
trường lớp,… Ngoài những từ ngữ mà sách giáo khoa cung cấp, cần mở rộng,
phát triển thêm những từ ngữ không có trong chương trình để làm phong phú
thêm vốn từ cho các em. Sau khi cung cấp các từ ngữ đó cho học sinh, giáo viên
cần sử dụng lặp đi, lặp lại nhiều lần, kèm theo đó là sự giải thích, minh họa rõ
ràng, chi tiết.
Cần cung cấp vốn từ cho học sinh cần theo sát chủ đề, chủ điểm, lượng
kiến thức vừa phải, phù hợp với đối tượng học sinh và môi trường sống của các em.
2.3.4. Mở rộng vốn từ bằng cách rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ cho học
sinh dân tộc:
Vốn từ được cung cấp chỉ là điều kiện để học sinh dân tộc tham gia vào
hoạt động giao tiếp. Tuy nhiên, quá trình giao tiếp có đạt hiệu quả hay không
còn phụ thuộc vào kĩ năng sử dụng từ ngữ của học sinh.
Để phát triển kĩ năng sử dụng từ ngữ của học sinh dân tộc trong giao
tiếp, tăng cường hiệu quả diễn đạt, tôi đã sử dụng một số biện pháp sau:
* Nghe - hiểu và kể lại những câu chuyện ngắn: Trong các tiết kể
chuyện theo tranh, yêu cầu học sinh lắng nghe cô kể 2-3 lần, kết hợp quan sát
theo từng bức tranh, hình dung và khái quát nội dung của từng tranh theo trí
nhớ; sau đó hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nội dung của câu chuyện; hướng
dẫn học sinh dựa vào tranh để nêu nội dung từng bức tranh theo diễn biến câu
chuyện. Khuyến khích các em diễn đạt theo ý hiểu của bản thân theo đúng nội
dung câu chuyện, không quá áp đặt học sinh là phải kể theo đúng từng câu trong
chuyện.
* Cho học sinh kể về nơi mình đang sống: Trong quá trình hướng dẫn
các em kể, cần có những câu hỏi gợi mở để các em dễ hình dung.
Ví dụ:
+ Giới thiệu về bản thân trước lớp.
+ Em hãy nêu tên của thôn, xã, huyện, tỉnh nơi em đang sống.
+ Thôn em ở có xa thị trấn không?
+ Mọi người ở thôn em sinh sống chủ yếu bằng nghề gì?
+ Em thích điểm gì nhất ở thôn em?
+ Em mong ước điều gì về nơi em đang sống?...
* Tập chung đầu tư rèn kĩ năng đọc cho học sinh.
Có đọc tốt các em mới phát triển được các kĩ năng khác về tiếng Việt và
các môn học khác. Rèn đọc cho học sinh ở tất cả các tiết học, giáo viên phải
theo sát học sinh trong từng tiếng mà học sinh đọc, sửa ngay cho các em và yêu
cầu học sinh ghi nhớ, phát âm lại nhiều lần.
Một số lỗi phát âm mà học sinh dân tộc mắc phải:
- Đọc thiếu hoặc sai dấu: trang giấy - trăng giấy, lời nói - lợi nói,… Yêu
cầu học sinh chú ý hơn và phát âm lại ngay tại chỗ.
- Không đọc đúng một số tiếng có âm cuối m - , p - t, c - t, n - ng,… Với
đặc điểm phát âm của người Mông, do ảnh hưởng của phương ngữ, mà nhiều
học sinh không thể phân biệt được sự khác nhau của một số tiếng chứa các âm
cuối ở trên. Để khắc phục những lỗi sai này tôi đã hướng dẫn học sinh chú ý một
số điểm đặc biệt của các tiếng này như sau:
+ Với các tiếng có âm cuối là m, p thì khi phát âm cần khép miệng.
+ Tiếng có âm t - c: nếu là tiếng có âm t thì có sự tham gia của đầu lưỡi
với lợi; nếu là tiếng có âm cuối là c thì có sự tham gia của cuối lưỡi…
Cần phát âm mẫu nhiều lần cho học sinh thấy được sự khác biệt và
hướng dẫn các em phát âm theo, và nhắc nhở các em thường xuyên để tạo thành
thói quen.
- Không biết ngắt, nghỉ đúng chỗ. Đây là một lỗi thường gặp, bởi lẽ các
em vừa đọc, vừa đánh vần dẫn đến ngắt, nghỉ không đúng. Từ đó, làm cho nghĩa
của câu không đúng hoặc khó hiểu. Lỗi sai này sẽ được khắc phục khi các em có
tiến bộ về đọc. Giáo viên chỉ cần giúp các em xác định cách ngắt, nghỉ theo
đúng dấu câu, nếu là câu dài sẽ ngắt theo cụm từ và cụm từ này phải đảm bảo
phải rõ nghĩa.
- Không biết sử dụng dấu câu và ngữ điệu của lời văn. Điều này thể hiện
rõ nhất khi các em viết văn. Có bài văn từ đầu đến cuối không hề sử dụng một
dấu câu nào, làm cho câu văn của các em không rõ ý,… Để giải quyết vấn đề
này, giáo viên phải kiên trì giúp các em nắm được tác dụng của các dấu câu, cần
chỉ rõ sự cần thiết của dấu câu trong văn bản,… Dần hình thành cho các em thói
quen sử dụng dấu câu.
- Rèn kĩ năng viết đúng chính tả, viết rõ ràng.
Đối với học sinh dân tộc để viết đúng chính tả là công việc không hề đơn
giản, nguyên nhân là do các em phát âm thế nào thì viết thế ấy. Chính vì vậy,
giáo viên cần thường xuyên kiểm tra việc đọc, viết của các em. Với sự nhầm lẫn
giữa các dấu câu hoặc các phụ âm, vần,…giáo viên cần đưa ra một số quy tắc để
các em chú ý hơn.
Ví dụ: Với các âm cuối là m, p thì khi phát âm sẽ phải khép miệng,…
2.3.5. Mở rộng vốn từ bằng cách tạo ra những bài tập phản xạ trong
giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
Mục đích của việc xây dựng các dạng bài tập phản xạ trong giao tiếp
nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức, mở rộng và phát triển vốn tiếng Việt của
bản thân.
Tạo ra tình huống giao tiếp trực tiếp bằng cách đặt câu hỏi theo mức độ
từ dễ đến khó theo khối kiến thức đã học để củng cố và rèn luyện từ ngữ cho học sinh.
Ví dụ:
- Trong bài tập đọc “Lòng dân” có những nhân vật nào?
- Em thích nhân vật nào nhất? vì sao?...
- Vì sao bài đọc lại có tên là “Lòng dân”
Từ những câu hỏi giao tiếp thường xuyên trong bài học như vậy đã đặt
học sinh vào tình thế luôn luôn phải chuẩn bị để trả lời câu hỏi. Dần dần, học
sinh sẽ thích nghi và hình thành được phản xạ nhanh nhạy hơn trong giao tiếp
với những vấn đề mà giáo viên đưa ra.
Tạo ra các bài tập phản xạ bằng hình thức trắc nghiệm:
Ví dụ:
Dựa vào nội dung bài tập đọc: “Những cánh buồm”, em hãy khoanh
tròn vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng nhất)
Câu 1: Suốt bốn mùa, dòng sông có đặc điểm gì ?
A. Nước sông đầy ắp
B. Những con lũ dâng đầy
C. Dòng sông đỏ lựng phù xa
Câu 2: Màu sắc của những cánh buồm được tác giả so sánh với gì ?
A. Màu nắng của những ngày đẹp trời.
B. Màu áo của những người lao động vất vả trên cánh đồng.
C. Màu áo của những người thân trong gia đình.
Câu 3: Trong câu: “Từ bờ tre làng tôi, tôi vẫn gặp những cánh buồm lên
ngược về xuôi”, cặp từ trái nghĩa là:
A. Bờ tre - cánh buồm.
B. Ngược - xuôi.
C. Tôi - làng tôi.
Câu 4: Từ đồng nghĩa với từ to lớn có trong bài là:
A. Dâng đầy
B. Phẳng lặng
C. Khổng lồ
D. Nhẫn nại
Với dạng bài tập này, chúng ta không mất nhiều thời gian nhưng lại
kiểm tra được số đông học sinh. Bài tập dạng này đòi hỏi học sinh phải đưa ra
phương án đúng và trả lời trong thời gian ngắn nhất. Chính việc chúng ta đặt học
sinh trước tình thế phải lựa chọn, huy động trí tuệ là chúng ta đã hình thành phản
xạ trong hoạt động tư duy của các em.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Qua quá trình áp dụng giảng dạy theo phương pháp trên, đến nay tôi nhận
thấy các em có nhiều tiến bộ so với đầu năm học. Những học sinh còn lúng túng
khi sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp thì giờ đã tự tin hơn rất nhiều. Đầu năm,
một số em còn rất yếu trong đọc, viết tiếng Việt thì đến cuối học kì 1 các em đã
hoàn thành được nội dung học tập của môn Tiếng Việt.
Qua một thời gian áp dụng các biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh, tôi
thống kê kết quả đạt được như sau:
TSHS
T
H
C
22
5
15 (H cả đọc và viết chính
tả, viết tập làm văn)
2 (chủ yếu là viết sai chính
tả và không có kĩ năng viết
tập làm văn)
Kết quả đạt được như trên tuy chưa cao nhưng phần nào thấy được hiệu
quả mà các phương pháp trên đem lại. So với đầu năm, các em thực sự đã tiến
bộ rất nhiều, đặc biệt là kĩ năng sử dụng tiếng Việt.
3. Kết luận.
Tiếng Việt có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội.
Trong dạy học tiếng Việt ở trường tiểu học, việc phát triển vốn từ ngữ cho học
sinh có ý nghĩa và tầm quan trọng sâu sắc, đặc biệt là vấn đề phát triển vốn từ
cho học sinh dân tộc thiểu số. Nếu chúng ta thực hiện tốt và có hiệu quả việc
phát triển vốn từ cho học sinh dân tộc sẽ góp phần nâng cao năng lực sử dụng
tiếng Việt của các em, từ đó giúp các em thuận lợi hơn trong việc lĩnh hội tri thức.
Việc phát triển vốn từ cho học sinh dân tộc không phải tiến hành một cách
tùy tiện theo sở thích cá nhân của giáo viên. Mà phải dựa trên những cơ sở khoa
học nhất định, giáo viên phải chú ý đến các đặc điểm tâm lí, điều kiện sống,…
của đối tượng mà vận dụng linh hoạt vào nội dung bài dạy. Tất cả vốn từ được
cung cấp phải trở thành một hệ thống nhất định, giúp ích cho học sinh trong việc
huy động những từ ngữ cần thietsestrong quá trình tham gia vào hoạt động giao
tiếp.
Đối với học sinh dân tộc thiểu số, giáo viên cần phải lựa chọn những vốn
từ thích hợp, gần gũi với học sinh để cung cấp cho các em. Giúp các em nắm
được giá trị và ý nghĩa của từ trong giao tiếp, khuyến khích, động viên giúp các
em tự tin hơn trong giao tiếp.
Xây dựng các dạng bài tập phản xạ nhằm giúp các em chủ động hơn trong
giao tiếp. Việc xây dựng bài tập phải dựa vào nội dung bài học và đối tượng học sinh.
Để vốn từ tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số có một khởi đầu thuận
lợi hơn, tôi mong rằng Nhà nước cũng như Bộ GD & ĐT cần có những phương
án thiết thực để phát triển bậc học mầm non, làm bước đệm vững chắc cho các
em khi bước vào bậc tiểu học sẽ không bị bỡ ngỡ với tiếng Việt, tạo điều kiện
thuận lợi để các em được tiếp thu tri thức, xóa bỏ sự chênh lệnh giữa học sinh
miền núi và miền xuôi.
Quan Hồ Thẩn, ngày…..tháng……năm 2022
Người viết
Hoàng Seo Sử
XÁC NHẬN CỦA BAN GIÁM HIỆU NHÀ TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
MỤC LỤC
STT
1
2
2.1
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.3.5
2.4.
3
NỘI DUNG
Đặt vấn đề
Giải quyết vấn đề
Cơ sở lí luận
Thực trạng của vấn đề
Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Mở rộng vốn từ tiếng Việt bằng cách xây dựng môi trường học
tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
Mở rộng vốn từ cho học sinh dân tộc thông qua dạy học tích hợp
Mở rộng vốn từ thông qua việc cung cấp vốn từ cho học sinh.
Mở rộng vốn từ bằng cách rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ cho học
sinh dân tộc:
Mở rộng vốn từ bằng cách tạo ra những bài tập phản xạ trong giao
tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
Hiệu quả của sáng kiến
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Tài liệu tham khảo
- Tiếng Việt - Đại cương - ngữ âm (Bùi Minh Toán - Đặng Thị LanhNXB ĐH Sư phạm).
- Bộ Chuẩn KT - KN lớp 4- 5
- SGK TV lớp 4, 5.
- Sách GV môn TV lớp 4, 5
Ngôn ngữ là chìa khóa để con người tiếp cận với thế giới xung quanh, là
phương tiện duy nhất lưu trữ và truyền tải nguồn tri thức của nhân loại đến với
mỗi con người. Sự khác biệt về ngôn ngữ là rào cản ngăn sự giao thoa văn hóa
giữa các dân tộc trên thế giới.
Trong nhà trường, tiếng Việt là công cụ của các hoạt động dạy và học.
Đối với người học, nắm vững tiếng Việt mới có thể nắm vững những kiến thức
và kĩ năng trong các môn học.
Đối với học sinh vùng dân tộc thiểu số, thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ
trong quá trình giao tiếp với gia đình cũng như ngoài cộng đồng dân tộc đã hạn
chế sự phát triển của tiếng Việt. Tiếng Việt đối với các em là ngôn ngữ thứ 2 và
ngôn ngữ này các em chỉ sử dụng trong quá trình học ở trường. Thậm chí, các
em chỉ sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp với thầy, cô còn giao tiếp với bạn bè các
em lại trở lại với ngôn ngữ dân tộc của mình. Chính vì vậy, vấn đề phát âm
không chuẩn tiếng Việt, viết sai lỗi chính tả, dùng từ không đúng nghĩa, không
hiểu nghĩa của từ, không biết sử dụng dấu câu, không diễn đạt được ý muốn nói
bằng tiếng Việt,… Nói chung, kĩ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh dân tộc
trong giao tiếp là rất hạn chế. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình tiếp thu
kiến thức của các em.
Là một giáo viên giảng dạy trong một ngôi trường thuộc vùng sâu, vùng
xa của tỉnh Lào Cai, với 100% học sinh trong trường là dân tộc Mông nên tôi
phần nào hiểu được sự khó khăn của các em khi sử dụng tiếng Việt. Điều các em
còn thiếu ở đây chính là vốn từ tiếng Việt. Vốn từ tiếng Việt nghèo nàn làm các
em gặp khó khăn trong quá trình học tập ở tất cả các môn học.
Công tác trên vùng cao đến nay cũng đã 10 năm, qua 10 năm đồng hành
cùng các em tôi nhận thấy rằng các em gặp rất nhiều khó khăn trong học tập các
phân môn của tiếng Việt nói riêng, cũng như trong cả quá trình học tập nói
chung. Trong quá trình giảng dạy của bản thân, tôi đã cố gắng nghiên cứu, tìm
tòi một số biện pháp để giúp các em mở rộng được vốn từ tiếng Việt cho bản
thân nhằm giúp các em học tập tốt hơn.
Với những lí do trên, nên tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp mở rộng
vốn từ tiếng Việt cho học sinh lớp 5” để muốn trao đổi một vài kinh nghiệm với
đồng nghiệp, giúp việc học tập của học sinh được nhẹ nhàng hơn, và cùng góp
một phần nhỏ hoàn thành mục tiêu chung của giáo dục huyện nhà: “Tiếng Việt
là sự sống còn của giáo dục Si Ma Cai”.
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Cơ sở lí luận
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói
riêng là một quá trình liên tục. Quá trình đó đi từ đơn giản đến phức tạp tùy
thuộc vào nhận thức, vào hoàn cảnh sống, vào nhiệm vụ học tập của các em ở
từng giai đoạn. Sự lĩnh hội về từ vựng – một đơn vị ngôn ngữ nằm trong quy
luật ấy.
Ban đầu là việc nhận biết những từ có cấu tạo đơn giản (từ đơn đơn âm)
như nhà, bàn, chạy, chơi, đỏ, vui; sau là nhận biết và sử dụng các từ có cấu tạo
phức tạp hơn (từ láy, từ ghép) như nhà cửa, nhà hàng, chạy nhảy, chạy chọt, vui
chơi, vui miệng, vui vẻ, xanh đỏ, xanh xao, xanh rờn… Vốn từ của các em được
mở rộng dần cùng quá trình tiếp nhận các nội dung học tập ở từng khối lớp, quá
trình giao tiếp ở những phạm vi rộng hơn.
Nâng cao vốn từ có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ.
Việc giúp học sinh nâng cao vốn từ là giúp cho các em nắm ngôn ngữ làm
phương tiện giao tiếp. Để học sinh nâng cao vốn từ thì trước hết phải dạy cho
các em nắm được từ ngữ, tạo cho các em năng lực sử dụng từ ngữ, nắm được
các từ ngữ thông dụng tối thiểu về thế giới xung quanh công việc của học sinh ở
trường, ở nhà, tình cảm gia đình và vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước con người…
Vốn từ của học sinh được làm giàu dựa trên những ngữ liệu chủ yếu là
những bài tập đọc, những câu chuyện kể, các bài tập về mở rộng vốn từ trong
luyện từ và câu, các bài tập làm văn… Từ lớp 2 tất cả các nội dung có liên quan
đến từ ngữ đều được sắp xếp theo chủ đề. Nói cách khác cung cấp từ ngữ theo
chủ đề là cơ sở của tính tuần tự trong dạy từ ngữ và nâng cao vốn từ ở tiểu học.
Một số đặc điểm tâm lí của học sinh dân tộc thiểu số:
Học sinh người dân tộc thiểu số thường gặp khó khăn trong việc thiết lập
và duy trì các mối quan hệ với giáo viên, với các bạn học là người Kinh.
Khó thích ứng với môi trường mới nên thường rụt rè, sợ sệt, ít nói, ngại
giao tiếp với các bạn người Kinh.
Các em thường mặc cảm, tự ti vì cảm thấy thua kém với mọi người, hay
giữ khoảng cách.
Ở trường học, các em thường lúng túng trong giao tiếp vì vốn từ của các
em còn hạn chế nên dẫn đến ngại sử dụng tiếng Việt. Các em chỉ dùng tiếng mẹ
đẻ để giao tiếp với bạn bè ở trường.
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.2.1. Thuận lợi
Trường PTDTBT TH & THCS xã Quan Hồ Thẩn là một đơn vị đóng
trên địa bàn thôn Seo Cán Hồ, Xã Quan Hồ Thẩn, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
Việc dạy tiếng Việt trong nhà trường rất được BGH nhà trường quan
tâm nên đã dành rất nhiều thời lượng cho các phân môn Tiếng Việt trong
chương trình học. Mặt khác, để giúp học sinh mạnh dạn, tự tin hơn trong giao
tiếp với thầy cô, bạn bè, BGH nhà trường đã tạo điều kiện cho giáo viên chủ
nhiệm, trong mỗi buổi học được dành ra 15 phút đầu giờ hoặc cuối buổi để giao
tiếp với học sinh cũng như tổ chức các hoạt động khuyến khích học sinh sử dụng
tiếng Việt.
2.2.2. Khó khăn
Điều tra vốn từ tiếng Việt của học sinh lớp 5A thông qua bài khảo sát
chất lượng đầu năm, kết quả cụ thể như sau:
TSHS
HT
CHT
22
Đọc
Viết
Đọc
Viết
18
15
4
7
(Có những học sinh chỉ hoàn thành một nội dung hoặc không hoàn thành
cả 2 nội dung khảo sát)
Qua điều tra, tôi nhận thấy một số nguyên nhân chủ yếu làm cho việc
học tập môn Tiếng Việt của các em gặp khó khăn, như sau:
+ Vì 100% học sinh trong trường là học sinh dân tộc Mông nên môi
trường giao tiếp tiếng Việt của các em bị hạn chế.
+ Vốn tiếng Việt của học sinh dân tộc khi bắt đầu vào học tiểu học hầu
như là không có hoặc là có rất ít. Bước chân vào lớp 1, các em vừa phải học từ,
tiếng, vần với một ngôn ngữ mới, vừa phải học cách hiểu nghĩa của các từ ngữ
đó. Đối với tư duy còn non của các em như vậy, việc tiếp thu không hiệu quả là
điều khó tránh khỏi.
+ Các em không có nhiều điều kiện tiếp xúc nhiều với tiếng Việt.
+ Nhận thức của phụ huynh về vai trò của tiếng Việt đối với con em của
mình chưa được quan tâm. Điều này xuất phát từ vấn đề phụ huynh của các em
cũng không biết tiếng Việt hoặc có biết nhưng không có thói quen sử dụng,
chính vì thế cũng hình thành ở các em thói quen đó.
+ Nhiều thầy, cô trong quá trình giảng dạy chỉ tập trung vào quá trình
truyền đạt kiến thức cho các em mà bỏ qua điều cơ bản và quan trọng không
kém, đó là giao tiếp với học sinh. Đối với các em học sinh dân tộc, việc khuyến
khích các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp không hề khó, điều này có được là
phụ thuộc vào chính người thầy, người cô.
Hiện nay, học sinh dân tộc bậc tiểu học đa số chưa đạt yêu cầu cơ bản về
các kĩ năng bắt buộc học sinh phải đạt được như: nghe, nói, đọc, viết ở bộ môn
tiếng Việt. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho học sinh dân
tộc gặp khó khăn trong quá trình tiếp thu tri thức những môn học khác trong quá
trình học tập.
Một số lỗi thường gặp mà học sinh dân tộc thường hay mắc phải trong
học tập cũng như trong giao tiếp:
- Thường xuyên nói và viết dấu thanh không đúng:
Vd: gần gũi - gậm gúi, mặc áo - mắc áo,…
- Hay nhầm lẫn giữa các phụ âm đầu và âm cuối:
+ Âm đầu: ngh, ng, g: ngang - gang,…
+ Âm cuối: c - t, n - m, n - ng : chắc - chắt, cắt - cắc,…
+ Khó phát âm các tiếng nguyên âm đôi: iê (yê), uô, ươ,…
- Không phân biệt được các danh từ riêng, danh từ chung nên khi viết
hay bị sai.
- Khả năng đọc, hiểu văn bản còn nhiều hạn chế.
- Các em thường nói, viết câu không đủ thành phần (chủ ngữ hoặc vị ngữ)
- Trong viết văn các em thường sử dụng nhiều câu, từ không có nghĩa
hoặc nghĩa không phù hợp với văn cảnh.
- Sử dụng nhiều từ ngữ không phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.3.1. Xây dựng môi trường học tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
Môi trường học tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số rất hạn hẹp,
phần lớn do gia đình các em ở những nơi hẻo lánh và sống theo cộng đồng dân
tộc mình nên rất ít giao lưu, tiếp xúc với các dân tộc khác, đời sống văn hóa tinh
thần không phát triển. Vì vậy, để mở rộng, phát triển tiếng Việt cho học sinh dân
tộc, cần mở rộng môi trường học tiếng Việt cho các em:
a) Tạo môi trường tiếng Việt ở nơi cư trú:
Động viên, khuyến khích các em tăng cường sử dụng tiếng Việt để giao
tiếp trong cuộc sống hàng ngày tại gia đình, trong cộng đồng dân cư mình sống.
Bởi lẽ các em sẽ tự tin hơn khi giao tiếp với những người thân trong gia đình
mình. Để làm được điều đó thì nhận thức về vai trò của tiếng Việt trong cộng
đồng và trong mỗi gia đình phải được nâng cao. Là giáo viên, tôi đã phải thường
xuyên gặp mặt trực tiếp phụ huynh học sinh để vận động gia đình tạo điều kiện
cho các em được đi học đầy đủ, cũng qua những lần gặp gỡ đó, tôi đã có cơ hội
tuyên truyền đến gia đình của các em về tầm quan trọng của tiếng Việt và từ đó
vận động các phụ huynh học nói và sử dụng tiếng Việt thường xuyên với con em
mình. Vận động các gia đình cố gắng trang bị các phương tiện thông tin đại
chúng: tivi, đài, báo,… và tích cực tham gia các hoạt động văn hóa xã hội,…
Mặc dù, tôi nhận thấy hiệu quả chưa thực sự rõ rệt vì biện pháp này cần có thời
gian nhưng những kết quả bước đầu rất khả quan. Nhận thức về tầm quan trọng
của tiếng Việt ở chính bản thân các em được nâng lên, các em đã thường xuyên
sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, còn biết hướng dẫn mọi người trong gia đình,
đặc biệt là các em nhỏ nói tiếng Việt.
b) Tạo môi trường tiếng Việt ở trường học:
Tăng cường tiếp xúc với học sinh ở mọi lúc, mọi nơi để nắm được khả
năng vốn từ của các em. Cũng qua đó, giúp các em mạnh dạn hơn trong giao
tiếp. Dành nhiều thời gian để uốn nắn, sửa chữa, bổ sung thêm nhiều vốn từ cho
các em. Khuyến khích các em sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với bạn bè, thầy
cô ở trường. Tôi đã sử dụng một số biện pháp mạnh là đưa vào nội quy lớp học
một số quy định: không sử dụng tiếng dân tộc khi trao đổi bài với bạn,…
Khuyến khích, động viên học sinh tham gia các hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp theo chủ đề do nhà trường tổ chức để các em có điều kiện rèn
luyện và bồi đắp vốn từ của mình, và cũng giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn.
Ví dụ: Phối hợp với bên Đội để tổ chức các cuộc thi về tìm hiểu lịch sử
nhà trường, tìm hiểu về an toàn giao thông,… Ở các cuộc thi này, việc xây dựng
câu hỏi phù hợp với các em là rất cần thiết. Câu hỏi theo hình thức lựa chọn các
phương án được chúng tôi sử dụng chủ yếu.
Bên cạnh đó, môi trường tiếng Việt trong lớp sẽ phong phú, thu hút các
em hơn với các góc học tập trong lớp được trang trí bắt mắt, nội dung phong
phú, lôi cuốn: lớp tôi đã thiết kế góc cây từ vựng tiếng Việt với nhiều chủ đề,
chủ điểm tương ứng với các từ ngữ gần gũi, có giải nghĩa và câu sử dụng mẫu
giúp các em dễ dàng hơn khi sử dụng. Góc thư viện trong lớp thật cần thiết và
hữu ích. Có lẽ đây là góc học tập mà các em thích nhất. Với thư viện góc lớp, tôi
đã lựa chọn rất nhiều những quyển truyện, sách, báo với nội dung gần gũi nhưng
không kém phần hấp dẫn, lôi cuốn với các em sẽ giúp các em phát triển kĩ
năng đọc tiếng Việt, từ đó cũng mở rộng vốn từ cho các em.
2.3.2. Mở rộng vốn từ tiếng Việt cho học sinh dân tộc thông qua dạy học
tích hợp.
Mở rộng vốn từ thông qua dạy học tích hợp giữa các phân môn của môn
Tiếng Việt, tích hợp các môn học khác.
Ở tiểu học, môn Tiếng Việt được chia thành các phân môn ứng với sự
phát triển các kĩ năng tiếng Việt của học sinh: Tập đọc (kĩ năng đọc, hiểu);
Chính tả (kĩ năng nghe - viết), Luyện từ và câu - Tập làm văn (kĩ năng vận dụng
trong giao tiếp). Vừa giúp học sinh phát triển các kĩ năng vừa cung cấp kiến
thức, ngoài các kiến thức về tiếng Việt còn các kiến thức về khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội. Các phân môn này có mối quan hệ mất thiết với nhau, tuy
nhiên chúng ta phải điều chỉnh sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của
mình, sao cho hiệu quả giáo dục đạt được là tốt nhất.
Ví dụ: Trong tiết kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia, đây là tiết
học mà các em phải vận dụng khả năng tiếng Việt của bản thân kết hợp với kĩ
năng quan sát để nêu lại một sự việc mà bản thân đã chứng kiến hoặc trải
nghiệm. Với học sinh người Kinh, các em sẽ không gặp nhiều khó khăn khi kể,
nhưng với học sinh dân tộc, kĩ năng sử dụng tiếng Việt chưa thành thạo, lúc này
giáo viên phải hướng dẫn, đưa ra gợi ý chi tiết để các em dựa vào để kể. Gợi ý
hay chính là hệ thống các câu hỏi xoay quanh chủ đề của bài để học sinh trả lời:
- Mở đầu câu chuyện: hướng dẫn học sinh tự giới thiệu về câu chuyện mình
đã được chứng kiến hoặc tham gia theo đúng đề bài qua một số câu hỏi gợi ý
như sau:
+ Em sẽ kể cho cô và các bạn nghe câu chuyện gì? (về tấm gương người
tốt, việc tốt,...)
+ Câu chuyện diễn ra vào thời gian nào? Ở đâu?
+ Một mình em chứng kiến hoặc tham gia hay còn có các bạn khác cùng
tham gia?...
- Diễn biến của câu chuyện:
+ Câu chuyện đó diễn ra như thế nào?
+ Em hoặc người đó, bạn đó,… đã giải quyết vấn đề đó ra sao?
- Kết thúc câu chuyện:
+ Em thấy ý nghĩa của những hành động, việc làm đó như thế nào?
+ Em đã nhận thấy hoặc học tập được điều gì?
+ Qua câu chuyện em muốn truyền tới cô và các bạn thông điệp gì?...
Tuy vào nội dung của đề bài mà chúng ta có thể xây dựng câu hỏi phù hợp
với từng đối tượng học sinh trong lớp. Với những học sinh còn gặp nhiều khó
khăn trong quá trình sử dụng tiếng Việt, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi sát
với đề bài hơn,…
Việc mở rộng vốn từ cho học sinh phải được duy trì thường xuyên, đòi
hỏi mỗi giáo viên phải có sự kiên trì, sáng tạo trong quá trình dạy học. Dạy học
phù hợp với đối tượng học sinh của mình.
2.3.3. Mở rộng vốn từ thông qua việc cung cấp vốn từ thường xuyên
cho học sinh thông qua mọi hoạt động học tập.
Xuất phát từ thực trạng ngôn ngữ, khả năng diễn đạt ngôn ngữ còn nhiều
hạn chế của học sinh dân tộc thiểu số, vốn từ nghèo nàn của các em đã ảnh
hưởng rất lớn đến việc bày tỏ tư tưởng, tình cảm trong quá trình học. Vì vậy,
việc cung cấp vốn từ, phát triển vốn từ cho các em là nhiệm vụ thiết yếu, đóng
vai trò quyết định sự phát triển toàn diện của các em.
Trong quá trình học tập và giao tiếp với học sinh, chúng ta nên lựa chọn
và phân bố vốn từ ngữ cần cung cấp, ví dụ như:
Căn cứ trên tần số sử dụng của một số từ nào đó trong hoạt động giao
tiếp để lựa chọn vốn từ ngữ cần cung cấp. Với những từ ngữ thường xuất hiện
trong hoạt động giao tiếp hàng ngày của các em như các chủ đề về gia đình,
trường lớp,… Ngoài những từ ngữ mà sách giáo khoa cung cấp, cần mở rộng,
phát triển thêm những từ ngữ không có trong chương trình để làm phong phú
thêm vốn từ cho các em. Sau khi cung cấp các từ ngữ đó cho học sinh, giáo viên
cần sử dụng lặp đi, lặp lại nhiều lần, kèm theo đó là sự giải thích, minh họa rõ
ràng, chi tiết.
Cần cung cấp vốn từ cho học sinh cần theo sát chủ đề, chủ điểm, lượng
kiến thức vừa phải, phù hợp với đối tượng học sinh và môi trường sống của các em.
2.3.4. Mở rộng vốn từ bằng cách rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ cho học
sinh dân tộc:
Vốn từ được cung cấp chỉ là điều kiện để học sinh dân tộc tham gia vào
hoạt động giao tiếp. Tuy nhiên, quá trình giao tiếp có đạt hiệu quả hay không
còn phụ thuộc vào kĩ năng sử dụng từ ngữ của học sinh.
Để phát triển kĩ năng sử dụng từ ngữ của học sinh dân tộc trong giao
tiếp, tăng cường hiệu quả diễn đạt, tôi đã sử dụng một số biện pháp sau:
* Nghe - hiểu và kể lại những câu chuyện ngắn: Trong các tiết kể
chuyện theo tranh, yêu cầu học sinh lắng nghe cô kể 2-3 lần, kết hợp quan sát
theo từng bức tranh, hình dung và khái quát nội dung của từng tranh theo trí
nhớ; sau đó hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nội dung của câu chuyện; hướng
dẫn học sinh dựa vào tranh để nêu nội dung từng bức tranh theo diễn biến câu
chuyện. Khuyến khích các em diễn đạt theo ý hiểu của bản thân theo đúng nội
dung câu chuyện, không quá áp đặt học sinh là phải kể theo đúng từng câu trong
chuyện.
* Cho học sinh kể về nơi mình đang sống: Trong quá trình hướng dẫn
các em kể, cần có những câu hỏi gợi mở để các em dễ hình dung.
Ví dụ:
+ Giới thiệu về bản thân trước lớp.
+ Em hãy nêu tên của thôn, xã, huyện, tỉnh nơi em đang sống.
+ Thôn em ở có xa thị trấn không?
+ Mọi người ở thôn em sinh sống chủ yếu bằng nghề gì?
+ Em thích điểm gì nhất ở thôn em?
+ Em mong ước điều gì về nơi em đang sống?...
* Tập chung đầu tư rèn kĩ năng đọc cho học sinh.
Có đọc tốt các em mới phát triển được các kĩ năng khác về tiếng Việt và
các môn học khác. Rèn đọc cho học sinh ở tất cả các tiết học, giáo viên phải
theo sát học sinh trong từng tiếng mà học sinh đọc, sửa ngay cho các em và yêu
cầu học sinh ghi nhớ, phát âm lại nhiều lần.
Một số lỗi phát âm mà học sinh dân tộc mắc phải:
- Đọc thiếu hoặc sai dấu: trang giấy - trăng giấy, lời nói - lợi nói,… Yêu
cầu học sinh chú ý hơn và phát âm lại ngay tại chỗ.
- Không đọc đúng một số tiếng có âm cuối m - , p - t, c - t, n - ng,… Với
đặc điểm phát âm của người Mông, do ảnh hưởng của phương ngữ, mà nhiều
học sinh không thể phân biệt được sự khác nhau của một số tiếng chứa các âm
cuối ở trên. Để khắc phục những lỗi sai này tôi đã hướng dẫn học sinh chú ý một
số điểm đặc biệt của các tiếng này như sau:
+ Với các tiếng có âm cuối là m, p thì khi phát âm cần khép miệng.
+ Tiếng có âm t - c: nếu là tiếng có âm t thì có sự tham gia của đầu lưỡi
với lợi; nếu là tiếng có âm cuối là c thì có sự tham gia của cuối lưỡi…
Cần phát âm mẫu nhiều lần cho học sinh thấy được sự khác biệt và
hướng dẫn các em phát âm theo, và nhắc nhở các em thường xuyên để tạo thành
thói quen.
- Không biết ngắt, nghỉ đúng chỗ. Đây là một lỗi thường gặp, bởi lẽ các
em vừa đọc, vừa đánh vần dẫn đến ngắt, nghỉ không đúng. Từ đó, làm cho nghĩa
của câu không đúng hoặc khó hiểu. Lỗi sai này sẽ được khắc phục khi các em có
tiến bộ về đọc. Giáo viên chỉ cần giúp các em xác định cách ngắt, nghỉ theo
đúng dấu câu, nếu là câu dài sẽ ngắt theo cụm từ và cụm từ này phải đảm bảo
phải rõ nghĩa.
- Không biết sử dụng dấu câu và ngữ điệu của lời văn. Điều này thể hiện
rõ nhất khi các em viết văn. Có bài văn từ đầu đến cuối không hề sử dụng một
dấu câu nào, làm cho câu văn của các em không rõ ý,… Để giải quyết vấn đề
này, giáo viên phải kiên trì giúp các em nắm được tác dụng của các dấu câu, cần
chỉ rõ sự cần thiết của dấu câu trong văn bản,… Dần hình thành cho các em thói
quen sử dụng dấu câu.
- Rèn kĩ năng viết đúng chính tả, viết rõ ràng.
Đối với học sinh dân tộc để viết đúng chính tả là công việc không hề đơn
giản, nguyên nhân là do các em phát âm thế nào thì viết thế ấy. Chính vì vậy,
giáo viên cần thường xuyên kiểm tra việc đọc, viết của các em. Với sự nhầm lẫn
giữa các dấu câu hoặc các phụ âm, vần,…giáo viên cần đưa ra một số quy tắc để
các em chú ý hơn.
Ví dụ: Với các âm cuối là m, p thì khi phát âm sẽ phải khép miệng,…
2.3.5. Mở rộng vốn từ bằng cách tạo ra những bài tập phản xạ trong
giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
Mục đích của việc xây dựng các dạng bài tập phản xạ trong giao tiếp
nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức, mở rộng và phát triển vốn tiếng Việt của
bản thân.
Tạo ra tình huống giao tiếp trực tiếp bằng cách đặt câu hỏi theo mức độ
từ dễ đến khó theo khối kiến thức đã học để củng cố và rèn luyện từ ngữ cho học sinh.
Ví dụ:
- Trong bài tập đọc “Lòng dân” có những nhân vật nào?
- Em thích nhân vật nào nhất? vì sao?...
- Vì sao bài đọc lại có tên là “Lòng dân”
Từ những câu hỏi giao tiếp thường xuyên trong bài học như vậy đã đặt
học sinh vào tình thế luôn luôn phải chuẩn bị để trả lời câu hỏi. Dần dần, học
sinh sẽ thích nghi và hình thành được phản xạ nhanh nhạy hơn trong giao tiếp
với những vấn đề mà giáo viên đưa ra.
Tạo ra các bài tập phản xạ bằng hình thức trắc nghiệm:
Ví dụ:
Dựa vào nội dung bài tập đọc: “Những cánh buồm”, em hãy khoanh
tròn vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng nhất)
Câu 1: Suốt bốn mùa, dòng sông có đặc điểm gì ?
A. Nước sông đầy ắp
B. Những con lũ dâng đầy
C. Dòng sông đỏ lựng phù xa
Câu 2: Màu sắc của những cánh buồm được tác giả so sánh với gì ?
A. Màu nắng của những ngày đẹp trời.
B. Màu áo của những người lao động vất vả trên cánh đồng.
C. Màu áo của những người thân trong gia đình.
Câu 3: Trong câu: “Từ bờ tre làng tôi, tôi vẫn gặp những cánh buồm lên
ngược về xuôi”, cặp từ trái nghĩa là:
A. Bờ tre - cánh buồm.
B. Ngược - xuôi.
C. Tôi - làng tôi.
Câu 4: Từ đồng nghĩa với từ to lớn có trong bài là:
A. Dâng đầy
B. Phẳng lặng
C. Khổng lồ
D. Nhẫn nại
Với dạng bài tập này, chúng ta không mất nhiều thời gian nhưng lại
kiểm tra được số đông học sinh. Bài tập dạng này đòi hỏi học sinh phải đưa ra
phương án đúng và trả lời trong thời gian ngắn nhất. Chính việc chúng ta đặt học
sinh trước tình thế phải lựa chọn, huy động trí tuệ là chúng ta đã hình thành phản
xạ trong hoạt động tư duy của các em.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Qua quá trình áp dụng giảng dạy theo phương pháp trên, đến nay tôi nhận
thấy các em có nhiều tiến bộ so với đầu năm học. Những học sinh còn lúng túng
khi sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp thì giờ đã tự tin hơn rất nhiều. Đầu năm,
một số em còn rất yếu trong đọc, viết tiếng Việt thì đến cuối học kì 1 các em đã
hoàn thành được nội dung học tập của môn Tiếng Việt.
Qua một thời gian áp dụng các biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh, tôi
thống kê kết quả đạt được như sau:
TSHS
T
H
C
22
5
15 (H cả đọc và viết chính
tả, viết tập làm văn)
2 (chủ yếu là viết sai chính
tả và không có kĩ năng viết
tập làm văn)
Kết quả đạt được như trên tuy chưa cao nhưng phần nào thấy được hiệu
quả mà các phương pháp trên đem lại. So với đầu năm, các em thực sự đã tiến
bộ rất nhiều, đặc biệt là kĩ năng sử dụng tiếng Việt.
3. Kết luận.
Tiếng Việt có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội.
Trong dạy học tiếng Việt ở trường tiểu học, việc phát triển vốn từ ngữ cho học
sinh có ý nghĩa và tầm quan trọng sâu sắc, đặc biệt là vấn đề phát triển vốn từ
cho học sinh dân tộc thiểu số. Nếu chúng ta thực hiện tốt và có hiệu quả việc
phát triển vốn từ cho học sinh dân tộc sẽ góp phần nâng cao năng lực sử dụng
tiếng Việt của các em, từ đó giúp các em thuận lợi hơn trong việc lĩnh hội tri thức.
Việc phát triển vốn từ cho học sinh dân tộc không phải tiến hành một cách
tùy tiện theo sở thích cá nhân của giáo viên. Mà phải dựa trên những cơ sở khoa
học nhất định, giáo viên phải chú ý đến các đặc điểm tâm lí, điều kiện sống,…
của đối tượng mà vận dụng linh hoạt vào nội dung bài dạy. Tất cả vốn từ được
cung cấp phải trở thành một hệ thống nhất định, giúp ích cho học sinh trong việc
huy động những từ ngữ cần thietsestrong quá trình tham gia vào hoạt động giao
tiếp.
Đối với học sinh dân tộc thiểu số, giáo viên cần phải lựa chọn những vốn
từ thích hợp, gần gũi với học sinh để cung cấp cho các em. Giúp các em nắm
được giá trị và ý nghĩa của từ trong giao tiếp, khuyến khích, động viên giúp các
em tự tin hơn trong giao tiếp.
Xây dựng các dạng bài tập phản xạ nhằm giúp các em chủ động hơn trong
giao tiếp. Việc xây dựng bài tập phải dựa vào nội dung bài học và đối tượng học sinh.
Để vốn từ tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số có một khởi đầu thuận
lợi hơn, tôi mong rằng Nhà nước cũng như Bộ GD & ĐT cần có những phương
án thiết thực để phát triển bậc học mầm non, làm bước đệm vững chắc cho các
em khi bước vào bậc tiểu học sẽ không bị bỡ ngỡ với tiếng Việt, tạo điều kiện
thuận lợi để các em được tiếp thu tri thức, xóa bỏ sự chênh lệnh giữa học sinh
miền núi và miền xuôi.
Quan Hồ Thẩn, ngày…..tháng……năm 2022
Người viết
Hoàng Seo Sử
XÁC NHẬN CỦA BAN GIÁM HIỆU NHÀ TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
MỤC LỤC
STT
1
2
2.1
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.3.5
2.4.
3
NỘI DUNG
Đặt vấn đề
Giải quyết vấn đề
Cơ sở lí luận
Thực trạng của vấn đề
Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Mở rộng vốn từ tiếng Việt bằng cách xây dựng môi trường học
tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
Mở rộng vốn từ cho học sinh dân tộc thông qua dạy học tích hợp
Mở rộng vốn từ thông qua việc cung cấp vốn từ cho học sinh.
Mở rộng vốn từ bằng cách rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ cho học
sinh dân tộc:
Mở rộng vốn từ bằng cách tạo ra những bài tập phản xạ trong giao
tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
Hiệu quả của sáng kiến
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Tài liệu tham khảo
- Tiếng Việt - Đại cương - ngữ âm (Bùi Minh Toán - Đặng Thị LanhNXB ĐH Sư phạm).
- Bộ Chuẩn KT - KN lớp 4- 5
- SGK TV lớp 4, 5.
- Sách GV môn TV lớp 4, 5
 









Các ý kiến mới nhất