Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Biện pháp giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả theo bộ sách Cánh diều.docx

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:04' 14-03-2024
Dung lượng: 536.7 KB
Số lượt tải: 67
Số lượt thích: 0 người
MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................................................................................................................1
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI....................................................................................................................................................................................1
1. Đặt vấn đề..................................................................................................................................................................................................1
a. Cơ sở lí luận.........................................................................................................................................................................................1
Môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho học sinh nhận biết được những tri thức sơ giản, cần thiết bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng,
ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính tả. Trên cơ sở đó, rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ như: nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh sử
dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong giao tiếp. Ngoài ra, môn Tiếng Việt bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính, lành
mạnh và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Tiếng Việt là một môn học có vị trí không kém phần quan trọng trong chương trình ở nhà trường Tiểu
học..........................................................................................................................................................................................................................1
Tiếng Việt được chia ra làm nhiều phân môn như Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Tập làm văn, . . . Mỗi phân môn đều có đặc trưng
riêng của nó nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau giúp học sinh học tập tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác; đồng thời
tạo phương tiện cho học sinh tiếp tục học các lớp trên....................................................................................................................................1
Phân môn Chính tả ở trường Tiểu học giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả Tiếng Việt. Do đó, phân
môn Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt. Bởi vì, giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt
trong quá trình hình thành kĩ năng viết chính tả cho học sinh. Ngoài ra, phân môn Chính tả còn bồi dưỡng cho học sinh những
phẩm chất tốt đẹp đối với tiếng nói và chữ viết của người Việt Nam qua việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp, biểu hiện
cụ thể nhất là nói đúng và viết đúng chuẩn Tiếng Việt....................................................................................................................................1
b. Cơ sở thực tiễn.....................................................................................................................................................................................1
Trong những tuần đầu của năm học …………, tôi thấy học sinh lớp tôi chủ nhiệm thường hay mắc lỗi chính tả rất nhiều khi viết
văn bản. Nếu chúng ta đọc một văn bản viết đúng chính tả thì chúng ta mới hiểu được nội dung văn bản đó. Trái lại, nếu chúng ta
đọc một văn bản viết sai sót nhiều về lỗi chính tả thì chúng ta khó nắm được nội dung hoặc có thể hiểu sai hay hiểu không đầy đủ
nội dung văn bản. Cụ thể là khi nhận xét về bài viết thuộc phân môn Tập làm văn của học sinh lớp tôi, có lúc tôi không hiểu các em
diễn đạt về vấn đề gì. Bởi vì trong quá trình viết câu văn hoặc đoạn văn, các em phải thể hiện được năng lực và tình cảm của mình
vào bài làm mà các em lại viết sai nhiều lỗi chính tả nên câu văn hoặc ý đoạn văn diễn đạt chưa hay hoặc không có ý nghĩa. Điều
này sẽ ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em về môn Tiếng Việt và các môn học khác, làm khả năng giao tiếp của các em giảm.
Do đó, các em không tự tin trong học tập, các em sẽ trở nên rụt rè, nhút nhát. Như vậy, người giáo viên giúp các em có kiến thức cơ
bản và kỹ năng viết thành thạo, không sai lỗi chính tả đó là một vấn đề cần thiết......................................................................................1
Từ những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Biện pháp giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả theo bộ sách Cánh
diều” nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Chính tả nói riêng................................................1
8 | 26.......................................................................................................................................................................................................................1
2. Mục đích đề tài.........................................................................................................................................................................................2
- Thông qua đề tài này sẽ giúp cho học sinh nắm vững một số kiến thức cơ bản về các luật chính tả và hình thành kĩ năng viết
chính tả. Nói cách khác, giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả....................................................................2
- Ngoài ra, đề tài còn giúp học sinh rèn luyện tính kỷ luật (vì phải viết đúng chính tả), tính cẩn thận (vì phải viết nắn nót từng nét
chữ), óc thẩm mỹ (vì phải viết ngay ngắn, thẳng hàng, đẹp đẽ) và lòng tôn trọng người khác..................................................................2

3. Lịch sử đề tài.............................................................................................................................................................................................2
Kỹ năng viết đúng chính tả Tiếng Việt thật sự rất cần thiết đối với tất cả mọi người chứ không chỉ đối với học sinh lớp Hai. Do đó,
năm học ………… tôi đã tìm hiểu thực tế giảng dạy ở lớp chủ nhiệm và quyết định chọn đề tài “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân
môn Chính tả theo bộ sách Cánh diều”. Sau khi nghiên cứu đề tài, tôi đã hình thành đúc kết được một số kinh nghiệm giảng dạy
nên tôi xin giới thiệu các bạn đồng nghiệp tham khảo.....................................................................................................................................2
4. Phạm vi đề tài...........................................................................................................................................................................................2
Do thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ đưa ra những biện pháp để “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn
Chính tả theo bộ sách Cánh diều”. Cụ thể là học sinh lớp 2B1, trường ………............................................................................................2
II. NỘI DUNG.......................................................................................................................................................................................................2
1.Thực trạng đề tài........................................................................................................................................................................................2
Năm học …………, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 2B1 với tổng số học sinh của lớp là 39. Trong đó,
lớp tôi có 21 học sinh nữ và 18 học sinh nam. Qua những tuần đầu trực tiếp giảng dạy trên lớp, tôi phát hiện và thống kê kết quả
học sinh thường đạt được trong giờ học phân môn Chính tả như sau: 8 học sinh trình bày vở sạch đẹp, viết đúng chính tả; 25 học
sinh viết sai từ 1 đến 5 lỗi chính tả; 6 học sinh viết sai từ 5 lỗi chính tả trở lên. Từ đó, tôi tìm hiểu và biết được một số học sinh lớp
tôi học chưa tốt phân môn Chính tả là do những nguyên nhân sau:.............................................................................................................2
- Ở độ tuổi này các em còn thích chơi, thích bắt chước và hiếu động............................................................................................................2
- Một số học sinh viết chậm, chưa nắm vững các vần khó, tiếp thu bài chậm, mau quên...........................................................................2
- Còn nhiều lỗi do thiếu cẩn thận khi viết như: viết thừa, thiếu nét; đôi lúc thừa thiếu chữ, sai sót phụ âm, sót dấu phụ, dấu thanh,
…............................................................................................................................................................................................................................2
- Chịu ảnh hưởng cách phát âm của địa phương (phát âm sai, kéo theo cách viết sai)...............................................................................2
- Vốn từ còn ít, không hiểu nghĩa của từ nên dễ viết sai..................................................................................................................................2
- Tư thế ngồi cầm bút, ngồi viết . . . chưa định hình, dễ mắc thói quen xấu dẫn đến viết chữ xấu, khó đọc.............................................2
- Một số học sinh nhút nhát không dám giơ tay phát biểu ý kiến để xây dựng bài......................................................................................2
- Thái độ học tập một số em chưa đúng đắn như: không chuẩn bị bài, chưa tập trung nghe giảng, lười viết bài,…..............................2
- Một số bài chính tả học sinh chưa được luyện đọc qua phân môn Tập đọc nên các em khó hiểu nghĩa của từ, dẫn đến viết sai
chính tả..................................................................................................................................................................................................................2
- Hoàn cảnh của gia đình các em khó khăn nên cha mẹ ít quan tâm đến việc học của con cái vì:.............................................................2
+ Vật chất thiếu thốn nên suốt ngày cha mẹ phải đi làm thuê.......................................................................................................................3
+ Cha mẹ đi làm xa nên các em phải ở nhà với ông bà đã già yếu................................................................................................................3
2. Nội dung cần giải quyết............................................................................................................................................................................3
Lớp tôi có 39 học sinh và trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều. Vì tôi muốn việc dạy và học phân môn Chính tả đạt kết
quả cao nên tôi đề ra một số biện pháp giải quyết, trong đó cần chú trọng các nội dung như sau :..........................................................3
- Rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp Hai...................................................................................................................................3
- Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả theo bộ sách Cánh diều..............................................................................................3
3. Biện pháp giải quyết..................................................................................................................................................................................3

a. Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp Hai:.............................................................................................3
Mỗi giáo viên đều biết việc viết đúng chính tả có liên quan mật thiết đến việc phát âm của người viết. Vì vậy ở từng vùng phương
ngữ (miền Bắc, miền Trung, miền Nam), ngoài những vấn đề về chính tả đặt ra chung cho cả nước, lại có những yêu cầu riêng về
mặt chính tả do sự khắc phục các nhược điểm về ngữ âm của vùng đó đặt ra. Chính vì lý do đó nên khi soạn bài cũng như lúc
hướng dẫn giảng dạy chính tả , tôi tự điều chỉnh và linh hoạt, sáng tạo các vấn đề rèn luyện trong tiết Chính tả bằng những việc
làm cụ thể như sau:..............................................................................................................................................................................................3
Ví dụ: Bài viết 2, Bài 4 Em yêu bạn bè, trang 32, Tiếng Việt 2, Bộ sách Cánh diều. Các em viết trong bài chính tả là “cá dô”. Tôi viết
chữ “cá dô” lên bảng lớp. Sau đó, tôi phân tích và viết lại là “cá rô” rồi tôi xóa chữ “cá dô”. Cuối cùng tôi gọi một học sinh có giọng
phát âm tốt đọc cho bạn nghe, sau đó tôi yêu cầu học sinh viết sai lỗi chính tả đó đọc lại nhiều lần.........................................................3
- Sau khi học sinh nhận thấy được khuyết điểm của mình, tôi yêu cầu các em sửa chữ sai thành chữ đúng ở cuối bài chính tả. Đối
với trường hợp sai quá nhiều lỗi trong bài, các em có thể chép lại toàn bộ bài chính tả vào các tiết ôn tập buổi chiều nhằm giúp các
em tái hiện lại kiến thức vừa học và ghi nhớ lâu..............................................................................................................................................3
* Tôi thường khen thưởng, động viên kịp thời trong các tiết học chính tả cũng như tiết sinh hoạt lớp khi các em có hướng sửa đổi
hoặc tiến bộ nhằm khuyến khích các em học tập được tiến bộ hơn...............................................................................................................3
* Ngay từ đầu năm học, tôi còn yêu cầu mỗi em có một quyển vở dùng để rèn chữ viết và luyện viết đúng chính tả. Đối với quyển
vở này, cuối mỗi tuần, tôi yêu cầu các em về nhà chép các bài chính tả chuẩn bị học trong tuần sau vào ngày thứ bảy hoặc chủ nhật
rồi đưa cho cha mẹ kiểm tra. Sau đó, các em mang vào lớp cho tôi kiểm tra. Tôi sử dụng biện pháp này nhằm giúp các em có thói
quen là phát hiện chữ khó viết trong bài chính tả, đồng thời luyện kĩ năng viết chữ đẹp và viết đúng chính tả.....................................3
* Ngoài những biện pháp vừa nêu trên, tôi còn có thêm một vài biện pháp dành riêng cho học sinh viết sai quá nhiều lỗi chính tả
(viết sai từ 5 lỗi chính tả trở lên). Biện pháp chung là tôi tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh học chưa tốt. Từ đó, tôi có biện pháp
cụ thể, thiết thực phù hợp với từng đối tượng học sinh...................................................................................................................................3
Trường hợp đối với học sinh tiếp thu bài chậm, mau quên:..............................................................................................................................3
Sau khi thống kê được số lượng học sinh tiếp thu bài chậm, mau quên của lớp, tôi lưu ý đối với đối tượng này và lập tức vạch ra kế
hoạch để phụ đạo riêng cho các em này vào các tiết ôn tập của buổi chiều. Cụ thể là:...............................................................................4
- Tôi ưu tiên dành những dãy bàn đầu cho học sinh tiếp thu bài chậm, mau quên....................................................................................4
- Trong bước kiểm tra bài cũ, tôi thường xuyên yêu cầu các em viết lại những chữ viết sai chính tả ở tiết trước liền kề.....................4
Ví dụ: Hôm nay, viết chính tả Luyện tập 2, Bài 5 Ngôi nhà thứ hai, trang 41, Tiếng Việt 2, Bộ sách Cánh diều. Trong khâu kiểm tra
bài cũ, tôi gọi khoảng 2 hoặc 3 em lên bảng. Sau đó, tôi đọc những chữ các em viết sai chính tả ở tiết trước như chữ: chăm chỉ
(trăm chỉ), nỗ lực (lỗ lực),... (tức là Bài 4 Em yêu bạn bè, trang 32, Tiếng Việt 2, Bộ sách Cánh diều). Cả lớp viết vào bảng con cho
tôi kiểm tra và nhận xét.......................................................................................................................................................................................4
- Trong bước luyện viết chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn của phân môn Chính tả, tôi làm các việc sau:.....................................................4
+ Cho học sinh ghi nhớ luật chính tả bằng cách là trong bài chính tả có những chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn mà liên quan đến luật
chính tả nào thì tôi cho các em nhắc lại luật chính tả đó nhằm ghi nhớ luật chính tả vừa được củng cố..................................................4
Ví dụ: Bài Em yêu trường em, trang 48, Tiếng Việt 2, Bộ sách Cánh diều. Tôi yêu cầu học sinh viết chữ “xao xuyến” vào bảng con vì
đây là chữ ghi tiếng khó mà học sinh lớp tôi thường xuyên viết sai. Trước khi viết tôi yêu cầu các em nhắc lại luật chính tả với s/x
(đã học ở lớp 1).....................................................................................................................................................................................................4

+ Tôi phân tích kỹ cách đọc và rèn cho học sinh đọc đúng những phụ âm đầu, vần, âm cuối, dấu thanh dễ lẫn (qua giờ học phân
môn Tập đọc); đồng thời nhấn mạnh phụ âm đầu, vần, âm cuối, dấu thanh cần lưu ý và rèn kĩ năng viết (qua giờ học phân môn
Chính tả). Tôi dùng biện pháp như vậy vì học sinh có đọc đúng tiếng thì mới viết đúng chữ. Chẳng hạn: Tôi đọc mẫu chữ ghi tiếng
khó trong bài chính tả đang học thì học sinh phải tập trung lắng nghe và phân biệt cách phát âm. Tiếp đó, tôi viết mẫu chữ vừa đọc
lên bảng lớp; đồng thời tôi yêu cầu học sinh phân tích và tôi so sánh những điểm cần lưu ý (tức là tôi phân biệt sự khác nhau về âm
đầu hoặc âm chính hay âm cuối, thanh hỏi, thanh ngã); sau đó, học sinh phát âm lại rồi viết vào bảng con. Lúc này, tôi hay gọi
những em tiếp thu bài chậm, mau quên đọc lại................................................................................................................................................4
Ví dụ: Bài Em yêu trường em, trang 48, Tiếng Việt 2, Bộ sách Cánh diều:....................................................................................................4
* bạn / bạng..........................................................................................................................................................................................................4
bạn: Khi đọc đầu lưỡi đánh lên vòm họng, còn khi viết thì các em lưu ý âm cuối được viết bằng con chữ en-nờ..................................4
bạng: đọc bình thường, khi viết thì các em lưu ý âm cuối được viết bằng con chữ en-nờ và con chữ giê................................................4
- Tôi thường nhắc nhở học sinh khi viết gặp những chữ đầu câu hay tên riêng thì các em phải viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi
tiếng........................................................................................................................................................................................................................4
Ví dụ: Nguyễn Tấn Kiều, Kiến Tường, Long An,….......................................................................................................................................4
- Tôi còn nhờ những em viết đúng chính tả và có giọng đọc tốt sẽ đọc chính tả cho học sinh tiếp thu bài chậm, mau quên tập viết
chính tả nhằm củng cố kiến thức đã học. Chẳng hạn: Hằng ngày, đầu giờ các buổi học, các em có kĩ năng viết chính tả tốt được tôi
phân công sẽ đọc một số chữ hoặc câu có những chữ các em thường xuyên viết sai chính tả trong các bài chính tả đã học cho học
sinh tiếp thu bài chậm, mau quên luyện viết. Sau đó, các em kiểm tra chữ viết của bạn, sửa chữa cho bạn, chỉ cho bạn những điểm
cần viết đúng rồi các em báo cáo kết quả cho tôi..............................................................................................................................................4
- Tôi liên hệ với gia đình, gặp cha mẹ học sinh tìm hiểu nguyên nhân nhờ gia đình giúp đỡ, động viên các em kịp thời khắc phục
những nhược điểm cần thiết để học sinh học tốt phân môn Chính tả. Cụ thể là tôi hướng dẫn cách phát âm những vần, tiếng dễ lẫn,
luật chính tả để phụ huynh nắm. Từ đó, phụ huynh có biện pháp hướng dẫn con em mình ở nhà nhằm góp phần cùng tôi nâng cao
mức tiếp thu bài của học sinh, giúp em nói đúng, viết đúng chuẩn Tiếng Việt............................................................................................5
Trường hợp đối với học sinh có thái độ học tập chưa đúng đắn:......................................................................................................................5
- Tôi thường xuyên theo dõi, động viên, khuyến khích hay nhắc nhở các em học tập tiến bộ trong mỗi giờ học cũng như các giờ
sinh hoạt lớp. Tôi khen ngợi kịp thời những học sinh đã có thái độ học tập đúng đắn để khuyến khích các em có lòng say mê học
tập hơn...................................................................................................................................................................................................................5
- Tôi liên hệ với gia đình, gặp cha mẹ học sinh tìm hiểu nguyên nhân và nhờ gia đình giúp đỡ, động viên, an ủi các em để các em
kịp thời chấn chỉnh thái độ học tập đúng đắn..................................................................................................................................................5
- Tôi thường xuyên quan sát, nhờ tập thể lớp theo dõi và giúp đỡ các em học tập.....................................................................................5
Ví dụ: Tôi thường động viên, khuyến khích tập thể lớp thành lập nhóm học tập ở nhà để động viên, an ủi các em nếu có điều kiện
tốt...........................................................................................................................................................................................................................5
Qua thời gian tìm hiểu và áp dụng các biện pháp đã nêu trên, tôi thấy học sinh lớp tôi chuyển biến rõ rệt. Các em rất tiến bộ, viết
ít sai lỗi chính tả hơn, trình bày vở sạch đẹp và chăm học hơn......................................................................................................................5
b. Một số biện pháp giúp học sinh lớp Hai làm tốt các dạng bài tập chính tả........................................................................................5
* Tôi sử dụng nhiều dạng bài tập chính tả nhằm luyện tập thêm cho học sinh để củng cố và khắc sâu hiện tượng chính tả đang học.
Đây cũng là hình thức rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2.....................................................................................................5

* Hình thức và nội dung bài tập chính tả rất đa dạng và phong phú. Khi giảng dạy tôi luôn luôn lựa chọn phương pháp và tổ chức
hình thức dạy học sao cho phù hợp với nội dung bài tập và đối tượng học sinh lớp chủ nhiệm như: dạy học cá nhân, nhóm, tổ, cả
lớp...........................................................................................................................................................................................................................5
* Trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, Bộ sách Cánh diều có hình thức hoặc nội dung bài tập chính tả không phù hợp học sinh
lớp tôi thì tôi mạnh dạn thay đổi hình thức hoặc nội dung bài tập để tiết học diễn ra dễ dàng hơn. Ví dụ như sau:..............................5
- Thay đổi về hình thức bài tập:.........................................................................................................................................................................5
Bài tập 2b, Bài 6 Em yêu trường em, trang 51, Tiếng Việt 2, Bộ sách Cánh diều có yêu cầu và nội dung bài tập như sau :....................5
6
Tôi có thể đổi hình thức bài tập trên như sau:.................................................................................................................................................6
Em chọn những chữ nào trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống?.................................................................................................................6
+ (bưởi/bưỡi): Quả…...........................................................................................................................................................................................6
+ (nhản/ nhãn): Chùm….....................................................................................................................................................................................6
+ (vỏ/ vỗ)): … tay..................................................................................................................................................................................................6
+ (thỏ/thõ): Con…................................................................................................................................................................................................6
+ (vẻ/ vẽ): Tấm ….................................................................................................................................................................................................6
+ (kẻ/kẽ): Thước …..............................................................................................................................................................................................6
Tôi thay đổi hình thức bài tập trên bởi vì trên bảng lớp khó thể hiện lại hình ảnh bức tranh khi chữa bài tập.....................................6
- Thay đổi về nội dung bài tập :.........................................................................................................................................................................6
Bài tập 3, Bài 4 Em yêu bạn bè, trang 33, Tiếng Việt 2, Bộ sách Cánh diều có yêu cầu và nội dung bài tập như sau:.............................6
7
Với bài tập này ở lớp tôi, các em ít viết sai lỗi chính tả hơn nên tôi có thể thay đổi yêu cầu và nội dung bài tập trên như sau:...........7
Điền vào chỗ trống s hay x?................................................................................................................................................................................7
- . . .a mạc - . . .ay nắng - . . .ổ sách.....................................................................................................................................................................7
- . . .a lạ - . . .ay lúa -. . .ổ số.................................................................................................................................................................................7
* Để giúp học sinh làm tốt bài tập chính tả tôi hướng dẫn cho học sinh nắm yêu cầu và cách giải bài tập một cách tỉ mỉ. Cụ thể là:.7
- Sau khi cho học sinh đọc yêu cầu bài tập, tôi giúp các em nắm vững các yêu cầu bài tập bằng câu hỏi, bằng lời giải thích..............7
Ví dụ: Bài 7 Thầy cô của em, trang 57, Tiếng Việt 2, Bộ sách Cánh diều có yêu cầu và nội dung bài tập như sau:.................................7
8
+ Tôi hỏi học sinh: Bài tập yêu cầu các em làm gì? (chọn chữ hoặc vần phù hợp với ô trống)...................................................................8
+ Tôi giải thích: Các em chọn một trong hai chữ trong ngoặc đơn để điền vào mỗi ô trống sao cho thích hợp......................................8
- Tiếp đó, tôi gợi ý, hướng dẫn học sinh về cách làm, tránh “thả nổi” hoặc “làm thay” học sinh.............................................................8
- Khi cả lớp hiểu được cách làm bài tập, tôi yêu cầu học sinh làm bài vào bảng con hoặc vào vở (hoặc phiếu bài tập). Lúc học sinh
làm bài tập tôi theo dõi, giúp đỡ cho những học sinh còn lúng túng..............................................................................................................8

- Cuối cùng, tôi cùng với học sinh nhận xét và sửa sai toàn bộ bài tập (nếu có)..........................................................................................8
Người viết.............................................................................................................................................................................................................8
Đỗ Văn Hiếu.........................................................................................................................................................................................................8
Liên hệ Zalo: 0985598499...................................................................................................................................................................................8

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Đặt vấn đề
a. Cơ sở lí luận
Môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho học sinh nhận biết được những tri thức sơ giản, cần thiết bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa,
ngữ pháp, chính tả. Trên cơ sở đó, rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ như: nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt có
hiệu quả trong giao tiếp. Ngoài ra, môn Tiếng Việt bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính, lành mạnh và hình thành thói quen
giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Tiếng Việt là
một môn học có vị trí không kém phần quan trọng trong chương trình ở nhà trường Tiểu học.
Tiếng Việt được chia ra làm nhiều phân môn như Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Tập làm văn, . . . Mỗi phân môn đều có đặc trưng riêng của
nó nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau giúp học sinh học tập tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác; đồng thời tạo phương tiện
cho học sinh tiếp tục học các lớp trên.
Phân môn Chính tả ở trường Tiểu học giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả Tiếng Việt. Do đó, phân môn
Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt. Bởi vì, giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình
hình thành kĩ năng viết chính tả cho học sinh. Ngoài ra, phân môn Chính tả còn bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp đối với
tiếng nói và chữ viết của người Việt Nam qua việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp, biểu hiện cụ thể nhất là nói đúng và viết
đúng chuẩn Tiếng Việt.
b. Cơ sở thực tiễn
Trong những tuần đầu của năm học …………, tôi thấy học sinh lớp tôi chủ nhiệm thường hay mắc lỗi chính tả rất nhiều khi viết văn ...
 
Gửi ý kiến