Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SÁNG KIẾN RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THỰC HIỆN CÁC DẠNG BÀI TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN PHÉP CHIA CHO HỌC SINH LỚP 3 SÁCH CHÂN TRỜI SÁNG TẠO

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:36' 10-03-2024
Dung lượng: 85.4 KB
Số lượt tải: 48
Số lượt thích: 0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …
TRƯỜNG TIỂU HỌC ….

BÁO CÁO BIỆN PHÁP

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THỰC HIỆN CÁC DẠNG BÀI TOÁN LIÊN QUAN
ĐẾN PHÉP CHIA CHO HỌC SINH LỚP 3
(SÁCH CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)

Tác giả/đồng tác giả : …
Trình độ chuyên môn: …
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: ….

, ngày tháng năm 2023

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn giải pháp
Chương trình GDPT 2018 đã có sự đổi mới quan trọng: chuyển từ định
hướng dạy học lý thuyết, kỹ năng sang định hướng phát triển năng lực và phẩm
chất. Thực hiện theo đúng yêu cầu của chương trình GDPT 2018, bộ sách Chân
trời sáng tạo được thiết kế theo hướng mở giúp phát triển năng lực cho học sinh,
mở ra một chân trời mới về tư duy và sáng tạo. Do đó, bản thân là một giáo viên
dạy Toán lớp 3, tôi nhận thấy cần phải tìm ra phương pháp mới phù hợp với sách
mới và giúp học sinh học tập hiệu quả hơn.
Như chúng ta đã biết nhiệm vụ trọng yếu của môn Toán tiểu học là hình thành cho
học sinh kĩ năng tính toán - một kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống, lao động và
học tập của học sinh. Trọng tâm và hạt nhân của chương trình Toán ở Tiểu học là
nội dung Số học. Trong đó phép chia các số tự nhiên là một phần nội dung cơ bản,
quan trọng trong nội dung số học. Ở lớp 3, phép chia được hình thành đồng thời
với phép nhân. Sau khi hình thành khái niệm phép chia, các bảng chia, phép chia
được mở rộng từng bước:
+ Chia số tròn chục cho số có một chữ số.
+ Chia số có ba, bốn, năm chữ số cho số có một chữ số.
Thực tế cho thấy ở lớp 3 phép chia là một phép tính mà học sinh khó tiếp thu và dễ
sai phạm. Qua thực tế tìm hiểu tình hình dạy học phép chia cho học sinh lớp 3 tôi
rút ra một số nhận xét như sau:
Đại đa số học sinh vẫn còn một số tồn tại và gặp phải một số khó khăn và sai lầm
khi học về phép chia hết và phép chia có dư trong chương trình Toán 3 cụ thể như
sau:
- Một số học sinh do việc lập bảng chia còn lúng túng. Không thuộc bảng chia nên
việc áp dụng thực hành làm bài tập gặp rất nhiều khó khăn.
- Một số học sinh do nhầm lẫn với thứ tự thực hiện phép cộng, phép trừ nên thực
hiện phép chia theo thứ tự từ phải sang trái:
Ví dụ: Khi thực hiện phép chia 69 chia cho 3 một số học sinh làm như sau:
- 9 chia 3 được 3, viết 3, 3 nhân với 3 bằng 9, 9 trừ 9 bằng 0.
- Hạ 6 , 6 chia 3 được 2, viết 2, 2 nhân 3 bằng 6, 6 trừ 6 bằng 0.
Vậy 69 : 3 = 32.
- Học sinh thực hiện phép chia ở một hàng nào đó của số bị chia không chia được
cho số chia thường không thêm 0 vào thương mà hạ ngay hàng tiếp theo của số bị
chia để thực hiện chia.
Đầu năm học ............... tôi tiến hành kiểm tra khảo sát kỹ năng tính phép chia và
làm các bài toán liên quan đến phép chia của 30 em học sinh lớp 3A kết quả như
sau:
Bảng khảo sát kỹ năng làm phép tính chia của học sinh lớp 3A trước khi áp dụng
biện pháp

1

Kỹ năng

Số lượng

Tỉ lệ

Thực hiện phép chia

8

25%

Làm các bài toán liên quan đến phép chia

6

18,8%

Nhìn vào kết quả trên tôi thấy chưa hài lòng. Về kĩ năng thực hiện phép chia của
học sinh lớp 3A chỉ có 8 em đạt trong tổng số 30 em học sinh cả lớp. Về kĩ năng
vận dụng thực hành làm các bài toán liên quan đến phép chia chỉ có 6 em đạt
chiếm 18,8% số học sinh cả lớp. Đây là một kết quả rất kém, trong khi đó phép
chia là nền móng cho học sinh học tập các kiến thức nâng cao về sau. Nếu phép
tính cộng, trừ, nhân, chia, học sinh không thực hiện tốt, các em sẽ không thể học
tốt môn Toán. Từ đó, chất lượng học tập môn kém đồng thời học sinh càng áp lực,
chán nản với môn học. Do đó, tôi bắt đầu đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân vì sao
và thấy vướng mắc ở những vấn đề sau:
- Đa số học sinh, nhất là học sinh thuộc đối tượng chưa hoàn thành thường gặp
nhiều khó khăn và nhầm lẫn trong việc thực hiện phép chia (chia hết và chia có
dư).
- Học sinh chưa nắm vững các bảng chia cho nên khi thực hiện phép chia các em
thường tìm thương trong phép chia bằng cách đọc nhẩm, rà dần từ bảng nhân có
thừa số là số chia.
- Kỹ năng cộng, trừ, nhân chưa thành thạo nên thường thực hành chậm hoặc kết
quả bài tính bị sai mà các em chưa tìm ra sai sót nhầm lẫn của mình.
- Khó khăn nhất cho học sinh là bước chia nhẩm để tìm từng chữ số ở thương. Các
em thường lúng túng và xác định số lần ở thương không đủ hoặc thừa.
Sở dĩ, học sinh mắc phải tình trạng trên trong quá trình học phép chia, nguyên
nhân chính là do phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa hợp lý. Hiện tại, với
phương pháp học tập truyền thống, học sinh tiếp thu kiến thức và áp dụng công
thức một cách máy móc không có sự tư duy, linh hoạt dẫn đến việc các em không
hiểu rõ bản chất của phép chia, không biết cách vận dụng làm bài tập. Để khắc
phục những tồn tại nói trên tôi đã mạnh dạn đưa ra các biện pháp “Rèn luyện kỹ
năng thực hiện các dạng bài toán liên quan đến phép chia cho học sinh lớp 3” qua
bộ sách Chân trời sáng tạo
II. NỘI DUNG
1. Nội dung giải pháp
1.1. Hướng dẫn học sinh cách chia.
Trong chương trình Toán lớp 3 nội dung phép chia được học trong 46 tiết. Hệ
thống bài luyện tập thực hành đã được đưa vào theo các dạng bài khác nhau nhưng
chưa đa dạng và chủ yếu là ở mức độ sơ giản. Nhưng với học sinh lớp 3 thì các em
cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện phép chia, đòi hỏi người
giáo viên phải hết sức linh hoạt trong việc hướng dẫn học sinh cách chia.
Bài tập áp dụng: “Phép chia hết và phép chia có dư” - trang 53 SGK Toán 3 - bộ
sách Chân trời sáng tạo
* Phép chia hết:

Hướng dẫn học sinh nhẩm xem số nào nhân với 2 để được 10:
Có học sinh chia được 6 thì phải hướng dẫn 4 2 = 8, mà số bị chia là 10, vậy cần
hướng dẫn học sinh “thêm” bằng cách gợi ý: 10 lớn hơn hay bé hơn 8 ( HS trả lời
2

lớn hơn). Vậy ta phải lấy lên là 5, vậy 5 2 bằng bao nhiêu? (5 2 = 10 ). Vậy 10
– 10 bằng 0, và ta thực hiện được phép chia 10 : 2 = 5 là phép chia hết
* Phép chia có dư:
Trong trường hợp chia số có hai chữ số cho số có một chữ số tôi hướng dẫn học
sinh như sau:
Ví dụ 1:

Tôi hướng dẫn học sinh cách chia. Yêu cầu học sinh nêu tên gọi các số trong phép
chia (11 gọi là số bị chia, 2 là số chia) ta thực hiện phép chia bằng cách tìm số nào
khi nhân với 2 được 11. Hướng dẫn học sinh ước lượng: số 6 nhân với 2 được bao
nhiêu? (12). Vậy 11 có trừ hết cho 12 không? Học sinh trả lời: Không. Vậy số nhỏ
hơn 6 một đơn vị là số mấy? (số 5); 5 nhân 2 bằng bao nhiêu? (10). Vậy 11 trừ 10
còn bao nhiêu? (1). Số dư 1 lớn hay nhỏ hơn số chia 2? (nhỏ hơn). Nhắc cho học
sinh cần nhớ: khi thực hiện phép chia có dư, số dư bao giờ cũng phải nhỏ hơn số
chia.
Cũng với ví dụ trên tôi có thể hướng dẫn học sinh làm nhiều cách khác: Đó là làm
giảm số bị chia ở mỗi lần chia hoặc tìm số lớn nhất.
Nếu số bị chia mà khi chia cho số chia không có trong bảng chia thì ta làm giảm số
bị chia (tức là bớt đi 1, 2 hoặc 3 , 4, 5... đơn vị ở số bị chia để chia).
Ví dụ: 11 : 2. Muốn ước lượng 11 : 2 = ? Ta làm giảm 11 xuống 1 đơn vị để có
10 : 2 được 5, sau đó thử lại: 5 2 = 10 để có kết quả 11 : 2 = 5 dư 1.
Trên thực tế, việc làm giảm số đó 1, 2 hoặc 3, 4 , 5 ... đơn vị để thử chọn khi chia,
giúp tìm thương đúng cho mỗi lần chia.
Tôi còn hướng dẫn học sinh cách ước lượng khác:
Ví dụ: Hướng dẫn học sinh cách chia khi thực hiện phép chia có dư trong mỗi lượt
chia như sau:
Ví dụ: 11 : 2 = ?
Tìm số lớn nhất (không vượt quá 11) trong các tích (số bị chia) của bảng nhân
(chia 2) ta được 10 ; 10 : 2 = 5. Vậy 11 : 2 = 5 (dư 1)
Với phép chia có dư khi chia số có ba chữ số cho số có một chữ số tôi hướng dẫn
như sau:
Ví dụ 2: ( Ví dụ a bài 1 SGK Toán 3 trang 73)

Ở lượt chia thứ nhất : Lấy 63 chia cho 7, 63 chia cho 7 có trong bảng chia 7. Vậy
63 : 7 = 9
Lượt chia thứ hai: hạ 2, được 2, 2 chia cho 7 không có trong bảng chia 7. tiếp tục
giảm 2 đi mấy đơn vị? ( 2) còn 0; 0 chia cho 7 được 0; 0 7 = 0 ; 2 trừ 0 bằng 2,
dư 2.
Với phép chia có dư khi chia số có bốn chữ số cho số có một chữ số tôi cũng
hướng dẫn tương tự để các em có thể thực hiện được như sau:
Với các phép tính chia khác tôi cũng tiến hành làm tương tự.
Để việc giảm số được đơn giản, tôi có thể yêu cầu học sinh làm giảm số bị chia ở
mỗi lần chia theo đúng quy tắc: giảm lần lượt 1, 2, 3...đơn vị. Rèn kỹ năng ước
3

lượng thương là cả một quá trình. Thực tế của vấn đề này là tìm cách nhẩm nhanh
thương của phép chia.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh chia đối với phép chia hết hay phép chia có dư
thì tôi luôn yêu cầu học sinh chia xong phải thử lại. Bước thử lại là rất quan trọng
vì vừa tạo cho các em có thói quen kiểm tra kết quả, vừa tạo cho các em tính cẩn
thận chắc chắn.
Ví dụ: trang 55 - SGK Toán 3 - bộ sách Chân trời sáng tạo

Khi các em thực hiện phép chia 36 : 3 = 12 thử lại: 12 3 = 36 kết quả đúng.
Hay: Phép tính trang 53 - SGK Toán 3 - bộ sách Chân trời sáng tạo
23 : 4 = 5 ( dư 3). Thử lại: 5 4 + 3 = 23 kết quả đúng. Vậy phép chia là đúng
Trong thực tế, các việc làm trên được tiến hành trong trong sơ đồ thủ thuật của tính
chia (viết) với các phép thử thông qua nhẩm và trừ nhẩm. Nếu học sinh chưa nhân
nhẩm và trừ nhẩm thành thạo thì lúc đầu có thể cho các em làm tính vào nháp,
hoặc viết bằng bút chì , nếu sai thì tẩy đi và điều chỉnh lại.
Từ việc xác định được nội dung chương trình, bản thân đã xây dựng kế hoạch dạy
phép chia (phép chia hết và chia có dư), tìm ra biện pháp và đã giúp học sinh nắm
được các yêu cầu sau:
- Học sinh làm thành thạo phép chia bất kì một số nào, kể cả trường hợp phải lấy
nhiều hơn một chữ số ở số bị chia để chia cho số chia.
- Biết ước lượng đủ, đúng, số lần ở thương.
- Thành thạo các phép tính cộng, trừ, nhân, chia ; mối quan hệ giữa phép nhân và
phép chia.
- Nắm vững thuật toán chia.
1.2. Rèn kĩ năng chia thông qua hệ thống bài tập.
* Dạng 1: Các bài tập dạng "chia trong bảng"
Đây là loại bài đặc trưng của phép chia. Nó có vị trí đặc biệt quan trọng trong dạy
học Toán nói chung và dạy học Toán lớp 3 nói riêng. "Các bảng chia" có thể coi là
" Con đường độc đáo " để dẫn học sinh tới kho tàng tri thức về phép chia.
Khi học về loại bài này học sinh cần:
- Thuộc bảng chia - Biết chia nhẩm trong phạm vi bảng chia và giải các bài toán có
lời văn có liên quan đến bảng chia.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập trong SGK để củng cố lại kiến thức
vừa học.
Khi rèn kỹ năng làm bài tập thì tôi cho học sinh hoàn thành tốt và hoàn thành tự
làm bài để phát huy tính tích cực trong học tập của các em. Tôi hướng dẫn trực tiếp
những học sinh tiếp thu bài chậm.
* Ví dụ: Bài tập 1 trang 15 SGK Toán 3 - bộ sách Chân trời sáng tạo

4

Với bài tập trên, yêu cầu bắt buộc tất cả các học sinh phải thuộc bảng chia. Trước
tiên, tôi giao cho học sinh thời gian 5 phút, thực hiện các phép chia vào trong vở
của mình. Sau đó, tôi gọi bất chợt từng học sinh trả lời từng phép tính để kiểm tra
xem các em đã thuộc bảng chia và nhanh nhạy linh hoạt trong việc thực hiện phép
chia chưa.
* Dạng 2: Các bài tập dạng" chia ngoài bảng"
Người viết

Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499

5
 
Gửi ý kiến