SKKN lớp 2 bộ sách mới

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Hoàng Tuyết
Ngày gửi: 11h:15' 17-03-2024
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 170
Nguồn:
Người gửi: Phạm Hoàng Tuyết
Ngày gửi: 11h:15' 17-03-2024
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 170
Số lượt thích:
0 người
1
PHÒNG GD&ĐT ..........................
TRƯỜNG TH ........................
---------- ----------
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
“Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho
học sinh lớp 2 theo bộ sách
Chân trời sáng tạo”
Người thực hiện: ……………
2
MỤC LỤC
Bước 1. Đọc và tìm hiểu bài toán..............................................................8
Bước 2. Tìm cách giải bài toán................................................................10
Bước 3. Tìm lời giải................................................................................11
Bước 4. Xác định đơn vị bài giải.............................................................12
Bước 5. Thực hiện cách giải và trình bày bài giải...................................12
Bước 6. Kiểm tra bài giải........................................................................13
Dạng bài toán có phép tính cộng.............................................................13
Dạng bài toán có phép tính trừ................................................................16
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
1. Tên báo cáo biện pháp: “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh
lớp 2 theo bộ sách Chân trời sáng tạo”
2. Tác giả:
- Họ và tên:
Nam (nữ): Nam
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
- Chức vụ, đơn vị công tác: Trường TH
- Lớp chủ nhiệm:
- Điện thoại:
Email:
@gmail.com
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn biện pháp
1. Xuất phát từ vị trí tầm quan trọng của môn Toán trong trường tiểu học.
Bậc tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho
việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Môn Toán cũng như những
môn học khác cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về
thế giới xung quanh nhằm phát triển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và
bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp của con người.
Môn Toán ở trường tiểu học là một môn độc lập, chiếm phần lớn thời gian
trong chương trình học của trẻ.
Môn Toán có tầm quan trọng to lớn. Nó là bộ môn khoa học nghiên cứu
có hệ thống, phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người
Môn Toán có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp
suy nghĩ, phương pháp suy luận lô gíc, thao tác tư duy cần thiết để con người
phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong
thời đại mới.
Để góp phần tạo ra những con người thông minh, sáng tạo, giàu ý chí và
nghị lực, vững tin vào bàn tay, khối óc của mình, người thầy giáo phải coi trọng
việc rèn luyện kỹ năng tư duy độc lập cho học sinh qua các môn học nói chung,
qua môn toán nói riêng và đặc biệt là qua học giải toán có lời văn.
2. Xuất phát từ ý nghĩ của việc dạy giải toán có lời văn.
Giải toán là mạch kiến thức hết sức quan trọng, chính vì thế, nó được sắp
xếp xen kẽ với các mạch kiến thức cơ bản khác của môn toán ở bậc tiểu học.
4
Giải toán ở bậc tiểu học giúp học sinh vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức
toán học đã lĩnh hội, đồng thời vận dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn
với tình huống thực tiễn.
Qua giải toán tạo điều kiện giúp các em phát triển trí thông minh tư duy
độc lập, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện
và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí
tưởng tượng cho các em, góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và
làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt sáng tạo.
Đối với học sinh lớp Hai, các em mới làm quen với giải toán có lời văn
(các em đã được học ở lớp Một nhưng rất ít) nên người thầy phải hết sức chú
trọng để trang bị cho các em một số kiến thức và kĩ năng cơ bản trong giải toán
để các em có thể học tốt hơn môn toán.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã nghiên cứu tài liệu, học hỏi, tham
khảo bạn bè đồng nghiệp và qua thực tế giảng dạy tôi đã rút ra một số kinh
nghiệm nhỏ trong việc “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2
theo bộ sách Chân trời sáng tạo” và đã viết nên đề tài này.
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu nội dung, chương trình và những phương pháp dùng để giảng
dạy toán có lời văn.
lời
- Tìm hiểu những kỹ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải toán có
văn cho học sinh lớp 2.
- Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác
thực hành các kiến thức đã học; rèn luyện kỹ năng tính toán là bước tập dượt
vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn.
- Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương
pháp và kỹ năng suy luận, khơi gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán,
tìm tòi.
- Rèn luyện cho học sinh những đức tính và phong cách làm việc của
người lao động như: tư duy, cẩn thận, nhanh nhẹn, cụ thể.....
- Khảo sát và hướng dẫn cụ thể một số bài toán giải, một số dạng toán có
lời văn ở lớp 2, để từ đó đúc rút kinh nghiệm cho bản thân, và đề xuất một số ý
kiến nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng: Học sinh lớp 2, Trường Tiểu học.......
- Thời gian nghiên cứu: Từ ……..đến tháng ……..
4. Phương pháp nghiên cứu
5
a. Phương pháp quan sát: Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi còn mang
tính cụ thể, gắn với các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức
của môn Toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao. Sử dụng phương pháp này
giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ sung vốn hiểu biết, phát triển
tư duy trừu tượng. Đối với học sinh lớp 2, việc sử dụng đồ dùng trực quan nhiều
hơn. Ví dụ: Khi dạy giải toán ở lớp 2, giáo viên có thể cho học sinh quan sát mô
hình hoặc hình vẽ, sau đó hướng dẫn các em lập tóm tắt đề bài rồi mới đến bước
chọn phép tính.
b. Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra, khảo sát khả năng giải toán có
lời văn của học sinh khối lớp 2 Trường Tiểu học.......
c. Phương pháp phân tích, đàm thoại: Đây là phương pháp cần thiết và
thích hợp với học sinh ở tiểu học, rèn luyện cho học cách suy nghĩ, cách diễn đạt
bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh. Để sử dụng tốt
phương pháp này, giáo viên cần lựa chọn hệ thống câu hỏi chính xác và rõ ràng,
nhờ thế mà học sinh có thể nắm được ngay nội dung kiến thức từ đầu và giúp
các em dễ dàng trả lời các câu hỏi.
d. Phương pháp thực hành và luyện tập: Sử dụng phương pháp này thực
hành luyện tập kiến thức, kĩ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp. Trong quá
trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: Gợi
mở, vấn đáp và giảng giải minh hoạ.
PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Dạy học toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những
kiến thức về toán vào các tình huống thực tiễn, đa dạng, phong phú, những vấn
đề thường gặp trong cuộc sống.
Mạch kiến thức giải toán có lời văn được sắp xếp xen kẽ với các mạch
kiến thức cơ bản khác trong môn Toán lớp 2. giải toán có lời văn giúp học sinh
vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đã lĩnh hội đồng thời vận
dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn liền với tình huống thực tiễn. Học
sinh tự giải được các bài toán có lời văn là một yêu cầu cơ bản của dạy toán học.
Vì vậy, việc dạy học giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học có vai trò hết sức
quan trọng trong việc dạy học toán.
Nhờ giải toán, học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư
duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người
lao động mới. Vì vậy giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: Xác
lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa các đã cho với cái cần tìm, trên cơ sở đó
chọn được phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán.
Dạy học giải toán giúp học sinh tự phát hiện, giải quyết vấn đề, tự nhận
xét, so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra các quy tắc ở dạng khái quát nhất định.
6
Giải toán có lời văn là loại toán cần đến sự tư duy bởi vì đề bài được nêu
ra dưới hình thức có lời văn hoàn chỉnh. Vì vậy để giải được các loại toán này,
học sinh cần tìm được sự liên quan giữa các đại lượng, các yếu tố đã biết và các
yếu tố cần tìm của bài toán một cách lô gíc. Nói chung các dữ liệu được đưa ra
trong đề toán rất đa dạng nó gắn liền với thực tế hoạt động của các sự vật, các
yếu tố cuộc sống để học sinh dễ liên hệ.
Như vậy đây là một loại toán khó đối với học sinh tiểu học bởi ở lứa tuổi
này các em chưa tiếp xúc nhiều với cuộc sống, bản chất của các em còn rất hồn
nhiên và ngây thơ, sự chú ý của các em còn hướng ra bên ngoài chưa có khả
năng hướng vào bên trong, vào tư duy, vào trí nhớ lô gíc, trí nhớ máy móc cũng
dễ dàng đối với các hiện tượng hình ảnh cụ thể hơn là các câu chữ trừu tượng,
khô khan.
Để giúp học sinh giải toán có lời văn theo hướng tích cực giáo viên cần
giúp học sinh tự mình tìm hiểu được các mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải
tìm, mô tả mối quan hệ đó bằng cấu trúc phép tính cụ thể, thực hiện phép tính,
trình bày lời giải của bài toàn.
Để đạt được mục tiêu trên, giáo viên phải thực hiện được các yêu cầu sau:
Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu
trúc phép tính, các thuật ngữ...(chuẩn bị cho học sinh giải toán).
Tổ chức cho học sinh thực hiện giải toán.
Tổ chức rèn kĩ năng giải toán.
Rèn luyện năng lực khái quát hóa giải toán.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Qua thực tế dạy học từ Trường Tiểu học, bằng việc dự giờ, thăm lớp, trao đổi
giờ dạy và rút ra kinh nghiệm giờ dạy của các đồng nghiệp cho thấy.
1. Về phía giáo viên
Đa số giáo viên đã biết hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được cách giải bài
toán có lời văn theo các bước giải nhưng thống nhất theo một trình tự chặt chẽ,
đôi lúc làm tắt, bỏ qua một số bước ( Ví dụ: không cho hoc sinh tóm tắt bài toán,
không cho học sinh xác định dạng bài, kiểu bài...)
Một bộ phận giáo viên chưa linh hoạt trong cách hướng dẫn học sinh giải bài
toán, chưa biết cách hướng dẫn học sinh khai thác đề bài để định hướng cách
làm bài
2. Về phía học sinh
Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, đa số các em là thích
học toán nhưng lại rất ngại những bài toán có lời văn vì đối với dạng bài này bắt
buộc các em phải tư duy, trình bày nhiều hơn. Mặt khác, vì mới học lớp 2 nên
vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế, đầu năm học có em còn đọc chưa thạo,
có em đọc được nhưng còn chưa hiểu vì vậy khi giải các bài toán có lời văn, lời
7
giải chưa gọn, có khi còn thiếu chính xác, chưa liên hệ được những điều đã biết,
điều cần tìm trong bài để có phép tính đúng.
Khảo sát chất lượng:
Đầu năm, sau khi nhận lớp, tôi bắt tay ngay về tìm hiểu đối tượng học sinh,
tôi nhận thấy lớp 2 các em có lực học khá đồng đều, nhưng đối với giải toán có
lời văn các em vẫn còn hơi yếu:
Kết quả khảo sát đầu năm:
Sĩ số Hoàn thành tốt
SL
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
TL
SL
TL
SL
TL
47,6%
8
38%
3
14,4%
Trong đó đối với bài toán giải:
Số học sinh sai về lời giải là 5 em = 23,8%
Số học sinh sai về phép tính là 8 em = 38%
Số học sinh sai về đơn vị là 3 em = 14,4%
Nguyên nhân:
Sau khi khảo sát, tìm hiểu thực tiễn tôi thấy có những nguyên nhân như sau:
1. Do học sinh không đọc kĩ đề bài nên không nắm vững được những điều đã
biết, những điều cần tìm trong bài toán dẫn đến chưa định hướng được cách làm
bài.
2. Học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán.
3. Học sinh không nắm vững câu hỏi của bài nên không xác định được dạng
bài.
4. Có học sinh không biết dựa vào câu hỏi để tìm lời giải.
5. Có học sinh chưa nắm vững cách trình bày bài giải.
6. Học sinh không có thói quen kiểm tra lại bài sau khi làm bài xong.
Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2
Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, đa số các em là thích
học toán nhưng lại rất ngại những bài toán có lời văn vì đối với dạng bài này bắt
buộc các em phải tư duy, trình bày nhiều hơn. Mặt khác, vì mới học lớp 2 nên
vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế, đầu năm học có em còn đọc chưa thạo,
có em đọc được nhưng còn chưa hiểu vì vậy khi giải các bài toán có lời văn, lời
giải chưa gọn, có khi còn thiếu chính xác, chưa liên hệ được những điều đã biết,
điều cần tìm trong bài để có phép tính đúng.
- Khảo sát chất lượng:
8
Đầu năm, sau khi nhận lớp, tôi bắt tay ngay về tìm hiểu đối tượng học sinh, tôi
nhận thấy lớp 2 các em có lực học khá đồng đều, nhưng đối với giải toán có lời
văn các em vẫn còn hơi yếu:
Kết quả khảo sát đầu năm:
Sĩ số Hoàn thành tốt
SL
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
TL
SL
TL
SL
TL
47,6%
8
38%
3
14,4%
Trong đó đối với bài toán giải:
Số học sinh sai về lời giải là .......... em = ...........%
Số học sinh sai về phép tính là .......... em = ............%
Số học sinh sai về đơn vị là ...........em = ............%
Nguyên nhân:
Sau khi khảo sát, tìm hiểu thực tiễn tôi thấy có những nguyên nhân như sau:
- Do học sinh không đọc kĩ đề bài nên không nắm vững được những điều đã
biết, những điều cần tìm trong bài toán dẫn đến chưa định hướng được cách làm
bài.
- Học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán.
- Học sinh không nắm vững câu hỏi của bài nên không xác định được dạng bài.
- Có học sinh không biết dựa vào câu hỏi để tìm lời giải.
- Có học sinh chưa nắm vững cách trình bày bài giải.
- Học sinh không có thói quen kiểm tra lại bài sau khi làm bài xong.
Khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, GV phải giúp học sinh tự mình tìm
hiểu mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm, mô tả quan hệ đó bằng tóm tắt
bài toán, bằng câu lời giải, bằng phép tính cụ thể.
Xuất phát từ định hướng trên, khi dạy các bài toán có lời văn tôi tổ chức cho học
sinh thực hiện các bước giải toán cụ thể như sau:
A. Các bước giải toán.
Bước 1. Đọc và tìm hiểu bài toán
Trong các bước giải toán theo tôi bước này là bước quan trọng nhất để giúp các
em xác định được cách giải bài toán đó cụ thể như thế nào?
Bước này tập trung cao độ tư duy của học sinh để lập được mối tương quan giữa
các đại lượng. Giáo viên là người giúp đỡ học sinh hiểu rõ một số từ quan trọng
như “thêm, hơn, kém, bớt, gấp, chia,...”; “còn lại, có tất cả,...” Ở đây giáo viên
giúp học sinh biết suy luận: Muốn tìm cái chưa biết thì phải dựa vào thông tin đã
biết. Để làm được điều đó cần thực hiện qua các bước:
9
+ Đọc bài toán (đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm, đọc bằng mắt).
+ Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để hiểu nội dung, nắm được mối
quan hệ giữa những điều đã biết và những điều cần tìm trong bài toán. Xác định
được kiểu bài, dạng bài.
Thông thường đề bài của bài toán có lời văn bao gồm có 2 phần đó là: Điều đã
biết; điều cần tìm. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nhận biết:
+ Điều đã biết thường bắt đầu bằng từ “ có”
+ Điều cần tìm thường bắt đầu bằng từ “ Hỏi” hay từ “ Tính”
Ngoài ra trong đề toán còn nêu ra mối quan hệ giữa điều đã biết và điều cần tìm.
Vì vậy muốn tìm hiểu được đề của bài toán yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài
(3 lần trở lên). Tìm hiểu xem bài toán cho biết những gì, bài toán hỏi gì? Liên hệ
với những điều đã học để xác định dạng bài.
Ví dụ:
Bài tập 4 (Trang 68 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Lúc đầu trên xe có 12
bạn, sau đó 3 bạn xuống xe. Hỏi trên xe còn bao nhiêu bạn?
Tìm hiểu, phân tích bài toán ta có thể có các cách như sau:
Cách 1: GV hỏi HS:
+ Bài toán đã cho biết gì? (Lúc đầu trên xe có 12 bạn, đã xuống xe 3 bạn.)
+ Bài toán hỏi gì? (Hỏi trên xe còn lại bao nhiêu bạn ?)
Cách 2:
Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc thầm đề bài, dùng bút chì gạch một
gạch dưới điều đã cho biết và hai gạch dưới điều cần tìm.
Bước 2:
10
+ Học sinh cả lớp cùng hoạt động sau đó nêu ý kiến của mình hoặc lên bảng
thực hiện những điều mà giáo viên yêu cầu.
+ Giáo viên cho một vài học sinh nêu lại điều đã biết và điều cần tìm. GV nhấn
mạnh các từ có, đã xuống, còn lại để học sinh nhận dạng được bài toán).
Bước 2. Tìm cách giải bài toán
* Tóm tắt bài toán: Dựa vào những điều đã biết, những điều cần tìm để viết tóm
tắt bài toán bằng ngôn ngữ toán học (Tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng sơ đồ đoạn
thẳng, sơ đồ ven…).
Ví dụ:
* Tóm tắt bằng lời:
Bài tập 4 (Trang 68 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Lúc đầu trên xe có 12
bạn, sau đó 3 bạn xuống xe. Hỏi trên xe còn bao nhiêu bạn?
Hướng dẫn HS đọc đề bài, nêu những điều đã biết (Có 12 bạn, đã xuống xe 3
bạn), những điều cần tìm (trên xe còn lại bao nhiêu), chọn lọc những từ ngữ
quan trọng (Có, đã xuống xe, còn lại) để tóm tắt bài toán:
Tóm tắt:
Có
:
Đã xuống
:
12 bạn
6 bạn
Còn lại :….. bạn?
* Tóm tắt bằng hồ sơ đoạn thẳng
Bài toán: (Trang 73 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Hà có 4 cái bút chì.
Tín nhiều hơn Hà 1 cái bút chì. Hỏi Tín có mấy cái bút chì?
Hướng dẫn HS cách tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:
Yêu cầu học sinh đọc thầm đề bài, dùng bút chì gạch một gạch dưới điều đã cho
biết và 2 gạch dưới điều cần tìm.
Sau đó tôi hỏi HS: Hà có bao nhiêu cái bút chì? (Hà có 4 cái bút chì), vậy ta
biểu thị số bút chì bằng 1 đoạn thẳng.
11
Số bút chì của Hà như thế nào so với số bút chì của Tín? (Tín có nhiều hơn Nam
1 cái bút chì).
Muốn biểu diễn số bút chì của Tín ta phải vẽ đoạn thẳng như thế nào? (Đoạn
thẳng dài hơn đoạn thẳng biểu diễn số bút chì của Hà).
- Phần dài hơn đó tương ứng với bao nhiêu bút chì? (1 cái bút chì).
- GV vẽ tiếp đoạn thẳng biểu diễn số bút chì của Tín.
- Vậy bài toán hỏi gì? (Hỏi Tín có bao nhiêu cái bút ?).
Sau khi phân tích rõ ràng như trên tôi hướng dẫn học sinh vẽ tóm tắt:
* Cho học sinh diễn đạt bài toán thông qua tóm tắt: Cho HS dựa vào tóm tắt nêu
lại vắn tắt nội dung của bài toán.
* Lập kế hoạch giải bài toán: Xác định trình tự giải bài toán: thông thường xuất
phát từ câu hỏi của bài toán đi đến các yếu tố đã cho với yêu cầu bài toán phải
tìm và tìm được đúng phép tính số học thích hợp.
Bước 3. Tìm lời giải
Học sinh dựa vào câu hỏi của bài để tìm lời giải cho bài toán. (Giáo viên giải
thích cho học sinh hiểu câu trả lời giải chính là câu trả lời cho câu hỏi trong bài Vì lớp 2 giải toán đều là các bài toán đơn).
- Vậy để giúp học sinh tìm ra câu trả lời nhanh và đúng nhất, giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải như sau:
Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán. Ví dụ: Hỏi Tín có bao nhiêu cái bút chì?
Bỏ bớt chữ “Hỏi”, cụm từ “bao nhiêu cái” thay bằng từ “số”, thêm từ “là” vào
cuối câu được câu lời giải: “Tín có số bút chì là”. Đây là cách đơn giản, học sinh
dễ nắm bắt nhất.
Cách 2: Cũng ví dụ trên, đưa từ “bút chì” ở cuối câu hỏi lên đầu câu hỏi thay
cho chữ “Hỏi” và thêm chữ “số” ở đầu câu, cuối câu thêm chữ “là” để được câu
trả lời:
“Số bút chì Tín có là:”.
Cách 3: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Tín có bao nhiêu viên cái bút chì? để học
sinh trả lời miệng: “Tín có 5 cái bút chì” rồi chèn phép tính vào để có các bước
giải (gồm cả lời giải và cả phép tính).
12
Bảo có số bút chì là:
4 + 1 = 5 (cái bút chì)
Cách 4: Sau khi học sinh nêu phép tính: 4 + 1 = 5 (cái bút chì), giáo viên chỉ vào
5 và hỏi: “5 cái bút chì” ở đây là số bút chì của ai? (là số bút chì của Tín). Từ
câu trả lời của các em ta giúp học sinh chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số bút chì
của Tín là”:
Trên đây là một số cách hướng dẫn học sinh trình bày câu lời giải của bài
toán. Xong với mỗi bài toán sau khi giáo viên hướng dẫn xong phải cho học sinh
tự nêu được nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó chọn câu lời giải thích hợp
nhất, ngắn gọn nhất và dễ hiểu, sát với yêu cầu đề bài.
Bước 4. Xác định đơn vị bài giải
Cách xác định đơn vị của bài toán: Muốn xác định được đơn vị của bài toán phải
giúp học sinh trả lời được câu hỏi xem bài toán yêu cầu tìm gì? Giáo viên gạch
dưới đơn vị của bài. Giáo viên hướng dẫn tìm cụ thể một vài bài để học sinh
định hướng và dần dần xác định được đơn vị của bài toán.
Vì bài toán có lời văn của lớp 2 chỉ là những bài toán đơn nên tôi có một mẹo
nhỏ giúp HS xác định đúng đơn vị bài toán đó là khi đọc câu hỏi sau từ: bao
nhiêu hay từ mấy là từ gì thì đó chính là đơn vị của bài giải.
Bước 5. Thực hiện cách giải và trình bày bài giải
Đây là bước cụ thể, cụ thể hóa của quá trình tư duy trên, nó thể hiện rõ nét kỹ
năng, kỹ xảo giải bài tập của học sinh, Học sinh dựa vào sơ đồ phân tích trên để
viết bài giải, nó được chuyển dịch tư duy ngược lại khi phân tích.
- Thực hiện các phép tính đã xác định (có thể viết phép tính sau khi viết câu lời
giải và thực hiện phép tính).
- Viết câu lời giải.
- Viết phép tính tương ứng.
- Viết đáp số.
- Tôi hướng dẫn học sinh trình bày bài giải vào vở ô li như sau:
+ Lùi vào 5 ô so với lề để viết Bài giải.
+ Viết câu lời giải cân đối với từ Bài giải (thường là lùi vào 2 ô so với lề).
+ Viết phép tính lùi vào 2 ô so với lời giải.
+ Viết đáp số lùi vào thẳng với từ bài giải.
Cách trình bày bài giải đối với học sinh lớp 2 cũng rất quan trọng. Giáo viên cần
rèn cho học sinh có con mắt thẩm mĩ trong cách trình bày bài, rèn cho các em có
thói quen trình bày bài khoa học và đẹp để sau này khi lên các lớp trên các em
không còn lúng túng khi trình bày bài giải.
13
Bước 6. Kiểm tra bài giải
Kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm
tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu.
Tóm lại: Trong quá trình dạy dạng toán có lời văn, giáo viên cần lưu ý:
- Luôn luôn củng cố các bước giải toán. Vì nếu trong quá trình giải toán, học
sinh không nắm được các bước giải một bài toán thì học sinh sẽ không có cách
giải hay, nhanh nhất và đúng nhất.
- Giúp học sinh nắm vững, ghi nhớ được các bảng cộng, trừ, nhân, chia…. để áp
dụng vào phép tính trong bài toán có lời văn. Vì nếu không thuộc bảng cộng,
trừ, nhân, chia…. không biết cách tính nhẩm thì không tránh khỏi sai sót kết quả
của bài toán.
B. Các ví dụ
Trong chương trình Toán 2 có các dạng toán giải sau:
Giải các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ.
Bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị.
Giải các bài toán đơn về phép nhân và phép chia.
Tôi có hướng dẫn học sinh ở mỗi dạng bài như sau:
Dạng bài toán có phép tính cộng
Học sinh cần đọc kỹ đề bài, tìm hiểu các từ ngữ trong bài để xác định hướng giải
của bài toán. Dạng này giáo viên hướng dẫn HS dựa vào một số từ ngữ để xác
định dạng bài như: Ở phần “cho biết” thường có các từ “và”, “thêm”, phần cần
tìm thường có các cụm từ “Hỏi có tất cả”, “hỏi cả hai 2 buổi”, “hỏi cả hai
bạn”….
Ví dụ 1: Bài tập 1 (Trang 72 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo). Một trang
trại có 74 con bò mẹ và 24 con bò con. Hỏi trang trại đó có tất cả bao nhiêu con
bò mẹ và bò con?
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:
- Giáo viên cho học sinh đọc thành tiếng, đọc thầm.
14
Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều đã biết, 2 gạch dưới những điều cần
tìm trong bài toán?
HS nêu những điều đã biết, những điều cần tìm của bài toán để tóm tắt bài toán.
Tìm cách giải bài toán.
- Tóm tắt đề bài.
- Học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại bài toán.
- Lập kế hoạch giải bài toán: Muốn biết lớp học đó có bao nhiêu học sinh ta làm
thế nào? Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào từ “và” cụm từ “hỏi tất cả” để
xác định và nêu cách làm bài.
- Học sinh nêu trình tự giải bài toán.
Tìm lời giải và trình bày lời giải.
- Hãy nêu lời giải cho bài toán? (Học sinh dựa vào câu hỏi để nêu câu lời giải:
Số học sinh trong lớp học đó là. Lớp học đó có số học sinh là,….).
- Học sinh nêu nhiều hướng đặt lời giải khác nhau, giáo viên phải định hướng và
phân tích để các em lựa chọn lời giải phù hợp, chính xác bằng các câu hỏi:
- Lời giải này phù hợp chưa?
Vì sao em cho là phù hợp?
Xác định đơn vị bài toán.
Bài toán yêu cầu tìm gì? (Có tất cả bao nhiêu học sinh?)
Đơn vị bài toán là gì? (Học sinh).
5. Trình bày bài giải: Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải theo đúng yêu cầu,
đẹp, sạch sẽ và khoa học.
Bài giải
Số con bò trong trang trại đó là:
74 + 24 = 98 (con bò)
Đáp số: 30 con bò
Kiểm tra bài toán.
Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép
tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bài
toán.
15
Ví dụ 2: Bài tập 9 (trang 79 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo). Hôm qua
Mai gấp được 9 ngôi sao. Hôm nay Mai gấp thêm 8 ngôi sao nữa. Hỏi cả hai
ngày Mai gấp được bao nhiêu ngôi sao?
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:
Tìm hiểu đề bài toán:
Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều đã biết, 2 gạch dưới những điều cần
tìm trong bài toán?
Học sinh nêu những điều đã biết, những điều cần tìm. Giáo viên cho học sinh
nêu tóm tắt để xác định dạng bài từ đó định hướng cách làm bài.
Tìm cách giải bài toán.
- Tóm tắt đề bài.
Hôm qua, Mai gấp: 9 ngôi sao
Hôm nay, Mai gấp thêm: 8 ngôi sao
Có tất cả…… ngôi sao?
- Học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại bài toán.
Lập kế hoạch giải bài toán:
Muốn biết trong vườn có tất cả bao nhiêu ngôi sao ta phải làm phép tính gì?
Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào từ “thêm” cụm từ “hỏi tất cả” để xác định
cách làm.
- Học sinh nêu trình tự giải bài toán.
Tìm lời giải và trình bày lời giải.
Hãy nêu lời giải cho bài toán? (Học sinh dựa vào câu hỏi để nêu câu lời giải: Cả
hai ngày Mai gấp được tất cả số ngôi sao là, Tất cả số ngôi sao Mai gấp trong cả
hai ngày là….)
HS nêu nhiều hướng đặt lời giải khác nhau, giáo viên phải định hướng và phân
tích để các em lựa chọn lời giải phù hợp, chính xác bằng các câu hỏi:
16
Lời giải này phù hợp chưa?
Vì sao em cho là phù hợp?
Xác định đơn vị bài toán.
Bài toán yêu cầu tìm gì? (Có tất cả bao nhiêu ngôi sao?)
Đơn vị bài toán là gì? (Ngôi sao).
Trình bày bài giải: Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải theo đúng yêu
cầu, đẹp, sạch sẽ và khoa học.
Bài giải
Cả hai ngày Mai gấp được số ngôi sao là:
9 + 8 = 17 (ngôi sao)
Đáp số: 17 ngôi sao
Kiểm tra bài toán.
Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra
phép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu
bài toán.
Dạng bài toán có phép tính trừ
Ở dạng bài có các phép tính trừ thông thường, giáo viên giúp học sinh
nắm bắt các từ ngữ nòng cốt trong đề bài để xác định dạng bài toán. Ở dạng toán
trừ thì ở phần “cho biết” thường có những cụm từ: cất đi, cho đi….
Ở phần “cần tìm” thường có các từ: còn lại…..
Ví dụ 1: (Bài tập 2 - trang 72 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Mỗi ngày
trang trại vắt được 80 thùng sữa. Người ta bán đi mỗi ngày 60 thùng sữa. Hỏi
mỗi ngày trang trại còn lại bao nhiêu thùng sữa.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:
Tìm hiểu đề bài:
17
Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều đã biết, 2 gạch dưới những điều cần
tìm trong bài toán?
HS nêu những điều đã biết, những điều cần tìm. Giáo viên cho học sinh nêu tóm
tắt để xác định dạng bài từ đó định hướng cách làm bài.
Tìm cách giải bài toán.
Tóm tắt: Cách 1:
Cách 2: Tất cả
: 80 thùng
Bán đi : 60 thùng
Còn lại : … thùng?
Trong 2 cách tóm tắt trên, cách 1 sẽ cho ta cách nhìn trực quan, học sinh sẽ dễ
nắm bắt, dễ nhận ra cách giải quyết bài toán.
- Học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại bài toán.
Lập kế hoạch giải bài toán:
Muốn biết trang trại còn lại bao nhiêu thùng sữa ta phải làm thế nào? Giáo viên
cho học sinh nêu cách tìm hiểu từ “bán đi” nghĩa là “bớt đi”, cụm từ “hỏi còn
lại” để xác định cách làm.
Học sinh nêu trình tự giải bài toán.
Tìm lời giải và trình bày lời giải.
Hãy nêu lời giải cho bài toán? (Học sinh dựa vào câu hỏi để nêu câu lời giải: Sợi
dây còn lại số dm là ….)
Học sinh nêu nhiều hướng đặt lời giải khác nhau, giáo viên phải định hướng và
phân tích để các em lựa chọn lời giải phù hợp.
Xác định đơn vị bài toán.
Bài toán yêu cầu tìm gì? (Hỏi trang trại còn lại bao nhiêu thùng sữa?)
Đơn vị bài toán là gì? (thùng).
Trình bày bài giải: Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải theo đúng yêu
cầu, đẹp, sạch sẽ và khoa học.
Bài giải
Số thùng sữa còn lại là:
18
80 - 60 = 20 (thùng)
Đáp số: 20 thùng
Kiểm tra bài toán.
Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép
tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bài
toán.
Ví dụ 2: (Bài tập 3 - trang 72 Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Đàn gà có 11
con gà mái và 2 con gà trống. Hỏi số gà mái nhiều hơn số gà trống bao nhiêu
con?
Zalo: 0985598499 để nhận đầy đủ SK phí 100k
PHÒNG GD&ĐT ..........................
TRƯỜNG TH ........................
---------- ----------
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
“Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho
học sinh lớp 2 theo bộ sách
Chân trời sáng tạo”
Người thực hiện: ……………
2
MỤC LỤC
Bước 1. Đọc và tìm hiểu bài toán..............................................................8
Bước 2. Tìm cách giải bài toán................................................................10
Bước 3. Tìm lời giải................................................................................11
Bước 4. Xác định đơn vị bài giải.............................................................12
Bước 5. Thực hiện cách giải và trình bày bài giải...................................12
Bước 6. Kiểm tra bài giải........................................................................13
Dạng bài toán có phép tính cộng.............................................................13
Dạng bài toán có phép tính trừ................................................................16
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
1. Tên báo cáo biện pháp: “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh
lớp 2 theo bộ sách Chân trời sáng tạo”
2. Tác giả:
- Họ và tên:
Nam (nữ): Nam
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
- Chức vụ, đơn vị công tác: Trường TH
- Lớp chủ nhiệm:
- Điện thoại:
Email:
@gmail.com
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn biện pháp
1. Xuất phát từ vị trí tầm quan trọng của môn Toán trong trường tiểu học.
Bậc tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho
việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Môn Toán cũng như những
môn học khác cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về
thế giới xung quanh nhằm phát triển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và
bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp của con người.
Môn Toán ở trường tiểu học là một môn độc lập, chiếm phần lớn thời gian
trong chương trình học của trẻ.
Môn Toán có tầm quan trọng to lớn. Nó là bộ môn khoa học nghiên cứu
có hệ thống, phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người
Môn Toán có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp
suy nghĩ, phương pháp suy luận lô gíc, thao tác tư duy cần thiết để con người
phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong
thời đại mới.
Để góp phần tạo ra những con người thông minh, sáng tạo, giàu ý chí và
nghị lực, vững tin vào bàn tay, khối óc của mình, người thầy giáo phải coi trọng
việc rèn luyện kỹ năng tư duy độc lập cho học sinh qua các môn học nói chung,
qua môn toán nói riêng và đặc biệt là qua học giải toán có lời văn.
2. Xuất phát từ ý nghĩ của việc dạy giải toán có lời văn.
Giải toán là mạch kiến thức hết sức quan trọng, chính vì thế, nó được sắp
xếp xen kẽ với các mạch kiến thức cơ bản khác của môn toán ở bậc tiểu học.
4
Giải toán ở bậc tiểu học giúp học sinh vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức
toán học đã lĩnh hội, đồng thời vận dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn
với tình huống thực tiễn.
Qua giải toán tạo điều kiện giúp các em phát triển trí thông minh tư duy
độc lập, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện
và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí
tưởng tượng cho các em, góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và
làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt sáng tạo.
Đối với học sinh lớp Hai, các em mới làm quen với giải toán có lời văn
(các em đã được học ở lớp Một nhưng rất ít) nên người thầy phải hết sức chú
trọng để trang bị cho các em một số kiến thức và kĩ năng cơ bản trong giải toán
để các em có thể học tốt hơn môn toán.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã nghiên cứu tài liệu, học hỏi, tham
khảo bạn bè đồng nghiệp và qua thực tế giảng dạy tôi đã rút ra một số kinh
nghiệm nhỏ trong việc “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2
theo bộ sách Chân trời sáng tạo” và đã viết nên đề tài này.
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu nội dung, chương trình và những phương pháp dùng để giảng
dạy toán có lời văn.
lời
- Tìm hiểu những kỹ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải toán có
văn cho học sinh lớp 2.
- Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác
thực hành các kiến thức đã học; rèn luyện kỹ năng tính toán là bước tập dượt
vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn.
- Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương
pháp và kỹ năng suy luận, khơi gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán,
tìm tòi.
- Rèn luyện cho học sinh những đức tính và phong cách làm việc của
người lao động như: tư duy, cẩn thận, nhanh nhẹn, cụ thể.....
- Khảo sát và hướng dẫn cụ thể một số bài toán giải, một số dạng toán có
lời văn ở lớp 2, để từ đó đúc rút kinh nghiệm cho bản thân, và đề xuất một số ý
kiến nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng: Học sinh lớp 2, Trường Tiểu học.......
- Thời gian nghiên cứu: Từ ……..đến tháng ……..
4. Phương pháp nghiên cứu
5
a. Phương pháp quan sát: Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi còn mang
tính cụ thể, gắn với các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức
của môn Toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao. Sử dụng phương pháp này
giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ sung vốn hiểu biết, phát triển
tư duy trừu tượng. Đối với học sinh lớp 2, việc sử dụng đồ dùng trực quan nhiều
hơn. Ví dụ: Khi dạy giải toán ở lớp 2, giáo viên có thể cho học sinh quan sát mô
hình hoặc hình vẽ, sau đó hướng dẫn các em lập tóm tắt đề bài rồi mới đến bước
chọn phép tính.
b. Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra, khảo sát khả năng giải toán có
lời văn của học sinh khối lớp 2 Trường Tiểu học.......
c. Phương pháp phân tích, đàm thoại: Đây là phương pháp cần thiết và
thích hợp với học sinh ở tiểu học, rèn luyện cho học cách suy nghĩ, cách diễn đạt
bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh. Để sử dụng tốt
phương pháp này, giáo viên cần lựa chọn hệ thống câu hỏi chính xác và rõ ràng,
nhờ thế mà học sinh có thể nắm được ngay nội dung kiến thức từ đầu và giúp
các em dễ dàng trả lời các câu hỏi.
d. Phương pháp thực hành và luyện tập: Sử dụng phương pháp này thực
hành luyện tập kiến thức, kĩ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp. Trong quá
trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: Gợi
mở, vấn đáp và giảng giải minh hoạ.
PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Dạy học toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những
kiến thức về toán vào các tình huống thực tiễn, đa dạng, phong phú, những vấn
đề thường gặp trong cuộc sống.
Mạch kiến thức giải toán có lời văn được sắp xếp xen kẽ với các mạch
kiến thức cơ bản khác trong môn Toán lớp 2. giải toán có lời văn giúp học sinh
vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đã lĩnh hội đồng thời vận
dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn liền với tình huống thực tiễn. Học
sinh tự giải được các bài toán có lời văn là một yêu cầu cơ bản của dạy toán học.
Vì vậy, việc dạy học giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học có vai trò hết sức
quan trọng trong việc dạy học toán.
Nhờ giải toán, học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư
duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người
lao động mới. Vì vậy giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: Xác
lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa các đã cho với cái cần tìm, trên cơ sở đó
chọn được phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán.
Dạy học giải toán giúp học sinh tự phát hiện, giải quyết vấn đề, tự nhận
xét, so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra các quy tắc ở dạng khái quát nhất định.
6
Giải toán có lời văn là loại toán cần đến sự tư duy bởi vì đề bài được nêu
ra dưới hình thức có lời văn hoàn chỉnh. Vì vậy để giải được các loại toán này,
học sinh cần tìm được sự liên quan giữa các đại lượng, các yếu tố đã biết và các
yếu tố cần tìm của bài toán một cách lô gíc. Nói chung các dữ liệu được đưa ra
trong đề toán rất đa dạng nó gắn liền với thực tế hoạt động của các sự vật, các
yếu tố cuộc sống để học sinh dễ liên hệ.
Như vậy đây là một loại toán khó đối với học sinh tiểu học bởi ở lứa tuổi
này các em chưa tiếp xúc nhiều với cuộc sống, bản chất của các em còn rất hồn
nhiên và ngây thơ, sự chú ý của các em còn hướng ra bên ngoài chưa có khả
năng hướng vào bên trong, vào tư duy, vào trí nhớ lô gíc, trí nhớ máy móc cũng
dễ dàng đối với các hiện tượng hình ảnh cụ thể hơn là các câu chữ trừu tượng,
khô khan.
Để giúp học sinh giải toán có lời văn theo hướng tích cực giáo viên cần
giúp học sinh tự mình tìm hiểu được các mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải
tìm, mô tả mối quan hệ đó bằng cấu trúc phép tính cụ thể, thực hiện phép tính,
trình bày lời giải của bài toàn.
Để đạt được mục tiêu trên, giáo viên phải thực hiện được các yêu cầu sau:
Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu
trúc phép tính, các thuật ngữ...(chuẩn bị cho học sinh giải toán).
Tổ chức cho học sinh thực hiện giải toán.
Tổ chức rèn kĩ năng giải toán.
Rèn luyện năng lực khái quát hóa giải toán.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Qua thực tế dạy học từ Trường Tiểu học, bằng việc dự giờ, thăm lớp, trao đổi
giờ dạy và rút ra kinh nghiệm giờ dạy của các đồng nghiệp cho thấy.
1. Về phía giáo viên
Đa số giáo viên đã biết hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được cách giải bài
toán có lời văn theo các bước giải nhưng thống nhất theo một trình tự chặt chẽ,
đôi lúc làm tắt, bỏ qua một số bước ( Ví dụ: không cho hoc sinh tóm tắt bài toán,
không cho học sinh xác định dạng bài, kiểu bài...)
Một bộ phận giáo viên chưa linh hoạt trong cách hướng dẫn học sinh giải bài
toán, chưa biết cách hướng dẫn học sinh khai thác đề bài để định hướng cách
làm bài
2. Về phía học sinh
Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, đa số các em là thích
học toán nhưng lại rất ngại những bài toán có lời văn vì đối với dạng bài này bắt
buộc các em phải tư duy, trình bày nhiều hơn. Mặt khác, vì mới học lớp 2 nên
vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế, đầu năm học có em còn đọc chưa thạo,
có em đọc được nhưng còn chưa hiểu vì vậy khi giải các bài toán có lời văn, lời
7
giải chưa gọn, có khi còn thiếu chính xác, chưa liên hệ được những điều đã biết,
điều cần tìm trong bài để có phép tính đúng.
Khảo sát chất lượng:
Đầu năm, sau khi nhận lớp, tôi bắt tay ngay về tìm hiểu đối tượng học sinh,
tôi nhận thấy lớp 2 các em có lực học khá đồng đều, nhưng đối với giải toán có
lời văn các em vẫn còn hơi yếu:
Kết quả khảo sát đầu năm:
Sĩ số Hoàn thành tốt
SL
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
TL
SL
TL
SL
TL
47,6%
8
38%
3
14,4%
Trong đó đối với bài toán giải:
Số học sinh sai về lời giải là 5 em = 23,8%
Số học sinh sai về phép tính là 8 em = 38%
Số học sinh sai về đơn vị là 3 em = 14,4%
Nguyên nhân:
Sau khi khảo sát, tìm hiểu thực tiễn tôi thấy có những nguyên nhân như sau:
1. Do học sinh không đọc kĩ đề bài nên không nắm vững được những điều đã
biết, những điều cần tìm trong bài toán dẫn đến chưa định hướng được cách làm
bài.
2. Học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán.
3. Học sinh không nắm vững câu hỏi của bài nên không xác định được dạng
bài.
4. Có học sinh không biết dựa vào câu hỏi để tìm lời giải.
5. Có học sinh chưa nắm vững cách trình bày bài giải.
6. Học sinh không có thói quen kiểm tra lại bài sau khi làm bài xong.
Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2
Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, đa số các em là thích
học toán nhưng lại rất ngại những bài toán có lời văn vì đối với dạng bài này bắt
buộc các em phải tư duy, trình bày nhiều hơn. Mặt khác, vì mới học lớp 2 nên
vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế, đầu năm học có em còn đọc chưa thạo,
có em đọc được nhưng còn chưa hiểu vì vậy khi giải các bài toán có lời văn, lời
giải chưa gọn, có khi còn thiếu chính xác, chưa liên hệ được những điều đã biết,
điều cần tìm trong bài để có phép tính đúng.
- Khảo sát chất lượng:
8
Đầu năm, sau khi nhận lớp, tôi bắt tay ngay về tìm hiểu đối tượng học sinh, tôi
nhận thấy lớp 2 các em có lực học khá đồng đều, nhưng đối với giải toán có lời
văn các em vẫn còn hơi yếu:
Kết quả khảo sát đầu năm:
Sĩ số Hoàn thành tốt
SL
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
TL
SL
TL
SL
TL
47,6%
8
38%
3
14,4%
Trong đó đối với bài toán giải:
Số học sinh sai về lời giải là .......... em = ...........%
Số học sinh sai về phép tính là .......... em = ............%
Số học sinh sai về đơn vị là ...........em = ............%
Nguyên nhân:
Sau khi khảo sát, tìm hiểu thực tiễn tôi thấy có những nguyên nhân như sau:
- Do học sinh không đọc kĩ đề bài nên không nắm vững được những điều đã
biết, những điều cần tìm trong bài toán dẫn đến chưa định hướng được cách làm
bài.
- Học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán.
- Học sinh không nắm vững câu hỏi của bài nên không xác định được dạng bài.
- Có học sinh không biết dựa vào câu hỏi để tìm lời giải.
- Có học sinh chưa nắm vững cách trình bày bài giải.
- Học sinh không có thói quen kiểm tra lại bài sau khi làm bài xong.
Khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, GV phải giúp học sinh tự mình tìm
hiểu mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm, mô tả quan hệ đó bằng tóm tắt
bài toán, bằng câu lời giải, bằng phép tính cụ thể.
Xuất phát từ định hướng trên, khi dạy các bài toán có lời văn tôi tổ chức cho học
sinh thực hiện các bước giải toán cụ thể như sau:
A. Các bước giải toán.
Bước 1. Đọc và tìm hiểu bài toán
Trong các bước giải toán theo tôi bước này là bước quan trọng nhất để giúp các
em xác định được cách giải bài toán đó cụ thể như thế nào?
Bước này tập trung cao độ tư duy của học sinh để lập được mối tương quan giữa
các đại lượng. Giáo viên là người giúp đỡ học sinh hiểu rõ một số từ quan trọng
như “thêm, hơn, kém, bớt, gấp, chia,...”; “còn lại, có tất cả,...” Ở đây giáo viên
giúp học sinh biết suy luận: Muốn tìm cái chưa biết thì phải dựa vào thông tin đã
biết. Để làm được điều đó cần thực hiện qua các bước:
9
+ Đọc bài toán (đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm, đọc bằng mắt).
+ Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để hiểu nội dung, nắm được mối
quan hệ giữa những điều đã biết và những điều cần tìm trong bài toán. Xác định
được kiểu bài, dạng bài.
Thông thường đề bài của bài toán có lời văn bao gồm có 2 phần đó là: Điều đã
biết; điều cần tìm. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nhận biết:
+ Điều đã biết thường bắt đầu bằng từ “ có”
+ Điều cần tìm thường bắt đầu bằng từ “ Hỏi” hay từ “ Tính”
Ngoài ra trong đề toán còn nêu ra mối quan hệ giữa điều đã biết và điều cần tìm.
Vì vậy muốn tìm hiểu được đề của bài toán yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài
(3 lần trở lên). Tìm hiểu xem bài toán cho biết những gì, bài toán hỏi gì? Liên hệ
với những điều đã học để xác định dạng bài.
Ví dụ:
Bài tập 4 (Trang 68 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Lúc đầu trên xe có 12
bạn, sau đó 3 bạn xuống xe. Hỏi trên xe còn bao nhiêu bạn?
Tìm hiểu, phân tích bài toán ta có thể có các cách như sau:
Cách 1: GV hỏi HS:
+ Bài toán đã cho biết gì? (Lúc đầu trên xe có 12 bạn, đã xuống xe 3 bạn.)
+ Bài toán hỏi gì? (Hỏi trên xe còn lại bao nhiêu bạn ?)
Cách 2:
Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc thầm đề bài, dùng bút chì gạch một
gạch dưới điều đã cho biết và hai gạch dưới điều cần tìm.
Bước 2:
10
+ Học sinh cả lớp cùng hoạt động sau đó nêu ý kiến của mình hoặc lên bảng
thực hiện những điều mà giáo viên yêu cầu.
+ Giáo viên cho một vài học sinh nêu lại điều đã biết và điều cần tìm. GV nhấn
mạnh các từ có, đã xuống, còn lại để học sinh nhận dạng được bài toán).
Bước 2. Tìm cách giải bài toán
* Tóm tắt bài toán: Dựa vào những điều đã biết, những điều cần tìm để viết tóm
tắt bài toán bằng ngôn ngữ toán học (Tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng sơ đồ đoạn
thẳng, sơ đồ ven…).
Ví dụ:
* Tóm tắt bằng lời:
Bài tập 4 (Trang 68 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Lúc đầu trên xe có 12
bạn, sau đó 3 bạn xuống xe. Hỏi trên xe còn bao nhiêu bạn?
Hướng dẫn HS đọc đề bài, nêu những điều đã biết (Có 12 bạn, đã xuống xe 3
bạn), những điều cần tìm (trên xe còn lại bao nhiêu), chọn lọc những từ ngữ
quan trọng (Có, đã xuống xe, còn lại) để tóm tắt bài toán:
Tóm tắt:
Có
:
Đã xuống
:
12 bạn
6 bạn
Còn lại :….. bạn?
* Tóm tắt bằng hồ sơ đoạn thẳng
Bài toán: (Trang 73 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Hà có 4 cái bút chì.
Tín nhiều hơn Hà 1 cái bút chì. Hỏi Tín có mấy cái bút chì?
Hướng dẫn HS cách tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:
Yêu cầu học sinh đọc thầm đề bài, dùng bút chì gạch một gạch dưới điều đã cho
biết và 2 gạch dưới điều cần tìm.
Sau đó tôi hỏi HS: Hà có bao nhiêu cái bút chì? (Hà có 4 cái bút chì), vậy ta
biểu thị số bút chì bằng 1 đoạn thẳng.
11
Số bút chì của Hà như thế nào so với số bút chì của Tín? (Tín có nhiều hơn Nam
1 cái bút chì).
Muốn biểu diễn số bút chì của Tín ta phải vẽ đoạn thẳng như thế nào? (Đoạn
thẳng dài hơn đoạn thẳng biểu diễn số bút chì của Hà).
- Phần dài hơn đó tương ứng với bao nhiêu bút chì? (1 cái bút chì).
- GV vẽ tiếp đoạn thẳng biểu diễn số bút chì của Tín.
- Vậy bài toán hỏi gì? (Hỏi Tín có bao nhiêu cái bút ?).
Sau khi phân tích rõ ràng như trên tôi hướng dẫn học sinh vẽ tóm tắt:
* Cho học sinh diễn đạt bài toán thông qua tóm tắt: Cho HS dựa vào tóm tắt nêu
lại vắn tắt nội dung của bài toán.
* Lập kế hoạch giải bài toán: Xác định trình tự giải bài toán: thông thường xuất
phát từ câu hỏi của bài toán đi đến các yếu tố đã cho với yêu cầu bài toán phải
tìm và tìm được đúng phép tính số học thích hợp.
Bước 3. Tìm lời giải
Học sinh dựa vào câu hỏi của bài để tìm lời giải cho bài toán. (Giáo viên giải
thích cho học sinh hiểu câu trả lời giải chính là câu trả lời cho câu hỏi trong bài Vì lớp 2 giải toán đều là các bài toán đơn).
- Vậy để giúp học sinh tìm ra câu trả lời nhanh và đúng nhất, giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải như sau:
Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán. Ví dụ: Hỏi Tín có bao nhiêu cái bút chì?
Bỏ bớt chữ “Hỏi”, cụm từ “bao nhiêu cái” thay bằng từ “số”, thêm từ “là” vào
cuối câu được câu lời giải: “Tín có số bút chì là”. Đây là cách đơn giản, học sinh
dễ nắm bắt nhất.
Cách 2: Cũng ví dụ trên, đưa từ “bút chì” ở cuối câu hỏi lên đầu câu hỏi thay
cho chữ “Hỏi” và thêm chữ “số” ở đầu câu, cuối câu thêm chữ “là” để được câu
trả lời:
“Số bút chì Tín có là:”.
Cách 3: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Tín có bao nhiêu viên cái bút chì? để học
sinh trả lời miệng: “Tín có 5 cái bút chì” rồi chèn phép tính vào để có các bước
giải (gồm cả lời giải và cả phép tính).
12
Bảo có số bút chì là:
4 + 1 = 5 (cái bút chì)
Cách 4: Sau khi học sinh nêu phép tính: 4 + 1 = 5 (cái bút chì), giáo viên chỉ vào
5 và hỏi: “5 cái bút chì” ở đây là số bút chì của ai? (là số bút chì của Tín). Từ
câu trả lời của các em ta giúp học sinh chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số bút chì
của Tín là”:
Trên đây là một số cách hướng dẫn học sinh trình bày câu lời giải của bài
toán. Xong với mỗi bài toán sau khi giáo viên hướng dẫn xong phải cho học sinh
tự nêu được nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó chọn câu lời giải thích hợp
nhất, ngắn gọn nhất và dễ hiểu, sát với yêu cầu đề bài.
Bước 4. Xác định đơn vị bài giải
Cách xác định đơn vị của bài toán: Muốn xác định được đơn vị của bài toán phải
giúp học sinh trả lời được câu hỏi xem bài toán yêu cầu tìm gì? Giáo viên gạch
dưới đơn vị của bài. Giáo viên hướng dẫn tìm cụ thể một vài bài để học sinh
định hướng và dần dần xác định được đơn vị của bài toán.
Vì bài toán có lời văn của lớp 2 chỉ là những bài toán đơn nên tôi có một mẹo
nhỏ giúp HS xác định đúng đơn vị bài toán đó là khi đọc câu hỏi sau từ: bao
nhiêu hay từ mấy là từ gì thì đó chính là đơn vị của bài giải.
Bước 5. Thực hiện cách giải và trình bày bài giải
Đây là bước cụ thể, cụ thể hóa của quá trình tư duy trên, nó thể hiện rõ nét kỹ
năng, kỹ xảo giải bài tập của học sinh, Học sinh dựa vào sơ đồ phân tích trên để
viết bài giải, nó được chuyển dịch tư duy ngược lại khi phân tích.
- Thực hiện các phép tính đã xác định (có thể viết phép tính sau khi viết câu lời
giải và thực hiện phép tính).
- Viết câu lời giải.
- Viết phép tính tương ứng.
- Viết đáp số.
- Tôi hướng dẫn học sinh trình bày bài giải vào vở ô li như sau:
+ Lùi vào 5 ô so với lề để viết Bài giải.
+ Viết câu lời giải cân đối với từ Bài giải (thường là lùi vào 2 ô so với lề).
+ Viết phép tính lùi vào 2 ô so với lời giải.
+ Viết đáp số lùi vào thẳng với từ bài giải.
Cách trình bày bài giải đối với học sinh lớp 2 cũng rất quan trọng. Giáo viên cần
rèn cho học sinh có con mắt thẩm mĩ trong cách trình bày bài, rèn cho các em có
thói quen trình bày bài khoa học và đẹp để sau này khi lên các lớp trên các em
không còn lúng túng khi trình bày bài giải.
13
Bước 6. Kiểm tra bài giải
Kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm
tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu.
Tóm lại: Trong quá trình dạy dạng toán có lời văn, giáo viên cần lưu ý:
- Luôn luôn củng cố các bước giải toán. Vì nếu trong quá trình giải toán, học
sinh không nắm được các bước giải một bài toán thì học sinh sẽ không có cách
giải hay, nhanh nhất và đúng nhất.
- Giúp học sinh nắm vững, ghi nhớ được các bảng cộng, trừ, nhân, chia…. để áp
dụng vào phép tính trong bài toán có lời văn. Vì nếu không thuộc bảng cộng,
trừ, nhân, chia…. không biết cách tính nhẩm thì không tránh khỏi sai sót kết quả
của bài toán.
B. Các ví dụ
Trong chương trình Toán 2 có các dạng toán giải sau:
Giải các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ.
Bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị.
Giải các bài toán đơn về phép nhân và phép chia.
Tôi có hướng dẫn học sinh ở mỗi dạng bài như sau:
Dạng bài toán có phép tính cộng
Học sinh cần đọc kỹ đề bài, tìm hiểu các từ ngữ trong bài để xác định hướng giải
của bài toán. Dạng này giáo viên hướng dẫn HS dựa vào một số từ ngữ để xác
định dạng bài như: Ở phần “cho biết” thường có các từ “và”, “thêm”, phần cần
tìm thường có các cụm từ “Hỏi có tất cả”, “hỏi cả hai 2 buổi”, “hỏi cả hai
bạn”….
Ví dụ 1: Bài tập 1 (Trang 72 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo). Một trang
trại có 74 con bò mẹ và 24 con bò con. Hỏi trang trại đó có tất cả bao nhiêu con
bò mẹ và bò con?
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:
- Giáo viên cho học sinh đọc thành tiếng, đọc thầm.
14
Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều đã biết, 2 gạch dưới những điều cần
tìm trong bài toán?
HS nêu những điều đã biết, những điều cần tìm của bài toán để tóm tắt bài toán.
Tìm cách giải bài toán.
- Tóm tắt đề bài.
- Học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại bài toán.
- Lập kế hoạch giải bài toán: Muốn biết lớp học đó có bao nhiêu học sinh ta làm
thế nào? Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào từ “và” cụm từ “hỏi tất cả” để
xác định và nêu cách làm bài.
- Học sinh nêu trình tự giải bài toán.
Tìm lời giải và trình bày lời giải.
- Hãy nêu lời giải cho bài toán? (Học sinh dựa vào câu hỏi để nêu câu lời giải:
Số học sinh trong lớp học đó là. Lớp học đó có số học sinh là,….).
- Học sinh nêu nhiều hướng đặt lời giải khác nhau, giáo viên phải định hướng và
phân tích để các em lựa chọn lời giải phù hợp, chính xác bằng các câu hỏi:
- Lời giải này phù hợp chưa?
Vì sao em cho là phù hợp?
Xác định đơn vị bài toán.
Bài toán yêu cầu tìm gì? (Có tất cả bao nhiêu học sinh?)
Đơn vị bài toán là gì? (Học sinh).
5. Trình bày bài giải: Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải theo đúng yêu cầu,
đẹp, sạch sẽ và khoa học.
Bài giải
Số con bò trong trang trại đó là:
74 + 24 = 98 (con bò)
Đáp số: 30 con bò
Kiểm tra bài toán.
Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép
tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bài
toán.
15
Ví dụ 2: Bài tập 9 (trang 79 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo). Hôm qua
Mai gấp được 9 ngôi sao. Hôm nay Mai gấp thêm 8 ngôi sao nữa. Hỏi cả hai
ngày Mai gấp được bao nhiêu ngôi sao?
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:
Tìm hiểu đề bài toán:
Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều đã biết, 2 gạch dưới những điều cần
tìm trong bài toán?
Học sinh nêu những điều đã biết, những điều cần tìm. Giáo viên cho học sinh
nêu tóm tắt để xác định dạng bài từ đó định hướng cách làm bài.
Tìm cách giải bài toán.
- Tóm tắt đề bài.
Hôm qua, Mai gấp: 9 ngôi sao
Hôm nay, Mai gấp thêm: 8 ngôi sao
Có tất cả…… ngôi sao?
- Học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại bài toán.
Lập kế hoạch giải bài toán:
Muốn biết trong vườn có tất cả bao nhiêu ngôi sao ta phải làm phép tính gì?
Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào từ “thêm” cụm từ “hỏi tất cả” để xác định
cách làm.
- Học sinh nêu trình tự giải bài toán.
Tìm lời giải và trình bày lời giải.
Hãy nêu lời giải cho bài toán? (Học sinh dựa vào câu hỏi để nêu câu lời giải: Cả
hai ngày Mai gấp được tất cả số ngôi sao là, Tất cả số ngôi sao Mai gấp trong cả
hai ngày là….)
HS nêu nhiều hướng đặt lời giải khác nhau, giáo viên phải định hướng và phân
tích để các em lựa chọn lời giải phù hợp, chính xác bằng các câu hỏi:
16
Lời giải này phù hợp chưa?
Vì sao em cho là phù hợp?
Xác định đơn vị bài toán.
Bài toán yêu cầu tìm gì? (Có tất cả bao nhiêu ngôi sao?)
Đơn vị bài toán là gì? (Ngôi sao).
Trình bày bài giải: Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải theo đúng yêu
cầu, đẹp, sạch sẽ và khoa học.
Bài giải
Cả hai ngày Mai gấp được số ngôi sao là:
9 + 8 = 17 (ngôi sao)
Đáp số: 17 ngôi sao
Kiểm tra bài toán.
Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra
phép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu
bài toán.
Dạng bài toán có phép tính trừ
Ở dạng bài có các phép tính trừ thông thường, giáo viên giúp học sinh
nắm bắt các từ ngữ nòng cốt trong đề bài để xác định dạng bài toán. Ở dạng toán
trừ thì ở phần “cho biết” thường có những cụm từ: cất đi, cho đi….
Ở phần “cần tìm” thường có các từ: còn lại…..
Ví dụ 1: (Bài tập 2 - trang 72 - Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Mỗi ngày
trang trại vắt được 80 thùng sữa. Người ta bán đi mỗi ngày 60 thùng sữa. Hỏi
mỗi ngày trang trại còn lại bao nhiêu thùng sữa.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:
Tìm hiểu đề bài:
17
Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều đã biết, 2 gạch dưới những điều cần
tìm trong bài toán?
HS nêu những điều đã biết, những điều cần tìm. Giáo viên cho học sinh nêu tóm
tắt để xác định dạng bài từ đó định hướng cách làm bài.
Tìm cách giải bài toán.
Tóm tắt: Cách 1:
Cách 2: Tất cả
: 80 thùng
Bán đi : 60 thùng
Còn lại : … thùng?
Trong 2 cách tóm tắt trên, cách 1 sẽ cho ta cách nhìn trực quan, học sinh sẽ dễ
nắm bắt, dễ nhận ra cách giải quyết bài toán.
- Học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại bài toán.
Lập kế hoạch giải bài toán:
Muốn biết trang trại còn lại bao nhiêu thùng sữa ta phải làm thế nào? Giáo viên
cho học sinh nêu cách tìm hiểu từ “bán đi” nghĩa là “bớt đi”, cụm từ “hỏi còn
lại” để xác định cách làm.
Học sinh nêu trình tự giải bài toán.
Tìm lời giải và trình bày lời giải.
Hãy nêu lời giải cho bài toán? (Học sinh dựa vào câu hỏi để nêu câu lời giải: Sợi
dây còn lại số dm là ….)
Học sinh nêu nhiều hướng đặt lời giải khác nhau, giáo viên phải định hướng và
phân tích để các em lựa chọn lời giải phù hợp.
Xác định đơn vị bài toán.
Bài toán yêu cầu tìm gì? (Hỏi trang trại còn lại bao nhiêu thùng sữa?)
Đơn vị bài toán là gì? (thùng).
Trình bày bài giải: Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải theo đúng yêu
cầu, đẹp, sạch sẽ và khoa học.
Bài giải
Số thùng sữa còn lại là:
18
80 - 60 = 20 (thùng)
Đáp số: 20 thùng
Kiểm tra bài toán.
Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép
tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bài
toán.
Ví dụ 2: (Bài tập 3 - trang 72 Toán lớp 2 Sách Chân trời sáng tạo) Đàn gà có 11
con gà mái và 2 con gà trống. Hỏi số gà mái nhiều hơn số gà trống bao nhiêu
con?
Zalo: 0985598499 để nhận đầy đủ SK phí 100k
 








Các ý kiến mới nhất