Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

SÁNG KIẾN.LỚP 4. NGUYỄN HÀ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trường Tiểu học Cẩm Hưng
Ngày gửi: 10h:16' 01-03-2024
Dung lượng: 147.5 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích: 0 người
1

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Môn Tiếng Việt Tiểu học là môn học quan trọng và chiếm số tiết nhiều
nhất. Đây là môn học công cụ để phục vụ các môn khác, rèn luyện cho học sinh
kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Trong đó phân môn Tập làm văn là quan trọng nhất
dạy cho học sinh cách tư duy sáng tạo. Kết quả học tập phân môn này là thể hiện
sự kết tinh của các phân môn khác như: tập đọc, chính tả, luyện từ và câu. Môn
Tập làm văn có tác dụng vô cùng to lớn bởi nó có thể diễn tả tất cả những gì con
người nghĩ ra, nhìn thấy và cảm nhận được nhờ các giác quan. Đối với học sinh
tiểu học thì phân môn Tập làm văn là một phân môn cực khó. Đặc biệt đối với
các học sinh lớp 4. Nếu ở lớp 2,3 các em chỉ được học văn nói, văn kể là chủ
yếu, các em được hỏi đáp hoặc được kể theo một nội dung về một chủ điểm nhất
định, chỉ cần diễn đạt ý trọn vẹn sắp xếp các ý thành một đoạn văn kể về một
chủ điểm, chưa gò ép các em biết viết thành bài văn có đủ ba phần. Thì khi lên
lớp 4, một bước ngoặt lớn yêu cấu các em từ những gì đă quan sát được về đồ
vật, cây cối, con vật gần gũi quen thuộc buộc các em phải hình dung lại và sắp
xếp ý thành dàn bài để viết thành những bài văn hoàn chỉnh. Bởi thế nên hầu hết
các em chưa biết diễn đạt, liên kết câu văn thành một đoạn văn, liên kết đoạn
văn thành một bài văn. Chưa biết chọn các bộ phận tiêu biểu, nổi bật của đồ vật,
cây cối, con vật mình tả để tả. Chưa biết dùng từ ngữ gợi tả, gợi cảm. Hầu hết
các em chỉ liệt kê những gì mình quan sát được một cách khô khan. Nắm được
những điểm yếu mà các em còn vấp phải, tôi đã trăn trở tìm giải pháp làm thế
nào để các em khắc phục được những khó khăn đó, làm sao để các em làm được
bài văn đủ phần, đủ ý, diễn tả một cách sinh động, hấp dẫn,… Làm sao để các
em có hứng thú trong khi làm bài văn…Vì thế tôi đã mạnh dạn chọn và nghiên
cứu sáng kiến kinh nghiệm :
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng bài viết văn cho học sinh lớp 4”.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề
Trước hết ta cần phải hiểu: Miêu tả là nêu lên các đặc điểm của sự vật, hiện
tượng bằng cách làm cho các sự vật, hiện tượng đó hiện lên trực tiếp (tái
hiện) trước mắt người đọc (người nghe) một cách cụ thể, sống động, như thật
khiến cho người ta có thể nhìn, nghe, ngửi, sờ mó được.
Đối với HS lớp 4, Tiếng Việt quả là khó khăn đối với các em. Bởi lẽ, đây là
môn học đòi hỏi sự sáng tạo. Nếu học tốt phân môn Tập làm văn học sinh sẽ có
cơ sở tiếp thu và diễn đạt các môn học khác trong chương trình. Các em sẽ có
suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng và khoa học, cảm thụ được cái hay, cái

2

đẹp của cuộc sống, giúp các em phát triển năng lực trí tuệ, rèn luyện các thao tác
tư duy. Tư duy có phát triển thì ngôn ngữ mới phát triển. Và ngược lại, ngôn
ngữ càng phát triển thì càng tạo cho tư duy phát triển nhanh hơn. Do vậy ngôn
ngữ càng hoàn hảo, càng giúp cho việc diễn đạt tư tưởng tình cảm thêm chính
xác, giúp khả năng nhận xét thêm sâu sắc, có khả năng trình bày được rõ ràng,
chính xác những ý nghĩ và tình cảm của mình. Để các em được hướng dẫn thực
hành thường xuyên người giáo viên cần phát huy tính độc lập, suy nghĩ và trí
sáng tạo của các em qua từng khâu: từ việc ra đề, hướng dẫn tìm hiểu đề, hướng
dẫn làm bài để các em biết phải làm gì, viết gì giúp các em tự tin, có cảm hứng
sáng tạo khi làm các bài văn miêu tả. Từ đó góp phần bồi dưỡng vun đắp tình
yêu tiếng Việt, biết giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, tâm hồn Việt,
góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam.
3. Thực trạng của vấn đề
Năm học 2023- 2024 khi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 4B với
tổng số học sinh là 36 em. Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt phần :Bài
viết, tôi nhận thấy nhìn chung các em đã nắm được cấu trúc của một bài văn miêu
tả nhưng bài làm của các em còn rập khuôn, kém hấp dẫn, ít cảm xúc và nghèo
hình ảnh. Đặc biệt là các em chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ, các biện pháp
nghệ thuật nhân hóa, so sánh. thiếu ý, thiếu chi tiết,...; chưa biết cách dùng các từ
ngữ gợi tả, gợi cảm; vốn từ lại nghèo nàn. Bởi vậy bài văn của các em thường cộc
lốc, lủng củng, khô khan, nghèo cảm xúc. Bài văn trở thành một bảng liệt kê các
chi tiết của đối tượng miêu tả,Trước tình trạng đó, tôi luôn trăn trở làm thế nào để
giúp các em làm bài văn đảm bảo theo yêu cầu và giàu cảm xúc.
3.1. Thuận lợi
Ở trường tôi đại đa số học sinh hiếu học và gia đình quan tâm đến việc
học của con em mình. Đời sống người dân tương đối ổn định. Ban giám hiệu tạo
điều kiện tốt cho giáo viên trong quá trình giảng dạy. Giáo viên nắm vững được
nội dung chương trình, nhiệt tình trong giảng dạy.
3.2. Khó khăn
Một số học sinh còn hiếu động, mải chơi, chưa tập trung trong việc học
tập. Một số gia đình chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em mình. Các
em còn ngại khó, lười suy nghĩ, cứ đến tiết tập làm văn là sợ. Vì vậy chưa đáp
ứng được yêu cầu của môn Tập làm văn.
3.3. Thực trạng Bài viết văn của học sinh lớp 4B
Năm học 2023 - 2024, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và
giảng dạy lớp 4B, sau 2 tuần nhận lớp, tôi khảo sát chất lượng đầu năm và thu
được kết quả như sau:

3

Lớp

TSHS

4B

36

Tốt
(9điểm – 10 điểm)
TS
Tỉ lệ %
6
17 %

Đạt
(5 điểm – 8 điểm)
TS
Tỉ lệ %
17
47 %

Chưa đạt
(< 5 điểm)
TS
Tỉ lệ %
13
36 %

Sau khi khảo sát, tôi nhận thấy:
- Phần đa học sinh đọc các đề bài tập làm văn qua loa sau đó làm bài
ngay không đọc kĩ yêu cầu của bài.
- Câu văn còn hạn chế.
- Thờ ơ với giờ học trên lớp, thường xuyên không ôn bài, làm bài tập ở nhà
4.Các biện pháp, giải pháp thực hiện
4.1. Tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh
Để gây hứng thú cho các em khi học môn này đầu tiên tôi chuẩn bị kỹ cho
học sinh làm quen với từng kiểu bài. Bước đầu phải nắm vững bố cục bài văn.
Với từng dạng bài, tôi nghiên cứu và đưa ra qui trình giúp các em nắm vững
được kiến thức cơ bản, thể nghiệm qua một số ví dụ cụ thể ở các dạng khác nhau
và cuối cùng là các em thực hành làm bài văn ở mỗi dạng.
Đối với mỗi dạng bài văn miêu tả tôi giúp học sinh nhận thấy: Nội dung
đủ và phong phú là yêu cầu không thể thiếu được của một bài văn. Thực hiện
được yêu cầu này ngoài việc phải giúp học sinh nhận ra được cấu tạo của một
kiểu bài dựa vào cách tìm hiểu qua một bài văn mẫu giáo viên cần hướng dẫn
chung cách làm bài văn dựa theo các bước sau:
Bước 1- Xác định cụ thể đối tượng cần miêu tả.
Bước 2- Quan sát đối tượng cần tả theo một trình tự nhất định và ghi lại
những đặc điểm ấy.
Bước 3- Lập dàn ý chi tiết cho bài văn có đủ 3 phần: Mở bài- Thân bài- Kết
bài
Bước 4- Kiểm tra, soát lại dàn ý
Bước 5- Thực hành viết bài văn
Bước 6- Chuẩn bị tốt phần củng cố bài trong các tiết tập làm văn
Bước 7- Thực hiện hiệu quả tiết trả bài
* Các bước tiến hành hướng dẫn học sinh khi làm mỗi dạng bài cụ thể như
sau:
Bước 1- Xác định cụ thể đối tượng cần miêu tả:

4

Dựa vào yêu cầu của đề bài để chọn đối tượng miêu tả cụ thể. Lưu ý học
sinh nên chọn đồ vật, con vật, cây cối gần gũi thân quen để có thể miêu tả một
cách dễ dàng và việc lồng cảm xúc vào bài văn sẽ tự nhiên hơn.
a. Đối với bài văn miêu tả con vật: Nên chọn các con vật nuôi trong nhà như:
chó, mèo, gà, lợn,…
b. Đối với bài văn miêu tả đồ vật: Nên chọn các đồ vật là đồ chơi, đồ dùng học
tập, đồ vật trong nhà hay quà tặng như: búp bê, ô tô đồ chơi, cặp, bút, đồng hồ,

c. Đối với bài văn miêu tả cây cối: Nên chọn các loại cây ăn quả, cây hoa
trong vườn nhà hay cây bóng mát ở sân trường như: Cây xoài, mít, sầu riêng,…;
cây hoa hồng, hoa huệ, hoa cúc,…; cây bàng, cây phượng,…
1- Xác định cụ thể đối tượng cần miêu tả:
Dựa vào yêu cầu của đề bài để chọn đối tượng miêu tả cụ thể. Lưu ý học
sinh nên chọn đồ vật, con vật, cây cối gần gũi thân quen để có thể miêu tả một
cách dễ dàng và việc lồng cảm xúc vào bài văn sẽ tự nhiên hơn.
a. Đối với bài văn miêu tả con vật: Nên chọn các con vật nuôi trong nhà như:
chó, mèo, gà, lợn,…
b. Đối với bài văn miêu tả đồ vật: Nên chọn các đồ vật là đồ chơi, đồ dùng học
tập, đồ vật trong nhà hay quà tặng như: búp bê, ô tô đồ chơi, cặp, bút, đồng hồ,

c. Đối với bài văn miêu tả cây cối: Nên chọn các loại cây ăn quả, cây hoa
trong vườn nhà hay cây bóng mát ở sân trường như: Cây xoài, mít, sầu riêng,…;
cây hoa hồng, hoa huệ, hoa cúc,…; cây bàng, cây phượng,…
Bước 2- Quan sát đối tượng cần tả theo một trình tự nhất định và ghi lại
những đặc điểm ấy.
Có rất nhiều cách để quan sát đồ vật, con vật, cây cối mà mình định tả. Tùy
vào đối tượng và thời điểm miêu tả mà quan sát theo trình tự hợp lý. Tuy nhiên
cần phải nhớ một yêu cầu quan trọng đó là: quan sát và miêu tả các bộ phận nổi
bật, đặc trưng của đối tượng cần miêu tả sao cho làm toát lên được đặc điểm
riêng của nó, để phân biệt được với các sự vật khác cùng loại. Quan sát bằng
nhiều giác quan: mắt nhìn, tai nghe, tay sờ…và phải biết ước lượng đối tượng
miêu tả. Đặc biệt giáo viên cần có hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh tìm chi
tiết và dễ tái hiện các chi tiết khi làm bài. Hướng dẫn học sinh sắp xếp các chi

5

tiết đã quan sát được theo trình tự đã chọn một cách tự nhiên, dễ hiểu để người
đọc, người nghe cảm nhận được sự vật định tả một cách rõ ràng cụ thể nhất.
a. Đối với bài văn miêu tả con vật: Ngoài việc miêu tả hình dáng của con vật
học sinh cần phải quan sát hoạt động, thói quen của con vật định tả.
Ví dụ: Với đề bài “Tả con gà trống nhà em” có thể dùng hệ thống câu
hỏi và sắp xếp các chi tiết theo trình tự sau:
* Tả hình dáng:
- Gà thuộc giống gà gì? Khoảng mấy ki- lô- gam?
- Con gà trống có những bộ phận nào? ( đầu, mình, chân, đuôi,…)
- Đầu gà có những bộ phận nhỏ nào? (mào, mắt, mỏ,…) các bộ phận ấy có màu
sắc và hình dáng ra sao?...
- Mình gà to chừng nào? Cánh gà có gì đặc biệt?
- Đuôi gà thế nào? ( hơi cong và có nhiều màu sắc như 7 sắc cầu vồng…)
- Chân gà có đặc điểm gì? (chỉ có 4 ngón và một cái cựa rất sắc…)
- Móng vuốt gà dùng để làm gì?
* Tả hoạt động, thói quen của gà:
- Gà trống thường có những hoạt động nào? (Vỗ cánh… gáy, tranh ăn với gà
nhỏ hơn,…)
- Nuôi gà có tác dụng gì?
Như vậy để quan sát miêu tả con gà, học sinh cần sử dụng các giác quan
như: thị giác (Quan sát các bộ phận của gà, thói quen…), thính giác(nghe tiếng
gà vỗ cánh và gáy,…)
b. Đối với bài văn miêu tả đồ vật: Có thể quan sát đồ vật từ trên xuống dưới,
từ ngoài vào trong hay từ trong ra ngoài,… Để giúp học sinh biết cách quan sát,
giáo viên cần có đồ vật cụ thể hoặc đồ vật trong tranh để hướng dẫn.
Ví dụ: Với đề bài "Tả cái cặp sách" có thể dùng hệ thống câu hỏi và sắp
xếp các chi tiết theo trình tự sau:
- Hình dáng, độ lớn của cặp?
- Em hãy kể các bộ phận của cái cặp?
- Cặp làm bằng gì ? màu sắc ra sao?
- Mặt trước, mặt sau của cặp?

6

- Quai cặp thế nào?
- Nắp cặp, ổ khóa.
- Cặp có mấy ngăn bên trong ?
- Em gìn giữ và sử dụng cặp ra sao?...
Như vậy để quan sát cái cặp, giáo viên hướng dẫn học sinh cần sử dụng
các giác quan như: thị giác (màu sắc, các bộ phận của cặp,..), thính giác(mở
khóa cặp nghe “tách”,..), xúc giác( sờ vào cặp thấy mịn, mềm,…), khứu giác(mở
cặp ra thấy thơm mùi vải mới hoặc nhựa mới,…)
c. Đối với bài văn miêu tả cây cối: Có hai cách quan sát
- Quan sát đặc điểm về hình dáng của cây, các bộ phận của cây hoặc quan sát
theo từng thời kỳ phát triển của cây.
Ví dụ: Với đề bài “Tả cây có bóng mát” có thể dùng hệ thống câu hỏi và
sắp xếp các chi tiết theo trình tự sau:
- Em hãy nêu các bộ phân của cây?
- Thân cây thế nào?
- Gốc cây ra sao?
- Nêu đặc điểm của cành cây? Của tán lá? hình dáng của lá?
- Cây có hoa không? Hãy nêu hình dáng màu sắc của hoa?
- Hãy nêu ích lợi của cây?
- Những hoạt động có liên quan đến cây ?
Đối với quan sát cây học sinh cũng cần sử dụng các giác quan như: thị
giác (quan sát dáng cây, thân cây, cành cây, tán lá,…), thính giác( nghe tiếng gió
thổi, lá rơi, chim hót,…), xúc giác(sờ vào thân cây thấy nhám,…), nếu cây có
hoa, quả cần sử dụng khứu giác(ngửi mùi hương của hoa, quả,…), vị giác(nếm
vị ngọt hay chua của quả,…)
Bước 3- Lập dàn ý chi tiết cho bài văn có đủ 3 phần: Mở bài- Thân bài- Kết
bài:
3.1/ Dàn bài chung:
Yêu cầu tối thiểu của một bài văn là phải có đầy đủ bố cục tức 3 phần :
Mở bài- Thân bài- Kết bài. Với mỗi dạng bài văn miêu tả cần tuân theo những
điểm chính trong dàn bài chung như sau:
a. Đối với bài văn miêu tả con vật:

7

* Mở bài: Giới thiệu con vật định tả ( Đó là con vật gì? Có từ bao giờ? Do đâu
mà có?...)
* Thân bài:
- Tả đặc điểm hình dáng bên ngoài của con vật. (Đầu, mình, chân, đuôi, màu
lông,...)
- Tả hoạt động và thói quen của con vật ( Nó thường làm gì? Kể cả khi ăn hay
lúc ngủ,...)
* Kết bài: Nêu lợi ích của con vật và tình cảm của người tả đối với con vật.
b. Đối với bài văn miêu tả đồ vật:
* Mở bài: Giới thiệu đồ vật định tả ( Đó là đồ vật gì? Có từ bao giờ? Do đâu mà
có?...)
* Thân bài:
- Tả đặc điểm hình dáng bên ngoài của đồ vật. ( nó được làm bằng chất liệu gì?
Màu sắc ra sao?...)
- Tả chi tiết từng bộ phận của đồ vật ( Có thể tả lần lượt từ ngoài vào trong hoặc
từ trên xuống dưới...)
- Tả hoạt động của đồ vật hay thói quen của em đối với đồ vật đó.
* Kết bài: Nêu được cảm nghĩ của mình đối với đồ vật vừa tả. Em bảo quản và
giữ gìn nó thế nào?
c. Đối với bài văn miêu tả cây cối:
* Mở bài: Giới thiệu cây định tả ( Đó là cây gì? Do ai trồng? Được trồng ở đâu?
từ bao giờ?...)
* Thân bài:
- Tả bao quát hình dáng chung của cây.
- Tả từng bộ phận của cây hoặc tả theo từng thời kì phát triển của cây. ( Từ lúc
cây còn nhỏ đền khi cây lớn trưởng thành ra hoa kết trái, đến lúc trái cây lớn dần
và thu hoạch được,...)
- Phối hợp trong khi miêu tả cây là miêu tả sự tác động của con người hay sự vật
đối với cây ( Sự chăm sóc hay vui đùa của con người dưới gốc cây,... Các yếu tố
thiên nhiên khác như chim chóc, ong bướm, nắng, gió tác động đến cây,...)
* Kết bài: Nêu được tác dụng của cây. Sự chăm sóc hay tình cảm của người tả
đối với cây.

8

Bước 4- Kiểm tra, soát lại dàn ý:
Khi lập xong dàn bài, lưu ý học sinh chưa vội vàng viết ngay vì như thế ý
tưởng sẽ lộn xộn khó sắp xếp. Đây là bước quan trọng trước khi viết thành bài
văn. Bởi để có bài văn hay, lôi cuốn người đọc thì trước hêt các chi tiết phải lô
gíc, trình tự và chặt chẽ. Muốn vậy cần rà soát lại các ý, xác định chi tiết nào
chính, chi tiết nào phụ, phần nào viết trước, phần nào viết sau. Tuy nhiên, tùy
vào ý tưởng của người viết, có thể sắp xếp các ý theo trình tự riêng của mình.
Chẳng hạn: Khi sắp xếp các ý trong bài văn miêu tả con vật có thể miêu tả
hình dáng trước rồi tả các hoạt động và thói quen của con vật sau. Hoặc có thể
xen kẽ vừa miêu tả hình dáng vừa tả các hoạt động và thói quen của nó.
Bước 5- Thực hành viết bài văn:
Đây là khâu quan trọng nhất và cũng là khâu khó nhất. Trên cơ sở dàn bài
đã có, các em viết thành câu, đoạn và thành bài văn hoàn chỉnh. Lời văn phải
gọn gàng, ý tứ phải rõ ràng, rành mạch, trong sáng. Lại phải diễn đạt cho có
hình ảnh, linh hoạt, sinh động và gợi cảm nữa. Muốn đạt như thế các em phải
dựa trên cơ sở quan sát tỉ mỉ, suy nghĩ, lựa chọn cách diễn đạt tốt nhất.
Một bài văn hay là phải có cách sắp xếp chặt chẽ: Mở bài, thân bài, kết bài.
Phần mở bài như một lời thân ái mời chào của chúng ta đối với người khách đến
thăm “vườn văn” của mình. Lời mời chào ấy phải hấp dẫn, gợi mở, gây cảm xúc
ban đầu nhẹ nhàng, nêu được ý muốn diễn đạt ở toàn bài.
a. Mở bài: Có hai cách mở bài: trực tiếp hoặc gián tiếp
Các em có thể vào bài trực tiếp hay gián tiếp, có thể mở bài bằng một câu
hoặc một đoạn văn nhưng bám sát vào nội dung yêu cầu đã xây dựng. Dựa vào
cách mở bài của mỗi em mà giáo viên góp ý, không gò bó, áp đặt.
Ví dụ: Khi tả chiếc đồng hồ
+ Có em vào đề trực tiếp: Trong gia đình nhà em có rất nhiều đồ vật nhưng em
thích nhất là chiếc đồng hồ báo thức. ( Mở bài chỉ một câu nhưng đủ ý)
+ Có em mở bài hơi dài nhưng sinh dộng, gây ấn tượng ngay từ phút đầu:
“ Reng…reng…Cô chủ ơi! Dậy tập thể dục thôi”. Ôi chao! Tiếng gọi của cái
đồng hồ báo thức đây mà. Sáng nào nó cũng đánh thức tôi vào lúc sáu giờ. Nó
báo hiệu một ngày mới của tôi.
Ví dụ: Tả một con vật mà em thích

9

+ Có em vào đề trực tiếp: Trong gia đình nhà em có rất nhiều loài vật nhưng em
thích nhất là con mèo tam thể.
+ Có em mở bài gián tiếp: Cả gia đình nhà em đều quý con vật. Nhà em nuôi
chó, mèo, chim, cá cảnh và cả 2 con sáo hót rất hay. Nhưng người bạn thân thiết
hay đón em từ cổng mỗi khi em đi đâu về là chú cún con.
Ví dụ: Tả cây cối
+ Có em vào đề trực tiếp: Nhà em trồng rất nhiều loại cây ăn trái nhưng em
thích nhất là cây sầu riêng.
+ Có em mở bài gián tiếp: Chiều chiều em cùng bố mẹ đi dạo mát ngoài biển. Ở
đây, có bao nhiêu cảnh mà em yêu, nhưng em chỉ thích nhất là được ngồi dưới
bóng những cây dừa san sát để hưởng những làn gió biển mát rượi.
Từ đó tôi rút ra kết luận để các em hiểu rằng: Vào bài trực tiếp hay gián
tiếp cũng phải bám sát yêu cầu của đề mới viết được bài văn với nội dung tốt,
mang tính nghệ thuật cao. Với các em học sinh khá giỏi nên động viên các em
mở bài theo cách gián tiếp.
b. Thân bài:
Dựa vào cấu trúc của dàn bài để viết phần thân bài cho thật đầy đủ các chi
tiết.
- Về cách dùng từ, phải dùng cho đúng, cho sát và lựa chọn từ ngữ nào hay nhất
để làm cho câu văn có hồn.
Ví dụ: Khi tả bông hoa, có em đã tả:
+ Nụ hoa “chúm chím” nở như hớp từng giọt sương.
+ Hoa quì nở “vàng rực” trong gió “xôn xao”.
- Về viết câu cần linh hoạt, không nên viết theo kiểu công thức đơn điệu, khi
viết nên thay đổi chủ thể của câu:
Ví dụ: Hai bên đường vàng rực hoa quì.
Có thể đổi lại: Hoa quì khoe màu vàng rực rỡ hai bên đường.
Hay: Gà mẹ xòe cánh che chở đàn con.
Có thể đổi lại: Đàn gà con vội vàng rúc vào đôi cánh xòe ra che chở của gà mẹ
- Muốn viết được câu hay, cần phải sử dụng biện pháp nhân hóa, so sánh nữa.
Ví dụ về so sánh:
+ Những giọt sương đọng lại ở cánh hoa long lanh như những hạt ngọc.

10

+ Chùm lông đuôi vừa dài vừa cong óng ả rất hợp với đôi cánh như hai con trai
khổng lồ úp hờ hững bên sườn.
Ví dụ về nhân hóa:
+ Lá trong vườn vẫy chào người bạn nhỏ.
+ Dáng đi của trống cồ chậm rãi và oai vệ, ra vẻ một thủ lĩnh lắm.
Như vậy sau khi dùng từ chính xác để đặt câu đúng ngữ pháp, linh hoạt.
Học sinh liên kết các câu với nhau thành đoạn, sau đó liên kết các đoạn thành
phần thân bài. Lưu ý, mỗi đoạn tả một phần cụ thể của đồ vật, con vật và cây
cối.
Ngoài ra cần chú ý lồng cảm xúc của người viết khi miêu tả các sự vật trên.
c. Kết bài: Có hai cách kết bài: Kết bài mở rộng và không mở rộng
Có nhiều cách kết bài khác nhau nhưng đều xuất phát từ nội dung chính. Nó
khép lại trước mắt người đọc những cảm xúc tràn trề, những hình ảnh đẹp đẽ mà
các em miêu tả trong bài văn của mình. Phần kêt bài như một cuộc tiễn đưa
người khách vừa đến thăm “vườn văn” của mình một cách tình cảm, chân tình,
đầy quyến luyến. Vì thế khi viết phần kết bài phải thật cô đọng, tránh cách kết
bài cộc lốc, công thức.
Thực tế cho thấy các em chỉ liệt kê cảm xúc ( Kết bài không mở rộng) “ Em
rất thích con cún ấy”. Tôi đã gợi mở để các em nêu ( Kết bài mở rộng): “Cún đã
sống với gia đình em rất lâu rồi. Nó rất ngoan, em hi vọng nó lớn lên càng biết
vâng lời chủ và trung thành hơn nữa. Chẳng thế mà ai cũng nói chó là con vật
rất trung thành và tinh nghĩa”
Hay với bài văn miêu tả hoa đào, có em kết bài: Em rất thích hoa đào, cứ
Tết đến là nhà em lại mua một cành đào. Tôi gợi ý để em viết lại kết bài có hồn
hơn: Như đã trở thành truyền thống, hoa đào là biểu tượng mùa xuân của miền
Bắc và của cả nước ta. Nhìn hoa đào, ta biết mùa xuân đã đến. Những đứa con
xa nhà lại chuẩn bị trở về với gia đình thân yêu
Sau khi đã qua nhưng bước trên, trong tưởng tượng của các em đã phác họa
được chân dung của sự vật hiện tượng miêu tả. Một trong những chứng tỏ điều
này là các em đã nhớ được nhiều chi tiết, hình ảnh, biết sử dụng biện pháp so
sánh, nhân hóa, thổi hồn vào sự vật, hiện tượng một cách sống động gần gũi…
để các em thể hiện bản thân mình một cách thoải mái, không gò bó và đầy tính
sáng tạo.

11

Sau mỗi tiết luyện tập, tôi cho học sinh nói về bài làm của mình cho cả lớp
nghe. Ý kiến nào hay thi cho cả lớp phát huy, ý kiến nào chưa đạt cho học sinh
góp ý, giáo viên nhận xét bổ sung. Từ đó giúp các em rút kinh nghiệm dế dàng
làm bài văn miêu tả.
Bước 6- Chuẩn bị kỹ càng phần củng cố bài trong các tiết Tập viết văn:
Củng cố bài là phần chiếm không nhiều thời gian trong cả tiết học nhưng
lại là lúc giáo viên tóm tắt toàn bộ nội dung kiến thức của bài và mở ra hướng
kiến thức mới cho tiết học sau, vì vậy cần chú ý ở phần củng cố bài hấp dẫn, thu
hút được sự chú ý của các em.
Như trên đã nói, cần giúp học sinh nhìn nhận mọi sự vật ở nhiều khía cạnh,
góc độ khác nhau, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của các em. Vì thế ở phần
củng cố bài, giáo viên không nên đưa ra những bài văn mẫu hoàn chỉnh làm các
em bắt chước, sao chép, dễ tạo cho các em cách làm văn sáo rỗng, na ná như
nhau mà nên đưa ra những đoạn văn miêu tả của những tác giả khác nhau. Cùng
trong một tiết học, có thể đưa ra nhiều đoạn văn miêu tả toàn diện, phong phú
hơn và từ đó các em sẽ biết chắt lọc, tìm tòi những chi tiết đặc sắc, học tập được
các câu, các từ hay, cách diễn đạt hợp lý cho bài làm của mình.
Các đoạn văn đưa ra cũng không nên quá dài hay quá ngắn vì nếu dài quá
học sinh sẽ khó tiếp thu, ngắn quá sẽ không đảm bảo nội dung. Đặc biệt đoạn
văn phải được diễn đạt mạch lạc đúng cấu trúc ngữ pháp, lời văn giản dị, câu
văn giàu hình ảnh và phải mang tính mẫu mực cả về nội dung và hình thức.
Khi đưa ra các đoạn văn mẫu cần phải phân tích, đánh giá để học sinh
thấy được cái hay, cái đẹp trong từng đoạn văn, giúp học sinh nhận rõ nội dung
miêu tả, sự khác biệt trong miêu tả và nét đặc sắc trong hành văn.
Ví dụ: Đọc cho học sinh nghe đoạn văn “Quả cà chua" của tác giả Ngô Văn
Phú
"Cà chua ra quả, sum sê, chi chít, quả lớn quả bé vui mắt như đàn gà mẹ
đông con. Quả một, quả chùm, quả sinh đôi, quả chùm ba, chùm bốn. Quả ở
thân, quả leo nghịch mgợm lên ngọn và làm xệ cả những nhánh to nhất…"
Phân tích: Đoạn văn ngắn gọn nhưng đã miêu tả khá sinh động quả cà chua
Tác giả tả quả cà chua, chùm cà chua. Các chữ “sum sê”, “chi chít”và các hình
ảnh “quả sinh đôi, quả chùm ba, chùm bốn”đã dặc tả cây cà chua, luống cà
chuatưoi tốt, sây quả, quả trĩu cành. Quả cà chua được nhân hoá “leo nghịch
mgợm lên ngọn”. tác giả ví chùm quả cà chua có quả lớn, quả bé “vui mắt như

12

đàn gà mẹ đông con” . Một cách miêu tả hóm hỉnh, ý vị. Nó làm nên vẻ đẹp hấp
dẫn riêng của đoạn văn miêu tả này.
Việc đưa ra đoạn văn mẫu cùng với lời phân tích rõ ràng như vậy sẽ giúp
học sinh hình dung ra đối tượng miêu tả một cách cụ thể, sinh động hơn, giúp
học sinh vận dụng cách dùng từ đặt câu vào bài viết của mình.
Bước 7- Thực hiện hiệu quả việc chấm, trả bài:
Mỗi loại bài thường dành một tiết kiểm tra để học sinh thực hành viết
văn. Quá trình thực hành ấy cần được xem xét, đánh giá rút kinh nghiệm thật
cẩn thận, nghiêm túc thì mới có tác dụng rèn kỹ năng viết văn cho học sinh. Tổ
chức rút kinh nghiệm thực hiện tiết trả bài chính là thực hiện khâu cuối cùng
"kiểm tra, đánh giá" nhằm mục đích giúp học sinh hiểu được những nhận xét
chung của giáo viên về kết quả bài viết của cả lớp để liên hệ với bài làm của
mình. Giúp học sinh biết sửa lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt …, bố cục
bài của mình và của các bạn. Ngoài ra, học sinh có thể học hỏi những câu văn,
đoạn văn hay của bạn. Với mục đích như vậy thì tiết trả bài không thể làm qua
loa đại khái, càng không thể bớt xén thời lượng.
- Khi chấm bài, tôi luôn tâm niệm rằng phải làm việc một cách nghiêm túc,
kỹ càng, chính xác bởi vì bài văn là kết quả lao động sáng tạo của các em.
Người giáo viên cần phải chắt lọc thành công của học sinh dù là nhỏ nhất.
Không được qua loa, đại khái hoặc giận dữ, bực bội, có những lời phê phán để
lại trên bài làm ảnh hưởng đến hứng thú, niềm tin của học sinh.
Tuy nhiên, tôi không xem suy nghĩ cảm thụ của mình là khuôn mẫu, chuẩn
mực để áp đặt việc đánh giá học sinh mà tôn trọng, khuyến khích cái riêng, cái
mới, cái độc đáo trong mỗi bài viết của các em.
Đối với những học sinh chưa hoàn thành tôi chỉ ra sai sót trầm trọng nhất, không
bao giờ gạch nát cả bài, tránh gây cho em đó tâm lý thất vọng, chán nản. Tìm và
phát hiện cái hay, sự tiến bộ trong mỗi bài viết của các em một cách kịp thời.
Tôi không bao giờ tiết kiệm lời khen khi đánh giá bài làm của các em, trăn trở
với mỗi lời phê vào bài. Phát hiện được một câu văn hay, một ý nghĩ độc đáo,
sáng tạo, tôi đều đưa ra lời nhận xét (viết vào phần bài chữa được trình bày ở vở
Tập làm văn), VD: ““Hiểu đề, bài viết có cảm xúc tốt”, “Câu văn có hình ảnh”,
“Bài viết thật độc đáo”
Trong tiết trả bài, ngoài việc tiến hành các trình tự như trong sách bài
soạn đã hướng dẫn, tôi thường thay đổi hình thức hoạt động để học sinh đỡ
nhàm chán. Sau phần nhận xét chung, tôi chữa lỗi cho học sinh theo từng loại lỗi

13

thống kê khi chấm bài : lỗi Chính tả, từ, câu, các lỗi khác .Và nêu các câu văn,
đoạn văn hay đã chuẩn bị trước. Sau đó, tôi trả bài và có thể tổ chức cho học
sinh thảo luận theo nhóm bàn để các em trao đổi với bạn về cách làm bài của
mình, đọc cho nhau nghe các câu hoặc giúp nhau sửa lỗi  trong bài làm. Từ đó
học sinh sẽ nhận thấy rõ ưu, nhược điểm trong bài làm của mình, của bạn và biết
tự sửa chữa hoặc viết lại đoạn văn của mình cho đạt yêu cầu. Sau những trao đổi
như vậy cũng sẽ giúp học sinh tránh được những lỗi không đáng có trong thực
hành viết văn và trong cả giao tiếp hàng ngày.
4.3. Quan sát đối tượng cần tả theo một trình tự nhất định và ghi lại
những đặc điểm ấy.
Có rất nhiều cách để quan sát đồ vật, con vật, cây cối mà mình định tả.
Tùy vào đối tượng và thời điểm miêu tả mà quan sát theo trình tự hợp lý. Tuy
nhiên cần phải nhớ một yêu cầu quan trọng đó là: quan sát và miêu tả các bộ
phận nổi bật, đặc trưng của đối tượng cần miêu tả sao cho làm toát lên được đặc
điểm riêng của nó, để phân biệt được với các sự vật khác cùng loại. Quan sát
bằng nhiều giác quan: mắt nhìn, tai nghe, tay sờ…và phải biết ước lượng đối
tượng miêu tả. Đặc biệt giáo viên cần có hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh
tìm chi tiết và dễ tái hiện các chi tiết khi làm bài. Hướng dẫn học sinh sắp xếp
các chi tiết đã quan sát được theo trình tự đã chọn một cách tự nhiên, dễ hiểu để
người đọc, người nghe cảm nhận được sự vật định tả một cách rõ ràng cụ thể
nhất.
a. Đối với bài văn miêu tả con vật: Ngoài việc miêu tả hình dáng của con vật
học sinh cần phải quan sát hoạt động, thói quen của con vật định tả.
Ví dụ: Với đề bài “Tả con gà trống nhà em” có thể dùng hệ thống câu
hỏi và sắp xếp các chi tiết theo trình tự sau:
* Tả hình dáng:
- Gà thuộc giống gà gì? Khoảng mấy ki- lô- gam?
- Con gà trống có những bộ phận nào? ( đầu, mình, chân, đuôi,…)
- Đầu gà có những bộ phận nhỏ nào? (mào, mắt, mỏ,…) các bộ phận ấy có màu
sắc và hình dáng ra sao?...
- Mình gà to chừng nào? Cánh gà có gì đặc biệt?
- Đuôi gà thế nào? ( hơi cong và có nhiều màu sắc như 7 sắc cầu vồng…)
- Chân gà có đặc điểm gì? (chỉ có 4 ngón và một cái cựa rất sắc…)

14

- Móng vuốt gà dùng để làm gì?
* Tả hoạt động, thói quen của gà:
- Gà trống thường có những hoạt động nào? (Vỗ cánh… gáy, tranh ăn với gà
nhỏ hơn,…)
- Nuôi gà có tác dụng gì?
Như vậy để quan sát miêu tả con gà, học sinh cần sử dụng các giác quan
như: thị giác (Quan sát các bộ phận của gà, thói quen…), thính giác(nghe tiếng
gà vỗ cánh và gáy,…)
b. Đối với bài văn miêu tả đồ vật: Có thể quan sát đồ vật từ trên xuống dưới,
từ ngoài vào trong hay từ trong ra ngoài,… Để giúp học sinh biết cách quan sát,
giáo viên cần có đồ vật cụ thể hoặc đồ vật trong tranh để hướng dẫn.
Ví dụ: Với đề bài "Tả cái cặp sách" có thể dùng hệ thống câu hỏi và sắp
xếp các chi tiết theo trình tự sau:
- Hình dáng, độ lớn của cặp?
- Em hãy kể các bộ phận của cái cặp?
- Cặp làm bằng gì ? màu sắc ra sao?
- Mặt trước, mặt sau của cặp?
- Quai cặp thế nào?
- Nắp cặp, ổ khóa.
- Cặp có mấy ngăn bên trong ?
- Em gìn giữ và sử dụng cặp ra sao?...
Như vậy để quan sát cái cặp, giáo viên hướng dẫn học sinh cần sử dụng
các giác quan như: thị giác (màu sắc, các bộ phận của cặp,..), thính giác(mở
khóa cặp nghe “tách”,..), xúc giác( sờ vào cặp thấy mịn, mềm,…), khứu giác(mở
cặp ra thấy thơm mùi vải mới hoặc nhựa mới,…)
c. Đối với bài văn miêu tả cây cối: Có hai cách quan sát
- Quan sát đặc điểm về hình dáng của cây, các bộ phận của cây hoặc quan sát
theo từng thời kỳ phát triển của cây.
Ví dụ: Với đề bài “Tả cây có bóng mát” có thể dùng hệ thống câu hỏi và
sắp xếp các chi tiết theo trình tự sau:
- Em hãy nêu các bộ phân của cây?

15

- Thân cây thế nào?
- Gốc cây ra sao?
- Nêu đặc điểm của cành cây? Của tán lá? hình dáng của lá?
- Cây có hoa không? Hãy nêu hình dáng màu sắc của hoa?
- Hãy nêu ích lợi của cây?
- Những hoạt động có liên quan đến cây ?
Đối với quan sát cây học sinh cũng cần sử dụng các giác quan như: thị
giác (quan sát dáng cây, thân cây, cành cây, tán lá,…), thính giác( nghe tiếng gió
thổi, lá rơi, chim hót,…), xúc giác(sờ vào thân cây thấy nhám,…), nếu cây có
hoa, quả cần sử dụng khứu giác(ngửi mùi hương của hoa, quả,…), vị giác(nếm
vị ngọt hay chua của quả,…)
4.4. Trong quá trình miêu tả cần sử dụng một số biện pháp nghệ
thuật đã học để bài văn có hồn, sinh động hơn:
a. Tập diễn đạt bằng câu văn có hình ảnh nghệ thuật:
Để dễ tiến hành, tôi gợi ý cho các em trong các tiết luyện tập xây dựng đoạn
văn bằng những câu hỏi dễ hiểu, dễ nhớ. Tôi luôn hướng dẫn các em biết lựa
chọn chi tiết, diễn đạt câu văn bằng hình ảnh và sử dụng được một số biện pháp
nghệ thuật đã học như so sánh, nhân hóa, điệp từ, đảo ngữ,..
* Văn miêu tả con vật: có thể miêu tả hình dáng xen lẫn tính nết hoặc hoạt
động của con vật đồng thời lồng vào nêu cảm xúc của mình đối với con vật mà
mình tả.
Ví dụ: Tả con gà trống do em chăm sóc có em viết: Cái đuôi của chú có nhiều
màu sắc và hơi cong. Nhưng để câu văn sinh động hơn tôi lại hỏi các em :
- Đuôi gà trống nhiều màu sắc gợi cho em hình ảnh gì? (bảy sắc cầu vồng)
- Những hình ảnh đó gợi cho em cảm xúc, suy nghĩ gì? (Trông thật thích mắt).
Sau đó có em sửa lại: Chú có cái đuôi cong như bảy sắc cầu vồng xuất hiện trên
bầu trời sau những trận mưa rào mùa hạ, trông thật thích mắt.
* Văn miêu tả đồ vật: có em viết: Con gấu bông ấy thật đáng yêu. Nó có bộ
lông mềm mại màu hồng điểm chấm đen ở gan bàn chân.
Sau khi học sinh nêu. Tôi cho học sinh nhận xét bằng những gợi ý mở như sau:
- Đề đồ vật có h...
 
Gửi ý kiến