103 Biện pháp giúp học sinh lớp 1 học tốt dạng toán giải có lời văn theo bộ sách Cánh Diều.docx

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:18' 20-02-2024
Dung lượng: 620.0 KB
Số lượt tải: 58
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:18' 20-02-2024
Dung lượng: 620.0 KB
Số lượt tải: 58
Số lượt thích:
0 người
1
PHÒNG GD&ĐT ..........................
TRƯỜNG TH ........................
---------- ----------
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
“Biện pháp giúp học sinh lớp Một học tốt dạng toán
giải có lời văn theo bộ sách Cánh Diều”
Người thực hiện: ……………
2
MỤC LỤC
3
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
1. Tên báo cáo biện pháp: “Biện pháp giúp học sinh lớp Một học tốt dạng toán
giải có lời văn theo bộ sách Cánh Diều”
2. Tác giả:
- Họ và tên:
Nam (nữ): Nam
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
- Chức vụ, đơn vị công tác: Trường TH
- Lớp chủ nhiệm:
- Điện thoại:
Email:
@gmail.com
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn biện pháp
Học sinh lớp một lần đầu tiên đến trường tiểu học, các em được tiếp xúc với môi
trường bên ngoài với nhiều thầy cô giáo mới bạn mới .Trong quá trình học tập
và tham gia các hoạt động khác đã giúp các em hình thành nhân cách. Bên cạnh
đó chúng ta biết rằng kiến thức mà các em cần phải tiếp thu nằm trong sách vở
với nhiều môn học khác nhau trong đó có môn toán.
Môn toán là một trong những môn học cơ sở cung cấp những kiến thức, kỹ
năng cơ bản cho học sinh. Thông qua học môn toán đã giúp cho học sinh
phương pháp suy luận, tư duy, lập luận một cách lôgic, phương pháp giải quyết
vấn đề, từ đó rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo của học sinh.
Ở cấp Tiểu học nói chung dạy học sinh giải toán là giúp học sinh biết cách vận
dụng những kiến thức về toán, rèn luyện kỹ năng thực hành một cách đa dạng
phong phú nhằm phát triển năng lực tư duy, phương pháp suy luận tạo điều kiện
cho việc học tập sau này của các em.
Với học sinh lớp 1 việc giải toán tập trung vào các phép tính cộng, trừ thêm
bớt một số đơn vị ở phần đầu là các bài toán đơn và về cuối chương trình có các
bài toán giải có lời văn. So với các dạng bài trước thì giải các bài toán có lời văn
tuy không hẳn là khó hơn song có nhiều điểm khác và phức tạp hơn bởi vậy khi
giải những bài toán này các em dễ mắc những lỗi, những sai sót.
Để giải toán có lời văn tốt đòi hỏi các em có đầu óc tư duy trừu tượng hơn,
khái quát hơn và đưa về dạng bài cụ thể hơn. Việc này không phải học sinh nào
cũng làm được. Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn trăn trở và suy nghĩ làm thế
nào để giúp học sinh biết giải toán có lời văn dễ dàng hơn. Vì vậy tôi đã đi sâu
về nghiên cứu: “Biện pháp giúp học sinh lớp Một học tốt dạng toán giải có lời
văn theo bộ sách Cánh Diều” nhằm hướng dẫn các em làm bài, khắc phục
những thiếu sót tạo điều kiện cho các em học tập tốt hơn về sau này là vấn đề
cần được quan tâm giải quyết.
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học
mạch kiến thức giải toán có lời văn để HS có kĩ năng giải toán tốt hơn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phần giải toán có lời
văn cho học sinh lớp 1. Trường TH&THCS Nghĩa Bình
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản
sau:
- Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn dạy học
của lớp 1 - Trường.
5
- Đánh giá quá trình dạy toán - Loại bài giải toán có lời văn từ những năm
trước và những năm gần đây .
- Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh .
- Rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu.
2. NỘI DUNG BIỆN PHÁP
2.1. Cơ sở lý luận
“Giải toán có lời văn” là một trong năm mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt
chương trình Toán cấp tiểu học. Thông qua giải toán có lời văn, các em được
phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày,
tính toán.
Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức
của học sinh. Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vào
giải toán kết hợp với kiến thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán học.
Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinh đọc - hiểu biết hướng giải, đưa ra phép tính kèm câu trả lời và đáp số của bài toán.
Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng diễn
đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học.
Đối với trẻ là học sinh lớp 1, môn toán tuy có dễ nhưng để học sinh đọc -hiểu
bài toán có lời văn quả không dễ dàng, vả lại việc viết lên một câu lời giải phù
hợp với câu hỏi của bài toán cũng là vấn đề không đơn giản. Vậy làm thế nào để
giáo viên nói - học sinh hiểu , học sinh thực hành - diễn đạt đúng yêu cầu của
bài toán, từng bước nâng cao chất lượng cho học sinh trong việc giải bài toán có
lời văn đó là mục đích chính của đề tài này.
2.2. Thực trạng của học sinh trong việc giải bài toán có lời văn ở lớp 1
2.2.1. Thực trạng
Học sinh của trường phần lớn là con em trong xã được phân bố trên địa
bàn tương đối rộng và thành phần gia đình đa dạng. Về trình độ dân trí và điều
kiện kinh tế tuy đó được cải thiện nhiều so với trước song vẫn còn sự chênh
lệch, điều kiện của mỗi gia đình cũng khác nhau điều này ít nhiều có tác động
đến quá trình học tập của các em.
Bản thân trong những năm gần đây thường xuyên được nhà trường phân
công giảng dạy ở lớp 1. Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp
1, tôi nhận thấy hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán
có lời văn ở lớp 1. Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai
câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. Nguyên nhân chính là do học sinh
mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các em còn mang
tính trực quan là chủ yếu.
6
Vậy làm thế nào để học sinh nắm được cách giải một cách chắc chắn,
chính xác? Đó chính là mục đích để tôi suy nghĩ và tìm tòi những biện pháp
hướng dẫn học sinh giải toán có hiệu quả nhất.
Kết quả khảo sát đầu năm học ...........được thống kê theo bảng:
Phiếu khảo sát SLHS yêu thích môn Toán
Năm học
TSHS
HS yêu thích môn Toán
HS không yêu thích môn
Toán
SL
SL
TL
TL
Trước khi
áp dụng
Phiếu KS kết quả học tập của HS
Sĩ số
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
SL
SL
TL
TL
TL
Với mong muốn giúp học sinh tránh sai sót và hình thành phương pháp học
tập trong việc giải bài toán có lời văn ở học sinh lớp 1 tôi đó mạnh dạn lựa chọn
nghiên cứu và trình bày đề tài với tiêu đề: “Sáng kiến kinh nghiệm Giúp học
sinh lớp Một học tốt dạng toán giải có lời văn theo bộ sách Cánh Diều” để các
2.2.2. Những nguyên nhân
a. Nguyên nhân từ phía GV:
- GV chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước. Những bài nhìn
hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như HS đều làm
được nên GV tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm mà chỉ tập
trung vào dạy kỹ năng đặt tính, tính toán của HS mà quên mất rằng đó là những
bài toán làm bước đệm, bước khởi đầu của dạng toán có lời văn sau này. Đối với
GV dạy lớp 1 khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, cần cho
HS quan sát tranh tập nêu bài toán và thường xuyên rèn cho HS thói quen nhìn
hình vẽ nêu bài toán. Có thể tập cho những em HS giỏi tập nêu câu trả lời cứ
như vậy trong một khoảng thời gian chuẩn bị như thế thì đến lúc học đến phần
bài toán có lời văn HS sẽ không ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu
và giải đúng .
b. Nguyên nhân từ phía HS:
Do HS mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các em
còn mang tính trực quan là chủ yếu. Mặt khác ở giai đoạn này các em chưa đọc
thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi nhưng
các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc lại nhiều
lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán. Vì vậy HS không làm đúng cũng là điều dễ
7
hiểu. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để HS nắm được cách giải một cách chắc chắn
chính xác?
2.3. Các giải pháp thực hiện
Giải pháp 1: Đọc và tìm hiểu đề toán
Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầu
tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán. Giáo viên cần tổ
chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khóa quan trọng như ” thêm ,
và , tất cả, … ” hoặc “bớt, bay đi, ăn mất, còn lại , …” (có thể kết hợp quan sát
tranh vẽ để hỗ trợ). Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ
ngữ chính trong đề bài. Một số giáo viên còn gạch chân quá nhiều các từ ngữ,
hoặc gạch chân các từ chưa sát với nội dung cần tóm tắt. Khi gạch chân nên
dùng phấn màu khác cho dễ nhìn.
đàm
Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách
thoại ” Bài toán cho gì? Hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm
tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đây là cách rất tốt để
giúp trẻ ngầm phân tích đề toán. Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề
toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi.
Ví dụ: Bài 41 trang 71 sách toán 1 Cánh Diều, giáo viên có thể hỏi:
- Em thấy trên bờ có mấy bạn? (… có 3 bạn)
- Dưới nước có mấy bạn? ( … có 5 bạn)
- Em có bài toán thế nào? (…)
Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáo khoa.
Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu
vật (gà, vịt, …) lên bảng từ (bảng cài, bảng nỉ, …) để thay cho tranh; hoặc dùng
tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán.
* Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:
Cách 1: Tóm tắt bằng lời:
8
Ví dụ :
Tóm tắt:
Ví dụ 2: Tóm tắt:
Ngân : 5 quyển
Lan có : 34 que tính
Hằng : 3 quyển
Hà có : 52 que tính
Cả hai bạn có : … quyển? (A)
Cả hai bạn có : … que tính?
Cách 2: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng( thường chỉ dùng cho giải toán có liên
quan tới độ dài hoặc biểu thị giá trị số )
Ví dụ:
Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ mẫu vật, hình vẽ :
Ví dụ:
Có con thỏ :
Thêm con thỏ:
Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu và dễ sử dụng.
Với cách viết thẳng theo cột như: 34 que tính và 52 que tính; 5 quyển và 3
quyển
Kiểu tóm tắt như vậy khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tác dụng gợi ý
cho học sinh lựa chọn phép tính giải.
Có thể lồng “các câu” lời giải vào trong tóm tắt, để dựa vào đó học sinh dễ viết
câu lời giải hơn. Chẳng hạn, dựa vào dòng cuối của tóm tắt (A) học sinh có thể
viết ngay câu lời giải là : “Cả hai bạn có:” hoặc “Số vở cả hai bạn có:” hoặc:
“Cả hai bạn có số vở là:”. Cần lưu ý trước đây người ta thường đặt dấu ? lên
9
trước các từ như quyển, quả, … Song làm như vậy thì hơi thiếu chuẩn mực về
mặt Tiếng Việt vì tất cả học sinh đều biết là dấu ? phải đặt cuối câu hỏi. Nếu
tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc sơ đồ mẫu vật thì đặt dấu ? ở đằng trước các
từ như quyển, quả ,… cũng được vì các tóm tắt ấy không phải là những câu. Tuy
nhiên học sinh thường có thói quen cứ thấy dấu … là điền số (dấu) vào đó nên
giáo viên cần lưu ý các em là: “Riêng trong trường hợp này (trong tóm tắt ) thì
dấu … thay cho từ “mấy” hoặc “bao nhiêu” ; các em sẽ phải tìm cho ra số đó để
ghi vào đáp số của bài giải chứ không phải để ghi vào chỗ … trong tóm tắt. Nếu
không thể giải thích cho học sinh hiểu được ý trên thì chúng ta cứ quay lại lối
cũ, tức là đặt dấu hỏi (?) ra đằng trước theo kiểu “Còn ? quả” cũng được, không
nên quá cứng nhắc.
Giải pháp 2: Xác định cách giải bài toán.
Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu một bài
toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen.
(Bài 5- trang 137 sách toán 1 Cánh Diều)
* Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải
tìm, chẳng hạn:
- Bài toán cho biết gì? (Mẹ làm 25 bánh rán ngọt)
- Còn cho biết gì nữa? (Mẹ làm thêm 20 bánh rán mặn)
- Bài toán hỏi gì? (Mẹ làm được tất cả bao nhiêu chiếc bánh?)
Giáo viên nêu tiếp:
“Muốn biết Mẹ làm được bao nhiêu chiếc bánh em làm phép tính gì? (Lấy số
bánh rán ngọt đã có cộng với số bánh rán ngọt làm thêm)
10
Mấy cộng mấy? (25 + 20) ;
25 + 20 bằng mấy? (25 + 20 = 45);
hoặc: “Muốn biết Mẹ làm được bao nhiêu chiếc bánh em làm thế nào? (25 + 20
= 45); hoặc: “Mẹ làm có tất cả mấy chiếc bánh ?”(45) Em tính thế nào để được
45? (25 + 20 = 45). Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp “45 này là 45
chiếc bánh”, nên ta viết “chiếc bánh” vào trong dấu ngoặc đơn:25 + 20 = 45
(chiếc bánh).
Người viết
Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499
PHÒNG GD&ĐT ..........................
TRƯỜNG TH ........................
---------- ----------
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
“Biện pháp giúp học sinh lớp Một học tốt dạng toán
giải có lời văn theo bộ sách Cánh Diều”
Người thực hiện: ……………
2
MỤC LỤC
3
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
1. Tên báo cáo biện pháp: “Biện pháp giúp học sinh lớp Một học tốt dạng toán
giải có lời văn theo bộ sách Cánh Diều”
2. Tác giả:
- Họ và tên:
Nam (nữ): Nam
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
- Chức vụ, đơn vị công tác: Trường TH
- Lớp chủ nhiệm:
- Điện thoại:
Email:
@gmail.com
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn biện pháp
Học sinh lớp một lần đầu tiên đến trường tiểu học, các em được tiếp xúc với môi
trường bên ngoài với nhiều thầy cô giáo mới bạn mới .Trong quá trình học tập
và tham gia các hoạt động khác đã giúp các em hình thành nhân cách. Bên cạnh
đó chúng ta biết rằng kiến thức mà các em cần phải tiếp thu nằm trong sách vở
với nhiều môn học khác nhau trong đó có môn toán.
Môn toán là một trong những môn học cơ sở cung cấp những kiến thức, kỹ
năng cơ bản cho học sinh. Thông qua học môn toán đã giúp cho học sinh
phương pháp suy luận, tư duy, lập luận một cách lôgic, phương pháp giải quyết
vấn đề, từ đó rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo của học sinh.
Ở cấp Tiểu học nói chung dạy học sinh giải toán là giúp học sinh biết cách vận
dụng những kiến thức về toán, rèn luyện kỹ năng thực hành một cách đa dạng
phong phú nhằm phát triển năng lực tư duy, phương pháp suy luận tạo điều kiện
cho việc học tập sau này của các em.
Với học sinh lớp 1 việc giải toán tập trung vào các phép tính cộng, trừ thêm
bớt một số đơn vị ở phần đầu là các bài toán đơn và về cuối chương trình có các
bài toán giải có lời văn. So với các dạng bài trước thì giải các bài toán có lời văn
tuy không hẳn là khó hơn song có nhiều điểm khác và phức tạp hơn bởi vậy khi
giải những bài toán này các em dễ mắc những lỗi, những sai sót.
Để giải toán có lời văn tốt đòi hỏi các em có đầu óc tư duy trừu tượng hơn,
khái quát hơn và đưa về dạng bài cụ thể hơn. Việc này không phải học sinh nào
cũng làm được. Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn trăn trở và suy nghĩ làm thế
nào để giúp học sinh biết giải toán có lời văn dễ dàng hơn. Vì vậy tôi đã đi sâu
về nghiên cứu: “Biện pháp giúp học sinh lớp Một học tốt dạng toán giải có lời
văn theo bộ sách Cánh Diều” nhằm hướng dẫn các em làm bài, khắc phục
những thiếu sót tạo điều kiện cho các em học tập tốt hơn về sau này là vấn đề
cần được quan tâm giải quyết.
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học
mạch kiến thức giải toán có lời văn để HS có kĩ năng giải toán tốt hơn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phần giải toán có lời
văn cho học sinh lớp 1. Trường TH&THCS Nghĩa Bình
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản
sau:
- Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn dạy học
của lớp 1 - Trường.
5
- Đánh giá quá trình dạy toán - Loại bài giải toán có lời văn từ những năm
trước và những năm gần đây .
- Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh .
- Rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu.
2. NỘI DUNG BIỆN PHÁP
2.1. Cơ sở lý luận
“Giải toán có lời văn” là một trong năm mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt
chương trình Toán cấp tiểu học. Thông qua giải toán có lời văn, các em được
phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày,
tính toán.
Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức
của học sinh. Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vào
giải toán kết hợp với kiến thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán học.
Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinh đọc - hiểu biết hướng giải, đưa ra phép tính kèm câu trả lời và đáp số của bài toán.
Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng diễn
đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học.
Đối với trẻ là học sinh lớp 1, môn toán tuy có dễ nhưng để học sinh đọc -hiểu
bài toán có lời văn quả không dễ dàng, vả lại việc viết lên một câu lời giải phù
hợp với câu hỏi của bài toán cũng là vấn đề không đơn giản. Vậy làm thế nào để
giáo viên nói - học sinh hiểu , học sinh thực hành - diễn đạt đúng yêu cầu của
bài toán, từng bước nâng cao chất lượng cho học sinh trong việc giải bài toán có
lời văn đó là mục đích chính của đề tài này.
2.2. Thực trạng của học sinh trong việc giải bài toán có lời văn ở lớp 1
2.2.1. Thực trạng
Học sinh của trường phần lớn là con em trong xã được phân bố trên địa
bàn tương đối rộng và thành phần gia đình đa dạng. Về trình độ dân trí và điều
kiện kinh tế tuy đó được cải thiện nhiều so với trước song vẫn còn sự chênh
lệch, điều kiện của mỗi gia đình cũng khác nhau điều này ít nhiều có tác động
đến quá trình học tập của các em.
Bản thân trong những năm gần đây thường xuyên được nhà trường phân
công giảng dạy ở lớp 1. Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp
1, tôi nhận thấy hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán
có lời văn ở lớp 1. Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai
câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. Nguyên nhân chính là do học sinh
mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các em còn mang
tính trực quan là chủ yếu.
6
Vậy làm thế nào để học sinh nắm được cách giải một cách chắc chắn,
chính xác? Đó chính là mục đích để tôi suy nghĩ và tìm tòi những biện pháp
hướng dẫn học sinh giải toán có hiệu quả nhất.
Kết quả khảo sát đầu năm học ...........được thống kê theo bảng:
Phiếu khảo sát SLHS yêu thích môn Toán
Năm học
TSHS
HS yêu thích môn Toán
HS không yêu thích môn
Toán
SL
SL
TL
TL
Trước khi
áp dụng
Phiếu KS kết quả học tập của HS
Sĩ số
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
SL
SL
TL
TL
TL
Với mong muốn giúp học sinh tránh sai sót và hình thành phương pháp học
tập trong việc giải bài toán có lời văn ở học sinh lớp 1 tôi đó mạnh dạn lựa chọn
nghiên cứu và trình bày đề tài với tiêu đề: “Sáng kiến kinh nghiệm Giúp học
sinh lớp Một học tốt dạng toán giải có lời văn theo bộ sách Cánh Diều” để các
2.2.2. Những nguyên nhân
a. Nguyên nhân từ phía GV:
- GV chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước. Những bài nhìn
hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như HS đều làm
được nên GV tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm mà chỉ tập
trung vào dạy kỹ năng đặt tính, tính toán của HS mà quên mất rằng đó là những
bài toán làm bước đệm, bước khởi đầu của dạng toán có lời văn sau này. Đối với
GV dạy lớp 1 khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, cần cho
HS quan sát tranh tập nêu bài toán và thường xuyên rèn cho HS thói quen nhìn
hình vẽ nêu bài toán. Có thể tập cho những em HS giỏi tập nêu câu trả lời cứ
như vậy trong một khoảng thời gian chuẩn bị như thế thì đến lúc học đến phần
bài toán có lời văn HS sẽ không ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu
và giải đúng .
b. Nguyên nhân từ phía HS:
Do HS mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các em
còn mang tính trực quan là chủ yếu. Mặt khác ở giai đoạn này các em chưa đọc
thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi nhưng
các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc lại nhiều
lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán. Vì vậy HS không làm đúng cũng là điều dễ
7
hiểu. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để HS nắm được cách giải một cách chắc chắn
chính xác?
2.3. Các giải pháp thực hiện
Giải pháp 1: Đọc và tìm hiểu đề toán
Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầu
tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán. Giáo viên cần tổ
chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khóa quan trọng như ” thêm ,
và , tất cả, … ” hoặc “bớt, bay đi, ăn mất, còn lại , …” (có thể kết hợp quan sát
tranh vẽ để hỗ trợ). Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ
ngữ chính trong đề bài. Một số giáo viên còn gạch chân quá nhiều các từ ngữ,
hoặc gạch chân các từ chưa sát với nội dung cần tóm tắt. Khi gạch chân nên
dùng phấn màu khác cho dễ nhìn.
đàm
Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách
thoại ” Bài toán cho gì? Hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm
tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đây là cách rất tốt để
giúp trẻ ngầm phân tích đề toán. Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề
toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi.
Ví dụ: Bài 41 trang 71 sách toán 1 Cánh Diều, giáo viên có thể hỏi:
- Em thấy trên bờ có mấy bạn? (… có 3 bạn)
- Dưới nước có mấy bạn? ( … có 5 bạn)
- Em có bài toán thế nào? (…)
Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáo khoa.
Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu
vật (gà, vịt, …) lên bảng từ (bảng cài, bảng nỉ, …) để thay cho tranh; hoặc dùng
tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán.
* Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:
Cách 1: Tóm tắt bằng lời:
8
Ví dụ :
Tóm tắt:
Ví dụ 2: Tóm tắt:
Ngân : 5 quyển
Lan có : 34 que tính
Hằng : 3 quyển
Hà có : 52 que tính
Cả hai bạn có : … quyển? (A)
Cả hai bạn có : … que tính?
Cách 2: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng( thường chỉ dùng cho giải toán có liên
quan tới độ dài hoặc biểu thị giá trị số )
Ví dụ:
Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ mẫu vật, hình vẽ :
Ví dụ:
Có con thỏ :
Thêm con thỏ:
Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu và dễ sử dụng.
Với cách viết thẳng theo cột như: 34 que tính và 52 que tính; 5 quyển và 3
quyển
Kiểu tóm tắt như vậy khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tác dụng gợi ý
cho học sinh lựa chọn phép tính giải.
Có thể lồng “các câu” lời giải vào trong tóm tắt, để dựa vào đó học sinh dễ viết
câu lời giải hơn. Chẳng hạn, dựa vào dòng cuối của tóm tắt (A) học sinh có thể
viết ngay câu lời giải là : “Cả hai bạn có:” hoặc “Số vở cả hai bạn có:” hoặc:
“Cả hai bạn có số vở là:”. Cần lưu ý trước đây người ta thường đặt dấu ? lên
9
trước các từ như quyển, quả, … Song làm như vậy thì hơi thiếu chuẩn mực về
mặt Tiếng Việt vì tất cả học sinh đều biết là dấu ? phải đặt cuối câu hỏi. Nếu
tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc sơ đồ mẫu vật thì đặt dấu ? ở đằng trước các
từ như quyển, quả ,… cũng được vì các tóm tắt ấy không phải là những câu. Tuy
nhiên học sinh thường có thói quen cứ thấy dấu … là điền số (dấu) vào đó nên
giáo viên cần lưu ý các em là: “Riêng trong trường hợp này (trong tóm tắt ) thì
dấu … thay cho từ “mấy” hoặc “bao nhiêu” ; các em sẽ phải tìm cho ra số đó để
ghi vào đáp số của bài giải chứ không phải để ghi vào chỗ … trong tóm tắt. Nếu
không thể giải thích cho học sinh hiểu được ý trên thì chúng ta cứ quay lại lối
cũ, tức là đặt dấu hỏi (?) ra đằng trước theo kiểu “Còn ? quả” cũng được, không
nên quá cứng nhắc.
Giải pháp 2: Xác định cách giải bài toán.
Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu một bài
toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen.
(Bài 5- trang 137 sách toán 1 Cánh Diều)
* Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải
tìm, chẳng hạn:
- Bài toán cho biết gì? (Mẹ làm 25 bánh rán ngọt)
- Còn cho biết gì nữa? (Mẹ làm thêm 20 bánh rán mặn)
- Bài toán hỏi gì? (Mẹ làm được tất cả bao nhiêu chiếc bánh?)
Giáo viên nêu tiếp:
“Muốn biết Mẹ làm được bao nhiêu chiếc bánh em làm phép tính gì? (Lấy số
bánh rán ngọt đã có cộng với số bánh rán ngọt làm thêm)
10
Mấy cộng mấy? (25 + 20) ;
25 + 20 bằng mấy? (25 + 20 = 45);
hoặc: “Muốn biết Mẹ làm được bao nhiêu chiếc bánh em làm thế nào? (25 + 20
= 45); hoặc: “Mẹ làm có tất cả mấy chiếc bánh ?”(45) Em tính thế nào để được
45? (25 + 20 = 45). Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp “45 này là 45
chiếc bánh”, nên ta viết “chiếc bánh” vào trong dấu ngoặc đơn:25 + 20 = 45
(chiếc bánh).
Người viết
Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499
 








Các ý kiến mới nhất