Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ĐIỂN HAY TÍCH LẠ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:53' 19-02-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Mục lục
Hằng Nga Và Hậu Nghệ
Cưỡi Rồng, Bói Phượng
Đằng Vương Các Tự
Khúc Đàn Thủy Tiên
Để Thiếp Theo Chồng Mấy Dặm Khơi
Đồng Tước Đài
Chức Cẩm Hồi Văn
Vành Ngoài, Vành Trong
Vạn Lý Tìm Chồng
Khúc Phượng Cầu Hoàng
Củi Đậu Đun Hột Đậu
Bi Ca Tán S ở
Động Bích Đào
Gấm Nàng Ban
Đông S àng Với Thiếp Lan Đình
Khúc Trường Tương Tư
Giảo Thố Tam Quật
Đổi Mỹ Nhân Lấy Ngựa
Trường Môn Phú
Trúc Mai
Lão Tiều Phu Hay Con Hạc Đen
Hà Đông S ư Tử
Lá Thắm Đưa Duyên
Lam Kiều
Đào Yêu
Động Đào Nguyên

Mười Bài Thơ Đoạn Trường
Khúc Hậu Đình Hoa
Gương Vỡ Lại Lành
Giấm Chua
Cái "Gia Gia"
Hồ Than Thở
Nghiêng Nước Nghiêng Thành
Khúc Nghê Thường Vũ Y
Trao Tơ, Gieo Cầu
Núi Vọng Phu
Trống Cơm
Kê Khang Này Khúc Quảng Lăng…
Con "Quốc Quốc"
Khối Tình Mang Xuống Tuyền Đài Chưa Tan
Trường Hận Ca
Hoa Đào Năm Ngoái …
Tiếng Đàn Tri Âm
Liễu Chương Đài
Tuyệt Diệu Hảo Từ
Nam Tào, Bắc Đẩu
Bách Bộ Xuyên Dương
Chắp Cánh, Liền Cành
Gậy Rút Đất
Kết Cỏ Ngậm Vành

ĐIỂN HAY TÍCH LẠ - QUYỂN 1
Nguyễn Tử Quang
www.dtv-ebook.com
Hằng Nga Và Hậu Nghệ
Trong "Bích Câu kỳ ngộ" của Vô Danh có câu:
Hay là lỗi sổ Hằng Nga,
Đêm đông vò võ, bóng tà sao thưa.
Nghĩ tình nên những ngẩn ngơ...
Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều,
đoạn ca tụng sắc đẹp của nàng cung nữ, có câu:
Hương trời đắm nguyệt say hoa,
Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đời nhà Trần
(1225-1400) kêu gọi tướng sĩ, trong một bài hịch có
đoạn "Nay ta bảo thật các ngươi nên cẩn thận như củi

lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện
tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe
như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan
được quân giặc, mà lập nên được công danh."
Hằng Nga và Hậu Nghệ là hai nhân vật thần thoại
được dùng trong Cổ văn Trung Hoa và Việt Nam.
Hằng Nga trong cung trăng: Theo sách của Hoài
Nam Tử, Hậu Nghệ xin thuốc trường sinh của bà Tây
Vương Mẫu, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ uống trộm,
chạy lên cung trăng.
Người chặt cây quế trong cung trăng: Theo sách
"Dậu dương tạp trở", trong mặt trăng có cây quế cao
500 trượng, dưới gốc cây có một người ngồi chặt mãi,
nhưng chặt xong, dấu chặt lại liền như cũ. Người ấy tên
Ngô Cương, quê ở Tây Hà, tu tiên có lỗi bị phạt chặt
cây.
Con thỏ trong mặt trăng: Theo sách "Ngũ thông kinh
nghĩa", trong mặt trăng có con thỏ hay con cóc.

Ông già dưới trăng: Sách "Tục U quái lục" có chép:
đời nhà Đường, Vi Cố đến Nam Điện ở Tống thành, thấy
ông già xem sách dưới trăng. Vi Cố hỏi sách gì? Ông già
đáp: Sổ hôn nhân thiên hạ. Vi Cố hỏi hôn nhân của mình
thì ông lão bảo: ở chợ có bà già chột mắt bồng đứa bé 3
tuổi; đứa bé ấy sau là vợ. Vi Cố ra chợ bắt gặp người đàn
bà như lời ông lão nên tức giận mướn người giết con bé
ấy. May mắn, người đàn bà bồng đứa bé chạy thoát. Đứa
bé chỉ bị thương xoàng. Mười bốn năm sau, Thứ Sử đất
Dương Châu là Vương Thái gả con cho Vi Cố. Thiếu nữ
ấy rất đẹp, nhưng cuối mày có một vết thẹo nhỏ. Cố hỏi
nguyên cớ. Nàng trả lời: hồi lên 3 tuổi, người vú họ Trần
bồng đi chợ bị một tên côn đồ đâm trúng. Cố hỏi người
vú họ Trần có chột mắt không. Nàng nói có rồi kể lại
chuyện cũ.
Tích Hậu Nghệ: Theo "Sơn hải kinh", trên hang
Dương phía bắc nước Răng Đen có cây Phù tang to lớn
sống ở dưới nước, 9 mặt trời ở cành dưới; 1 mặt trời ở
cành trên. Theo sách của Hoài Nam Tử, đời vua Nghiêu,
10 mặt trời cùng mọc một lần làm cây cỏ khô héo, vua
Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn 10 mặt trời, có 9 con quạ rớt

lông cánh xuống.
Theo kinh Thư, vua nước Hữu Cùng là Hậu Nghệ vì
dân không phục, nổi lên kháng cự tại sông Hà. Sách "Tả
Truyện" có chép: khi nhà Hạ suy, Hậu Nghệ nhờ sức ủng
hộ của dân chúng được lên làm vua thay thế nhà Hạ. Về
sau, Nghệ ỷ mình bắn giỏi, không lo chính sự, dâm bạo
hơn thú dữ, dân oán ghét nổi lên giết chết, lại lóc thịt bắt
con của Nghệ ăn. Không nỡ ăn thịt cha, con của Nghệ
cũng bị giết luôn.
Trong bản dịch thần thoại "Lên cung trăng" của nhà
văn hào Trung Hoa là Ngô Tổ Quang có chép:
Một thời đại rất xa xưa...
Lúc bấy giờ con người được tự do, không bị áp bức
chiến tranh, người hiếp bức người. Ai làm nấy ăn. Mặt
trời mọc, đi làm; mặt trời lặn, về nghỉ. Đói có hoa quả;
khát có nước suối.
Con người bấy giờ không có họa người, chỉ có họa
trờị Để tránh gió mưa, rét mướt, loài người đốn cây làm

nhà, dệt vải may áo... Ngày tháng trôi qua, con người
dùng kinh nghiệm và lao lực để cải thiện đời sống, mưu
lấy sự hạnh phúc thanh bình.
Nhưng, một hôm thình lình xảy ra một thiên tai dữ
dội. Khắp dưới gầm trời đâu đâu cũng bị đại hạn. Nắng
như lửa thiêu, đốt cháy tất cả làm cho sinh linh dậm đất
kêu trời. Trên đường, thây người, thây thú chồng chất
dẫy đầy.
Nguyên ở gò Đất cuối biển Đông có hang Dương.
Nơi đây 10 con quạ vàng vâng lệnh Thượng Đế thay
nhau ban ánh sáng cho vạn vật. Trên hang có cây Phù
tang cao vút tận trời. Chín con quạ ở cành dưới, một
con quạ ở cành trên. Từ ngàn xưa chỉ có một con ra
khỏi biển hóa thành mặt trời, ngày ngày tháng tháng
chiếu ánh sáng xuống mặt đất làm cho mưa hòa, gió
thuận, vạn vật sinh hóa. Nhưng bất ngờ, một hôm bốn
biển chuyển động, đất lở núi rung, cây Phù tang quay
cuồng, vì 10 con quạ vàng tranh nhau xuất hiện một
lượt.
Thế là nắng như lửa thiêu, đốt cháy cả vạn vật. Ban

đầu, người ta còn ngâm mình dưới nước, núp trong hang
núi... nhưng rồi, đầm nước, dòng suối đều hóa thành
những vạc nước sôi. Đất bằng bỗng chốc lửa dậy làm
cho nhân dân điêu đứng, đời người biến thành địa ngục.
Đương lúc tiếng khóc, tiếng kêu gào kinh khủng của
nhân dân, bỗng có một vị anh hùng xuất hiện.
Vị anh hùng đó có tên Hậu Nghệ, sinh ở biển Đông,
nước Hữu Cùng. Người võ nghệ phi thường, sức người
có thể bạt núi lấp sông, giỏi nghề kỵ xạ. Hậu Nghệ có lại
hai người học trò tên Phùng Mông và Ngô Cương đều
có tài xuất chúng.
Trông thấy 10 con quạ vàng hoành hành dữ tợn làm
cho nhà cửa tiêu tan, đồng ruộng khô cháy, Nghệ vừa
hoảng kinh vừa tức giận, đem lòng thương xót sinh linh,
và nghĩ đến mối liên hệ với thân mạng mình nên mang
10 mũi tên thần, giương cung 10 tạ lên quyết bắn 10 con
quạ vàng cho tiêu ra tro bụi.
Nhưng ánh sáng rạng chói làm cho mắt đổ hào
quang, không thể nhìn lên được. Nghệ bực tức, đứng

tựa góc biển chân trời không do dự bắn luôn mấy phát.
Những nơi có tên của Nghệ bắn tới thì nóng cháy nguội
dần, ánh sáng êm dịu. Những lông cánh sắc màu của lũ
quạ đua nhau rớt xuống. Một làn không khí mát mẻ bắt
đầu.
Trông thấy chín con quạ chết, Nghệ lại muốn giương
cung bắn nữa, nhưng Phùng Mông ngăn lại:
- Thưa thầy! Nếu thầy bắn chết cả thì vũ trụ sẽ trở
nên đen tối mất.
Nghệ "à" một tiếng, hạ cung xuống.
Bấy giờ núi sông trở lại như xưa, cây cỏ tươi tốt. Đâu
đâu cũng vang dậy tiếng hò reo hoan lạc. Nhân dân ca
tụng công ơn vĩ đại của Hậu Nghệ, tôn thờ Nghệ là một
vị cứu tinh, trọng quý Nghệ hơn mẹ cha. Sơn hào hải vị,
họ đem dâng cho Nghệ dùng.
Hậu Nghệ lên làm Hoàng đế.
Mười năm sau.

Nhân dân trước kia bị tai ách của 10 con quạ vàng
thì nay lại mang phải tai ách do Hậu Nghệ gieo rắc.
Nghệ ỷ mình có tài, tự kiêu là cứu dân, vậy dân phải
làm tôi mọi mới xứng đáng đền đáp công ơn ấy. Nghệ
chiếm hết thịt rừng, tài sản của nhân dân. Cả đến một
con gà, một miếng bánh... cũng không thoát qua tay
cướp đoạt của Nghệ.
Nghệ lại tự hào là mình sẽ sống mãi vì có Linh chi
dược thảo do ông tiên ban cho.
Nhân dân bấy giờ sống trong tình trạng cực kỳ thảm
khốc. Từng đám dân nghèo đói, quần áo rách nát, thân
trụi mình trần, mặt mũi hốc hác vàng hoe, gục đầu vào
đất kiếm rễ cây ăn. Vài xác người thắt cổ lơ lửng trên
cành cây làm mồi cho đàn quạ đương đảo qua lượn lại.
Bấy giờ núi rừng hoang vu xơ xác, cành khô lá úa,
năm ba gốc cây còn lại nhưng trơ trọi, cằn cỗi.
Ngày trước, Nghệ được bá tánh hoan hô vang dậy. Ai
ai cũng trìu mến vâng theo Nghệ đi ra, cả ngàn người

chạy theo quỳ lạy chúc tụng. Ngày nay, nhân dân oán
ghét căm thù. Nghệ đi đến đâu, bá tánh bỏ chạy đến đó.
Nghệ nhục nhã, tức giận ra lệnh cho học trò là Ngô
Cương tàn sát hàng triệu sinh linh. Bị đói rách, bị giết
chóc, nhân dân đau khổ, nỗi uất hận căm hờn ngùn ngụt
cao mấy tầng mây.
Phùng Mông can gián không được, bỏ Nghệ theo
đám dân nghèo võ trang đánh lại thầy.
Vợ của Hậu Nghệ là Hằng Nga.
Nàng là con nhà nghèo ở một cánh đồng hoang
phương Bắc. Nhưng nàng là con chim phượng hoàng, là
đóa hoa khôi sắc đẹp tuyệt vời.
Ngô Cương vâng lệnh thầy đi tìm người làm hoàng
hậu. Đến phương Bắc, Ngô Cương bắt Hằng Nga về
dâng cho Nghệ. Hằng Nga được Nghệ sủng ái, giao giữ
cỏ Linh chi.
Hằng Nga vì bị bắt, bỏ cha xa mẹ, quyết liệt đòi về.
Nghệ sợ Hằng Nga trốn trong khi Nghệ đi săn tìm thịt

nên truyền cho Ngô Cương canh gác, không cho Hằng
Nga rời khỏi cung. Hằng Nga buồn tủi, ngày ngày chỉ
làm bạn cùng con Ngọc thỏ trong cung lạnh.
Trước sự tàn bạo của chồng, Hằng Nga không
khuyên ngăn được; và biết rằng nếu chồng sống mãi thì
càng làm nhiều tội ác, nhân dân đau khổ càng nhiều nên
nàng nuốt cỏ Linh chi, để Nghệ không còn dùng cỏ tiên
mà trường sinh nữa.
Nuốt xong, Hằng Nga mặt mày xây xẩm một lúc, rồi
thấy mình nhẹ bổng như không. Một đám mây ngũ sắc
dưới chân Hằng Nga từ từ đưa Hằng Nga bay lên, Ngọc
thỏ chồm nhảy theo. Hằng Nga đưa tay dắt rồi từ từ bay
qua cửa sổ thẳng lên cung trăng.
Hậu Nghệ đi săn thịt trở về, thấy mất Hằng Nga, tức
giận Ngô Cương vì để Hằng Nga trốn thoát, nên bóp cổ
Ngô Cương cho đến chết.
Nghệ chạy lại cửa sổ trông lên mặt trăng.
Ánh trăng sáng vằng vặc chiếu vào mặt. Hình bóng

của vợ thấy thấp thoáng trong trăng. Nghệ giương đôi
mắt tròn xoe nhìn. Thốt nhiên, Nghệ thét bọn vệ sĩ mang
cung tên lại. Chúng khệ nệ khiêng chiếc cung và ba mũi
tên lớn trên tường xuống. Nghệ đứng thẳng người như
một trụ đá to, râu tóc dựng ngược, đôi mắt sáng quắc,
không khác cảnh ngày xưa Nghệ bắn mặt trờị Nghệ lắp
tên căng thẳng dây cung bắn lên.
Hai phát tên bay ra, mặt trăng lung lay.
Nhưng mũi tên thứ ba bật khỏi dây cung, mặt trăng
vẫn sáng chói như trước, không hề hấn gì. Nghệ hạ
cung xuống, mặt mày buồn nghiến, im lặng, đau khổ.
Bỗng một cụ già hiện xuống.
Hậu Nghệ giựt mình, nhìn ra là ông lão đã cho mình
Linh chi thảo cách mười năm về trước.
Cụ già liệng 3 mũi tên xuống đất, điềm đạm nói:
- Già xin hỏi cố nhân. Ngày trước hạnh ngộ, già có
nhắn nhủ cố nhân việc trị đời không khó. Phải thực hành
nhân chính, quên mình để lo cho người. Mình phải lo

trước người lo và chỉ vui sau khi người vui. Dân quý
nhứt, nước thứ nhì, vua sau hết. Cố nhân sẵn sàng vâng
nghe, nên già thể theo lời yêu cầu tha thiết của cố nhân
là muốn sống mãi để hoàn thành sự nghiệp, vì đời sống
con người thì hữu hạn mà sự nghiệp thì vô cùng, mới
cho Linh chi thảo. Vậy mà khi cầm lấy quyền, cố nhân
lại quên mất lời. Dân không sợ chết, sao lấy sự chết
chóc trị thiên hạ. Bao nhiêu năm trời loạn lạc đau
thương, giờ đây lòng người ly tán, sự nghiệp tan hoang,
cố nhân còn chưa tỉnh hay sao Kìa, nghĩa quân đã hò reo
tứ phía, cố nhân đã nghe chưa?
Hậu Nghệ hai tay ôm đầu, giọng nói thiểu não:
- Nghệ ăn năn, xin cụ chỉ giáo.
- Việc đã qua rồi, ăn năn không kịp. Chỉ có cách cố
nhân bỏ sắc phục hoàng đế, ăn năn hối lỗi thì mới có cơ
cứu vãn.
Hậu Nghệ cả giận, quắc mắt, quát:
- Lão già khốn! Thừa lúc hiểm nguy của ta mà sỉ

nhục ta sao?
Vừa nói vừa rút gươm chém ông lão.
Cụ già bình thản đưa tay hất gươm rạ Hậu Nghệ rùng
mình lui lại ngồi xuống. Cụ già mỉm cười:
- Cố nhân đến nước cùng mà còn hiếu sát. Kìa, cố
nhân hãy nhìn xem.
Giữa lúc ấy...
Bên ngoài có tiếng chém giết lẫn tiếng hò reo vang
dậy. Nghĩa quân bao vây tứ phía dưới sự chỉ huy của
Phùng Mông.
Bóng trăng khuất dần. Cụ già biến mất.
Lửa cháy khắp nơi.
Tiếng la vang:
- Tiến! Tiến!
Nghệ rút gươm xông tới, Phùng Mông đưa gươm

ngăn. Cả hai đánh nhau. Nghĩa quân ào đến. Hậu Nghệ
kiệt sức bỏ chạy. Đám dân đói rách cầm hèo gậy chận
lại Nhìn qua tứ phía, nơi nào cũng có nghĩa quân. Phùng
Mông kêu lên:
- Hậu Nghệ! Hậu Nghệ! Thầy làm việc bất nghĩa,
ngày nay tự xử lấy, đừng để bọn ta ra tay.
Hậu Nghệ đứng dậy, dậm chân, cất tiếng cười đau
đớn rồi đưa gươm đâm mạnh vào cổ. Xác Nghệ ngã
xuống giữa tiếng reo hò của nghĩa quân.
Trong cung trăng, bên cây quế cao trăm trượng, sắc
vàng, mùi thơm bát ngát, Ngô Cương cầm búa chặt mãi
cây quế nhưng cây quế không sứt mẻ mà vẫn càng cao
càng lớn, càng tươi. Hắn bị đọa vì tính hiếu sát theo
thầy. Cây quế bị chặt nhưng không hề hấn, nhân dân bị
tàn sát nhưng nhân dân làm sao hết được.
Bên cạnh, Hằng Nga ngồi xem Ngọc thố tán thuốc.
Thỉnh thoảng, nàng lại thở dài, sa nước mắt. Nàng còn
luyến tiếc cảnh trần gian. Vì trần gian đã chịu bao tai
nạn: lụt lội, hạn hán, nắng lửa mưa dầu, binh đao chém

giết, máu chảy thành sông, xương người thành núi; ngày
nay nhân dân đã khắc phục được mọi tai ách rồi. Kìa
từng đám người nô nức đương cày cấy, ca hát vui
mừng; và xa xa làn khói lam chiều vẩn vơ quyện trên
những mái nhà nhỏ ấm cúng, Hằng Nga tưởng nơi đây
có lẽ là phương Bắc, quê hương yêu dấu của nàng.
Ở đây, quanh năm vắng lạnh, chẳng có bốn mùa
Xuân, Hạ, Thu, Đông. Muôn vật không sinh, không hóa.
Trăm hoa không nở không tàn. Chán chường cảnh lẻ loi,
hiu quạnh quá, Hằng Nga muốn trở về trần thế. Nhưng
vì đã ăn cỏ Linh chi, nàng không bao giờ chết, lại trẻ đẹp
mãi và muôn năm vẫn sống hoang liêu trong cung
Quảng Hàn này.
Nhìn ra ngoài không thấy thế gian đâu nữa, tư bề
lạnh lẽo âm u, Hằng Nga bất giác xót xa đau đớn, nước
mắt chảy ròng.
Sau tấm bình phong bóng đuốc xa,
Sao mai lặn hết, vắng Ngân Hà.

Hằng Nga hối cắp Linh chi thảo,
Sống mãi nhìn trời dạ xót xa.

ĐIỂN HAY TÍCH LẠ - QUYỂN 1
Nguyễn Tử Quang
www.dtv-ebook.com
Cưỡi Rồng, Bói Phượng
Dời Chu Tương Vương (651-617 trước D.L.), Tần
Mục Công làm bá chủ các nước ở tây phương. Nhà vua
có một người con gái. Lúc mới sinh, gặp có kẻ dâng
viên ngọc phác, Tần Mục Công sai thợ giũa, thành một
viên ngọc sắc biếc và đẹp lắm.
Đến khi cô gái đầy tuổi tôi, trong cung bày đồ toái
bàn, nàng nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía mãi, mới
đặt tên nàng là Lộng Ngọc.
Lớn lên, Lộng Ngọc nhan sắc đẹp tuyệt trần. Tính
trời thông minh, nàng có tài thổi ống sinh hay lắm,
không học ai mà thành âm điệu. Tần Mục Công sai thợ
làm ống sinh bằng ngọc để cho nàng thổị Nàng thổi ống
sinh ấy, tiếng trong như tiếng chim phượng.
Tần Mục Công cưng lắm, lập cái lầu để cho nàng ở,

tên là Phượng Lâu. Trước lầu có xây một đài gọi là
Phượng Đài. Năm Lộng Ngọc lên 15, Tần Mục Công
muốn tìm một người giai tế, Lộng Ngọc thề: nếu có
người nào có tài thổi ống sinh họa được với nàng thì mới
chịu lấy làm chồng.
Tần Mục Công sai sứ đi tìm, nhưng không có ai cả.
Một hôm, Lộng Ngọc ngồi trên lầu, vén rèm ngắm
cảnh. Bấy giờ trời quang mây tạnh, vừng trăng sáng tỏ
như gương, nàng truyền cho thị nữ đốt một lò hương rồi
đem ống sinh ra thổi. Bỗng nghe tiếng tiêu từ đâu họa lại,
lúc gần lúc xa. Lộng Ngọc lấy làm lạ, dừng ống sinh lại
không thổi nữa, lắng tai nghe giọng tiêu ấy chỉ còn dư
âm văng vẳng. Lộng Ngọc ngẩn ngơ, lưỡng lự thao thức
canh chầy, đoạn đặt ống sinh ở đầu giường rồi nằm ngủ.
Giữa lúc ấy, nàng bỗng thấy trên trời về phía tây
nam, cửa mở rộng, hào quang ngũ sắc rực rỡ như ban
ngày, có một chàng thiếu niên, mũ lông áo bạc, cưỡi con
chim phượng từ trên trời sa xuống, đứng trước Phượng
Đài. Chàng bảo nàng:

- Ta đây là chủ núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng Thượng
Đế cho ta kết duyên với nàng. Đến ngày Trung Thu này
thì đôi ta gặp nhau. Ấy là duyên số đã định sẵn như vậy.
Nói xong, chàng đưa tay rút ống ngọc tiêu bên mình,
rồi đứng tựa lan can mà thổi. Con chim phượng đứng
bên cũng giương cánh ra vừa hót vừa múa. Tiếng
phượng hót cùng với tiếng tiêu xướng họa hòa nhau như
một theo điệu cung thương, nghe rất thâm trầm. Lộng
Ngọc mê mẩn tâm thần hỏi: Khúc tiêu này là khúc tiêu
gì? Chàng thiếu niên đáp: Đây là khúc "Họa sơn ngâm".
Nàng lại hỏi: Khúc này có học được không? Chàng đáp:
Khi cả hai kết duyên rồi thì có gì không học được. Đoạn
chàng bước đến gần đưa tay cầm lấy tay nàng...
Lộng Ngọc giật mình tỉnh dậy. Sáng lại, nàng thuật lại
điềm chiêm bao cho cha nghe. Tần Mục Công liền sai
người cứ theo hình dáng người trong mộng đó dò tìm
đến núi Họa Sơn. Có người nông phu chỉ rằng: Từ rằm
tháng bảy vừa qua, có một chàng trẻ tuổi lạ mặt đến làm
nhà ở đỉnh núi, hằng ngày thường xuống chợ mua rượu
uống, chiều lại thổi chơi một khúc ngọc tiêu, ai nghe
cũng rất lấy làm thích.

Người của Tần Mục Công mừng rỡ tìm đến, trông
thấy chàng thiếu niên mũ lông áo bạc, cốt cách thần
tiên, vái chào hỏi tên họ. Chàng xưng là Tiêu Sử. Người
của nhà vua thuật lại sự tình và yêu cầu Tiêu Sử về triềụ
Sau mấy lần từ chối không được, Tiêu Sử cùng theo về
triều ra mắt Tần Mục Công. Tần Mục Công thấy Tiêu
Sử dung mạo thanh nhã, có vẻ bằng lòng, cho ngồi bên
cạnh, hỏi:
- Ta nghe nhà ngươi có tài thổi ống tiêu tất có tài thổi
ống sinh nữa.
Tiêu Sử đáp:
- Tôi chỉ biết thổi ống tiêu, chứ không biết thổi ống
sinh.
Vua bảo:
- Ta định tìm một người có tài thổi ống sinh, nay nhà
ngươi chỉ biết thổi ống tiêu, vậy không thể làm rể ta
được.
Đoạn bảo người đưa Tiêu Sử ra.

Lộng Ngọc sai nội thị tâu với Tần Mục Công: Tiêu
với sinh cũng là một loài, người ta có tài thổi ống tiêu thì
sao không bảo dạo chơi một khúc để cho người ta được
phô tài.
Tần Mục Công lấy làm phải, truyền Tiêu Sử thổi
nghe.
Tiêu Sử mới thổi qua một khúc thì thấy có gió mát
hây hẩy. Đến khúc thứ nhì thì mây che bốn mặt. Đến
khúc thứ ba thì có đôi bạch hạc múa lượn trên không,
đồng thời có đôi khổng tước bay đến rồi các giống chim
đua nhau kêu hót..., một lúc mới tan. Tần Mục Công rất
lấy làm bằng lòng. Lộng Ngọc đứng bên rèm trông thấy
vui tương nói: "Người ấy thật đáng làm chồng ta!"
Tần Mục Công lại hỏi Tiêu Sử:
- Nhà ngươi có biết ống sinh và ống tiêu có từ đời
nào không?
Tiêu Sử thưa:
- Ống sinh làm ra từ đời Nữ Oa; ống tiêu làm ra từ

đời Phục Hi.
Tần Mục Công bảo kể rõ nguyên ủỵ Tiêu Sử nói:
- Nghề tôi vốn ở ống tiêu, vậy tôi xin kể nguồn gốc
ống tiêu. Ngày xưa vua Phục Hi ghép ống trúc làm ống
tiêu, chế theo hình chim phượng. Tiếng thổi cũng giống
tiếng chim phượng. Thứ lớn ghép liền 23 ống, dài 1
thước 4 tấc gọi là Nhã Tiêu; thứ nhỏ ghép liền 16 ống,
dài 2 thước 1 tấc gọi là Tụng Tiêu. Cả hai thứ gọi chung
là Tiêu Quản. Còn một thứ không đáy gọi là Đổng Tiêu.
Về sau vua Huỳnh Đế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khê
chế làm ống địch, ống này có 7 lỗ, cầm ngang mà thổi,
tiếng cũng giống chim phượng, trông rất giản tiện.
Người đời sau thấy ống Tiêu Quản phiền phức quá nên
chỉ dùng ống địch. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là
địch. Bởi vậy, ống tiêu ngày nay không giống ống tiêu
ngày xưa.
Tần Mục Công lại hỏi:
- Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có các giống
chim bay đến?

Tiêu Sử thưa:
- Ống tiêu dẫu mỗi đời mỗi khác nhưng tiếng thổi bao
giờ cũng giống tiếng chim phượng. Chim phượng là chúa
các giống chim, vậy khi nghe tiếng chim phượng tất
nhiên các giống chim đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa
vua Thuấn chế ra khúc nhạc tiêu thiều mà chim phượng
còn bay đến, huống chi là các giống chim khác.
Tiêu Sử ứng đối lưu loát. Tần Mục Công rất lấy làm
bằng lòng, sai quan Thái Sử chọn ngày để làm lễ thành
hôn.
Tiêu Sử kết hôn cùng Lộng Ngọc, được phong làm
Trung Đại Phu. Tuy làm quan nhưng Tiêu Sử không dự
gì đến quyền chính, ngày ngày vui chơi ở Phượng Lâụ
Lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén
rượu. Lộng Ngọc học được phép tiên của chồng cũng
không ăn cơm. Tiêu Sử lại dạy vợ thổi tiêu.
Ở nhau được non nửa năm, nhân một đêm trăng sáng
vằng vặc, vợ chồng đem tiêu ra thổi. Bỗng thấy một con
phượng xuống đậu bên tả, và một con rồng xuống phủ

phục bên hữu. Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc:
- Ta vốn là tiên ở thượng giới, Ngọc Hoàng Thượng
Đế thấy sử sách trần gian nhiều chỗ tán loạn, vậy nên
giáng sinh ta xuống họ Tiêu ở nhà Chu để san định lại.
Người nhà Chu thấy ta có công về việc sử sách mới gọi
ta là Tiêu Sử, đến nay đã hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng
cho ta làm chủ ở núi Họa Sơn, vì ta cùng nàng có tiền
duyên nhau, nhờ khúc ngọc tiêu mà được cùng nhau tác
hợp, nhưng cũng không nên ở mãi chốn trần gian này.
Nay rồng và phượng đã đến đón, vậy chúng ta cùng
nhau đi.
Lộng Ngọc định vào từ biệt cha. Tiêu Sử ngăn:
- Không nên! Đã là thần tiên thì chớ nên vì chút tình
riêng mà quyến luyến.
Đoạn Tiêu Sử cưỡi rồng, Lộng Ngọc cưỡi phượng
cùng bay lên trời.
Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du,
lúc Từ Hải cùng Kiều gặp gỡ, có câu:

Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền bói phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
"Đẹp duyên cưỡi rồng" là do điển tích trên.
"Bói phượng có nghĩa là kén được chồng tốt.
Sách Tả Truyện có chép: Trần Trọng Kính sang
nước Tề, được vua nước này cho coi việc công chính.
Quan Đại Phu nước Tề có ý muốn gả con gái cho Trọng
Kính. Người vợ liền bói một quẻ, bảo rất nên. Vì quẻ bói
nói:
"Phượng hoàng vu phi, hòa minh tương tương" nghĩa
là phượng hoàng cùng bay, cùng hót vang vang.
Phượng là tên một giống chim. Theo sách cổ, đó là
một trong 4 con thú linh thiêng: Long, Lân, Qui,
Phượng, đem lại điềm lành, và chỉ khi nào có đời thái
bình hay thánh nhân ra đời thì mới xuất hiện.
Phượng là chúa loài chim. Con trống là phượng; con
mái là hoàng. Loan là một giống chim cùng loại với

phượng hoàng. Vì là đồng loại nên người ta hay dùng để
ví với vợ chồng. Ca dao có câu:
Ước gì anh được vô phòng,
Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan.
"Bói phượng", "Cưỡi rồng" đều cũng có nghĩa là kén
được chồng xứng đáng.

ĐIỂN HAY TÍCH LẠ - QUYỂN 1
Nguyễn Tử Quang
www.dtv-ebook.com
Đằng Vương Các Tự
Vương Bột tự Tử An, người đất Long Môn. Sáu tuổi
đã biết làm văn. Mười sáu, mười bảy tuổi nổi danh hạ bút
nên vần.
Vương có thói quen, mỗi khi làm văn, mài mực sửa
soạn nghiên bút rồi nằm đắp chăn ngủ. Khi tỉnh dậy, cầm
ngay bút viết. Vương nổi tiếng là một thi sĩ cao danh thời
Sơ Đường (618-713).
Con của vua Cao Tông nhà Đường bấy giờ làm Thái
Sử ở Hồng Châu, được phong là Đằng Vương, có dựng
một cái gác bên sông Tầm Dương gọi là "Đằng Vương
Các". Lúc Diêm Bá Dư ra giữ chức Đô Đốc Hàng Châu,
đặt tiệc tại gác Đằng Vương để thết tân khách. Muốn
khoe tài chàng rể, bảo làm trước một bài tự, rồi mời tất
cả các nhà quyền quý, các mặc khách tao nhân xa gần
đến dự; và yêu cầu mỗi người làm một bài tự ngay bữa

tiệc.
Vương Bột lúc bấy giờ, tuổi vừa 15, 16. Hay tin ấy,
nhưng vì đường xá xa xôi có mấy trăm dặm, không đến
họp được, lấy làm tiếc. Một ông già khuyên chàng cứ
sửa soạn thuyền buồm, tự nhiên sẽ có gió thổi. Quả
nhiên đêm đó có gió lớn. Vương cho thuyền khởi hành,
và hôm sau tới Đằng Vương các vừa kịp lúc vào tiệc.
Thấy Vương Bột, viên Đô Đốc họ Diêm khinh là con
nít, miễn cưỡng cấp giấy bút. Nhưng cho người đứng
bên cạnh Vương, hễ Vương viết được câu nào thì chép
lại cho ông xem.
Mới đọc hàng đầu, họ Diêm đã ngạc nhiên vì lời già
giặn. Đến câu:
Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc
Nghĩa:
Ráng chiều với cò lẻ cùng bay,

Nước thu cùng trời dài một sắc
thì ông vô cùng khâm phục.
Bài của họ Vương đặc sắc hơn tất cả. Từ đó, danh
càng vang dậy khắp nơi.
Bài phú "Đằng Vương các" viết theo thể biền ngẫu,
dùng nhiều chữ cầu kỳ, nhiều điển khó hiểu nhưng lời thì
cực đẹp nên rất khó dịch. Trong bài, Vương Bột nhắc
qua địa lý và nhân vật ở quận, nơi xây gác Đằng Vương,
rồi tả chủ khách trong tiệc, phong cảnh chung quanh khi
ngồi trong gác trông ra, sau cùng kể cảm tưởng của
chính mình.
Cuối bài thơ, có 8 câu tuyệt diệu, nhất là 4 câu cuối:
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di, không độ thu?
Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu.

Nghĩa:
Đầm chiếu mây bay, trời lửng lơ,
Sao dời vật đổi, mấy thu rồi.
Con vua trong gác nào đâu nhỉ?
Dòng nước ngoài hiên vẫn tự trôi.
Nhưng người có tài như thế mà mạng yểu. Nhân khi
đi thăm cha làm quan ở Giao Chỉ, Vương bị đắm thuyền,
chết ở giữa biển giữa 29 xuân xanh.
Tương truyền rằng hai câu thơ:
Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc.
tuyệt diệu như thế mà có người cho Vương Bột còn
dốt, nhưng không chỉ dốt chỗ nào. Vì thế khi chết, hồn
còn uất ức nên trong đêm khuya thanh vắng thường hiện
hình trên bãi bể, níu áo những văn nhân sĩ tử qua đường,
miệng ngâm nga hai câu thơ trên và hỏi dốt chỗ nào, xin

chỉ giúp. Nhưng ai nấy đều khen hay. Hồn Vương không
bằng lòng, cho rằng sĩ tử kia còn dốt, thi khoa này
không thể đậu. Quả thật như thế.
Rồi, cũng từ đó, giọng ngâm hai câu thơ kia vẫn còn
văng vẳng bi ai theo hình bóng họ Vương thơ thẩn, dật
dờ trên bãi biển.
Nhưng một hôm có một văn nhân đi ngang qua đấy,
hồn Vương hiện hình níu lại hỏi, thì chàng văn nhân ấy
cười bảo:
- Hai câu thơ ấy không phải sai nhưng nhà ngươi còn
dốt thật. Đã bao năm có tiếng là tứ kiệt Sơ Đường mà
không nhận biết được cái dốt của mình trong hai câu thơ
ấy ư?
Nói xong dứt áo ra đi. Vương tha thiết yêu cầu giải
thích. Khách không phụ lòng, nên bảo:
- Hai câu thơ thừa chữ "dữ" và chữ "cộng". Nếu bỏ
hai chữ thì thật tuyệt, vừa gọn vừa thanh thoát, lại nhất
khí:

Lạc hà cô vụ tề phi,
Thu thủy tràng thiên nhất sắc.
Vương Bột nhận ra, quả còn dốt thật, mới bái tạ lãnh
lời chỉ giáo.
Từ đó, trong đêm khuya thanh vắng, trên bãi biển
không còn hình bóng của nhà thơ tài danh trẻ tuổi hiện
ra nữa. Và giọng ngâm hai câu thơ bất hủ bi ai, não ruột
kia cũng chìm mất trong không gian cao rộng, mịt mờ.
Đây là một câu chuyện hoang đường.
Do câu chuyện gió đưa thuyền Vương Bột đến Đằng
Vương các làm cho Vương nổi tiếng tài danh, nên cổ thi
có câu: "Thời lai, phong tống Đằng Vương các" (Thời tới
thì gió đưa đến Đằng Vương) để chỉ sự may mắn của kẻ
gặp thời. Những từ ngữ: "duyên Đằng", "gió đưa Đằng
các" đều có ý nghĩa như thế.
Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du có
câu: "Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa" là do điển tích
trên.

ĐIỂN HAY TÍCH LẠ - QUYỂN 1
Nguyễn Tử Quang
www.dtv-ebook.com
Khúc Đàn Thủy Tiên
Dất Kim Lăng bên Trung Quốc là nơi phồn hoa đô
hội, thường dùng làm kinh đô cho các triều đại lâu đời.
Ở đây có nhiều nơi danh thắng, khiến cho mặc khách tao
nhân không ai là không muốn lưu liên thưởng ngoạn.
Nhất là trên sông Tần Hoài, bên hồ Mặc Sầu, vào
khoảng mùa xuân mát mẻ, những cành cây xanh, nước
biếc, núi lam cũng đủ cung ngoạn cho các mặt tài tử giai
nhân.
Có một chàng tên Giang Thu San, quê ở An Huy, vốn
người phong nhã, tính ưu ngao du sơn thủy. Gặp buổi
ngày xuân, chàng liền rủ bạn sang Kim Lăng thưởng
xuân. Đến nơi nghe đồn trong vùng có một tuyệt thế giai
nhân tên Thủy Tiên Tử, nổi tiếng danh cầm, gần xa ai
cũng bái phục. Động lòng hâm mộ, họ Giang cùng bạn
cố tình tìm hỏi cho được đến nơi.

Buổi đầu gặp gỡ, để xin nghe tiếng đàn, Thu San hết
sức van nài, mới được nàng chấp thuận. Đoạn, nàng ung
dung vặn trục dạo tiếng cho nghe.
Thoạt khi tay tiên đặt đến tơ đồng, chỉ nghe khoan
khoan nhè nhẹ, vẳng xa như có như không. Dần dần thi
thấy vẻ người trầm lặng, hai tay thoăn thoắt nhanh
nhanh. Rồi tiếng đàn chuyển sang giọng dồn dập sôi nổi
như gió gào gió thét, như chen với tiếng muôn quân
nghìn ngựa xình xịch đổ tới. Kế đó, lại nổi giọng nỉ non
réo rắt như oán, như than, khiến người ngồi nghe mê
mẩn tâm thần như phiêu diêu chốn non Bồng, nước
Nhược.
Thật là:
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

"Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du)
Một lúc đàn im, Thu San từ từ định tỉnh và hỏi khúc
đàn gì? Thủy Tiên Tử đáp:
- Đây là khúc "Thủy Tiên", tiện thiếp phỏng theo
khúc "Thủy Tiên Tháo" của tay danh cầm ngày xưa là
Bá Nha mà sáng tạo nên.
Thu San hỏi nguồn gốc, nàng ung dung kể lại rằng:
"Ngày xưa, Bá Nha học đàn của ông Thành Liên. Được
ba năm thì đàn đã hay như chưa nhập điệu. Thành Liên
bảo: "Thầy ta là Tử Xuân ở ngoài biển cả, có thể dùng
đàn làm thay đổi lòng người. Vậy ta cho ngươi ra đó để
học thêm."
Đoạn dẫn Bá Nha xuống thuyền ra một hòn đảo giữa
biển khơi, bảo Bá Nha ở đợi, ông sẽ đón thầy đến. Rồi
dong thuyền đi thẳng, không thấy trở lại. Bá Nha một
mình ở giữa đảo, chỉ thấy núi rừng mờ mịt, tiếng nước
biển vỗ dồn dập, réo rắt chung quanh, chim chóc kêu
rên bi thiết. Bá Nha cảm thấy buồn lạnh cả người, bất
giác thở dài than: "Thầy ta muốn làm thay đổi tính tình ta

đây..."
Đoạn cầm đàn trổi lên một khúc. Vừa dứt khúc, đã
thấy Thành Liên quày thuyền trở lại đón. Từ đấy, Bá Nha
nổi tiếng là bực danh cầm; và khúc đàn ấy đặt tên là
"Thủy Tiên Tháo". Tiện thiếp rất say mê khúc đàn đó
nên mới mượn để đặt làm tên".
Thu San nghe xong, thán phục. Đoạn thở dài, nói với
nàng:
- Trong "Tỳ Bà Hành" của Bạch Cư Dị có câu:
Đại huyền tao tao như cấp vũ,
Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ.
Tao tao thiết thiết thác tạp đàn,
Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn"...
Xưa nay, tôi vẫn cho lời thơ ấy diễn tả quá đáng.
Nhưng hôm nay, diễm phúc nghe được điệu đàn của quý
nương mới nhận thấy lời cổ nhân thật bức thiết chân

tình.
Thủy Tiên Tử khiêm tốn từ tạ, đoạn sai thị nữ pha trà
thủy tiên ra thết khách.
Bọn Thu San nâng chén nước uống, nghe thoang
thoảng mùi thơm thanh nhã, khác hẳn với các vị hương
trà quý thường dùng hằng ngày. Bất giác, ai cũng cảm
thấy khoan khoái tinh thần như hiện thân như tiên cảnh.
Từ tạ ra về nhưng lòng khách vẫn quyến luyến, nao
nao tưởng nhớ. Nơi quê hương, không lúc nào không
nhắc nhở đến Thủy Tiên.
Mùa xuân năm sau, Thu San chạnh lòng nhớ người
năm cũ, lần mò tìm đến Kim Lăng, mong lại được nghe
tiếng đàn tuyệt diệu của con người ngọc. Nhưng đến nơi
thì khách giai nhân ngày xưa vắng bặt, chỉ thấy cây xanh
nước biếc một màu!

ĐIỂN HAY TÍCH LẠ - QUYỂN 1
Nguyễn Tử Quang
www.dtv-ebook.com
Để Thiếp Theo Chồng Mấy Dặm Khơi
Nàng tên là Mỵ Ê, người Chiêm Thành, không biết
họ gì, vốn vương phi vua Chiêm Xạ Đẩu.
Triều vua Lý Thái Tông (1028-1054) nước Đại Việt,
Xạ Đẩu không theo lệ cống, thất lễ phiên thần, vua tự
đem binh Nam chinh.
Xạ Đẩu bày trận ở sông Bồ Chính nhưng bị quân nhà
Lý đánh bại. Xạ Đẩu chết tại trận. Vua nhà Lý tiến vào
thành Phật Thệ là quốc đô của Chiêm Thành bắt được
vương phi Mỵ Ê cùng một số cung nhân, nhạc nữ, đem
về nước.
Khi thuyền đến sông Lý Nhân, giữa đêm, vua nghe
Mỵ Ê có sắc đẹp, bèn sai quan Trung Sứ với đến chầu
thuyền ngự. Mỵ Ê không dấu được nỗi phẫn uất, từ chối
rằng:

-Vợ phường man rợ quê mùa, y phục xấu xí, ngôn
ngữ thô lỗ, không giống các phi tần Trung Hoa. Nay
nước tan, chồng mất, chỉ mong một chết là thỏa lòng;
nếu cưỡng bức hợp hoan, ngại nỗi làm dơ mình rồng
vậy.
Đoạn, nàng lén lấy chăn lông chiên quấn lấy kín thân
mình định phó tính mạng cho dòng nước chảy. Thế là,
đánh ầm một tiếng, mất tăm hình bóng người xinh.
Nhà vua kinh hoảng tự hối, muốn cứu nhưng không
sao kịp nữ...
 
Gửi ý kiến